BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH PHẠM VĂN CHUNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT RÉT TẠI HUYỆN M
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
PHẠM VĂN CHUNG
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ PHÒNG CHỐNG
BỆNH SỐT RÉT TẠI HUYỆN MINH HÓA
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
PHẠM VĂN CHUNG
MéT Sè §ÆC §IÓM DÞCH TÔ HäC Vµ KIÕN THøC, THùC HµNH CñA NG¦êI D¢N VÒ PHßNG CHèNG BÖNH SèT RÐT
T¹I HUYÖN MINH HãA TØNH QU¶NG B×NH
MÃ SỐ: 8720701
PGS.TS Phạm Văn Trọng
THÁI BÌNH - 2018
Trang 3Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn đến Thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS
Vũ Phong Túc và PGS.TS Phạm Văn Trọng đã truyền đạt nhiều kiến thức về nghiên cứu khoa học, tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành y tế công cộng
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Y tế Quảng Bình; Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Minh Hóa đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn: các đồng nghiệp, cán bộ các khoa, phòng Trung tâm Y tế huyện Minh Hoá; Bệnh viện đa khoa huyện, Trạm y tế các xã, thị trấn đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình thu thập số liệu để thực hiện đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ
Thái Bình, tháng 7 năm 2018
Phạm Văn Chung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Phạm Văn Chung, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sĩ ngành Y tế công cộng, của Trường Đại học Y Dược Thái Bình xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của: PGS.TS Vũ Phong Túc
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BNSR Bệnh nhân sốt rét HGĐ Hộ gia đình KSTSR Ký sinh trùng sốt rét PCSR Phòng chống sốt rét SRAT Sốt rét ác tính
SRLH Sốt rét lưu hành THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TDSR Tiêu diệt sốt rét DTSR Dịch tễ sốt rét
XN Xét nghiệm WHO World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm bệnh sốt rét 3
1.1.1 Tác nhân gây bệnh 3
1.1.2 Trung gian truyền bệnh 5
1.1.3 Cơ thể cảm thụ 5
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ 6
1.1.5 Triệu chứng lâm sàng 6
1.1.6 Chẩn đoán xác định 8
1.1.7 Nguyên tắc điều trị 8
1.1.8 Điều trị sốt rét thể thông thường 9
1.1.9 Các biện pháp phòng chống 9
1.2 Phân vùng dịch tễ và biện pháp can thiệp 10
1.3 Chương trình phòng chống sốt rét trên thế giới 12
1.3.1 Chương trình tiêu diệt sốt rét trên thế giới 1955 - 1968 12
1.3.2 Chương trình phòng chống sốt rét trên thế giới từ 1969 đến nay 12
1.3.3 Chiến dịch “Đẩy lùi sốt rét” từ 1998 đến nay 13
1.4 Chương trình tiêu diệt và phòng chống sốt rét ở Việt Nam 14
1.4.1 Các giai đoạn chính 14
1.4.2 Những khó khăn tồn tại đối với chương trình phòng chống sốt rét 17
1.5 Tình hình phòng chống sốt rét của huyện Minh hóa 18
1.6 Các nghiên cứu về bệnh sốt rét tại Việt Nam và thế giới 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Địa điểm đối tượng và thời gian nghiên cứu 26
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 26
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 28
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 28
Trang 72.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 29
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29
2.2.3 Biến số sử dụng trongnghiên cứu 30
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.2.5 Phương pháp đánh giá 32
2.3 Tổ chức thực hiện đề tài 33
2.4 Xử lý số liệu 34
2.5 Khắc phục sai số trong nghiên cứu: 34
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh SR tại huyện Minh Hóa từ 2013-2017 36 3.2 Kiến thức và thực hành của người dân về phòng chống sốt rét 44
3.2.1 Đặc điểm chung 44
3.2.2 Kiến thức phòng chống sốt rét 45
3.2.3 Thông tin về thực hành phòng chống sốt rét 50
Chương 4: BÀN LUẬN 58
4.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét tại Minh Hóa từ 2013-2017 58
4.1.1 Thông tin chung bệnh nhân sốt rét giai đoạn 2013-2017 58
4.1.2 Kết quả điều tra bệnh nhân sốt rét giai đoạn 2013-2017 61
4.2 Kiến thức và thực hành PCSR 67
4.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 67
4.2.2 Kiến về phòng chống sốt rét của đối tượng nghiên cứu 68
4.2.3 Thực hành về phòng chống sốt rét của đối tượng nghiên cứu 70
KẾT LUẬN 75
KHUYẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình bệnh nhân sốt rét theo năm 36
Bảng 3.2 Tình hình bệnh nhân sốt theo vùng sốt rét lưu hành 36
Bảng 3.3 Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét/1000 dân theo vùng sốt rét lưu hành 38 Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh sốt rét phân bố theo tuổi và giới 39
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân sốt rét theo nghề nghiệp 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét được chẩn đoán bệnh theo dân tộc 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét theo dân tộc 41
Bảng 3.8 Tỷ lệ nơi mắc bệnh sốt rét theo dân tộc 42
Bảng 3.9 Tỷ lệ các loại ký sinh trùng sốt rét theo năm 42
Bảng 3.10 Phân bố ký sinh trùng sốt rét theo vùng sốt rét lưu hành 43
Bảng 3.11 Thông tin chung của mẫu nghiên cứu 44
Bảng 3.12 Tỷ lệ người dân biết tác nhân gây bệnh sốt rét 45
Bảng 3.13 Tỷ lệ người dân biết nguyên nhân lây truyền bệnh sốt rét 46
Bảng 3.14 Tỷ lệ người dân biết triệu chứng đặc hiệu của bệnh sốt rét 46
Bảng 3.15 Tỷ lệ người dân biết mục đích việc lấy lam máu 47
Bảng 3.16 Tỷ lệ người dân biết những người có nguy cơ bị mắc sốt rét 47 Bảng 3.17 Tỷ lệ người dân biết tác hại của bệnh sốt rét 48
Bảng 3.18 Tỷ lệ người dân biết biện pháp phòng bệnh sốt rét 48
Bảng 3.19 Tỷ lệ người dân chọn nơi điều trị bệnh sốt rét 49
Bảng 3.20 Tỷ lệ người dân biết loại thuốc sử dụng để điều trị bệnh sốt rét 49 Bảng 3.21 Tỷ lệ người dân biết thời điểm giặt màn sau khi tẩm hóa chất diệt muỗi 50
Bảng 3.22 Tỷ lệ người dân có màn để phòng chống sốt rét 50
Bảng 3.23 Tỷ lệ người dân thường xuyên ngủ màn 51
Bảng 3.24 Tỷ lệ người dân sử dụng màn vào các thời điểm 51
Trang 9Bảng 3.25 Tỷ lệ người dân có giặt màn tẩm hóa chất 52
Bảng 3.26 Tỷ lệ người dân phơi khô màn tẩm hóa chất 53
Bảng 3.27 Tỷ lệ người dân lựa chọn nơi điều trị khi bị sốt rét 54
Bảng 3.28 Tỷ lệ người dân nhớ thuốc đã dùng điều trị sốt rét 54
Bảng 3.29 Tỷ lệ người dân sử dụng thuốc điều trị sốt rét 55
Bảng 3.30 Tỷ lệ người dân thường xuyên phải ngủ lại trong rừng 55
Bảng 3.31 Người dân sử dụng các biện pháp phòng chống sốt rét khi thường xuyên ngủ trong rừng 56
Bảng 3.32 Biện pháp phòng chống sốt rét tại gia đình 56
Bảng 3.33 Tỷ lệ người dân có kiến thức và thực hành đúng về phòng chống sốt rét 57
