1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN dạy học theo chủ đề sinh 11 tuần hoàn máu

35 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 835 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dạy học theo chủ đề sinh học 11 tuần hoàn máu (sử dụng kĩ thuật mảnh ghép và phòng tranh) Chủ đề TUẦN HOÀN MÁU (2 TIẾT) I. NỘI DUNG CHỦ ĐỀ 1.1. Tên chủ đề : “Tuần hoàn máu .” Chủ đề này gồm các bài: Bài 18;19 trong chương I, Mục B , thuộc Phần 4. Sinh học cơ thể sinh học 11 THPT. Bài 18. Tuần hoàn máu . Bài 19. Tuần hoàn máu (tt) 1.2. Nội dung chi tiết của chủ đề ND1:Cấu tạo và chức năng của HTH , HTH hở và HTH kín ND 2: HTH đơn và HTH kép ND 3.Hoạt động của tim ND4.Hoạt động của hệ mạch 1.3. Thời lượng Căn cứ vào lượng kiến thức, phương pháp tổ chức dạy học chủ đề, trình độ nhận thức của HS ở trường tôi thiết kế thời lượng cho chủ đề như sau: Thời gian học ở nhà: 1tuần nghiên cứu tài liệu “tuần hoàn máu” Số tiết học trên lớp: 2 tiết

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG NINH

TRƯỜNG THPT BẠCH ĐẰNG

SỬ DỤNG KĨ THUẬTMẢNH GHÉP VÀ KĨ THUẬT

PHÒNG TRANH TRONG DẠY CHỦ ĐỀ

“TUẦN HOÀN MÁU” SINH HỌC 11

Tổ: SINH- HÓA

Quảng yên, tháng 11 năm 2017

Trang 2

TÊN ĐỀ TÀI

SỬ DỤNG KĨ THUẬT MẢNH GHÉP VÀ KĨ THUẬT PHÒNG TRANH TRONG DẠY CHỦ

ĐỀ “TUẦN HOÀN MÁU” SINH HỌC 11

Trang 3

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dạy và học là hai hoạt động sư phạm nhằm mục đích truyền thụ kiến thức của xãhội loài người từ người này sang người khác Chính vì lẽ đó khi thực hiện chương trìnhSGK theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học trước hết cần phải thay đổi quanniệm về phương pháp dạy học: Chuyển từ quan niệm thầy truyền thụ kiến thứ sang thầyhướng dẫn, học sinh tư duy độc lập, chủ động và tích cực tìm tòi, phát hiện và chiếmlĩnh kiến thức

Do đặc trưng cơ bản của bộ môn sinh học rất gần gũi và thiết thực nên người giáoviên sinh học phải nắm được mục tiêu chung của bộ môn; hiểu sâu và vận dụng kiếnthức một cách linh động nhằm đưa tiết học trở nên sinh động, khoa học, phát huy được

tư duy sáng tạo, chủ động của học sinh, truyền cho học sinh niềm say mê, hứng thútrong học tập, học sinh biết vận dụng kiến thức thu được vào thực tiễn cuộc sống

Để làm được điều này việc dạy và học sinh học không chỉ đơn thuần sử dụng biết lậpmột phương pháp nào mà phải phối hợp các phương pháp một cách khoa học Có nhiềuphương pháp dạy học tích cực nhưng sử dụng phương pháp nào, như thê nào để thực sựphát huy tính tích cực, chủ động của học sinh lại đòi hỏi sự sáng tạo và vận dụng linhhoạt của người giáo viên

Cùng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì dạy học theo chủ đề là yêu cầu

của chương trình SGK mới Quá trình dạy học mỗi chuyên đề được thiết kế thành

các hoạt động học của học sinh dưới dạng các nhiệm vụ học tập kế tiếp nhau, có thểđược thực hiện trên lớp hoặc ở nhà Học sinh tích cực, chủ động và sáng tạo trongviệc thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên Phân tích giờdạy theo quan điểm đó là phân tích hiệu quả hoạt động học của học sinh, đồng thờiđánh giá việc tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học cho học sinh của giáoviên

