1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng nguồn lực điều dưỡng và nhu cầu đào tạo liên tục tại các trung tâm y tế huyện của tỉnh hà nam năm 2017

100 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gaines, thuộc Hội đồng kiểm định đào tạo liên tục y khoa Hoa Kỳ ACCME đánh giá tổng quan 31 công trình nghiên cứu về hiệu quả của CME giai đoạn 1977 – 2002 đưa ra các kết luận sau: 1 CME

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

PHẠM THANH LIÊM

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG

VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC TẠI

CÁC TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN CỦA TỈNH HÀ NAM NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

1 PGS.TS Nguyễn Xuân Bái

2 GS.TS Lương Xuân Hiến

THÁI BÌNH, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng cùng các thầy, cô Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các Phòng chức năng và các Khoa của Trung tâm Y tế huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi tới hai Thầy hướng dẫn của mình là GS.TS Lương Xuân Hiến và PGS.TS Nguyễn Xuân Bái đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã thường xuyên động viên, khích lệ và tạo điều kiện để tôi học tập nghiên cứu trong suốt khóa học vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Bình, tháng 06 năm 2018

Phạm Thanh Liêm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng nghiên cứu này là của riêng tôi Những số liệu trong nghiên cứu là do tôi thu thập trong quá trình nghiên cứu trên địa bàn các Trung tâm Y tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam

Kết quả thu thập đƣợc trong nghiên cứu chƣa đƣợc đăng tải và công bố trên bất kỳ một tạp chí hay công trình khoa học nào Các trích dẫn, số liệu tham khảo trong luận văn đều là những tài liệu đã đƣợc công nhận

Thái Bình, tháng 06 năm 2018

Học viên

Phạm Thanh Liêm

Trang 5

CME Continuing Medical Education

(Cập nhật kiến thức y khoa liên tục) CPD Continuing Professional Development

(Phát triển nghề nghiệp liên tục) ĐDV Điều dƣỡng viên

ĐTLT Đào tạo liên tục

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nguồn nhân lực y tế trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực y tế 3

1.1.2 Tình hình nguồn nhân lực y tế trên thế giới 3

1.1.3 Tình hình nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam 5

1.2 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng 6

1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực điều dưỡng 6

1.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng 6

1.3 Hệ thống chăm sóc sức khoẻ tuyến huyện 8

1.3.1 Vị trí của hệ thống chăm sóc sức khỏe tuyến huyện 8

1.3.2 Định mức biên chế, cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế tuyến huyện 9

1.4 Đào tạo liên tục 10

1.4.1 Một số khái niệm về đào tạo liên tục: 10

1.4.2 Tầm quan trọng của công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế 11

1.4.3 Đào tạo liên tục cán bộ y tế tại một số nước trên thế giới 13

1.4.4 Đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam và tỉnh Hà Nam 14

1.5 Một số nghiên cứu về nhân lực điều dưỡng và nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y tế 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 23

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 23

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

Trang 7

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 25

2.3 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.3.1 Số liệu định lượng 26

2.3.2 Số liệu định tính: 27

2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 27

2.4.1 Biến số và chỉ số về thông tin chung 27

2.4.2 Biến số và chỉ số về nguồn nhân lực điều dưỡng 28

2.4.3 Biến số và chỉ số về Đào tạo liên tục 29

2.5 Xử lý số liệu 30

2.5.1 Nghiên cứu định lượng 30

2.5.2 Nghiên cứu định tính 30

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 30

2.6.1 Sai số có thể gặp: 30

2.6.2 Cách khắc phục: 30

2.7 Hạn chế của đề tài 31

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại các Trung tâm Y tế huyện của tỉnh Hà Nam 32

3.1.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32

3.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại các Trung tâm Y tế tuyến huyện 33

3.1.3 Kết quả nghiên cứu định tính về thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng 39

3.2 Nhu cầu đào tạo liên tục của đội ngũ điều dưỡng 42

Trang 8

Chương 4: BÀN LUẬN 53 4.1 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại các Trung tâm Y tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam 53 4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 53 4.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại các Trung tâm Y tế

tuyến huyện 55 4.2 Nhu cầu đào tạo liên tục của nhân lực điều dưỡng tại các Trung tâm Y

tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam 62 KẾT LUẬN 71 KHUYẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ Điều dƣỡng viên theo tuổi và giới tính 32

Bảng 3.2 Trình độ hiện tại của đối tƣợng 32

Bảng 3.3 Bộ phận công tác của đối tƣợng 33

Bảng 3.4 Nhận thức của đối tƣợng về những khó khăn khi công tác tại Trung tâm 34

Bảng 3.5 Nhận thức của đối tƣợng về nội dung cơ bản nhất của Thông tƣ liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 35

Bảng 3.6 Phân bố về nguyện vọng đào tạo chuyên môn của đối tƣợng 35 Bảng 3.7 Loại hình đào tạo nâng cao trình độ đối tƣợng muồn học 36

Bảng 3.8 Lý do đối tƣợng không muốn học nâng cao trình độ 36

Bảng 3.9 Nhận thức về kỹ năng ĐDV cần có của đối tƣợng 37

Bảng 3.10 Liên quan giữa nhu cầu học tập nâng cao trình độ với một số đặc điểm điều dƣỡng 38

Bảng 3.11 Nhận thức của đối tƣợng về nội dung cơ bản nhất của Thông tƣ số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 về quản lý ĐTLT 42

Bảng 3.12 Nhận thức của đối tƣợng về trách nhiệm của CBYT theo Thông tƣ số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 về quản lý ĐTLT 43

Bảng 3.13 Nhận thức của đối tƣợng về chế tài khi không thực hiện ĐTLT theo Thông tƣ số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 43

Bảng 3.14 Nhận thức của đối tƣợng về số tiết ĐTLT tối thiểu trong 2 năm liên tiếp theo Thông tƣ số 22/2013/TT-BYT 44

Bảng 3.15 Lý do đối tƣợng tham gia ĐTLT 45

Bảng 3.16 Giảng viên các khóa đào tạo liên tục 46

Bảng 3.17 Nội dung các khóa đào tạo liên tục 46

Bảng 3.18 Những khó khăn của đối tƣợng khi tham gia ĐTLT 47

Trang 10

Bảng 3.19 Nội dung đối tƣợng có nguyện vọng đƣợc ĐTLT 48 Bảng 3.20 Địa điểm đối tƣợng có nguyện vọng đƣợc ĐTLT 48 Bảng 3.21 Thời gian đối tƣợng có nguyện vọng đƣợc ĐTLT 49 Bảng 3.22 Liên quan giữa tham gia ĐTLT của đối tƣợng với giới tính 49 Bảng 3.23 Liên quan giữa tham gia ĐTLT trong 2 năm 2016, 2017 với

thâm niên công tác của đối tƣợng 50 Bảng 3.24 Liên quan giữa tham gia ĐTLT trong 2 năm 2016, 2017 với loại

hình đối tƣợng đƣợc đào tạo 50 Bảng 3.25 Liên quan giữa nguyện vọng đƣợc ĐTLT của đối tƣợng với giới tính 51 Bảng 3.26 Liên quan giữa nguyện vọng đƣợc ĐTLT với thâm niên công

tác của đối tƣợng 51 Bảng 3.27 Liên quan giữa nguyện vọng đƣợc ĐTLT với sự hài lòng về

công việc hiện tại của đối tƣợng 52

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố về chuyên ngành của đối tƣợng 33 Biểu đồ 3.2 Phân bố về loại hình đào tạo của đối tƣợng 34 Biểu đồ 3.3 Sự hài lòng/không hài lòngvề công việc hiện tại của đối tƣợng 37 Biều đồ 3.4 Liên quan giữa mức độ hài lòng về công việc của đối tƣợng

với giới tính 39 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đối tƣợng đƣợc/không đƣợc phổ biến nội dung 42 Biểu đồ 3.6 Nhận thức của đối tƣợng về tham gia ĐTLT khi đang học nâng

cao trình độ theo Thông tƣ số 22/2013/TT-BYT 44 Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ đối tƣợng tham gia/không tham gia ĐTLT trong 2 năm

2016, 2017 45 Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ đối tƣợng có nguyện vọng/khôngcó nguyện vọng ĐTLT 47

Trang 12

DANH MỤC HỘP

Hộp 3.1 Nhận xét về số lƣợng nhân lực điều dƣỡng 39 Hộp 3.2 Nhận xét về chất lƣợng nhân lực điều dƣỡng 40 Hộp 3.3 Nhận xét về cơ cấu và phân bố nhân lực điều dƣỡng 40 Hộp 3.4 Nhận xét về công tác đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng nhân lực