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét có ký sinh trùng sốt rét/1000 dân 37Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét /lam xét nghiệm 38Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét theo dân tộc 39Biểu đồ 3.4 Phân bố bệnh nhân sốt rét theo trình độ học vấn 40Biểu đồ 3.5 Tổng số bệnh nhân sốt rét phân bố theo tháng từ 2013-2017 43Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ người dân ngủ màn có tẩm hóa chất 52Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ người dân có tiền sử bị bệnh sốt rét 53
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Vòng đời của KSTSR Plasmodium 4
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium gây nên
và do muỗi Anopheles truyền từ người bệnh sang người lành Bệnh thường biểu
hiện bằng những cơn sốt rét điển hình với ba triệu chứng: rét run, sốt nóng, vã
mồ hôi, cơn sốt rét kéo dài 2 - 3 giờ Bệnh gây tác hại trực tiếp đến thể chất, tính mạng con người và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của cộng đồng, của quốc gia, thậm chí cả một khu vực trên thế giới [24], [40]
Bệnh sốt rét được phát hiện hơn 400 năm trước công nguyên [24] Đến nay bệnh sốt rét tuy đã giảm nhưng vẫn còn tồn tại ở một số quốc gia Theo Báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2015, trên phạm vi toàn cầu vẫn còn
106 quốc gia có bệnh sốt rét, 214 triệu trường hợp mắc sốt rét, trong đó 438.000 ca tử vong có liên quan đến sốt rét, trong đó có 78% số ca tử vong là trẻ em dưới 5 tuổi Có khoảng 3.2 tỷ người, tương đương ½ dân số thế giới có nguy cơ mắc sốt rét Bốn nước thuộc tiểu vùng sông Mê kông (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) có nguy cơ sốt rét đa kháng thuốc, đã thiết lập một Chiến lược xoá bỏ sốt rét ở tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (2015-
2030) Mục tiêu cuối cùng của chiến lược là loại bỏ sốt rét P falciparum vào
năm 2025, và tất cả các bệnh sốt rét vào năm 2030 [56], [63]
Việt Nam là một trong những nước được đánh giá có chương trình phòng chống sốt rét thành công, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác phòng chống sốt rét [42], [46] Năm 1991, cả nước xảy ra 144 vụ dịch sốt rét, trên 1 triệu người mắc và gần 5 nghìn người chết do sốt rét [35] Đến năm
2015, theo Báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, cả nước còn 19 nghìn trường hợp mắc và 3 trường hợp tử vong do sốt rét và không có dịch sốt rét xảy ra [63] Chương trình phòng chống sốt rét vẫn còn nhiều khó khăn nguy cơ sốt rét quay trở lại do dân số sống trong vùng sốt rét lưu hành chủ yếu là người
Trang 12nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở các vùng rừng núi, khu vực biên giới Giao lưu dân qua biên giới giữa các nước gia tăng, đặc biệt với Lào và Campuchia nơi có sốt rét lưu hành cao Tập quán của người dân đi rừng, làm nương rẫy và ngủ lại qua đêm Xuất hiện ký sinh trùng kháng thuốc [5] Năm
2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng chống
và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030”, mục tiêu đến năm 2020 đạt tỷ lệ mắc sốt rét dưới 0,15/1.000 dân, tỷ lệ tử vong
do sốt rét dưới 0,02/100.000 dân [35]
Minh Hóa là huyện có điều kiện tự nhiện, khí hậu rất thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển bệnh sốt rét và là nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số như Chứt, Khùa, Mày…nên nhận thức về phòng chống sốt rét còn hạn chế Chính vì vậy tình hình sốt rét còn phức tạp mặc dù, chương trình phòng chống sốt rét đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng mầm bệnh sốt rét vẫn còn, ký sinh trùng sốt rét tại chổ và sốt rét ngoại lai Vấn đề nguy cơ sốt rét quay trở lại do biến động thời tiết, môi trường là rất lớn Để đánh giá một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét và trả lời câu hỏi kiến thức và thực hành của người dân về phòng chống sốt rét như thế nào? Nhằm góp phần giúp lãnh đạo y tế và chính quyền địa phương nắm thực trạng, tình hình đưa
ra những giải pháp phù hợp để công tác phòng chống bệnh sốt rét được tốt
hơn, Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số đặc điểm dịch
tễ học và kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống bệnh sốt rét tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình từ năm 2013 - 2017
2 Đánh giá kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh sốt rét của người dân 3 xã huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2017
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm bệnh sốt rét
1.1.1 Tác nhân gây bệnh
Ký sinh trùng sốt rét có gần 100 loài, nhưng tới nay người ta mới biết
được 5 loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cho người là: Plasmodium gây nên gồm Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae,
Plasmodium ovale và Plasmodium knowlesi [4], [6], [37], [40], [61]
Trong máu người mang ký sinh trùng sốt rét có hai thể, thể vô tính (Tự dưỡng phân liệt) và thể hữu tính là giao bào hay giao tử Ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người có kích thước rất nhỏ và chỉ có thể thấy được bằng kính hiển
vi Chu kỳ sống của ký sinh trùng ở người và gây bệnh cho người Thể hữu tính sống ở muỗi lây bệnh cho người khi muỗi hút máu của người
Chu trình gây bệnh sốt rét phải qua 2 giai đoạn: Giai đoạn sống sinh sản hữu tính ở cơ thể muỗi và giai đoạn vô tính ở cơ thể người Đời sống của
ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể người có hạn định tùy theo từng loại ký sinh trùng sốt rét mà chúng tồn tại trong cơ thể người từ 3 tháng đến 5 năm, một số
trường hợp có thể tồn tại lâu hơn, trên 10 năm như P malariae [40]
Có chu kỳ vô tính ở người và chu kỳ hữu tính ở muỗi
- Chu kỳ vô tính có hai giai đoạn:
+ Giai đoạn trong gan (giai đoạn tiền hồng cầu): Thoa trùng do muỗi truyền sẽ vào máu trong thời gian 30 phút rồi vào nhu mô gan, phân chia
thành các merozoite gan (tiểu thể hoa cúc), từ đó xâm nhập vào máu Với P
falciparum, thoa trùng phát triển nhanh thành merozoite gan rồi vào máu hết
trong thời gian ngắn; Với P Vivax và P ovale một số thoa trùng ở lại gan
dưới dạng thể ngủ (Hynozoite) và sau 1-6 tháng hoặc lâu hơn mới phát triển nhanh thành merozoite gan để vào máu [11]
Trang 14+ Giai đoạn trong máu (giai đoạn hồng cầu): Các merozoite gan xâm nhập vào hồng cầu, phát triển qua thể nhẫn, sau thành thể tự dưỡng (non, già), thể phân liệt, cuối cùng phá vỡ hồng cầu và các merozoite hồng cầu từ trong thể phân liệt được giải phóng ra ngoài gây nên triệu chứng sốt trên lâm sàng, một số xâm nhập vào hồng cầu khác, tiếp tục chu kỳ mới và cứ thế ngày một tràn ngập trong máu nếu không được điều trị người bệnh sẽ chết do thiếu máu
Chu kỳ này thay đổi đối với P faciparum 24 - 48 giờ còn P vivax 36 - 48 giờ
Một số phát triển thành thể hữu tính (giao bào đực và cái - gametocyte)
- Chu kỳ hữu tính ở muỗi
Giao bào được muỗi Anopheles hút vào dạ dày sẽ phát triển thành giao