Để dạy học theo chủ đề hiệu quả thì lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp

vô cùng quan trọng Từ thực tế và thông qua học hỏi qua tài liệu, đồng nghiệp tôi nhận

thấy “kĩ thuậtmảnh ghép và phòng tranh” là 2 kĩ thuật rất phù hợp để dạy học theo chủ

đề, phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh Vì vậy tôi đã vận dụng kĩ thuậtnày để xây dựng chủ đề dạy học “ tuần hoàn máu” trong chương trình sinh học lớp 11.Với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, giúp học sinh ngày càng chủ

Trang 4

động , sáng tạo trong học tập tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “sử dụng kĩ thuật mảnh ghép

và kĩ thuật phòng tranh trong dạy học chủ đề tuần hoàn máu sinh- học 11”

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế chủ đề dạy học có sử dụng phương pháp phòng tranh, đánh giá hiệu quả củaphương pháp cũng như chủ đề dạy học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chủ đề nằm trong chương trình sinh học lớp 11 năm học 2017-2018 tại trường THPTBạch Đằng do giáo viên trực tiếp giảng dạy

II NỘI DUNG

1 Chương 1: Tổng quan

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 phương pháp dạy học tích cực

a phương pháp dạy học tích cực là gì?

Nói đến phương pháp dạy học tích cực chính là nói đến cách dạy học mà ở đó, giáo viên

là người đưa ra những gợi mở cho một vấn đề và cùng học sinh bàn luận, tìm ra mấuchốt vấn đề cũng như những vấn đề liên quan Phương pháp này lấy sự chủ động tìm tòi,sáng tạo, tư duy của học sinh làm nền tảng, giáo viên, gia sư chỉ là người dẫn dắt và gợi

mở vấn đề

Mô hình phương pháp dạy học tích cựcHay nói cách khác, phương pháp dạy và học tích cực không cho phép giảng viên truyềnđạt hết kiến thức mình có đến với học sinh mà thông qua những dẫn dắt sơ khai sẽ kích

Trang 5

thích học sinh tiếp tục tìm tòi và khám phá kiến thức đó Cách dạy này đòi hỏi nhữnggiảng viên phải có bản lĩnh, chuyên môn tốt và cả sự nhiệt thành, hoạt động hết côngsuất trong quá trình giảng dạy.

b Cách tiến hành phương pháp dạy học tích cực

Những nguyên tắc, hay còn được gọi là đặc trưng cơ bản của phương pháp học tích cựcchính là:

1 Dạy học thông qua hoạt động của học sinh là chủ yếu

Tức là trong tiết học, học sinh chính là đối tượng chính để khai phá kiến thức Chính vìthế, giáo viên phải làm sao đó, với những cách thức gợi mở vấn đề ở một mức độ nhấtđịnh sẽ tác động đến tư duy của học sinh, khuyến khích học sinh tìm tòi và cùng bànluận về vấn đề đó

2 Chú trọng đến phương pháp tự học

Nếu bạn chủ động áp dụng phương pháp dạy và học tích cực, bạn phải loại bỏ hoàn toànsuy nghĩ cầm tay chỉ việc, đọc – chép… như những cách thức giảng dạy thông thườngkhác

Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ chú trọng cho học sinh cách thức rèn

luyện và tự học, tự tìm ra phương pháp học tốt nhất để có thể tự nắm bắt kiến thức mới.Tất nhiên, kiến thức mới sẽ được giáo viên kiểm định và đảm bảo chắc chắn đấy là kiếnthức chuẩn

3 Ưu tiên phương pháp học nhóm, tập thể

Với phương pháp học tích cực, giảng viên phải biết cách chia đội, nhóm và giúp các học sinh phối hợp cùng với nhau để tìm ra phương pháp học tốt nhất