điều dƣỡng 40 Hộp 3.5 Ý kiến về vấn đề thiếu ĐDV có trình độ từ cao đẳng trở lên 41 Hộp 3.6 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút và duy trì nhân

lực điều dƣỡng 41

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, yếu tố quyết định trong sự phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi địa phương Ngành y tế là một ngành đặc thù, liên quan trực tiếp tới tính mạng và sức khỏe con người, do vậy việc phát triển nguồn nhân lực y tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân Tại các cơ sở khám chữa bệnh thì nhân lực có vai trò quyết định đến chất lượng dịch vụ y tế và sự hài lòng của người bệnh Một trong những nguồn nhân lực quan trọng đóng góp vào chất lượng dịch vụ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh là nhân lực điều dưỡng Trong chiến lược phát triển công tác điều dưỡng, hộ sinh giai đoạn 2002 - 2008, Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định dịch vụ điều dưỡng, hộ sinh là một trong những trụ cột của

hệ thống chăm sóc y tế [56] Nghị quyết chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong sự tăng cường hệ thống y tế của Tổ chức Y tế thế giới cũng ghi nhận điều dưỡng viên, hộ sinh viên có mặt ở mọi tuyến của hệ thống y tế và có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của hệ thống y tế như tăng cường sự tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, đảm bảo tính phổ cập, công bằng, hiệu quả trong các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ [57], [58]

Điều dưỡng viên là lực lượng trực tiếp chăm sóc sức khỏe người dân ở cộng đồng và trong các cơ sở y tế với chi phí hợp lý và hiệu quả; đóng góp tích cực vào việc phòng và kiểm soát bệnh tật thông qua truyền thông, giáo dục nâng cao sức khỏe, khuyến khích lối sống lành mạnh cho người dân trong cộng đồng; duy trì và tăng cường sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Điều dưỡng viên cung cấp các dịch vụ chăm sóc trong các bệnh viện, các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, xử trí từ các cấp cứu, tai nạn cho đến các chăm sóc giảm nhẹ lúc cuối đời; tham gia trực tiếp cung cấp dịch vụ trong và sau thảm họa và tham gia liên ngành trong chuẩn bị ứng phó với thảm họa, dịch bệnh

Trang 14

[4] Do đó muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trước tiên phải quan tâm nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực điều dưỡng

Tại Việt Nam, trong những năm qua mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn thách thức nhưng Bộ Y tế đã thực hiện nhiều chính sách, giải pháp nhằm củng cố, quản lý, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực bệnh viện về số lượng và chất lượng Theo Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 - 2020, phấn đấu đến năm 2020 có 20 điều dưỡng/1 vạn dân, từ đó Bộ Y tế dự báo đến năm 2020 hệ thống y tế nước ta cần bổ sung thêm 83.851 điều dưỡng viên [8] Trình độ nhân lực điều dưỡng

đa số là cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chiếm hơn 89% (90.600 trong tổng số 101.386) [10] Điều này đồng nghĩa với điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên chưa đáp ứng chuẩn đào tạo của Bộ Y tế, cũng như theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới và chưa đáp ứng yêu cầu Thoả thuận công nhận dịch vụ Điều dưỡng đã được Chính phủ các nước Đông Nam Á ký kết ngày 08/12/2006 tại Cebu, Philippines [46]

Trên địa bàn tỉnh Hà Nam cho đến nay chưa có nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng để phân tích, đánh giá sâu về số lượng, chất lượng và hiệu quả đáp ứng đối với việc chăm sóc sức khỏe nhân dân tại các

Trung tâm Y tế tuyến huyện Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng và nhu cầu đào tạo liên tục tại các Trung tâm

y tế huyện của tỉnh Hà Nam năm 2017” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại các Trung tâm y tế huyện thuộc tỉnh Hà Nam năm 2017

2 Xác định nhu cầu đào tạo liên tục và một số yếu tố liên quan của đội ngũ điều dưỡng trên địa bàn nghiên cứu

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nguồn nhân lực y tế trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực y tế

- Khái niệm nguồn nhân lực: nguồn nhân lực là tổng thể những người

có khả năng lao động đang và sẽ tham gia lao động tạo ra của cải vật chất và tinh thần trong xã hội [32]

- Khái niệm nguồn nhân lực y tế: là tổng thể những người có khả năng

lao động với thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động nhằm bảo

vệ và nâng cao sức khoẻ của nhân dân, cộng đồng [32]

- TCYTTG định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham

gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khoẻ Theo đó nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và các nhân viên khác: nhân viên cấp dưỡng, hộ lý, lái xe, kế toán Họ góp phần quan trọng trong việc thực hiện hầu hết chức năng hệ thống y tế”

NVYT tham gia chủ yếu vào các hoạt động CSSK là lực lượng được trả lương Đó là những người làm trong các cơ sở khám, chữa bệnh mà công việc của họ gián tiếp hoặc trực tiếp cung cấp dịch vụ CSSK Ngoài ra NVYT còn là những người cung cấp dịch vụ CSSK trong các cơ sở khác như nhà máy, xí nghiệp, trường học Do đó nguồn nhân lực y tế bao gồm những người trong các

tổ chức có mục đích nâng cao sức khoẻ, cũng như những người mà công việc của họ cũng là nâng cao sức khoẻ nhưng làm việc trong các tổ chức khác [55]

1.1.2 Tình hình nguồn nhân lực y tế trên thế giới

1.1.2.1 Số lượng nhân viên

Theo TCYTTG ước tính có khoảng 48,3 triệu NVYT trên toàn thế giới, bao gồm cả những người đang làm việc trong các cơ sở y tế có vai trò cải

Trang 16

thiện sức khoẻ (chẳng hạn như các chương trình y tế được điều hành bởi các

tổ chức chính phủ và tổ chức phi chính phủ) và các nhân viên trong các tổ chức y tế (như nhân viên y tế trong các công ty hoặc phòng khám của trường học) Dự kiến đến năm 2030 số lượng NVYT toàn cầu sẽ ở mức 80,2 triệu Với mức độ gia tăng nhu cầu về số lượng như vậy, TCYTTG dự báo sự thiếu hụt vào năm 2030 sẽ là từ 16 đến 19 triệu NVYT [59]

1.1.2.2 Phân bố nhân viên y tế

Nhân viên y tế phân bố không đồng đều giữa các châu lục Những khu vực có gánh nặng bệnh tật tương đối thấp thì lại có số NVYT cao nhất Trong khi đó những khu vực vùng có gánh nặng bệnh tật lớn nhất thì lại có lực lượng NVYT ít hơn nhiều Điển hình như khu vực Châu Mỹ chỉ có 10% gánh nặng bệnh tật toàn cầu nhưng lại chiếm gần 37% số NVYT và dành hơn 50% nguồn tài chính của thế giới cho sức khoẻ Ngược lại tại khu vực Châu Phi gánh nặng bệnh tật lên đến 24% nhưng chỉ có hơn 3% NVYT toàn cầu và chỉ dành hơn 1% nguồn tài chính thế giới cho sức khoẻ [55]

Sự phân bố NVYT cũng có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn Mật độ NVYT cao ở các trung tâm đô thị, nơi có trường đào tạo và người dân

có thu nhập cao là phổ biến Khu vực thành thị có dưới 55% dân số thì có hơn 75% bác sỹ, trên 65% điều dưỡng và 58% NVYT khác sống ở khu vực đó [55]

Trong giới hạn vùng và quốc gia thì sự tiếp cận dịch vụ Y tế cũng không đồng đều Các số liệu tổng hợp nguồn nhân lực ở Đông Nam Á cho thấy không có sự thiếu hụt quá lớn với mức trung bình trong khu vực là từ 2,7 bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh trên 1000 người dân Tuy nhiên ở cấp quốc gia có

5 nước (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanma và Việt Nam) dưới ngưỡng thiếu hụt lớn của WHO là 2,28 bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh trên 1000 người dân Tỷ số giữa điều dưỡng, hộ sinh trên bác sỹ ở Đông Nam Á cao hơn mức trung bình toàn cầu, nhưng có sự khác biệt đáng kể giữa các nước như Indonesia có tỷ lệ cao nhất: 6,8 trong khi đó Việt Nam chỉ có 1,8 Những tỷ

Trang 17

số khác nhau này phản ánh những lựa chọn chính sách ở một số nước chú trọng vào chăm sóc ban đầu dựa vào điều dưỡng Tuy nhiên sự khác biệt ở các nước cũng có thể là kết quả của thị trường năng động trong nước và vấn

đề thương mại trong dịch vụ y tế [19]

1.1.3 Tình hình nguồn nhân lực y tế tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2015, cả nước có 441.446 NVYT Trong đó, có 73.567 bác sỹ, chiếm tỷ lệ 16,67%; dược sỹ (đại học, trung học

và KTV dược) là 81.623 chiếm tỷ lệ 18,49%; điều dưỡng (đại học, cao đẳng

và trung học) là 97.426 chiếm tỷ lệ 22,07%; hộ sinh (đại học, cao đẳng và trung học) là 27.849 chiếm tỷ lệ 6,31% Có 8,0 bác sỹ; 2,42 dược sỹ đại học

và 11,1 điều dưỡng trên một vạn dân [10]

Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015 của Bộ Y tế và nhóm đối tác y tế (JAHR 2015) thì chỉ tiêu về số bác sỹ/1 vạn dân tăng từ 7,2 năm 2010 lên 8,0 năm 2015; dược sỹ đại học/1 vạn dân tăng từ 1,76 năm

2010 lên 2,2 năm 2015; điều dưỡng/1 vạn dân tăng từ 9,35 năm 2010 lên 10,02 năm 2011 [11] Số lượng nhân lực y tế đã tăng lên nhiều qua các năm, đặc biệt là số bác sỹ, dược sỹ đại học, điều dưỡng