tử (gamete), sau thành hợp tử (zygote) và trứng “di động” (oocyste), oocyste lớn lên, vỡ ra và giải phóng thoa trùng, cuối cùng thoa trùng di chuyển về tuyến nước bọt của muỗi để tiếp tục truyền vào người khi muỗi đốt Chu kỳ của muỗi
từ 10 đến 40 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ ngoài trời P falciparum phát triển ở
nhiệt độ trên 160C, P vivax phát triển ở nhiệt độ trên 14,50C [11], [41]
Hình 1 Vòng đời của KSTSR Plasmodium
Trang 151.1.2 Trung gian truyền bệnh
Muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét trên thế giới có
khoảng 420 loài khác nhau, trong đó có 70 loài được xác định là truyền bệnh sốt rét Do đặc điểm về địa lý, khí hậu và sinh thái của muỗi mà mỗi vùng, mỗi nước có các loại truyền bệnh chính khác nhau Vector truyền bệnh chính
ở Việt Nam và Miền Trung Tây nguyên có 2 loại: Loại truyền bệnh chính A
minimus sống ở bìa rừng, rừng, bọ gậy sống ở ven suối, nước chảy chậm A dirus muỗi sống ở rừng rậm ở bìa rừng, rừng thưa, bọ gậy sống ở vùng nước
đọng, dưới bóng râm trong rừng [4], [42], [61]
* Mùa sốt rét:
Tùy thuộc vào sự phát triển của muỗi SR và hoạt động của con người
Ở miền Bắc Việt Nam muỗi sốt rét thường phát triển đỉnh cao vào tháng 4, tháng 5 và tháng 9, tháng 10 (Đầu và cuối mùa mưa) Riêng tháng 6-7-8
thường có mưa lũ, bọ gậy Anophele kém phát triển; Những tháng rét nhiệt độ
Trẻ em ở vùng sốt rét lưu hành tỷ lệ nhiễm cao hơn so với người lớn
Vì người lớn đã mắc sốt rét nên có miễn dịch tuy không bền vững do đó làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và nếu mắc bệnh thì nhẹ hơn
Một số ngành nghề liên quan đến rừng núi (làm việc trong rừng, ngủ lại trong rừng) thường có tỷ lệ mắc bệnh sốt rét cao
Những người mới vào vùng sốt rét lưu hành dễ nhiễm bệnh sốt rét và khi mắc bệnh thì nặng hơn vì chưa có miễn dịch
Trang 161.1.4 Các yếu tố nguy cơ
a Môi trường tự nhiên và sinh học
- Nhiệt độ môi trường từ 20 - 300C, độ ẩm môi trường: > 50%, mùa: trước, trong, sau mùa mưa (nước ta từ tháng 4 - 10 hàng năm)
- Vị trí địa lý: Núi đồi, cao nguyên, rừng rậm hoặc ven biển nước lợ, phù hợp với điều kiện sinh thái của vectơ
- Sự nhạy cảm của vectơ đối với hóa chất đang sử dụng
b Yếu tố kinh tế - xã hội
- Tuổi và giới: Mọi lứa tuổi và mọi giới đều có khả năng mắc bệnh
- Phong tục tập quán: thói quen ngủ không có màn, ngủ rẫy của đồng bào dân tộc, di chuyển địa điểm sống hoặc hành hương trong mùa lễ hội
- Mức sống: nghèo nàn, lạc hậu, thiếu ăn, dinh dưỡng kém, ăn ở tạm bợ
- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp dễ tiếp xúc vectơ như lao động vùng rừng núi, khách du lịch
- Những hoạt động có khả năng tăng sốt rét: Đào hồ ao, phát triển thủy lợi, thủy điện, khai hoang rừng tre nứa để lại gốc - Các yếu tố làm dễ cho bệnh nặng: phụ nữ có thai, trẻ em, người cao tuổi, nghiện ma túy, suy giảm miễn dịch
1.1.5 Triệu chứng lâm sàng
a Thể điển hình
- Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền:Thời gian ủ bệnh trung bình từ 7 đến 14 ngày Trường hợp bệnh sau khi xuất hiện cơn sốt đầu tiên là nguồn lây bệnh,
đối với P falciparum là 7 ngày đến 10 ngày, đối với P vivax, P malariae và
P ovale từ 2 ngày đến 3 ngày, đây là giai đoạn trong máu có giao bào ký sinh
trùng sốt rét Nếu không được điều trị triệt để ký sinh trùng sốt rét có thể tồn tại và lây truyền từ 1 đến 3 năm Muỗi truyền sốt rét nhiễm ký sinh trùng sốt rét sau khi hút máu người có giao bào khoảng 10 ngày có thể truyền bệnh và truyền bệnh suốt đời [4]
Trang 17- Toàn phát: Đặc điểm cơn sốt: cơn SR có 3 giai đoạn và có tính chu kỳ + Rét run: Hoặc là chỉ cảm giác ớn lạnh dọc xương sống và vai, cơn rét run có thể từ 15 phút đến 1 giờ, tương ứng giai đoạn cường giao cảm
+ Giai đoạn nóng: Nhiệt độ tăng cao 39-400
C, có thể từ 30 phút đến vài giờ + Giai đoạn vã mồ hôi: Nhiệt độ giảm, vã mồ hôi, dễ chịu Giữa 2 cơn
sốt, bệnh nhân vẫn bình thường, có thể sinh hoạt Cơn sốt có chu kỳ Với P
falciparum và P vivax đều là sốt cách nhật nhưng P vivax là sốt cơn cách
nhật lành tính Tuy nhiên trong thực tế lâm sàng có khi cơn sốt xảy ra hằng ngày cho cả hai loại trên, do hai chu kỳ của KSTSR gối đầu nhau, điều này đã được cộng đồng khoa học chấp nhận
Biểu hiện toàn thân: Do nhiều đợt hồng cầu bị phá vỡ sẽ gây thiếu máu, vàng mắt, tiểu vàng, gan, lách thường to ra
- Diễn biến: Nếu không được điều trị tích cực bệnh sẽ diễn biến nặng,
85% do P falciparum, nhưng với P vivax và P malariae có thể ngủ nên có
thể chuyển sang tái phát gần hoặc xa Nếu điều trị và phòng bệnh tốt sẽ hạn chế tái phát và tái nhiễm, bệnh nhân thường hồi phục tốt không để lại di chứng, nhất là khi bệnh nhân ra khỏi vùng dịch tễ sốt rét lưu hành
Trang 181.1.6 Chẩn đoán xác định
a Trường hợp sốt rét lâm sàng
Trường hợp sốt rét lâm sàng phải có đủ 4 tiêu chuẩn:
- Sốt biểu hiện của triệu chứng điển hình như rét run, sốt nóng và vã mồ hôi hoặc có triệu chứng không điển hình của cơn sốt rét như sốt không thành cơn người bệnh thấy ớn lạnh, gai rét, hoặc sốt cao liên tục, sốt dao động hoặc
có sốt trong 3 ngày gần đây
- Sốt không tìm thấy các nguyên nhân gây sốt khác
- Đang ở hoặc đã đến vùng sốt rét lưu hành trong thời gian ít nhất 14 ngày hoặc có tiền sử mắc sốt rét trong vòng 2 năm gần đây
- Có đáp ứng với thuốc điều trị sốt rét
b Trường hợp xác định mắc sốt rét
- Trường hợp xác định mắc sốt rét là trường hợp có ký sinh trùng sốt rét trong máu được xác định bằng XN lam máu nhuộm Giemsa hoặc xét nghiệm chẩn đoán nhanh phát hiện kháng nguyên hoặc kỹ thuật sinh học phân tử
+ Kỹ thuật xét nghiệm lam máu nhuộm Giemsa: là kỹ thuật phổ biến
trong phát hiện ký sinh trùng sốt rét, kết quả ký sinh trùng được trả lời sớm trong vòng 2 giờ, nếu lần đầu xét nghiệm âm tính, mà vẫn còn nghi ngờ người bệnh bị sốt rét, thì phải xét nghiệm thêm 2 - 3 lần nữa, cách nhau 8 giờ hoặc vào thời điểm người bệnh đang lên cơn sốt
1.1.7 Nguyên tắc điều trị:
Phát hiện và điều trị sớm, đúng và đủ liều, điều trị cắt cơn sốt kết hợp
với chống lây lan đối với sốt rét do P.falciparum và điều trị tiệt căn đối với sốt rét do P.vivax, P.ovale Các trường hợp sốt rét do P.falciparum không
được dùng một thuốc sốt rét đơn thuần, phải điều trị thuốc sốt rét phối hợp để hạn chế kháng thuốc và tăng hiệu lực điều trị Điều trị thuốc sốt rét đặc hiệu kết hợp với điều trị hỗ trợ và nâng cao thể trạng Các trường hợp sốt rét ác
Trang 19tính phải chuyển về đơn vị hồi sức cấp cứu của bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, theo dõi chặt chẽ và hồi sức tích cực [3]
1.1.8 Điều trị sốt rét thể thông thường
* Thuốc điều trị ưu tiên:
- Sốt rét do P.falciparum: Dihydroartemisinin - Piperaquin phosphat
uống 3 ngày (Bảng 3) và Primaquin 0,5 mg bazơ/kg liều duy nhất
- Sốt rét phối hợp có P.falciparum: Dihydroartemisinin - Piperaquin
phosphat uống 3 ngày và Primaquin 0,25 mg bazơ/kg x 14 ngày