4 Chốt lại kiến thức học

Cuối mỗi buổi học, giảng viên, gia sư sẽ cùng học sinh tổng hợp lại những kiến thức tìmhiểu được, đồng thời giải đáp những vấn đề học còn thắc mắc, cùng trao đổi và chốt lạikiến thức cho cả buổi học

Trang 6

So sánh phương pháp dạy học truyền thống và Phương pháp dạy học tích cựcChính vì thế, điều quan trọng vấn là giảng viên phải biết cách vận dụng phương phápdạy học tích cực để có thể giúp học sinh nhanh chóng thích nghi với phương pháp họctích cực, chủ động này thông qua các kĩ thuật dạy học

1.1.2 dạy học theo chủ đề là gì?

Bộ GD & ĐT đang thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dụcnhằm thực hiện mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước thành những con người chủ động, tích cực, sáng tạo Có như vậy mới có được những thế hệ đủ sức đảm đương gánh vác những trọng trách của đất nước trong thời kì mới, thời kì hội nhập, thời kì mà nền kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo

Những người trực tiếp đứng lớp làm nhiệm vụ giảng dạy trong thời gian gần đây được ngành giáo dục quan tâm, tạo điều kiện học hỏi, nắm bắt nhiều phương pháp giảng dạy mới để thực hiện mục tiêu nêu trên Thế nhưng không phải một sớm một chiều đội ngũ chúng ta dễ dàng vận dụng hiệu quả Hơn nữa, ngày càng nhiều phương pháp tổ chức dạy học được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới cũng như trong nước nên việc tìm hiểu, học hỏi để vận dụng phải thường xuyên

Trong nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học theo yêu cầu đổi mới mà chúng ta đang

thử nghiệm, vận dụng thì Dạy học theo chủ đê là một trong những yêu cầu được thực

hiện từ năm học 2014-2015 đến nay

Trang 7

Dạy học theo chủ đê là phương pháp tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến

thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sởcác mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợpphần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bàihọc, môn học có liên hệ với nhau) làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩahơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức vàvận dụng vào thực tiễn

Mỗi phương pháp, cách thức tổ chức dạy học đều có những ưu thế và hạn chế riêng Nhưng xét theo yêu cầu hiện nay của giáo dục là làm thế nào để nội dung kiến thức trở nên hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống? Làm thế nào để việc học tập phải nhắm đến mục đích là rèn các kĩ năng sống, nhất là kĩ năng giải quyết vấn đề – những vấn đề đa dạng của thực tiễn? Làm thế nào để nội dung chương trình dạy luôn được cập nhật trước

sự bùng nổ vũ bão của thông tin để các kiến thức được học thực sự là thế giới mới cho người học?

Và trả lời được các câu hỏi trên đồng nghĩa với việc xác định mục tiêu giáo dục, mô hình dạy học trong thời đại mới

Dạy học theo chủ đề, theo hiểu biết qua nghiên cứu tài liệu, tôi thấy có những lợi thế hơn so với cách dạy truyền thống ở những điểm sau: Các nhiệm vụ học tập được giao cho HS, các em chủ động tìm hướng giải quyết vấn đề Kiến thức không bị dạy riêng lẻ

mà được tổ chức lại theo một hệ thống nên kiến thức các em tiếp thu được là những kháiniệm trong một mạng lưới quan hệ chặt chẽ Mức độ hiểu biết của các em sau phần học

không chỉ là Hiểu, Biết, Vận dụng mà còn biết Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá Kiến

thức cũng không chỉ là kiến thức mà những kiến thức đó liên quan đến những lĩnh vực nào trong cuộc sống, vận dụng nó như thế nào