Tuy nhiên nhân lực y tế Việt Nam còn một số vần đề bất cập cần giải quyết:

- Thiếu nhân lực y tế ở một số chuyên ngành như Y học dự phòng , y tế công cộng, nhi, truyền nhiễm, tâm thần, pháp y, giải phẫu bệnh, lao và phong, thanh tra an toàn vệ sinh thực phẩm, kỹ thuật viên y tế, kỹ sư chuyên về thiết

bị y tế, thống kê y tế Điển hình là nhân lực y tế cho hệ thống YTDP, số lượng cán bộ YTDP tuyến tỉnh mới chỉ đáp ứng khoảng 60% so với nhu cầu được quy định tại Thông tư 08/2007/TTLT-BNV-BYT[11], [3]

- Nhân lực y tế phân bố không đều giữa các vùng, các tuyến; chất lượng nguồn nhân lực y tế cũng là một vấn đề cần ưu tiên giải quyết, đặc biệt ở tuyến

cơ sở, vùng sâu, vùng xa Chế độ đãi ngộ với cán bộ y tế chưa phù hợp, lương

Trang 18

và phụ cấp cho cán bộ y tế quá thấp, không tương xứng với thời gian học tập, công sức lao động, môi trường lao động, điều kiện làm việc vất vả [12]

- Chất lượng đào tạo chưa được cải thiện ở nhiều cơ sở đào tạo về nhân lực y tế (cơ sở vật chất thiếu, số lượng và chất lượng giảng viên còn ít; chương trình đào tạo chưa được cập nhật kịp thời; chưa thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo) Chương trình đào tạo mới và đào tạo liên tục vẫn chưa được chú trọng Phần lớn các chương trình chưa dành nhiều thời gian cho thực hành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng lâm sàng và kỹ năng y tế công cộng cũng như kỹ năng mềm cho người học [5]

1.2 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng

1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực điều dưỡng

Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, điều dưỡng gồm các chức danh và tiêu chuẩn về trình độ đào tạo như sau:

- Điều dưỡng hạng II: Mã số: V.08.05.11; tốt nghiệp chuyên khoa cấp 1 hoặc thạc sỹ chuyên ngành điều dưỡng

- Điều dưỡng hạng III: Mã số: V.08.05.12; tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành điều dưỡng

- Điều dưỡng hạng IV: Mã số: V.08.05.13; tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành điều dưỡng [13]

1.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng

- Về số lượng: Theo thống kê năm 2015, Việt Nam có 1,236 ĐDV/1000 dân, được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ thấp trong khu vực Đông Nam Á Tỷ lệ này ở Brunei là 8,048; Philippines là 6,0; Singapore là 4,7 Tỷ lệ ĐDV/1000 dân của nước ta chỉ xếp trên Myanma (1,003), Lào (0,876), Campuchia (0,791) và kém xa nhóm các nước phát triển như Đan Mạch (17,269), Đức (11,489), Australia (10,648), Mỹ (9,815) [20]

Việt Nam được xếp vào nhóm những nước có tỷ lệ NVYT/10.000 dân cao (35 người/1 vạn dân, 2009) , nhưng cơ cấu lại không đồng đều mặc dù số

Trang 19

lượng nhân lực điều dưỡng, hộ sinh có tăng lên qua từng năm nhưng tỷ lệ ĐDV, HSV/10.000 dân lại xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ thấp do chính sách tuyển dụng tại các cơ sở y tế Theo thống kê năm 2008 của TCYTTG, tỷ lệ ĐDV, HSV/bác sỹ ở Philippine là 5,1; ở Indonesia là 8,0; Thái Lan là 7,0 trong khi đó tỷ lệ này ở Việt Nam chỉ là 1,6 xếp hàng thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á [4]

- Về phân bố theo cơ cấu: Tỷ lệ ĐDV, HSV/bác sỹ ở các cơ sở KCB còn rất thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác CSNB và chất lượng dịch vụ KCB Tỷ lệ thấp không phải do thiếu nguồn, số lượng điều dưỡng, hộ sinh được đào tạo không phải là ít, nhưng đây là vấn đề tuyển dụng, nhất là ở tuyến trung ương Hiện nay số điều dưỡng , hộ sinh trung cấp được đào tạo ở hầu hết tất cả các tỉnh, nên việc bảo đảm về số lượng không phải là một vấn

đề lớn, mà là cần chú trọng đến chất lượng và từng bước nâng cấp họ lên trình

độ cử nhân một tình hình cần lưu ý là các bệnh viện từng bước thực hiện việc

tự chủ về tài chính tuyển ít điều dưỡng viên để tiết kiệm chi phí, vì vậy chưa thực hiện chăm sóc toàn diện, việc chăm sóc do người nhà thực hiện hoặc thuê người chăm sóc [4]

- Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 phải bảo đảm cơ cấu cán bộ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh là 3,5 điều dưỡng/1 bác sỹ, như vậy ước tính cả nước còn thiếu khoảng 100.000 ĐDV, HSV làm việc tại các cơ sở y tế [18]

- Về trình độ chuyên môn: Trong những năm gần đây với sự phát triển công tác đào tạo ĐDV nhiều loại hình được hình thành như cử nhân điều dưỡng, cử nhân điều dưỡng sản phụ khoa, thạc sỹ điều dưỡng, chuyên khoa I điều dưỡng Mặc dù vậy, theo thống kê năm 2015 ở nước ta 74,6% lực lượng điều dưỡng còn ở trình độ trung cấp, mới chỉ có 11,4% ĐDV có trình độ đại học, 12,2% ĐDV có trình độ cao đẳng, 0,3% ĐDV có trình độ sau đại học và

Trang 20

còn 1,6% ĐDV có trình độ sơ học [21] Như vậy, hiện nay Việt Nam mới chỉ

có 20,4% Điều dưỡng viên có trình độ từ cao đẳng trở lên tương đương với chuẩn đào tạo theo Thoả thuận công nhận dịch vụ Điều dưỡng đã được Chính phủ các nước ASEAN ký kết ngày 08/12/2006 [46]

- Một vấn đề khác đáng quan tâm là y học ngày càng ứng dụng các thành tựu khoa học vào công tác điều trị và tính chuyên khoa hoá ngày càng cao, đòi hỏi các bác sỹ, ĐDV phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác chuyên môn Trong khi ngành điều dưỡng thế giới đã phát triển thành ngành đào tạo đa khoa có nhiều chuyên khoa thì tại Việt Nam mới chỉ có một số ít các cơ sở triển khai đào tạo điều dưỡng chuyên khoa nhưng cũng mới chỉ trên một phạm vi rất hạn chế Ngoài ra, hiện đang có sự mất cân đối về cơ cấu và phân bổ nhân lực y tế nói chung và nhân lực điều dưỡng nói riêng ở các vùng nông thôn và vùng khó khăn Nhân lực ĐDV có trình độ cao chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị và các trung tâm lớn Tình trạng dịch chuyển nhân lực từ tuyến dưới lên tuyến trên, về các thành phố lớn là đáng báo động, ảnh hưởng đến việc bảo đảm số lượng nhân lực y tế cần thiết ở nông thôn, miền núi và y tế cơ sở [4]

1.3 Hệ thống chăm sóc sức khoẻ tuyến huyện

1.3.1 Vị trí của hệ thống chăm sóc sức khỏe tuyến huyện

Điều 81 của Luật khám chữa bệnh quy định hệ thống tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước,

tư nhân và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác Trong đó, hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước bao gồm 4 tuyến: (1) Tuyến trung ương; (2) Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (3) Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; (4) Tuyến xã, phường, thị trấn [37]

Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh như: Bệnh viện hàng III, hạng IV, bệnh viện chưa xếp

Trang 21

hạng, trung tâm y tế huyện có chức năng khám bệnh, chữa bệnh ở những địa phương chưa có bệnh viện huyện, bệnh xá công an tỉnh; Phòng khám đa khoa, chuyên khoa, nhà hộ sinh [6]

1.3.2 Định mức biên chế, cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế tuyến huyện:

Hiện nay, định mức biên chế của bệnh viện được thực hiện theo Thông

tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV và Thông tư 37/2016/TT-BYT Các Trung tâm y tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam là hạng III, theo thông tư này thì số nhân lực trong trung tâm được tính theo hệ số 1,10 – 1,20 người/giường bệnh [3], [9]

Phân bố theo cơ cấu bộ phận, tỷ lệ CBYT lâm sàng: 60 – 65 %; cận lâm sàng và dược 15 – 22%; quản lý hành chính: 18-20% Phân bố theo cơ cấu chuyên môn, tỷ lệ bác sỹ/chức danh chuyên môn y tế khác: 1/3 – 1/3,5; tỷ

lệ dược sỹ đại học / bác sỹ: 1/8 – 1/1,5; tỷ lệ dược sỹ đại học / dược sỹ trung học: 1/2 – 1/2,5 [3]