- Sốt rét do P.vivax: Chloroquin uống 3 ngày và Primaquin 0,25 mg
bazơ/kg/ngày x 14 ngày [3], [6]
1.1.9 Các biện pháp phòng chống
a Các biện pháp bảo vệ cá nhân
- Biện pháp vật lý: Nằm màn, lưới chắn muỗi, bẫy vợt muỗi, mặc quần
áo dài tránh muỗi đốt
- Biện pháp sinh học: Nuôi cá ăn bọ gậy, chế phẩm sinh học diệt bọ gậy
- Các biện pháp hóa học: Phun hóa chất, tẩm màn hóa chất (màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu), tẩm rèm, chăn kem muỗi, hương muỗi
+ Cấp thuốc tự điều trị: Là cấp thuốc điều trị sốt rét cho những người ngủ rừng, ngủ rẫy hoặc qua lại vùng biên giới và những người đi từ vùng không có sốt rét vào vùng sốt rét trên một tuần để họ chủ động uống thuốc khi
Trang 20nghi ngờ bị sốt rét nhằm phòng xảy ra sốt rét ác tính đảm bảo tính mạng cho bệnh nhân
1.2 Phân vùng dịch tễ và biện pháp can thiệp
Xác định vùng sốt rét là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết giúp cho các nhà chuyên môn cập nhật được tình hình sốt rét, nắm được mức
độ lưu hành và diễn biến dịch tễ sốt rét Phân vùng dịch tễ sốt rét sẽ giúp xác định đối tượng nguy cơ ở các mức độ khác nhau từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp ưu tiên tập trung vào các đối tượng nguy cơ cao vì vậy hiệu quả các biện pháp phòng chống được nâng cao Phân vùng dịch tễ sốt rét và can thiệp của PGS,TS Lê Khánh Thuận như sau: [14], [19], [34], [40]
có muỗi An minimus, An dirus, An sundaicus; Không có KST sốt rét nội địa
(Không có lan truyền bệnh sốt rét)
Biện pháp can thiệp: Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, bệnh nhân sốt rét đặc biệt người mang KST sốt rét từ nơi khác về Quản lý dân di biến động đi
và về từ vùng sốt rét lưu hành, cấp thuốc sốt rét và tẩm màn cho người đi vào vùng sốt rét Tăng cường truyền trông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng
Vùng 2: Vùng nguy cơ sốt rét quay lại: Đây là vùng SRLH cũ, không
có KST nội địa trong vòng 5 năm trở lại đây
Biện pháp can thiệp: Tiến hành giám sát dịch thường xuyên Có biện pháp phòng chống vector thích hợp khi xuất hiện KSTSR nội địa Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, quản lý BNSR Quản lý dân di biến động đi và về từ vùng sốt rét lưu hành, cấp thuốc sốt rét và tẩm màn cho người đi vào vùng sốt rét Đồng thời tăng cường truyền trông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng
Trang 21Vùng 3: Vùng sốt rét lưu hành nhẹ: Đây là vùng đồi núi thấp, nước chảy,
cao nguyên 800-1000m ở miền Bắc, núi nhô ra biển ở Miền Nam, ven biển
Về sinh cảnh vùng này có ruộng lúa, đồng màu, cây công nghiệp, cây
ăn quả, savan, trảng cỏ, cây bụi, suối to, mương, lạch nước Bắt đầu có muỗi
An minimus hoặc An Dirus hoặc An sundaicus Vùng có KST nội địa Chỉ
số bệnh nhân sốt rét 1-5/1000 dân/năm
Biện pháp can thiệp: Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, bệnh nhân sốt rét, người mang KST Vận động nhân dân nằm màn, chỉ tẩm màn ở những nơi giáp với các vùng SRLH vừa, nặng Giám sát dịch tễ thường xuyên Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, quản lý y dược tư nhân Quản lý dân di biến động đi và
về từ vùng không có SRLH hoặc có sốt rét lưu hành Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng
Vùng 4: Vùng sốt rét lưu hành vừa: Là vùng đồi nước chảy có nhiều
khe suối, ven biển nước lợ ở miền Nam Là vùng rừng thưa xen kẽ savan, cây
bụi quanh rừng rậm, rừng cây công nghiệp Vùng có muỗi An minimus, có điều kiện phát triển tốt Từ Thanh Hóa trở vào có An dirus và từ Ninh Thuận trở vào có An sundaicus Vùng có KST nội địa chỉ số BNSR từ 5-10/1000 dân/năm và tỷ lệ P.falciparum dưới 70%
Biện pháp can thiệp: Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, bệnh nhân sốt rét, người mang KST Vận động nhân dân nằm màn tẩm hóa chất diệt muỗi ở nhà
và khi đi rừng Phun tồn lưu khi dân không nằm hay tỷ lệ nằm màn dưới 80% Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng Củng cố mạng lưới y tế cơ
sở, kính hiển vi, quản lý y dược tư nhân Phối hợp đa ngành quân dân y
Vùng 5: Vùng sốt rét lưu hành nặng: Là vùng rừng nước chảy, rừng
bằng Nam Bộ Vùng này là rừng rậm, bìa rừng, rừng tái sinh, rừng cây công
nghiệp cao su, cà phê Nhiều khe suối, vùng nước đọng Vùng này có An
minimus, có điều kiện phát triển tốt Từ Thanh Hóa trở vào có An dirus có
Trang 22điều kiện phát triển mạnh Có KST nội địa chỉ số BNSR trên 10/1000
dân/năm và tỷ lệ P.falciparum trên 70%
Biện pháp can thiệp: Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, bệnh nhân sốt rét, người mang KSTSR (Ưu tiên thuốc hiệu lực cao) Vận động nhân dân nằm màn tẩm hóa chất diệt muỗi ở nhà và khi đi rừng Ưu tiên phun tồn lưu vùng
có điểm nóng nguy cơ xảy ra dịch Giám sát dịch tễ thường xuyên Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, kính hiển vi, quản lý y, dược tư nhân Sớm phát hiện và có biện pháp bảo vệ dân vùng không có SRLH đến Cấp thuốc sốt rét cho những đối tượng đi rừng, ngủ rẫy Phối hợp đa ngành, quân dân y
1.3 Chương trình phòng chống sốt rét trên thế giới
1.3.1 Chương trình tiêu diệt sốt rét trên thế giới 1955 - 1968
Nhờ những tiến bộ khoa học kỷ thuật những năm 1950 con người có thể hiểu biết cơ bản về bệnh sốt rét Năm 1955 cuộc họp lần thứ XIV của WHO đã đề ra chương trình TDSR trên toàn thế giới kéo dài 10 đến 12 năm với 4 giai đoạn: Chuẩn bị, tấn công, củng cố và bảo vệ
Giai đoạn bảo vệ (nhiều năm) là giai đoạn cuối cùng của chương trình TDSR chỉ cần phun hóa chất diệt muỗi truyền bệnh ở vùng biên giới và các nước chưa TDSR Triệt để quản lý bệnh nhân sốt rét từ ngoài xâm nhập vào
Trong 10 năm đầu (1956 - 1965) chương trình tiến hành thuận lợi bệnh sốt rét ở các nước châu Âu, một phần châu Á của Liên Xô (cũ), một số nước cận Đông, Bắc Mỹ, châu Úc, một số nước của châu Á (Nhật Bản, Triều Tiên, Singapore) [40]
1.3.2 Chương trình phòng chống sốt rét trên thế giới từ 1969 đến nay
Ở kỳ họp 22 WHO đã xét lại tình hình và đưa ra chiến lược mới, một chương trình chống sốt rét không có hạn định về thời gian và mục tiêu lâu dài
là tiến tới tiêu diệt sốt rét trên phạm vi toàn thế giới Từ năm 1979 trở đi tình
Trang 23hình sốt rét trên thế giới đã thay đổi rất ít Từ năm 1985, WHO đưa chương trình phòng chống sốt rét trên thế giới có xu hướng tăng lên, tại hội nghị Bộ trưởng y tế các nước sốt rét họp tại Amsterdam tháng 10/1992 đã khẳng định lại chiến dịch PCSR trên toàn cầu trước kia với mục tiêu giảm chết, giảm mắc
và giảm thiệt hại do sốt rét
1.3.3 Chiến dịch “Đẩy lùi sốt rét” từ 1998 đến nay
Năm 1998, Tổng giám đốc của WHO, TS G.H Brundtland phát động chiến dịch “đẩy lùi sốt rét” Đẩy lùi sốt rét không phải là một chiến lược kỹ thuật mới để PCSR giảm gánh nặng do sốt rét
a Các nguyên tắc chính đẩy lùi sốt rét là: Nhất trí với các chiến lược kỹ thuật đã được chứng minh; Nỗ lực giảm gánh nặng do sốt rét đi đôi với cải cách hệ thống y tế, tăng phân bố kinh phí khu vực y tế nhà nước, hợp tác giữa nhà nước với tư nhân