1.2 Cơ sở thực tiễn

Là một phương pháp học lấy sự chủ động của người học làm trọng tâm, phươngpháp dạy học tích cực đã và đang được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thếgiới áp dụng và mang lại những thành công nhất định cho nền giáo dục nước nhà TạiViệt Nam, phương pháp dạy học tích cực cũng đang dần được phổ biến, thay thế chocách thức giảng dạy và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động như trước đây

Trang 8

Trước đây, dù chương trình được cấu trúc theo hướng đồng tâm, nhiều bài, dạng bài được dạy lặp lại ở các khối lớp theo hướng nâng cao nhưng đôi lúc chúng ta chưa chú trọng tạo cho hs cái nhìn tổng quát, chưa giúp các em có phương pháp vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề nảy sinh có liên quan ở bài mới Hơn nữa, thời gian chomỗi bài dạy cũng là một khó khăn cho GV Bởi dạy theo từng bài trong khoảng thời gianqui định đôi lúc không đủ tổ chức cho HS nắm bắt những điều cơ bản trong tiết học đó nên khó cho HS cơ hội hệ thống kiến thức.

Vì thế, việc liên hệ, xâu chuỗi kiến thức giữa những bài cùng chủ đề có được thực hiện

có thể chỉ mang tính tự phát, thiếu đồng bộ, chưa thường xuyên Và nếu thời gian không

đủ cho tiết dạy thì việc ấy có thể bỏ qua

Thái độ học tập của HS cũng là một yếu tố quan trọng để GV có thể tổ chức tiết dạy hiệuquả Khi các em chưa tích cực, chưa nắm được kiến thức tiết trước, chưa chuẩn bị bài chu đáo ở nhà thì GV khó tổ chức cho các em vận dụng kiến thức đã học để nắm bắt kiến thức mới

Trong thời gian gần đây, bộ giáo dục cũng như các sở giáo dục đẫ tổ chức nhiều hội thảo, chuyên đề , lơp học nhằm đưa giáo viên tiếp cận vơi các phương pháp dạy học mới, các ki thuật dạy họ tích cực Giáo viên cũng đã xây dựng rất nhiều chủ đề dạy học nhằm làm quen với phương pháp dạy học theo chủ đề , chuẩn bị cho chương trình đổi mới SGK trong thời gian tới

1.3.Những thuận lợi, khó khăn trong việc dạy học theo chủ đê

– Thuận lợi:

+ Giữa các bài học trong chương trình có nhiều bài có mối quan hệ chặt chẽ, giáo viên

dễ dàng trong việc chọn chủ đề để xây dựng chủ đề dạy học

+ Bộ môn có nội dung phong phú, nguồn tài liệu dồi dào để học sinh tìm hiểu, giáo viêntham khảo trong việc tổ chức cho học sinh học tập

+ Là một môn học có tính thực tiễn cao nên liên hệ thực tiễn đời sống khá dễ dàng Đó

là những định hướng học sinh ứng dụng vào thực tế

– Khó khăn:

Trang 9

+ Trước hết là nhận thức, là ý thức Đổi mới bao giờ cũng gây khó khăn cho giáo viên vìthay đổi một thói quen thực hiện bao đời là điều không dễ.

+ Không có sẵn chương trình từ SGK, SGV mà GV tự biên soạn, cấu trúc lại chương trình Những gì cần lược bỏ, những gì cần tích hợp vào,… tự GV quyết định

+ Mỗi chủ đề thường được thực hiện trong nhiều tiết Thế nhưng khoảng cách thời gian giữa các tiết không gần nhau, tạo tâm thế cho mỗi tiết học trong cách dạy có sự xâu chuỗi kiến thức giữa các tiết mất nhiều thời gian

+ Tỉ lệ HS tích cực, chủ động trong học tập còn quá ít Khả năng tự học hạn chế đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng tiết học

2 NỘI DUNG CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

2.1 Những vấn đề cơ bản trong dạy học theo chủ đề

2.1.1 Các kĩ thuật dạy học tích cực

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và họcsinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạyhọc Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học

Có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực mà những nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ranhằm dạy học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt mà còn phát triển năng lực Điềuquan trọng là giáo viên linh hoạt tuỳ theo bài học để chọn kĩ thuật phù hợp

10 kĩ thuật dạy học phổ biến thường được sử dụng trong dạy học tích cực:

1 Kĩ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhómkhác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp

2 Kĩ thuật đặt câu hỏi

GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS -

Trang 10

HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn.