Về cơ cấu tổ chức: Gồm có Lãnh đạo trung tâm, các phòng chức năng

và các khoa chuyên môn Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện bao gồm Giám đốc, các Phó Giám đốc Các Phòng chức năng thuộc Trung tâm Y tế huyện: (1) Phòng Tổ chức - Hành chính; (2) Phòng Kế hoạch - Nghiệp vụ; (3) Phòng Tài chính - Kế toán; (4) Phòng Điều dưỡng Các Khoa chuyên môn: (1) Khoa Kiểm soát bệnh tật và HIV/AIDS; (2) Khoa Y tế công cộng và Dinh dưỡng; (3) Khoa An toàn thực phẩm; (4) Khoa Chăm sóc sức khỏe sinh sản; (5) Khoa Khám bệnh/Phòng khám đa khoa; (6) Khoa Hồi sức cấp cứu; (7) Khoa Nội tổng hợp; (8) Khoa Ngoại tổng hợp; (9) Khoa Nhi; (10) Khoa Y học cổ truyền

và Phục hồi chức năng; (11) Khoa Liên chuyên khoa (Răng Hàm Mặt - Mắt - Tai Mũi Họng); (12) Khoa Dược - Trang thiết bị - Vật tư y tế; (13)Khoa Truyền nhiễm; (14) Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn; (15) Khoa Xét nghiệm và Chẩn đoán hình ảnh

Trang 22

1.4 Đào tạo liên tục

1.4.1 Một số khái niệm về đào tạo liên tục:

Đào tạo liên tục trong ngành y (CME - Continuing Medical Education )

là một hình thức giáo dục thường xuyên đặc thù giúp cho CBYT duy trì năng lực chuyên môn, cập nhật những tiến bộ mới và đang phát triển trong lĩnh vực nghề nghiệp của họ Các hoạt động này diễn ra dưới dạng các sự kiện trực tiếp, qua các ấn phẩm (tài liệu), các chương trình trực tuyến, audio, video hoặc các phương tiện điện tử khác Nội dung các chương trình CME được phát triển, biên soạn và cung cấp bởi các giảng viên là chuyên gia trong lĩnh vực lâm sàng riêng của họ [54]

Một khái niệm khác cũng được sử dụng theo Hội đồng Đào tạo y khoa liên tục Hoa Kỳ (ACCME), CME là tên viết tắt của các hoạt động giáo dục thường xuyên về y tế, bao gồm các hoạt động giáo dục để phục vụ cho việc duy trì và phát triển hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, sự chuyên nghiệp của CBYT để cung cấp dịch vụ cho người bệnh, cộng đồng hoặc nghề nghiệp[48]

Bên cạnh đó, khái niệm Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development-CPD) là quá trình mà các CBYT thường xuyên cập nhật để đáp ứng nhu cầu của người bệnh, các dịch vụ y tế, và phát triển chuyên môn của mình Nó bao gồm việc cập nhật lại liên tục những kiến thức,

kỹ năng, thái độ và thực hành để được cấp phép hành nghề Không có sự phân chia rõ ràng giữa đào tạo liên tục và phát triển nghề nghiệp liên tục, như trong thời gian vừa qua đào tạo liên tục y tế đã bao gồm các kỹ năng quản lý, xã hội, kỹ năng cá nhân và các chủ đề ngoài các vấn đề y tế, lâm sàng truyền thống [50]

Tại Việt Nam, khái niệm “đào tạo liên tục” đã xuất hiện trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 [37] và rất nhiều các văn bản, tài liệu hướng dẫn quản lý của Bộ Y tế:

Trang 23

Theo thông tư 07/2008/TT-BYT của Bộ Y tế: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn hạn bao gồm đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và những khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia [14]

Theo thông tư 22/2013/TT-BYT: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: Đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục (CME); phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD); đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [15]

Theo tài liệu hướng dẫn quản lý đào tạo liên tục CBYT của Bộ Y tế: Đào tạo y khoa liên tục là quá trình CBYT không ngừng cập nhật những kiến thức, kỹ năng và tiến bộ khoa học kỹ thuật mới nhất trong lĩnh vực CSSK, đào tạo y khoa liên tục được định nghĩa là “ Một hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của các cán bộ y tế và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho người bệnh CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà CBYT mong muốn thực hiện để có thể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình” [7]

1.4.2 Tầm quan trọng của công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế

Nghiên cứu của Kirk J.Armstrong và Thomas G Weidner chỉ ra rằng hoạt động đào tạo liên tục (CME) chính thức hay không chính thức đều mang lại sự cải thiện về kiến thức và kết quả chăm sóc sức khỏe người bệnh Các đối tượng nghiên cứu hoàn thành việc đào tạo liên tục không chính thức nhiều hơn Điều đó cho thấy hoạt động đào tạo liên tục là hiệu quả và mang lại lợi ích [49]

Trang 24

Nghiên cứu của Ronald M Cervero và Julie K Gaines, thuộc Hội đồng kiểm định đào tạo liên tục y khoa Hoa Kỳ (ACCME) đánh giá tổng quan 31 công trình nghiên cứu về hiệu quả của CME (giai đoạn 1977 – 2002) đưa ra các kết luận sau: (1) CME cải thiện hiệu suất của bác sỹ và kết quả chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân; (2) CME có một tác động đáng tin cậy tích cực hơn

về hiệu suất của bác sỹ so với kết quả cải thiện sức khỏe người bệnh; (3) CME dẫn đến cải tiến lớn hơn trong hoạt động của bác sỹ và bệnh nhân [52]

Tại Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc cập nhật kiến thức y khoa liên tục của cán bộ y tế nên Luật Khám bệnh , chữa bệnh 2009 đã

có nhiều quy định liên quan đến của công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế:

- Điều 20 Điều kiện để người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được cấp lại chứng chỉ hành nghề là phải có giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức

y khoa liên tục

- Điều 29 Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề với người không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 2 năm liên tiếp

- Điều 33 Quyền của người hành nghề: (1) Được đào tạo, đào tạo lại và cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp; (2) Được tham gia bồi dưỡng, trao đổi thông tin về chuyên môn và kiến thức về pháp luật y tế

- Điều 37 Nghĩa vụ của người hành nghề: Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa liên tục nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế [37]

Trong những năm gần đây, tiến bộ của khoa học kỹ thuật y dược phát triển rất nhanh, nhiều kiến thức mới cần được cập nhật kịp thời Mặt khác theo thời gian, những kiến thức đã học có phần mai một nên khoảng cách giữa kiến thức của cán bộ y tế và kiến thức hiện đại của y học ngày càng xa

Để sử dụng tốt nguồn nhân lực, bên cạnh việc làm tốt công tác đào tạo mới tại các trường y dược, các nhà quản lý cần quan tâm đến việc đào tạo lại và đào

Trang 25

tạo bồi dưỡng liên tục đội ngũ cán bộ để họ có thể đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân [25]

1.4.3 Đào tạo liên tục cán bộ y tế tại một số nước trên thế giới

Tại Hoa Kỳ, CME và CPD có liên quan chặt chẽ trong việc tái cấp chứng nhận hành nghề Không phải tất cả các Hội đồng chuyên môn y tế đều yêu cầu tái cấp chứng nhận thường xuyên, nhưng tái cấp chứng nhận có thể được yêu cầu, ví dụ như các Hội Y tế và các hiệp hội, các tổ chức bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm và các đối tác trong các hoạt động y tế Có một chương trình nghiêm ngặt đảm bảo chất lượng của các nhà cung cấp CME và CPD được quản lý bởi Hội đồng Kiểm định Giáo dục Thường xuyên y tế, trong đó kiểm định chất lượng hơn 600 tổ chức [47]

Đối với các nước Châu Âu, mặc dù có những điểm chung về mặt giáo dục y khoa nhưng việc thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ giáo dục y khoa liên tục và phát triển nghề nghiệp liên tục vượt quá thẩm quyền của Ủy ban Châu

Âu Vì vậy, Hiệp hội các chuyên gia Y tế Châu Âu lập nên Tổ chức kiểm định chung cho các nước (European accreditation of different systems) Tổ chức này hoạt động nhằm có sự công nhận lẫn nhau cho việc cấp chứng chỉ về CME và CPD giữa các nước Châu Âu và cả Bắc Mỹ [47]

Tại Châu Á Thái Bình Dương, các bác sỹ ở Australia trước khi được cấp phép hành nghề phải trải qua một kỳ thi gồm 150 câu hỏi trong 3,5 giờ do Hội đồng Y khoa Úc (MBA) điều hành [51] Đối với ĐDV và HSV ở Singapore, thuật ngữ Giáo dục chuyên nghiệp liên tục (Continuing Professional Education – CPE) được hiểu là một đơn vị tín chỉ công nhận quá trình tham gia của ĐDV và HSV trong chương trình giáo dục điều dưỡng đặc thù Khóa học này gắn liền với thực tiễn và phù hợp với phạm vi thực hành của ĐDV và HSV nhằm duy trì, cải tiến và mở rộng kiến thức, kỹ năng và năng lực của họ Hình thức học bao gồm sự tham dự vào các dịch vụ, bài giảng, hội thảo, hội nghị, đăng ký các khóa học, tự học và tham gia hoặc tạo