b Mục tiêu đẩy lùi sốt rét là: Giảm ít nhất 50% gánh nặng của sốt rét trên thế giới vào năm 2010
c Nội dung:
- Vận động các nguồn tài trợ của tổ chức quốc tế và các nước khác
- Tập trung các nguồn lực cho Châu Phi (80%) và các trọng điểm sốt rét khác (Khu vực sông Mê Kông: Myamar, Campuchia, Lào)
- WHO đóng vai trò điều phối và giúp đỡ kỹ thuật
- Năng cao sự cam kết của các chính phủ trong PCSR
- Các chiến lược về chuyên môn PCSR cơ bản không thay đổi
d Các ưu tiên: Có màn và hóa chất tẩm màn phòng chống vector cho đối tượng nguy cơ; Phát hiện bệnh sốt rét sớm điều trị kịp thời, an toàn và hiệu quả; Điều trị dự phòng cho phụ nữ có thai ở vùng SRLH nặng; Dự báo
và phòng chống tốt với dịch sốt rét
Trang 24e Sáng kiến đẩy lùi bệnh sốt rét ở khu vực sông Mê Kông, 1999- TP
Hồ Chí Minh Có chia sẻ qua biên giới các vấn đề sốt rét; Sốt rét chủ yếu lan truyền ở vùng rừng núi; Dân tộc thiểu số và người di dân là nhóm nguy cơ chính; Đa kháng thuốc của ký sinh trùng sốt rét
- Thỏa thuận về chiến lược kỹ thuật chính trong đẩy lùi sốt rét khu vực
Mê Kông: Xét nghiệm đặc hiệu ngay tại chổ qua kính hiển vi hay test thử
nhanh; Chỉ điều trị sốt rét do P.falciparum một khi đã được xác nhận; Điều trị
phối hợp có hiệu quả và được tiêu chuẩn hóa; PCSR qua các dịch vụ nhà nước, cộng đồng và tư nhân
- Để phục vụ các đối tượng có nguy cơ, khu vực y tế nhà nước cần thiết lập các hệ thống về: Các chính sách liên quan đến sốt rét và PCSR; Các quy định về thuốc và các sản phẩm dùng cho chẩn đoán; vấn đề hậu cần kịp thời, giá cả hợp lý; Các hướng dẫn, đào tạo, thông tin, giáo dục, truyền thông để người cung cấp và sử dụng biết khi nào cần cung cấp và cần gì; Giám sát dịch
vụ, sản phẩm, phân phối, sử dụng của bệnh nhân; Giám sát sốt rét gồm cả việc theo dõi vấn đề sốt rét kháng thuốc [40]
1.4 Chương trình tiêu diệt và phòng chống sốt rét ở Việt Nam
1.4.1 Các giai đoạn chính
+ Giai đoạn 1991-2000 Trong 30 năm tiến hành chống sốt rét, Việt
Nam đã đạt nhiều thành tích, song do thiếu điều kiện để duy trì thành quả, sốt rét quay trở lại trong phạm vi cả nước mà đỉnh cao là năm 1991 cả nước có hơn 1 triệu người mắc, 4.646 người chết, gây chấn động dư luận xã hội Từ năm 1992, Chính phủ đã quan tâm thực sự đến chương trình PCSR
+ Giai đoạn 2001-2005
Mục tiêu chung: Tiếp tục đẩy lùi bệnh sốt rét tập trung vào vùng sốt rét lưu hành nặng vào các nhóm dân nguy cơ cao, dân di biến động vào các vùng sốt rét lưu hành Phát triển các yếu tố bền vững không để sốt rét quay trở lại
Trang 25Mục tiêu cụ thể năm 2001-2005: Giảm chết sốt rét 5% so với năm 2000 Giảm mắc sốt rét 5% so với năm 2000 Không để dịch sốt rét xảy ra [40]
+ Giai đoạn 2006-2010
Mục tiêu giảm mắc sốt rét 0,8/1000 dân; giảm chết sốt rét 0,02/100.000 dân và không có dịch lớn sốt rét xảy ra Bảo vệ bằng hóa chất tẩm màn và phun tồn lưu cho 10-11 triệu người dân trong một năm Cung cấp 300.000 màn/năm cho các đối tượng đích và cung cấp 2 triệu liều thuốc sốt rét tự điều trị trong năm
Kết quả mỗi năm cả nước xét nghiệm 3,1 triệu lam máu, trong đó do xã thực hiện 42%, 77% lam phát hiện thụ động Thuốc sốt rét cấp cho tự điều trị chiếm 75 - 80% tổng số liều thuốc cấp Số điều trị dự phòng và cấp thuốc tự điều trị hàng năm cao hơn 6 - 7 lần so với số bệnh nhân sốt rét điều trị 100%
cơ sở y tế có đủ thuốc sốt rét Tỷ lệ bệnh nhân XN máu đạt 92,2% Tỷ lệ bệnh nhân điều trị đúng thuốc, đủ liều đạt 80% Độ bao phủ phòng chống vector đạt 100% dân số nguy cơ Hàng năm cả nước có 10 - 11 triệu người được bảo
vệ bằng hóa chất [13], [42]
+ Giai đoạn 2011-2020
Mục tiêu chung: Phòng chống sốt rét chủ động tích cực tại các vùng sốt rét lưu hành nặng và vừa Triển khai loại trừ bệnh sốt rét ở các vùng sốt rét đã giảm thấp trong nhiều năm Đến năm 2020 tỷ lệ mắc sốt rét đạt dưới 0,15/1.000 dân, tỷ lệ chết do sốt rét dưới 0,02/100.000 dân, loại trừ bệnh sốt rét tại ít nhất 40 tỉnh, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân và sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước [35]
* Kết quả phòng chống sốt rét đã đạt được
Từ năm 1991 nước ta thực hiện chiến lược phòng chống sốt rét và Dự
án phòng chống sốt rét là một dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia ưu tiên cho đến nay Được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Nhà nước cùng với
Trang 26sự nỗ lực quyết tâm của cán bộ ngành Y tế, công tác phòng chống sốt rét ở nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể [42]
Sau 10 năm thực hiện phòng chống sốt rét: Số người mắc sốt rét giảm 73,1% so với năm 1991 (1.091.251 người); số người chết do sốt rét giảm 98,5% so với năm 1991 (4.646 người), 2 vụ dịch sốt rét (phạm vi thôn, bản), giảm 98,6% so với năm 1991 (144 vụ dịch)
Sau 20 năm thực hiện phòng chống sốt rét đã đạt và vượt mục tiêu của Chính phủ theo Quyết định số 108/2007/QĐ-TTg ngày 17/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ: Đến năm 2010, không có dịch xảy ra, cả nước ghi nhận 20 người chết do sốt rét, 53.876 trường hợp mắc sốt rét Tỷ lệ chết do sốt rét /100.000 dân là 0,02, giảm 89,5% so với năm 2000 (148 người) Tỷ lệ mắc SR/1.000 dân là 0,61, giảm 84,1% so với năm 2000 (293.016 người) Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét/1.000 dân là 0,19 Từ năm 2000 đến 2010, mỗi năm có từ 10 triệu đến 12 triệu người trong vùng sốt rét lưu hành được bảo vệ bằng hóa chất diệt muỗi miễn phí, trong đó 1,2 triệu - 2 triệu người được bảo
vệ bằng hoá chất phun tồn lưu và 9,5 triệu - 10 triệu người được bảo vệ bằng màn tẩm hóa chất diệt muỗi Thuốc sốt rét được cấp miễn phí từ 1 triệu -2 triệu liều/năm [35], [53]
Công tác phòng chống sốt rét ở nước ta đã đạt được các kết quả đáng kể
đó là tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét giảm qua hàng năm Tính đến năm 2013,
tỷ lệ mắc sốt rét trên 1000 dân giảm 37,0% so với năm 2010 (0,39/0,62), số trường hợp tử vong do sốt rét giảm 71,4% so với năm 2010 (6/21 trường hợp) Mỗi năm có khoảng 10 triệu người dân sống trong vùng sốt rét lưu hành được bảo vệ bằng hóa chất diệt muỗi và hàng chục nghìn bệnh nhân được cấp thuốc điều trị sốt rét miễn phí [5]
Trang 271.4.2 Những khó khăn tồn tại đối với chương trình phòng chống sốt rét
a Về kinh tế xã hội
Dân số sống trong vùng sốt rét lưu hành cao, chủ yếu là người nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở các vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, khu vực biên giới,
Giao lưu dân qua biên giới giữa các nước gia tăng, đặc biệt với Lào và Căm-pu-chia nơi có sốt rét lưu hành cao Người dân Lào thường qua lại Việt Nam thường xuyên hơn người Việt Nam sang Lào (nguyên nhân chính là để buôn bán) và có ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc, làm tăng nguy cơ về dịch,