3 Kĩ thuật khăn trải bàn

- HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)

- Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình ( về một vấn đề nào đó

mà GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra

4 Kĩ thuật phòng tranh

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạnhững ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh

- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’, nghe thuyết trình và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung

5 Kĩ thuật mảnh ghép

- HS được phân thành các nhóm, sau đó GV phân công cho mỗi nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học Chẳng hạn: nhóm 1- thảo luận vấn đề A, nhóm 2- thảo luận vấn đề B, nhóm 3- thảo luận vấn đề C, nhóm 4- thảo luận thảo luận vấn đề D,…

- HS thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công

- Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D, vàmỗi “ chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ

6 Kĩ thuật động não

Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý

Trang 11

tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng ( nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng)

7 Kĩ thuật "XYZ"

-là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm X là số ngườitrong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗi người

8 Kĩ thuật lược đồ tư duy

-Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bàymột cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cánhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trênbản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

9 Kĩ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think, Pair, Share)

-là một kỹ thuật do giáo sư Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981

Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duycủa từng cá nhân trong giải quyết vấn đề Sau khi GV nêu vấn đề học sinh thànhlập nhóm đôi thảo luận rồi chia sẻ ý tưởng cho nhau Điều quan trọng là ngườihọc chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận được, thay vì chỉ chia sẻ ý kiến cánhân

10 Kĩ thuật KWL

-KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức dạy họchoạt động đọc hiểu Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đãbiết về chủ đề bài đọc Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ Sau đóhọc sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trongchủ đề này Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ Trong quátrình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W Nhữngthông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L

2.1.2 Kĩ thuật mảnh ghép và kĩ thuật phòng tranh

a kĩ thuật mảnh ghép

Cách tiến hành kĩ thuật "Các mảnh ghép"

Trang 12

• Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề

và ghi lại những ý kiến của mình

• Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lờiđược tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” củalĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2

• Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

Một vài chú ý với kĩ thuật "Các mảnh ghép"

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinhđược chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề

- Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1,2,…,n (nếukhông có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C, Ví dụ A1, A2, An, B1, B2, ,

Bn, C1, C2, , Cn)

Trang 13

- Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnhghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới Bước này phải tiến hànhmột cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm.

- Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự

b Kĩ thuật phòng tranh

Cách tiến hành:

- Giáo viên chia lớp thành các nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm

- Các nhóm làm việc và thể hiện nội dung dưới dạng 1 bức tranh

- Tranh của các nhóm được treo ở các vị trí trong lớp theo thứ tự

- Các nhóm lần lượt đến xem và thảo luận tại các bức tranh, bổ sung nêu cần thiết.Mỗi bức tranh sẽ có nhóm chuyên gia thuyết trình nội dung

- Giáo viên chốt kiến thức, có thể cho HS chấm điểm các nhóm

2.1.3 Xây dựng chủ đề dạy học

Theo Công văn Số: 5555/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD và ĐT ngày 08-10-2014, xây dựng chủ đề dạy học gồm các bước:

1 Xây dựng chuyên đề dạy học

Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa nhưhiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiệnhành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụngphương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường Trên cơ sở rà soátchuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dựkiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực

và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng

2 Biên soạn câu hỏi/bài tập

Với mỗi chuyên đề đã xây dựng, xác định và mô tả 4 mức độ yêu cầu (nhận biết, thônghiểu, vận dụng, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra,đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học Trên cơ sở đó, biên soạn cáccâu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử dụng trong quá trình tổchức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chuyên đề đã xâydựng