Trang 26

điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu bao gồm xuất bản, thuyết trình miệng và poster Để đạt tiêu chuẩn gia hạn chứng chỉ hành nghề, ĐDV và HSV phải có quá trình tích lũy điểm CPE từ ngày 01 tháng 9 của năm hiện tại đến 31 tháng

8 của năm sau [53]

Năm 2003, Hội nghị toàn cầu về Giáo dục y học tại Copenhagen, Đan Mạch đã thông qua Bộ tiêu chuẩn quốc tế của Hiệp hội giáo dục y khoa thế giới (WFME), trong đó Tiêu chuẩn về Phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) bao gồm 9 tiêu chuẩn với 36 tiêu chí: (1) Nhiệm vụ và kết quả đầu ra (Mission and Outcomes), có 4 tiêu chí; (2) Các phương pháp học tập (Learning Methods), có 6 tiêu chí; (3) Lập kế hoạch và dẫn chứng bằng tư liệu (Planning and Documentation), có 2 tiêu chí (4) Cá nhân người bác sỹ (The Individual Doctor), có 4 tiêu chí; (5) Những người cung cấp CPD (CPD-Providers), có 4 tiêu chí; (6) Ngữ cảnh học tập và nguồn lực (Educational Context and Resources), có 7 tiêu chí; (7) Đánh giá các phương pháp năng lực (Evaluation of Methods and Compentencies), có 4 tiêu chí; (8) Tổ chức (Organisation), có 4 tiêu chí; (9) Đổi mới liên tục (Continuous Renewal), có 1 tiêu chí [60]

1.4.4 Đào tạo liên tục cán bộ y tế tại Việt Nam và tỉnh Hà Nam

Ở nước ta, công tác đào tạo liên tục CBYT được triển khai và thường gọi là bổ túc cán bộ, thông qua các hình thức như giao ban chuyên môn của khoa, của bệnh viện… Từ những năm 1960, Bộ Y tế đã quan tâm mở các lớp học ngắn hạn về chuyên môn và quản lý tại Trường bổ túc cán bộ y tế trung ương Các lớp ngắn hạn được tổ chức song song với đào tạo mới CBYT nhưng số lượng còn hạn chế Đến thập niên 1980, do có khoa khăn về kinh tế nên công tác bổ túc CBYT không được coi trọng và nhiều khi bị lãng quên, trong các kế hoạch đào tạo chính thức của ngành thường không đề cập đến vấn đề này [25]

Trang 27

Đến những năm 1990, khái niệm Đào tạo liên tục cán bộ y tế bắt đầu được đưa vào ngành và được tổ chức có hệ thống dưới sự giúp đỡ của Dự án

Hỗ trợ đào tạo nhân lực cán bộ y tế (Dự án 03/SIDA Thụy Điển) Năm 2008

Bộ Y tế chính thức ban hành Thông tư 07/2008/TT-BYT về Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về công tác Đào tạo liên tục trong đó đưa ra khái niệm cụ thể về đào tạo liên tục và quy định cụ thể những yêu cầu về thời gian học tập, kinh phí thực hiện và quản lý đào tạo liên tục [14] Sau 5 năm thực hiện Thông tư 07/2008/TT-BYT, ngày 17/02/2012 Bộ Y tế ban hành Quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị đào tạo liên tục cán bộ y tế trong đó quy định cụ thể các tiêu chuẩn về tổ chức quản lý, chương trình, tài liệu, giảng viên, quản

lý học viên, cơ sở vật chất và hoạt động đào tạo đồng thời cũng quy định các

mã số đào tạo liên tục phân theo tuyến (A, B, C) [17] Cũng trong thời gian này, Bộ Y tế cấp mã chứng nhận đào tạo liên tục cho các đơn vị tham gia công tác đào tạo cán bộ y tế Các đơn vị được công nhận đủ điều kiện để đào tạo liên tục cán bộ y tế bao gồm 100 đơn vị mã số A, 51 đơn vị mã số B và 20 đơn vị mã số C [16]

Sau khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 có hiệu lực, năm 2013 Bộ Y

tế đã điều chỉnh nâng cấp tiếp tục chủ trương này để thực hiện một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh Ngày 09/08/2013, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BYT về việc “Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế” [15] để thay thế Thông tư 07/2008/TT-BYT Trong cả hai thông tư trên, Bộ Y tế thống nhất chủ trương tất cả cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của mình Yêu cầu chung cho tất cả cán bộ y tế có thời gian đào tạo tối thiểu là 24 giờ thực học/1 năm Những người hành nghề trong lĩnh vực khám chữa bệnh nếu 2 năm liên tiếp không cập nhật kiến thức y khoa liên tục sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Những cán bộ trong lĩnh vực khác thì thời gian xem xét là 5 năm Mọi cá nhân làm việc trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam đề có nghĩa vụ tham gia học tập Thủ trưởng các cơ sở y tế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức cho

Trang 28

cán bộ của đơn vị mình được học tập Điểm khác biệt của Thông tư số 22/2013/TT-BYT so với Thông tư 07/2008/TT-BYT là yêu cầu cao hơn với những người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, ủy quyền, phân quyền rộng hơn cho các cơ sở đào tạo liên tục và quy định chặt chẽ hơn để đảm bảo chất lượng đào tạo đặc biệt là công tác kiểm định chất lượng cơ sở ĐTLT [7]

Thông tư 22/2013/TT-BYT quy định CBYT đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp CBYT thuộc các đối tượng còn lại có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp Trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học CBYT tham gia các hình thức ĐTLT khác nhau được cộng dồn để tính thời gian ĐTLT [15]

Các hình thức đào tạo liên tục như tập huấn, đào tạo chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thời gian tham gia đào tạo liên tục được tính theo thực tế chương trình đào tạo; Tham gia hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngoài nước

về lĩnh vực chuyên môn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào chương trình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm Thời gian tham gia đào tạo được tính cho người chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4 tiết học cho mỗi hội thảo/hội nghị/tọa đàm; Thực hiện nghiên cứu khoa học, hướng dẫn luận án, luận văn, viết bài báo khoa học đã được công bố theo quy định được tính tối đa 12 tiết học cho người hướng dẫn luận án, chủ trì/ thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ, 8 tiết học cho người hướng dẫn luận văn hoặc chủ trì/thư ký đề tài cấp cơ sở (tính tại thời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt); Biên soạn giáo trình chuyên môn được tính thời gian không quá 8 tiết đối với một tài liệu do người đứng đầu đơn vị xem xét (tính vào thời điểm xuất bản); Cán bộ

Trang 29

y tế không phải là giảng viên của cơ sở giáo dục tham gia giảng dạy liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ được tính theo thời gian thực tế [15]

Mạng lưới các cơ sở đào tạo liên tục được cấp mã số đào tạo liên tục Theo điều 10 của thông tư 22/2013/TT-BYT, mã số các cơ sở đào tạo liên tục bao gồm: (1) Mã A: Các trường y tế tổ chức các khóa đào tạo liên tục tương ứng với chương trình chính quy mà trường đang đào tạo; (2) Mã B: Các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các cơ sở y tế được giao chỉ đạo tuyến, tổ chức đào tạo theo nhiệm vụ; (3) Mã C: Các Sở y tế tổ chức đào tạo cho đội ngú cán bộ

y tế mà Sở đang quản lý và hành nghề trên địa bàn [15]

Về các chương trình và tài liệu đào tạo liên tục, thực hiện Dự án tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong khám chữa bệnh, Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế đã ban hành 09 chương trình và tài liệu đào tạo liên tục

do Tổ chức JICA (Nhật Bản) hỗ trợ [22]:

- Chương trình và tài liệu ĐTLT An toàn người bệnh (ban hành theo Quyết định số 56/QĐ-K2ĐT ngày 16/05/2014 của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế): Được xây dựng dựa trên các khuyến cáo và hướng dẫn cập nhật của TCYTTG và triển khai thực hiện điều 7 của Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/07/2013 về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện Chương trình có thời lượng học tập là 24 giờ và nội dung có 6 chủ đề: Tổng quan về an toàn người bệnh, Phòng ngừa sự

cố y khoa trong việc xác định người bệnh, Phòng ngừa sai sót trong sử dụng thuốc, Phòng ngừa sự cố y khoa trong phẫu thuật, Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, Phòng ngừa sự cố y khoa trong chăm sóc

- Chương trình và tài liệu ĐTLT Quản lý chất lượng bệnh viện (ban hành theo Quyết định số 84/QĐ-K2ĐT ngày 24/06/2014 của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế): Được xây dựng dành cho các học viên là Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa, phòng, có thời lượng học tập là 24 giờ với 6 chủ

đề bao gồm: Đại cương về quản lý chất lượng, Hướng dẫn công tác quản lý

Trang 30

chất lượng bệnh viện, Đo lường chất lượng, Vai trò của người lãnh đạo, quản

lý trong quản lý chất lượng bệnh viện, Khuyến khích động viên nhân viên và Lập kế hoạch chiến lược & đề án cải tiến chất lượng bệnh viện