sự lan rộng và kéo dài của sốt rét [5], [26], [64]
Gia tăng di biến động dân giữa các địa phương theo mùa vụ từ vùng không còn sốt rét vào vùng sốt rét lưu hành để làm kinh tế làm tăng nguy cơ mắc và lan rộng sốt rét cho cả nơi có dân đi và nơi có dân đến
Tập quán của người đi làm rừng, làm rẫy và ngủ lại qua đêm thường có
tỷ lệ sử dụng màn và các biện pháp bảo vệ cá nhân khác thấp khoảng 25% đàn ông ở cả hai phía ngủ qua đêm ở rừng, yếu tố này có liên quan đến tỷ lệ mắc sốt rét ở Việt Nam nên có nguy cơ mắc bệnh cao [5], [27], [51]
Chất lượng chẩn đoán và điều trị sốt rét tại tuyến cơ sở của nhiều địa phương chưa cao, nên việc phát hiện và điều trị cho bệnh nhân sốt rét thường muộn, ảnh hưởng đến kết quả điều trị và phòng chống dịch
Đã xuất hiện KST sốt rét P falciparum kháng thuốc tại 5 tỉnh (Bình
Phước, Đắk Nông, Gia Lai, Quảng Nam và Khánh Hòa) và có nguy cơ lan rộng tới những địa phương khác trên toàn quốc nếu không có những biện
pháp khống chế kịp thời và hiệu quả Nguy cơ về mắc sốt rét do P vivax tăng
lên tại các tỉnh miền Bắc
Muỗi An.minimus và An.dirus truyền sốt rét thường trú đậu và đốt
người ở ngoài nhà, nên gặp nhiều khó khăn trong phòng chống bằng phun hóa
Trang 28chất tồn lưu và tẩm màn Đã xuất hiện muỗi An.epiroticus có biểu hiện kháng
hóa chất diệt muỗi nhóm Pyrethroid hiện dùng [5]
b Về nguồn lực
Nguồn kinh phí cấp từ Nhà nước còn hạn chế và không ổn định, trong khi đó nguồn kinh phí viện trợ của các tổ chức quốc tế và nước ngoài có xu hướng giảm nên các hoạt động phòng chống sốt rét cũng gặp nhiều khó khăn
Tổ chức mạng lưới cán bộ làm công tác phòng chống sốt rét tại tuyến
cơ sở của nhiều địa phương còn chưa đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, nên cần được củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động, bổ sung nguồn lực để đáp ứng yêu cầu
Một số vùng do số mắc sốt rét giảm thấp hoặc không có trong nhiều năm liền nên công tác phòng chống sốt rét đã không còn được chú ý và quan tâm đúng mức [5]
1.5 Tình hình phòng chống sốt rét của huyện Minh hóa
Năm 2017, huyện Minh Hóa có dân số 53.851, dân tộc kinh chiếm đa
số và các dân tộc ít người Chứt, Khùa, Mày… với 10.986 người và có 12.502
hộ, có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, nhất là vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xã, vùng biên giới Minh Hóa là huyện trọng điểm sốt rét của tỉnh Quảng Bình trước kia và cả nước hiện nay Theo phân vùng sốt rét của Trung tâm Y tế huyện Minh Hóa năm 2014, huyện Minh Hóa là huyện thuộc vùng sốt rét lưu hành, dân số vùng lưu hành sốt rét nặng là 7.620 người thuộc 2 xã Dân Hóa và Trọng Hóa, Dân số vùng lưu hành sốt rét vừa là 9.989 gồm 4 xã Hóa Phúc, Hóa Hợp, Hóa Sơn và Hồng Hóa và dân số vùng lưu hành sốt rét nhẹ là 36.917 người gồm các xã còn lại Minh Hóa là địa bàn giáp với nước bạn Lào với 82 km đường biên giới nên bà con 2 bên thường giao lưu buôn bán ở vùng giáp biên giới trong khi Lào chưa có biện pháp PCSR tốt như ở Việt Nam, 47 % người ở Lào sang điều trị ở Việt Nam, 17,5% người ở Lào
Trang 29chọn phương pháp tự điều trị và các quầy bán thuốc tư nhân, trong lúc đó ở Việt Nam tỷ lệ này là dưới 1% nên khả năng lan truyền sốt rét từ Lào sang Việt Nam là rất lớn [27]
Được sự hỗ trợ của Dự án Quỷ toàn cầu PCSR và chương trình phòng chống sốt rét quốc gia mỗi năm dân số được bảo vệ tẩm và phun hóa chất từ 80% đến 100%, cấp màn PCSR từ 6.000 đến 10.000 chiếc, tăng cường giám sát sốt rét từ thôn bản đến Trung tâm Y tế huyện thường xuyên, quản lý và điều trị bệnh nhân sốt rét, cấp thuốc tự điều trị cho người đi rừng ngũ rẫy Tuy nhiên, người dân vùng đồng bào dân tộc còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu, không nằm màn, tin vào thầy lang cúng bái nên nguy cơ sốt rét quay lại rất lớn
Theo báo cáo của Trung tâm Y tế huyện Minh Hóa số liệu bệnh nhân sốt rét thì bệnh nhân sốt rét trong 5 năm từ năm 2013 đến 2017 có 550 bệnh nhân sốt rét Trong đó có 481 bệnh nhân có ký sinh trùng sốt rét, 69 bệnh nhân sốt rét lâm sàng [31], [32]
Theo phân vùng sốt rét của huyện Minh Hóa năm 2014:
- Vùng 1: Vùng nguy cơ sốt rét quay lại
- Vùng 2: Vùng không có sốt rét lưu hành
- Vùng 3: Vùng SRLH nhẹ gồm 10 xã Hóa Thanh, Thượng Hóa, Trung Hóa, Trung Hóa, Minh Hóa, Tân Hóa, Quy Hóa, Hóa Tiến, TT Quy Đạt và Xuân Hóa
- Vùng 4: Vùng sốt rét lưu hành vừa gồm 4 xã Hồng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Hợp và Hóa Phúc
- Vùng 5: Vùng sốt rét lưu hành nặng Gồm 2 xã Dân Hóa và Trọng Hóa
Trang 30Bảng 1 Tình hình dân số và lam xét nghiệm các vùng từ 2013-2017
1.6 Các nghiên cứu về bệnh sốt rét tại Việt Nam và thế giới
Vũ Đức Chính, Trần Quang Phục, Bùi Lê Duy và cs nghiên cứu đánh giá tình hình sốt rét ở xã Đắk Nhau, huyện Bù Đăng và xã Đắk Ơ, huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước năm 2012 đến năm 2015 cho thấy tình hình sốt rét diễn biến phức tạp và không ổn định Hàng năm ký sinh trùng sốt rét thường tăng cao từ tháng 11 đến tháng 4, có đỉnh vào tháng 1 Cụ thể tỷ lệ người đi rừng, rẫy năm 2015 nhiễm ký sinh trùng sốt rét của xã Đắk Nhau là 4,55% và Đắk Ơ là 21,66% Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét nhiễm do đi rừng rẫy so với tổng
số của toàn xã Đắk Nhau là 97,68% và Đắk Ơ là 94,74% Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét năm 2015 ở xã Đắk Nhau nhiễm tại rừng rẫy của địa phương là 59,68%, (Trong đó có 20,16% người nhiễm từ nơi khác đến); Tại xã lân cận tỉnh Đăk Nông là 17,74%; Tại Cămpuchia là 20,16%; Tại thôn bản 2,42% Khả năng mắc sốt rét đối với người đi rừng ngủ rẫy ở Đăk Nhau cao hơn so với người không đi rừng ngủ rẫy là 128,64 lần Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét năm 2015 ở xã Đắk Ơ nhiễm tại rừng rẫy của địa phương là 78,39%, (trong
đó có 17,23% nhiễm người nơi khác đến); Tại Cămpuchia là 16,35%; Tại thôn bản 5,26% Khả năng mắc sốt rét đối với người đi rừng ngủ rẫy ở Đăk Ơ cao hơn so với người không đi rừng ngủ rẫy là 71,72 lần [8]
Trang 31Nguyễn Văn Sơn, Lường Minh Thắng, Bùi Đăng Dương Phân tích đánh giá kết quả phòng chống sốt rét sau 20 năm can thiệp các biện pháp phòng chống (1991-2010), tình hình sốt rét tỉnh Sơn La đã cho thấy: giai đoạn 1991-2010 trung bình mỗi năm toàn tỉnh có 12.732 bệnh nhân mắc sốt rét với
tỷ lệ từ 0,3 đến 65,7/1.000 dân số Trung bình hàng năm tỷ lệ mắc sốt rét giảm 16,5% Năm 2010 tỷ lệ mắc sốt rét giảm tới 99,9% so với năm
1991 Trung bình mỗi năm tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét chiếm 7,3% so với số ca
chẩn đoán sốt rét chung, tỷ lệ P.falciparum chiếm 81,9% Tỷ lệ lam xét nghiệm