Trang 14

3 Thiết kế tiến trình dạy học

Tiến trình dạy học chuyên đề được tổ chức thành các hoạt động học của học sinh để cóthể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ thực hiện một số hoạtđộng trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng

4 Tổ chức dạy học

Trên cơ sở các chuyên đề dạy học đã được xây dựng, giáo viên tổ chức giờ học thôngqua việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ học tập cho hco sinh với yêu cầu như sau:

- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả năng của

học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiệnnhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhậnthức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học sinh tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệmvụ

- Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực hiện

nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có biện pháp hỗtrợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên"

- Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập và kĩ

thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh trao đổi, thảo luận vớinhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí

- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ

học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và nhữngý kiến thảo luận của học sinh; chính xác hóa các kiến thức mà học sinh đã học đượcthông qua hoạt động

Mỗi chuyên đề được thực hiện ở nhiều tiết học nên một nhiệm vụ học tập có thể đượcthực hiện ở trong và ngoài lớp học Vì thế, trong một tiết học có thể chỉ thực hiện một sốbước trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật dạy học được sử dụng

2.2 Thiết kế chủ đề “tuần hoàn máu” dựa trên kĩ thuật mảnh ghép và kĩ thuật phòng tranh.

Trong quá trình giảng dạy Sinh học 11, tôi đã thiết kế chủ đề này và dạy ở các lớp

11 được phân công Dưới đây là nội dung bài soạn chủ đề “tuần hoàn máu” chươngtrình sinh học 11

Trang 15

Chủ đề TUẦN HOÀN MÁU (2 TIẾT)

I NỘI DUNG CHỦ ĐỀ

1.1 Tên chủ đề : “Tuần hoàn máu ”

Chủ đề này gồm các bài: Bài 18;19 trong chương I, Mục B , thuộc Phần 4 Sinhhọc cơ thể - sinh học 11 THPT

Bài 18 Tuần hoàn máu

Bài 19 Tuần hoàn máu (tt)

1.2 Nội dung chi tiết của chủ đề

- ND1:Cấu tạo và chức năng của HTH , HTH hở và HTH kín

- Thời gian học ở nhà: 1tuần nghiên cứu tài liệu “tuần hoàn máu”

- Số tiết học trên lớp: 2 tiết

II.MỤC TIÊU CHỦ ĐỀ

Sau khi học xong chủ đê này HS có khả năng:

1- Kiến thức:

- Nêu được cấu tạo và chức năng, ý nghĩa của tuần hoàn máu

- Phân biệt được hệ tuần hoàn hở với hệ tuần hoàn kín,

- Nêu được ưu điểm của hệ tuần hoàn kín so với hệ tuần hoàn hở, hệ tuần hoàn képvới hệ tuần hoàn đơn

- Nêu dược chiều hướng tiến hóa của hệ tuần hoàn

- Nêu được các qui luật hoạt động của tim: tim có tính tự động, tim hoạt động nhịpnhàng theo chu kì

- Giải thích được tại sao tim lại hoạt động theo các qui luật đó

- Trình bày được cấu trúc của hệ mạch và các qui luật vận chuyển máu trong hệmạch

2 Kỹ năng:

Trang 16

- Kĩ năng tư duy, kĩ năng giải quyết vấn đề

- Kĩ năng khoa học: quan sát; phân loại; định nghĩa

- Kĩ năng học tập: tự học; tự nghiên cứu; hợp tác; giao tiếp

3 Thái độ:

-Vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn cuộc sống

- HS có ý thức tuyên truyền và phòng các bệnh về huyết âp

III CÁC NĂNG LỰC CÓ THỂ HƯỚNG TỚI TRONG CHỦ ĐỀ

1 Năng lực nhận biết phát hiện và giải quyết vấn đề dựa trên hiểu biết về cấu tạo của các dạng tuần hoàn, cấu tạo của tim và huyết áp