- Chương trình và tài liệu đào tạo Cấp cứu cơ bản (ban hành theo Quyết định số 19/QĐ-K2ĐT ngày 03/03/2014 của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế): Được xây dựng dành cho bác sỹ cấp cứu tuyến tỉnh, có thời lượng học tập là 36 tiết với ba nội dung lý thuyết cơ bản là Cấp cứu nội khoa, Cấp cứu chấn thương và Cấp cứu khác, năm kỹ thuật thực hành bao gồm: Kỹ thuật kiểm soát đường thở, cấp cứu ngừng tuần hoàn, vận chuyển bệnh nhân,

xử trí vết thương xuyên thấu và bất động xương gãy

- Chương trình và tài liệu đào tạo Tăng cường năng lực quản lý điều dưỡng (ban hành theo Văn bản số 6520/BYT-K2ĐT ngày 27/09/2012 của Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế): Được xây dựng dành cho đào tạo liên tục cán bộ làm công tác quản lý điều dưỡng, có thời lượng 56 tiết học với 20 nội dung nhằm nâng cao năng lực xây dựng chính sách, điều hành chăm sóc người bệnh và tham gia nghiên cứu, giảng dạy điều dưỡng

- Chương trình và tài liệu đào tạo Phòng và Kiểm soát nhiễm khuẩn (ban hành theo Văn bản số 6520/BYT-K2ĐT ngày 27/09/2012 của Vụ Khoa học và Đào tạo - Bộ Y tế): Được sử dụng để đào tạo cho cán bộ, viên chức y

tế đang công tác tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, có thời lượng 24 tiết học nhằm bổ sung, cập nhật và phổ biến các kiến thức và thái độ về kiểm soát nhiễm khuẩn cho NVYT và thực hiện Điều 33 Luật Khám bệnh, chữa bệnh

- Chương trình và tài liệu đào tạo liên tục Chăm sóc người bệnh toàn diện (ban hành theo Quyết định số 123/QĐ-K2ĐT ngày 27/09/2013 của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế): Nội dung tài liệu được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ chăm sóc người bệnh quy định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT về Hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, có thời lượng học tập là 32 tiết với 8 chủ đề bao gồm: Tổng

Trang 31

quan CSNB toàn diện theo quy định tại Thông tư 07/2011/TT-BYT về Hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện; Kế hoạch tổ chức thực hiện CSNB toàn diện theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của bệnh viện/khoa; Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của ĐDV; Tổ chức phân cấp chăm sóc và hỗ trợ, chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh; Tổ chức phân cấp chăm sóc phục hồi chức năng phòng ngừa biến chứng; Tổ chức ghi phiếu theo dõi, chăm sóc người bệnh và bình phiếu chăm sóc; Tổ chức tư vấn – giáo dục sức khỏe

- Chương trình và tài liệu đào tạo Tăng cường năng lực thực hiện công tác chỉ đạo tuyến và chuyển tuyến (ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-K2ĐT ngày 23/5/2014 của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế): Nhằm tăng cường hỗ trợ nâng cao năng lực tuyến dưới, góp phần giảm quá tải tuyến trên và tổ chức thực hiện tốt các nội dung đào tạo về chỉ đạo tuyến, quản lý chuyển tuyến, có thời lượng học tập là 36 tiết học với 9 nội dung

- Chương trình và tài liệu đào tạo Tăng cường năng lực Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện (ban hành theo Quyết định số 64/QĐ-K2ĐT ngày 20/05/2014 của Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế): Giúp tăng cường những kiến thức và kỹ năng cơ bản về quản lý đào tạo liên tục trong các bệnh viện góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế; có thời lượng học tập là 24 tiết với 6 nội dung

- Chương trình đào tạo Giảng viên lâm sàng (ban hành theo Văn bản số 689/BYT-K2ĐT ngày16/02/2012 của Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế): Được thiết kế nhằm đào tạo nghiệp vụ giảng dạy, hướng dẫn lâm sàng cho các bác sỹ, điều dưỡng là những người sẽ triển khai các khóa đào tạo theo yêu cầu của bệnh viện cho CBYT mới tốt nghiệp thuần thục tay nghề trước khi thực hiện công tác khám, điều trị, chăm sóc người bệnh; Có thời lượng học tập là

40 tiết với 6 nội dung, bao gồm: Xác định nhu cầu và chương trình đào tạo lâm sàng; Mục tiêu học tập lâm sàng; Các phương pháp dạy học tích cực

Trang 32

trong lâm sàng; Phát triển kế hoạch (chiến lược) học tập; Lượng giá, đánh giá; Thực hành bài giảng lâm sàng

Theo Bộ Y tế đến nay Việt Nam đã hình thành hệ thống đào tạo liên tục nhưng chưa hoàn chỉnh Những chế độ chính sách còn chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ khiến cho việc triển khai thực hiện ĐTLT gặp nhiều khó khăn Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh hưởng đến chuyên môn của ngành y tế [7] Công tác triển khai ĐTLT theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại các tỉnh thành trong cả nước hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, công tác báo cáo chưa đầy đủ, chưa có đánh giá cụ thể về hiệu quả của công tác đào tạo liên tục CBYT tại các tỉnh theo hướng dẫn của

Bộ Y tế

Tại tỉnh Hà Nam, thực hiện Thông tư 22/2013/TT-BYT, Sở Y tế tỉnh

Hà Nam đã thành lập Ban Chỉ đạo công tác đào tạo liên tục cho CBYT do Giám đốc Sở Y tế làm trưởng ban, các Phó Giám đốc làm phó trưởng ban và thành viên bao gồm các Trưởng phòng tổ chức cán bộ, nghiệp vụ Y, tài chính

kế toán, nghiệp vụ dược, chánh thanh tra sở và Hiệu trưởng Trường Cao đẳng

Y tế Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo công tác đào tạo liên tục cho CBYT gồm: (1) Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế hàng năm và 5 năm, kể cả y tế nhà nước và tư nhân; (2) Quản lý công tác đào tạo liên tục tại các cơ sở y tế trực thuộc và tổ chức các khóa đào tạo liên tục cho cán bộ thuộc ngành quản lý; (3) Quản lý Giấy chứng nhận đào tạo liên tục và cấp cho các cơ sở đào tạo thuộc ngành quản lý; (4) Định

kỳ báo cáo công tác đào tạo liên tục về UBND tỉnh Hà Nam và Bộ Y tế [38] Đồng thời Sở Y tế tỉnh Hà Nam đã ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo công tác đào tạo liên tục cho CBYT trong đó Ban có chức năng tham mưu cho lãnh đạo Sở Y tế triển khai thực hiện tốt các nội dung quy định tại Thông tư 22/2013/TT-BYT và các văn bản liên quan của bộ Y tế; quy định rõ nhiệm vụ của Trưởng ban, Phó trưởng ban, thư ký và các Thành viên cũng như chế độ làm việc của Ban Chỉ đạo [39] Để theo dõi tiến độ việc thực

Trang 33

hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo công tác đào tạo liên tục cho CBYT, Sở Y tế phân công 01 đồng chí Lãnh đạo phụ trách công tác đào tạo liên tục, có trách nhiệm chỉ đạo và thực hiện các nội dung về công tác đào tạo liên tục CBYT quy định tại Thông tư 22/2013/TT-BYT; Phân công 01 chuyên viên phòng Tổ chức cán bộ làm kiêm nhiệm công tác đào tạo liên tục theo sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo công tác đào tạo liên tục cho CBYT Bên cạnh đó, Sở Y tế cũng thành lập Hội đồng Thẩm định chương trình và tài liệu đào tại liên tục có nhiệm vụ: (1) Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc kể cả y tế Nhà nước và y tế tư nhân xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình và phương thức triển khai các khóa đào tạo liên tục; (2) Tổ chức thẩm định và phê duyệt nội dung, chương trình các khóa đào tạo liên tục do các đơn vị đã xây dựng trình Giám đốc Sở

là 20,2%) Về trình độ chuyên môn, đại học và cao đẳng chiếm 38,7%, trung cấp chiếm 61,3% Độ tuổi của ĐDV có ảnh hưởng đến mức độ thực hiện nhiệm vụ của họ theo xu hướng tuổi càng cao mức độ thường xuyên thực hiện nhiệm vụ càng tăng ở các công việc cụ thể như giám sát người nhà hỗ trợ CSNB; tư vấn hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà có nhu cầu; ghi chép phiếu theo dõi người bệnh [31]

Nghiên cứu năm 2014 của Lê Thanh Hải và cộng sự về một số yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức trong thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho kết quả có 86,4% đối tượng nghiên cứu là nữ giới trong tổng số 213 ĐDV tham gia nghiên cứu Trình độ đại học và sau đại học chiếm 22,1% Kết quả nghiên cứu khi so sánh mối liên

Trang 34

quan giữa việc thực hành chuyên môn với một số yếu tố cho thấy các yếu tố như trình độ học vấn, kinh nghiệm, cảm nhận về sự phù hợp nghề nghiệp với

kỹ năng bản thân, lòng yêu nghề, hiểu về y đức có ảnh hưởng đến việc thực hành chuyên môn của ĐDV [29]

Theo nghiên cứu của Trần Văn Tiến và Huỳnh Thị Đào năm 2012 về nguồn nhân lực tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, có 74,3% đối tượng có trình độ trung cấp, 19,9% có trình độ đại học và 5,8% có trình độ cao đẳng Đối tượng công tác tại khối lâm sàng chiếm 56,11%, cận lâm sàng 18,52% và quản lý hành chính 25,37% Nghiên cứu chỉ ra thu nhập của người lao động là một trong những yếu tố quan trọng trong việc duy trì và phát triển nhân lực đồng thời chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích người lao động luôn được lãnh đạo bệnh viện quan tâm [43]