dương tính chiếm 1,3% Tỷ lệ chết trung bình hàng năm chiếm 3,9/100.000 dân Trung bình hàng năm có 12.717 bệnh nhân sốt rét được điều trị và giảm dần qua các năm Từ năm 1991 đến năm 2010 toàn tỉnh có 40 vụ dịch sốt rét trung bình mỗi năm có 2 vụ dịch Dịch xảy ra tập trung vào năm 1991 đến năm 1993 Từ năm 1994 đến năm 2010 không có dịch Từ năm 1991-2010 mỗi năm bảo vệ cho 311.623 người, độ bảo phủ trung bình 34% dân số tỉnh Điều tra KAP năm 2010 cho thấy: tỷ lệ người dân biết bệnh sốt rét do muỗi truyền chiếm 78,3%; Có 87% người dân biết bệnh sốt rét nguy hiểm; 85% biết bệnh sốt rét phòng được, 98% khi bị sốt người dân đều đến với nhân viên
y tế, 84% người dân biết việc ngủ màn là để phòng chống bệnh sốt rét và có 72,3% người dân biết phun hóa chất là để diệt muỗi truyền bệnh sốt rét [29]
Đỗ Vĩnh Tiến năm 2008-2009, nghiên cứu thực trạng sốt rét và một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tình hình dịch tễ sốt rét huyện KRông Bông, tỉnh Đăk Lắc, cho thấy tỷ lệ mắc chung là 5,34%; Trong đó xã Cư Drăm có số mắc sốt rét 5,97%, Hòa Phong 5.37% và Hòa Lễ 4,67% Ký sinh trùng sốt rét:
tỷ lệ KSTSR/lam chung là 3,04%; trong ñó xã Cư Drăm 3,48%, Hòa Phong 2,93% và Hòa Lễ 2,71% Lách sưng do SR: Tỷ lệ lách sưng chung là 1,39%; trong đó xã Cư Drăm 1,49%, Hòa Phong 1,22% và Hòa Lễ 1,48% [33]
Trang 32Lê Xuân Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, Triệu Nguyên Trung và CS (2013), Đánh giá các kết quả đạt được của chương trình phòng chống sốt rét 2006-2010 Cho thấy, mỗi năm cả nước xét nghiệm 3,1 triệu lam máu, trong
đó do xã thực hiện 42%, 77% lam phát hiện thụ động Thuốc sốt rét cấp cho
tự điều trị chiếm 75 - 80% tổng số liều thuốc cấp Số điều trị dự phòng và cấp thuốc tự điều trị hàng năm cao hơn 6 - 7 lần so với số bệnh nhân sốt rét điều trị 100% cơ sở y tế có đủ thuốc sốt rét Tỷ lệ bệnh nhân xét nghiệm lam máu đạt 92,2% Tỷ lệ bệnh nhân điều trị đúng thuốc, đủ liều đạt 80% Độ bao phủ phòng chống vector đạt 100% dân số nguy cơ Hàng năm cả nước có 10 - 11 triệu người được bảo vệ bằng hóa chất [13]
Trương Văn Có năm 2007 đã nghiên cứu sự phân bố và vai trò truyền
bệnh sốt rét của hai phức hợp loại đồng hình An minimus và An dirus trong
loại đồng hình ở miền Trung-Tây Nguyên cho thấy bước đầu xác định 2 loài
An minimus A và C trong loại đồng hình An minimus A và An.minimus C
phân bố chủ yếu ở Quảng Bình còn ở Đắk Nông chủ yếu phân bố An
minimus A và An dirus Sự phân bố của hai loài này liên quan đến sinh cảnh
rừng, nguồn nước và chưa thấy liên quan đến độ cao.Tập tính sinh học của
loài An minimus A gần người và liên quan đến KSTSR An.minimus C chủ yếu đốt người vẫn chưa tìm thấy khả năng dương tính với KSTSR An dirus
là loài vẫn còn tập tính chủ yếu đốt người và dương tính với KSTSR ở khu vực Miền Trung-Tây Nguyên [7]
Vũ Việt Hưng, Vũ Đức Chính, Trần Thanh Dương và CS tiến hành đánh giá mật độ và tình trạng kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét
chính tại một số địa phương năm 2015 cho thấy Muỗi An minimus có mật độ
cao bằng phương pháp soi chuồng gia súc ban đêm tại xã Yên Thố (Cao Bằng), xã Vạn Linh (Lạng Sơn), xã Tam Văn (Thanh Hóa) và xã Ngân Thủy (Quảng Bình) [20]
Trang 33Bùi Quang Phú tiến hành nghiên cứu cơ cấu ký sinh trùng sốt rét tại một số tỉnh vùng sốt rét lưu hành nặng bằng kỷ thuật PCR năm 2009 cho
thấy: Có 4 loài ký sinh trùng ở tỉnh nghiên cứu, Trong đó, P falciparum chiếm 59,69%, P vivax 33,88%, P malariae 5,57% và P ovale chiếm 0,86%
Hai tỉnh Bình Phước và Gia Lai có loài ký sinh trùng sốt rét Tỉnh Ninh Thuận
có 3 loài, còn tỉnh Quảng Trị có 2 loài sốt rét: P falciparumvà P vivax Tỷ lệ
nhiễm phối hợp cao nhất ở Gia Lai 54,77, thấp nhất ở Quảng Trị 15,62% Tỷ
lệ nhiễm P falciparum cao nhất ở Quảng Trị 68,73%, thấp nhất ở Bình Phước 52,72% Tỷ lệ nhiễm P malariae và P ovale cao nhất ở Gia Lai tương ứng
12,57% và 2,57% [39]
Năm 2013, khi tiến hành điều tra 400 mẫu KAP tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cữu, tỉnh Đồng Nai, của Trần Đỗ Hùng cho thấy có 87,8% số người có kiến thức đúng về triệu chứng bệnh sốt rét, 98,5% biết đường lây truyền là do muỗi đốt, 100% biết đúng là bệnh sốt rét phòng chống được, 82,3% biết đúng
cả 3 biện pháp phòng bệnh, 93,8% có thái độ chấp nhận xét nghiệm máu khi
có sốt, 94,8% chấp nhận đến cơ sở y tế nhà nước khi có sốt, 99,5% chấp nhận ngủ màn để phòng chống sốt rét, 98,8% chấp nhận tẩm màn bằng hóa chất diệt muỗi, 98,5% thực hành đứng về ngủ màn là ngủ màn thường xuyên về ban đêm, 97,0% thực hành đứng về tẩm màn là năm 2010 có đem màn đi tẩm, 91% thực hành đúng về việc lựa chọn các dịch vụ khi bị sốt là đến cơ sở y tế nhà nước hoặc tư nhân [21]
Năm 2013, Hồ Văn Hoàng và Nguyễn Duy Sơn tiến hành nghiên cứu hiệu quả biện pháp quản lý bệnh nhân chủ động và truyền thông giáo dục cho người dân di cư tự do tại huyện KRông Bông, tỉnh Đắk Lăk năm 2010-2011 cho thấy: Các biện pháp phát hiện bệnh chủ động và truyền thông giáo dục sức khỏe đã làm giảm tỷ lệ nhiễm KSTSR tại điểm có hệ thống giám sát chủ
Trang 34động là 3,70% thấp hơn so với điểm đối chứng 7,69%, (p<0,05) Kết quả điều tra KAP cho thấy số người biết nguyên nhân gây bệnh sốt rét tại điểm can thiệp lên 88,89% so với 44,30% tại điểm đối chứng (p<0,001) Tăng tỷ lệ ngủ màn ở nhóm can thiệp điểm có truyền thông giáo dục trực tiếp lên 87,40% so với 60,73% ở điểm đối chứng [17]
Năm 2016, Hồ Đắc Thoàn và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ sốt rét khu vực Miền Trung - Tây Nguyên giai đoạn 2011-
2016 Kết quả nghiên cứu cho thấy số bệnh nhân sốt rét toàn khu vực năm
2016 so với 2011 giảm 82,1% Có mặt 4 loài ký sinh trùng sốt rét gồm
P.falciparum, P.vivax, P.malariae và P.knowlesi Loài P.falciparum giảm từ
65,32% (2011) còn 49,05% (2016) P.vivax gia tăng từ 29,47% (2011) lên
49,83% (2016) BNSR nhóm trên 15 tuổi chiếm tỷ lệ 88,85%, nhóm 5-15 tuổi chiếm 8,37% và dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ 2,77% [37]
Năm 2011, Võ Minh Hùng đã nghiên cứu thực trạng sốt rét và một số yếu
tố nguy cơ tại xã KRông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk trong 2 năm 2010 Kết quả tỷ lệ hiện mắc sốt rét khá cao 7,1 %; Tỷ lệ sốt rét có KSTSR dương tính
2,4%; Cơ cấu KSTSR: P falciparum: 85,7%, P vivax: 14,3% Không gặp sốt rét thể phối hợp và các loài Plasmodium khác Tỷ lệ mắc sốt rét ở nam nhiều hơn nữ
(9,6% và 5,1%) Tỷ lệ mắc sốt rét ở dân tộc bản địa cao hơn dân tộc Kinh và dân tộc di cư (lần lượt là 8,2%, 4% và 4,3%) Tỷ lệ mắc sốt rét ở đối tượng từ 15 tuổi trở lên cao hơn đối tượng dưới 15 tuổi ( 8,8% và 2,9%) Tỷ lệ lách to chung
là 1%, lách to ở bệnh nhân sốt rét chiếm 14,3% [23]
Nghiên cứu của Po Ly và cộng sự khi tiến hành phỏng vấn để đánh giá kiến thức và thực hành phòng chống sốt rét ở phía Tây Campuchia Đã có 764 người tham gia tại tỉnh Pailin và 737 người ở Quận Veal Veang Kết quả tỉnh Veal Veang có (76,5%) biết kiến thức phòng chống sốt rét qua biển quảng cáo