2 Thu nhận và xử lí thông tin, làm các bài tập liên quan đến chu kì hoạt động của tim

3 Nghiên cứu khoa học: đề xuất giả thuyết, dự đoán kết quả

4 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

5 Năng lực tư duy thông qua phân tích, so sánh, xác lập mối quan hệ giữa nhịp tim và khối lượng cơ thể.mối quan hệ giữa huyết áp với tiết diện mach, độ đàn hồi của mạch vàdung tích máu

6 Năng lực ngôn ngữ: diễn đạt trình bày nội dung dưới nhiều hình thức khác nhau

STT Tên năng lực Các kỹ năng thành phần

1 Năng lực nhận biết phát hiện và giải quyết vấn

đề dựa trên hiểu biết về hệ tuần hoàn,cấu tạo

tim và hoạt động của tim và huyết áp

Giải thích các hiện tượng thực tế

2 2 Thu nhận và xử lí thông tin -Đọc hiểu các sơ đồ, bảng biểu,

hình ảnh-Lập bảng so sánh hệ tuần hoàn

hở, hệ tuần hoàn kín, hệ tuần hoànđơn và hệ tuần hoàn kép

3 Nghiên cứu khoa học: đề xuất giả thuyết, dự

đoán kết quả

-Quan sát các biểu hiện của các bệnh do tim mạch, huyết áp: Đề xuất các biện pháp giảm các loại bệnh tật do tim mạch và huyết áp gây ra

4 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn -Vận dụng kiến thức về tim mạch

và huyết áp để giải thích một số bệnh trong thực tế

5 Năng lực tư duy thông qua phân tích, so sánh,

xác lập mối quan hệ giữa nhịp tim và khối

lượng cơ thể.mối quan hệ giữa huyết áp với tiết

diện mach, độ đàn hồi của mạch và dung tích

máu

-Phân tích được mối quan hệ giữa nhịp tim và khối lượng cơ thể, mối quan hệ giữa huyết áp với tiếtdiện mach, độ đàn hồi của mạch

và dung tích máu

6 Năng lực ngôn ngữ: diễn đạt trình bày nội -Lập sơ đồ khái niệm

Trang 17

dung dưới nhiều hình thức khác nhau -Trình bày được các hiểu biết của

cá nhân về một số loại bệnh do tim mạch và huyết áp

IV BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT ĐƯỢC

- Nêu được chức năng của hệ tuần hoàn

-Tại sao khi tim ngừng đập thì cơthể sẽ chết?

HTH kép?

- Vai trò của tim trong tuần hoàn máu?

-Ưu điểm của HTH kín so với HTH hở? Ưu điểm của HTH kép so với HTHđơn?

- Trong HTH kín thì khi nào

sẽ xuất hiện HTH kép?

-Phân biệt HTH kín và HTH hở?

HTH đơn và HTH kép?

-Dựa vào cấu tạo của các dạngHTH hãy nêu chiều hướng tiếnhóa của tim và HTH?

3.Hoạt

động của

tim

- Tính tự động của tim là gì?

- Tính tự động của tim có được do yếu

tố nào quyết định?

- Hệ dẫn truyền của tim hoạt động như thế nào?

- Chu kì tim là gì? Chu kì timhoạt động nhưthế nào?

- Tại sao hệ dẫn truyền của tim có tính

tự động?

- Tại sao có sự khác nhau giữa nhịp tim và khối lượng cơ thể?

- Tại sao tim hoạt động suốt đời mà không mệt mỏi?

- Làm BT liên quan đến chu

kì HĐ của tim

- Tại sao trong suốt chu kì tim tâm nhĩ luôn

co trước tâmthất, điều gì xảy ra nếu tâm nhĩ và tâm thất cùng co đồng thời?

- Tim hoạt động theo những QL

Ngày đăng: 09/09/2019, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w