Nghiên cứu của Trần Quốc Kham năm 2009 về thực trạng và nhu cầu đào tạo điều dưỡng trung học tuyến cơ sở của ngành y tế tỉnh Điện Biên năm

2009, trong đó nhân lực điều dưỡng chủ yếu là trung cấp(98,84%), có 92,9% điều dưỡng viên có nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ, và chỉ có 28,6% đối tượng nghiên cứu được ĐTLT trong 2 năm gần nhất Từ kết quả trên, nghiên cứu khuyến nghị cần xây dựng kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho điều dưỡng trung cấp cũng như tổ chức ĐTLT hàng năm cho các đối tượng [33]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Dương năm 2012 trên địa bàn các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ đối tượng sẵn sàng đi đào tạo liên tục ở bất kỳ nơi nào là từ 49,3-59,2%, mong muốn học tại địa bàn công tác 35,2%-25,4% Đa số cán bộ tham gia nghiên cứu mong muốn thời gian đi học không tập trung và trong vòng 1-2 tuần chiếm tỷ

lệ 18,3% Khó khăn chính khi đi học chủ yếu là lý do tài chính (67,6%) Cần xây dựng kế hoạch cử cán bộ đi học các trình độ nâng cao đồng thời triển khai các khóa đào tạo chuyên môn ngắn hạn, có trọng tâm bám sát theo các yêu cầu nhiệm vụ, phù hợp với cán bộ vừa học vừa làm [26]

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 5 Trung tâm y tế tuyến huyện của tỉnh

Hà Nam: (1) Trung tâm Y tế huyện Bình Lục; (2) Trung tâm Y tế huyện Duy Tiên; (3) Trung tâm Y tế huyện Kim Bảng; (4) Trung tâm Y tế huyện Lý Nhân; (5) Trung tâm Y tế huyện Thanh Liêm

Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu:

Hà Nam là tỉnh nằm ở phía nam vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, tỉnh được tái lập năm 1997 Phía bắc tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình Tỉnh Hà Nam có diện tích 852 km2, bao gồm 116 đơn vị hành chính cấp xã (7 thị trấn, 11 phường và 98 xã) được phân bố trên 5 huyện (Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm) và 1 thành phố (Phủ Lý) Theo điều tra dân số ngày 01/04/2013, Hà Nam có 785.057 người, chiếm 5,6 % dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số 954 người/km2 Trong đó 91,5% dân số sống ở khu vực nông thôn và 8,5% sống ở khu vực đô thị

Hà Nam có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người dân, vì thế vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân phải được đặt lên thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Sở Y tế tỉnh Hà Nam có 24 đơn vị trực thuộc bao gồm: (1) Tuyến tỉnh

có 14 đơn vị: Cơ quan văn phòng Sở Y tế; Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm; Chi cục Dân số - KHHGĐ; Bệnh viện đa khoa tỉnh; Bệnh viện Sản

Trang 36

Nhi, Bệnh viện Mắt; Bệnh viện Phong, Bệnh viện Lao và bệnh phổi; Bệnh viện Tâm thần; Bệnh viện Y học cổ truyền; Trung tâm CDC; Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm; Trung tâm Giám định pháp y; Trường Cao đẳng Y tế; (2) tuyến huyện có 6 đơn vị là Trung tâm Y tế huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý; (3) tuyến xã: Có 116 Trạm Y tế xã, phường, thị trấn trực thuộc Trung tâm Y tế huyện, thành phố

Ngành y tế tỉnh Hà Nam hiện có 2604 cán bộ công tác từ tuyến tỉnh, tuyến huyện/thành phố đến tuyến xã/phường/thị trấn và được phân bố như sau: Khối quản lý nhà nước: 56 cán bộ; Khối khám chữa bệnh: 1.376 cán bộ; Khối dự phòng: 326 cán bộ; Các trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện, thành phố: 37 cán bộ; Lĩnh vực đào tạo (Trường Cao đẳng Y tế): 83 cán bộ; Khối các trạm y tế xã, phường, thị trấn: 726 cán bộ

Toàn tỉnh có 131 cơ sở khám chữa bệnh với 2499 giường bệnh, bình quân có 31,8 giường bệnh trên 1 vạn dân, trong đó tuyến tỉnh có 1020 giường bệnh, tuyến huyện có 620 giường bệnh, tuyến xã có 859 giường bệnh Thực hiện Quyết định số 1480/QĐ – UBND Phê duyệt đề án sắp xếp, kiện toàn một bước mô hình tổ chức y tế tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 – 2020, từ ngày 12/11/2014 đã sáp nhập Trung tâm y tế huyện với Bệnh viện đa khoa các huyện thành Trung tâm y tế huyện Số giường bệnh của các trung tâm y tế: (1) Trung tâm y tế huyện Duy Tiên: 100 giường bệnh; (2) Trung tâm y tế huyện Bình Lục: 100 giường bệnh; (3) Trung tâm y tế huyện Kim Bảng: 100 giường bệnh; (4) Trung tâm y tế huyện Lý Nhân: 140 giường bệnh; (5) Trung tâm y tế huyện Thanh Liêm: 100 giường bệnh; (6) Trung tâm y tế thành phố Phủ Lý: Chỉ thực hiện chức năng dự phòng

Trang 37

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng:

+ Điều dưỡng viên đang công tác tại khối điều trị của 5 Trung tâm y tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam (166 điều dưỡng viên): (1) Trung tâm y tế Bình Lục: 30 điều dưỡng viên; (2) Trung tâm y tế Duy Tiên: 37 điều dưỡng viên; (3) Trung tâm y tế Kim Bảng: 34 điều dưỡng viên; (4) Trung tâm y tế

Lý Nhân: 33 điều dưỡng viên; (5) Trung tâm y tế Thanh Liêm: 32 điều dưỡng viên

+ Trưởng/Phó trưởng phòng Điều dưỡng tại các Trung tâm y tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng: Đồng ý tự nguyện tham gia trong nghiên cứu, không bị tác động bởi bất cứ yếu tố ép buộc nào

- Tiêu chuẩn loại trừ: Điều dưỡng viên đang công tác tại khối dự phòng

và các trạm y tế trên địa bàn nghiên cứu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2017 đến tháng 05/2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Áp dụng phương pháp nghiên cứu mô tả với điều tra cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

2.2.2.1 Nghiên cứu định lượng

- Cỡ mẫu: Là toàn bộ Điều dưỡng viên đang công tác tại khối điều trị

của 5 Trung tâm y tế tuyến huyện của tỉnh Hà Nam (166 điều dưỡng viên)

- Chọn mẫu: Chọn đối tượng nghiên cứu là toàn bộ điều dưỡng viên

đang làm việc tại khối điều trị của các Trung tâm y tế tuyến huyện của tỉnh

Hà Nam năm 2017

Trang 38

2.2.2.2 Nghiên cứu định tính

- Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:

- Cỡ mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, chủ động lựa chọn một số đối tượng để phỏng vấn sâu nhằm phát hiện chi tiết hơn về thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng trên địa bàn nghiên cứu, cụ thể là:

+ Trưởng /phó Phòng Điều dưỡng của 05 Trung tâm y tế huyện

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn toàn bộ các đối tượng trên vào nghiên cứu

2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1 Số liệu định lượng

- Phương pháp thu thập số liệu: thông qua phát vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi được thiết kế trước (40 câu hỏi) của tác giả nghiên cứu

- Quy trình xây dựng bộ câu hỏi: Các câu hỏi được soạn thảo dựa trên mục tiêu nghiên cứu, chủ yếu là câu hỏi đóng Bộ câu hỏi bao gồm các câu hỏi xác định thông tin chung về đối tượng, thực trạng về chuyên môn, chuyên ngành và nhu cầu đào tạo liên tục của đối tượng Sau khi xây dựng xong bộ câu hỏi điều tra thì tiến hành điều tra thử trên nhóm tình nguyện 30 điều dưỡng viên

để tìm ra những sai sót hoặc sự thiếu thông tin, sau đó chỉnh sửa thành bộ câu hỏi chính thức để đi điều tra

- Điều tra viên: Là 05 cán bộ giảng viên trẻ đang công tác tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam hiện đang kiêm nhiệm quản lý sinh viên thực tập lâm sàng tại 5 Trung tâm y tế tuyến huyện Các cán bộ này có kinh nghiệm đã tham gia các nghiên cứu khác

- Tập huấn điều tra: Sau khi xây dựng bộ câu hỏi đảm bảo yêu cầu mục tiêu và tính khoa học chúng tôi đã giải thích cho 5 điều tra viên về nội dung, mục đích và kiến thức có trong phiếu điều tra đồng thời tổ chức cho các điều tra đóng giả là đối tượng nghiên cứu để phỏng vấn lẫn nhau cho đến khi thành thạo thì tiến hành lấy số liệu trên đối tượng nghiên cứu