Trang 35và gia đình, bạn bè (57,7%), trong khi ở Pailin họ biết thông tin về sốt nhiều
từ đài phát thanh (57,1%) và truyền hình (31,3%) Kiến thức truyền bệnh sốt rét muỗi và phòng ngừa bằng ngủ màn trên 94% ở cả hai tỉnh Sử dụng màn ở Pailin so với Veal Veang (25,3% so với 53,2%) Sử dụng dịch vụ y tế và dược phẩm tư nhân là phổ biến 81,1% bệnh nhân điều trị sốt rét ở Pailin và 86,6%
ở Veal Veang đã được xét nghiệm chẩn đoán Chỉ 29,6% bệnh nhân được điều trị ở Pailin và 19,6% những người được điều trị tại Veal Veng đã điều trị đúng phác đồ [49]
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình Quảng Bình là một tỉnh có 6 huyện và 1 thành phố Trong đó huyện Minh Hóa là một trong những huyện có sốt rét lưu hành của tỉnh
Minh Hóa là huyện miền núi, vùng cao nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng Bình Phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với 89 km đường biên giới, phía Bắc giáp huyện Tuyên Hóa, phía Nam và Đông Nam giáp huyện
Bố Trạch Minh Hóa có dân tộc kinh chiếm đa số và các dân tộc ít người Chứt, Khùa, Mày…tập trung ở các xã biên giới nơi có sốt rét lưu hành nặng và vừa (Dân Hóa, Trọng Hóa, Thượng Hóa và Hóa Sơn) Nhóm dân tộc ít người có trình độ dân trí thấp, kinh tế phụ thuộc vào bao cấp của nhà nước và chủ yếu là khái thác lâm thổ sản, nương rẫy nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn
Diện tích toàn huyện là 1.413 km2, dân số trung bình là 53.742 người, mật độ dân số là 35 người/km², có 16 Trạm y tế xã, thị trấn
Theo phân vùng sốt rét của huyện Minh Hóa năm 2014: Toàn huyện Minh Hóa thuộc vùng sốt rét lưu hành Trong đó:
- Vùng 3 là vùng SRLH nhẹ gồm 10 xã Hóa Thanh, Thượng Hóa, Trung Hóa, Trung Hóa, Minh Hóa, Tân Hóa, Quy Hóa, Hóa Tiến, TT Quy Đạt và Xuân Hóa
- Vùng 4 là vùng sốt rét lưu hành vừa gồm 4 xã Hồng Hóa, Hóa Sơn, Hóa Hợp và Hóa Phúc
- Vùng 5 là vùng SRLH nặng Gồm 2 xã Dân Hóa và Trọng Hóa
Đề tài sẽ được tiến hành nghiên cứu ở 3 xã huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình thuộc 2 nhóm xã sau:
Trang 37+ Nhóm xã sốt rét lưu hành nặng
- Xã Trọng Hóa: Là một xã miền núi, nằm ở rìa Tây Bắc huyện Minh Hóa, trên dãy Giăng Màn một phần của dãy Trường Sơn Phía Bắc xã Trọng Hóa là các xã của huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình Phía Tây là biên giới Việt Nam-Lào, tiếp giáp huyện Bualapha tỉnh Khammuane Phía Đông Đông Nam của xã Trọng Hóa là xã Hóa Thanh, phía Nam là xã Dân Hóa Diện tích
là 87.12 km², dân số là 4.018 người, trong đó 3.903 người dân tộc thiểu số
- Xã Dân Hóa: Là xã nằm ở chính giữa rìa phía Tây của huyện Minh Hóa, phía Tây (giáp với huyện Bualapha tỉnh Khammuane) và phía Nam (giáp với huyện Nakai tỉnh Khammuane), ranh giới là biên giới Việt Nam-Lào Phía Đông Nam và Đông xã Dân Hóa là xã Hóa Sơn, phía Đông Bắc giáp với xã Hóa Thanh, phía Bắc tiếp giáp với xã Trọng Hóa, đều là các xã của huyện Minh Hóa Trên biên giới Việt-Lào, ở phía Nam xã, là cửa khẩu Cha Lo với Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo, điểm đầu của quốc lộ 12A của Việt Nam Quốc
lộ 12A, chạy từ Cha Lo theo hướng Nam-Bắc qua xã Dân Hóa, sang các xã Trọng Hóa và Hóa Thanh Xã Dân Hóa là đầu nguồn của sông Gianh Diện tích là 176,97 km2, dân số 3.602 người, chủ yếu là người thuộc các dân tộc thiểu số: Chứt, Khùa, Mày…
Đặc điểm 2 xã vùng sốt rét lưu hành nặng có địa hình chủ yếu là đồi núi khó khăn cho việc đi lại Trình độ dân trí thấp và vẫn còn nhiều phong tục lạc hậu
Kinh tế gia đình trên 90% là hộ nghèo, sống chủ yếu phụ thuộc vào làm nương, rẫy, săn bắt, khai thác lâm thổ sản và nhờ vào sự bao cấp lương thực của nhà nước
Trang 38+ Nhóm xã sốt rét lưu hành nhẹ
Xã Trung Hóa là xã miền núi, kinh tế của xã chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp có đường Hồ Chí Minh chạy qua xã Phía Nam xã Trung Hóa giáp xã Thượng Hóa, phía Tây giáp xã Hóa Sơn, phía Tây Bắc là xã Hóa Hợp, phía Bắc là xã Xuân Hóa, phía Đông Bắc là xã Minh Hóa Phía Đông Nam là huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình Diện tích là 94,54 km2, tổng số dân vào năm 1017 là 6.000 người
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/8/2017 - tháng 30/5/2018
- Tiến hành hồi cứu các thông tin về tình hình mắc bệnh sốt rét từ tháng 1/2013 - 12/2017
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Các bệnh án, sổ sách ghi chép, tài liệu lưu trữ về quản lý, điều trị, theo dõi BNSR ở 15 xã và 1 thị trấn, Trung tâm Y tế huyện và ở Bệnh viện Đa khoa huyện từ 2013-2017
Trang 39- Người dân có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo đã sống trên địa bàn nghiên cứu tối thiểu từ 12 tháng trở lên tại 3
xã Dân Hóa, Trọng Hóa và Trung Hóa
Tiêu chu n ch n:
- Không mắc bệnh tâm thần hoặc rối loạn ngôn ngữ, giao tiếp
- Sống trên địa bàn huyện thời gian ít nhất là 12 tháng
- Đồng ý tự nguyện tham gia trong nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
p: Tỷ lệ người dân thực hành đúng về phòng chống sốt rét Tỷ lệ này
được ước tính là 0,5
d: Sai số tuyệt đối, được lấy là d = 0,05
Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu được chọn vào nghiên cứu là 384
Từ cỡ mẫu nói trên, tại xã Dân Hóa và Trọng Hóa mỗi xã chúng tôi phỏng vấn 100 người dân trong 4 bản/1 xã và xã Trung Hóa phỏng vấn 184 người dân trong 4 thôn tương ứng với các tiêu chuẩn lựa chọn Trong thực tế điều tra 386 người dân
Trang 40* Phương pháp chọn mẫu
- Chọn huyện: Chọn mẫu chủ đích huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình làm địa bàn nghiên cứu Với huyện Minh Hóa là huyện miền núi nằm trong vùng sốt rét lưu hành
- Chọn xã: Huyện Minh Hóa có 15 xã và 1 thị trấn, chúng tôi chủ đích chọn 3 xã Trọng Hóa và xã Dân Hóa là hai xã miền núi thuộc vùng sốt rét lưu hành nặng và xã Trung Hóa là xã vùng sốt rét lưu hành nhẹ
Tại mỗi xã chọn ngẫu nhiên 4 thôn/bản Tại mỗi thôn/bản, lập danh sách hộ gia đình và chọn ngẫu nhiên một gia đình trong danh sách và bắt đầu tiến hành điều tra theo thuận tiện
- Chọn đối tượng: Tại mỗi hộ gia đình tiến hành phỏng vấn, những hộ gia đình không có đối tượng trong diện nghiên cứu hoặc đối tượng từ chối thì chuyển sang hộ gia đình khác theo thuận tiện cho đến khi đủ cỡ mẫu điều tra thì dừng lại
- Với tài liệu lưu trữ: Tiến hành điều tra hồi cứu các báo cáo sổ sách ghi chép của Trạm y tế các xã, thị trấn, báo cáo lưu tại Trung tâm Y tế huyện, Bệnh viên đa khoa huyện Minh Hóa
2.2.3 Biến số sử dụng trongnghiên cứu
* Nhóm biến số về tình hình bệnh nhân sốt rét:
- Thời gian (năm) nghiên cứu
- Dân số trên địa bàn nghiên cứu
- Số lượng bệnh nhân sốt rét
- Các biến số về nhân khẩu học của bệnh nhân sốt rét
- Số lam máu xét nghiệm
- Loại KSTSR phát hiện
- Nơi nhiễm ký sinh trùng sốt rét
- Tỷ lệ mắc sốt rét theo mùa
- Tỷ lệ mắc sốt rét /1000 dân