Trang 39

- Tổ chức điều tra: Nhóm điều tra viên căn cứ số lượng điều dưỡng viên tại các Trung tâm y tế, tiến hành tiếp cận sau thời gian điều dưỡng viên thực hiện các kỹ thuật, thủ thuật trên người bệnh Điều tra viên gặp mặt đối tượng tại phòng hành chính của Khoa/Phòng, giải thích mục đích nghiên cứu và tiến hành phát phiếu điều tra để đối tượng tự điền Các phiếu điều tra được thu lại vào cuối mỗi buổi để rà soát lại các nội dung của phiếu Các điều tra viên được tập hợp lại để rút kinh nghiệm trong việc điều tra ngay sau mỗi buổi điều tra

2.3.2 Số liệu định tính:

- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập qua ghi chép, sau đó phân tích để thu được số liệu định tính, dựa theo những câu hỏi và tiến trình phát vấn đã được xác định trước

- Điều tra viên: Phần phỏng vấn sâu đối với các đối tượng nghiên cứu

được thực hiện bởi tác giả nghiên cứu

- Tổ chức điều tra:

Chọn vị trí yên tĩnh là Phòng làm việc của đối tượng, tránh sự chú ý của những người khác và tác giả tiến hành phỏng vấn sâu đối tượng là Trưởng/Phó Phòng điều dưỡng Ghi chép lại quá trình điều tra, ký tên và hoàn thiện bảng theo dõi phỏng vấn

2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.4.1 Biến số và chỉ số về thông tin chung

- Tuổi: được tính theo năm dương lịch thuộc loại biến liên tục

- Giới: gồm có nam giới và nữ giới thuộc loại biến nhị phân

- Dân tộc: gồm có dân tộc Kinh và nhóm các Dân tộc khác, thuộc loại biến phân loại

- Trình độ học vấn: là trình độ học vấn cao nhất mà đối tượng đã học thuộc loại biến nhị phân

Trang 40

2.4.2 Biến số và chỉ số về nguồn nhân lực điều dưỡng

- Chuyên ngành điều dưỡng được đào tạo: Là chuyên ngành mà điều dưỡng viên đã tốt nghiệp chuyên nghiệp, thuộc loại biến phân loại

- Loại hình đào tạo về chuyên ngành điều dưỡng: Gồm có loại hình chính quy và liên thông thuộc loại biến nhị phân

- Thâm niên công tác tại trung tâm: Là thời gian làm việc tại Trung tâm đến thời điểm trả lời phỏng vấn, được tính theo năm dương lịch thuộc loại biến liên tục

- Thâm niên công tác trong ngành: Là thời gian làm việc trong ngành y

tế ở cả trong tỉnh và ngoài tỉnh đến thời điểm trả lời phỏng vấn, được tính theo năm dương lịch thuộc loại biến liên tục

- Bộ phận công tác: Là bộ phận mà ĐDV đang công tác, thuộc loại biến phân loại

- Những khó khăn của ĐDV tại trung tâm: Là những khó khăn hiện tại khi công tác, thuộc loại biến phân loại

- Thời điểm tuyển dụng viên chức điều dưỡng có trình độ từ cao đẳng trở lên: thuộc loại biến phân loại

- Thời điểm chuẩn hóa viên chức điều dưỡng có trình độ từ cao đẳng trở lên: thuộc loại biến phân loại

- Nhu cầu học tập nâng cao trình độ: thuộc loại biến nhị phân

- Trình độ của ĐDV: Là trình độ chuyên môn hiện tại của ĐDV, thuộc loại biến phân loại

- Nguyện vọng được đào tạo: Là trình độ chuyên môn mà hiện tại ĐDV đang muốn học, thuộc loại biến phân loại

- Lý do ĐDV không muốn học nâng cao trình độ: thuộc loại biến phân loại

- Mức độ hài lòng về công việc của ĐDV: thuộc loại biến phân loại

- Lý do ĐDV không hài lòng về công việc: thuộc loại biến phân loại

Ngày đăng: 10/09/2019, 00:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Yên Bình (2013), Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp. Luận án tiến sỹ y học chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ƣơng, Tr 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Năm: 2013
4. Bộ Y tế, (2013), Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng-hộ sinh từ nay đến năm 2020, Ban hành kèm theo Quyết định số 1215/QĐ-BYT ngày 12 tháng 4 năm 2013, tr. 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng-hộ sinh từ nay đến năm 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
5. Bộ Y tế (2013), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013: Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2013: Hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
6. Bộ Y tế (2013), Thông tư 43/2013/TT-BYT Quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống có sở khám bệnh, chữa bệnh, tr 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 43/2013/TT-BYT Quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống có sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
7. Bộ Y tế (2014), Tài liệu đào tạo Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện, tr 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
8. Bộ Y tế, (2015), Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020, Ban hành kèm theo Quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17 tháng 7 năm 2015, tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn 2015 – 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
10. Bộ Y tế (2017), Niên giám thống kê y tế năm 2015, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2017, tr 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê y tế năm 2015
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2017
11. Bộ Y tế (2016), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015: Tăng cường y tế cơ sở hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, NXB Y học Hà Nội, tr 36, 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015: Tăng cường y tế cơ sở hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2016
12. Bộ Y tế (2015), Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-2020, tr 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
13. Bộ Y tế - Bộ Nội vụ (2015), Thông tư liên tịch số 26/2007/TTLT-BNV- BYT ngày 07/10/2015 về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, tr 1 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 26/2007/TTLT-BNV-BYT ngày 07/10/2015 về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y
Tác giả: Bộ Y tế - Bộ Nội vụ
Năm: 2015
17. Bộ Y tế, (2012), Quyết định số 493/QĐ-BYT ngày 17/02/2012 về việc ban hành “ Quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị đào tạo liên tục cán bộ y tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 493/QĐ-BYT ngày 17/02/2012 về việc ban hành “ Quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị đào tạo liên tục cán bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
19. Churnrurtai Kanchanachitra và các cộng sự (2011), Nguồn nhân lực y tế ở Đông Nam Á: Những thiếu hụt, thách thức trong phân bố và thương mại quốc tế trong dịch vụ y tế, Tạp chí Y tế công cộng (số 18+19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực y tế ở Đông Nam Á: Những thiếu hụt, thách thức trong phân bố và thương mại quốc tế trong dịch vụ y tế
Tác giả: Churnrurtai Kanchanachitra và các cộng sự
Năm: 2011
20. Cục quản lý khám, chữa bệnh (2016), Báo cáo Hội nhập Điều dưỡng ASEAN-cơ hội, thách thức và định hướng, Tr 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nhập Điều dưỡng ASEAN-cơ hội, thách thức và định hướng
Tác giả: Cục quản lý khám, chữa bệnh
Năm: 2016
23. Phan Thị Dung (2016), Kiến thức, thực hành của Điều dưỡng về chăm sóc vết thương và một số yếu tố liên quan, Tạp chí nghiên cứu Y học, số 100 (2), Tr 189 - 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thực hành của Điều dưỡng về chăm sóc vết thương và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Phan Thị Dung
Năm: 2016
24. Phạm Trí Dũng (2014), Bàn luận phương pháp nghiên cứu và một số kết quả của các Luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học Y tế Công cộng về sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế trong bệnh viện. Tạp chí Y học thực hành (907)– Số 3. Tr 48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn luận phương pháp nghiên cứu và một số kết quả của các Luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học Y tế Công cộng về sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế trong bệnh viện
Tác giả: Phạm Trí Dũng
Năm: 2014
25. Trương Việt Dũng, Phí Văn Thâm, Phạm Trí Dũng (2010) Phát triển nhân lực y tế tuyến tỉnh, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực y tế tuyến tỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
26. Nguyễn Thị Thùy Dương (2013), Thực trạng nhu cầu đào tạo của các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS khu vực Tây Nguyên, 2012. Tạp chí Y học dự phòng – Tập XXIII, số 11 (147), Tr 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhu cầu đào tạo của các Trung tâm phòng chống HIV/AIDS khu vực Tây Nguyên, 2012
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dương
Năm: 2013
27. Nguyễn Hải Hà (2017), Thực trạng đào tạo liên tục cho cán bộ dược sỹ ở các bệnh viện tại Thành phố Hải Dương năm 2017, Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Dƣợc học. Tr 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đào tạo liên tục cho cán bộ dược sỹ ở các bệnh viện tại Thành phố Hải Dương năm 2017
Tác giả: Nguyễn Hải Hà
Năm: 2017
28. Nguyễn Bích Hà (2017), Khảo sát bước đầu về mức độ khối lượng và áp lực công việc, tình trạng đào tạo liên tục về chuyên môn y đối với các y sỹ, bác sỹ, tại một số bệnh viện huyện. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh – Tập 16, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bước đầu về mức độ khối lượng và áp lực công việc, tình trạng đào tạo liên tục về chuyên môn y đối với các y sỹ, bác sỹ, tại một số bệnh viện huyện
Tác giả: Nguyễn Bích Hà
Năm: 2017
29. Lê Thanh Hải và CS (2014), Một số yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức trong thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tạp chí Y học thực hành (905) – Số 2. Tr 53-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức trong thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ của điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Tác giả: Lê Thanh Hải và CS
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm