TÓM TẮT Thị trường chứng khoán là một loại hình của thị trường tài chính nơi mà các cổ phiếu của công ty niêm yết và các loại chứng khoán khác được giao dịch bởi các nhà đầu tư.. Thị trư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM DUY TÍNH
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 7340201
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM DUY TÍNH
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 7340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐẶNG VĂN DÂN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3TÓM TẮT
Thị trường chứng khoán là một loại hình của thị trường tài chính nơi mà các cổ phiếu
của công ty niêm yết và các loại chứng khoán khác được giao dịch bởi các nhà đầu tư Thị
trường chứng khoán đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế như là
thúc đẩy quá trình huy động vốn của các công ty niêm yết và duy trì sự phát triển bền vững
của nền kinh tế Thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong những thị trường cận biên
nên cần được phát triển để có thể vận hành một cách hiệu quả hơn nhằm thực hiện các vai
trò của mình Do đó, việc đánh giá các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán
Việt Nam có vai trò quan trọng đối với Chính phủ cũng như là các nhà đầu tư
Nghiên cứu này kiểm tra ảnh hưởng của sự biến động nền kinh tế vĩ mô lên giá chứng
khoán thông qua các nhân tố vĩ mô được chọn gồm tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số giá tiêu
dùng, tỷ giá hối đoái, lãi suất cơ bản, cung tiền theo quan điểm rộng, đầu tư trực tiếp nước
ngoài, giá vàng và giá dầu thô Các chuỗi dữ liệu thời gian được thu thập từ Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Hội đồng vàng thế giới và các nguồn đáng
tin cậy khác từ tháng 1/2001 đến tháng 6/2017 Nghiên cứu đã khai thác sự hiện diện tích
hợp bậc 1 – I(1) của chuỗi dữ liệu thời gian để áp dụng quy trình kiểm định đồng liên kết
Johansen và tiến hành phân tích dữ liệu theo mô hình vector hiệu chỉnh sai số (Vector Error
Correction Model - VECM)
Kiểm định Johansen chỉ ra rằng các biến có tồn tại mối quan hệ đồng liên kết và mô
hình VECM chỉ ra sự tồn tại của cả cân bằng dài hạn và mối quan hệ ngắn hạn của các biến
vĩ mô đến giá cổ phiếu Cụ thể, kết quả cho thấy tác động dương của giá vàng, tổng sản
phẩm quốc nội đến giá cổ phiếu trong khi chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất cơ bản có mối quan
hệ âm Tác động dương của tổng sản phẩm quốc nội lên giá cổ phiếu được giải thích thông
qua mối quan hệ nghịch chiều của chỉ số giá tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu Ngoài ra, đầu
tư trực tiếp nước ngoài có mối quan hệ dương và cung tiền có mối quan hệ âm nhưng những
hệ số này đều không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, nghiên cứu không đủ cơ sở để kết luận
về mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá đến giá cổ phiếu Kết quả phân tích hàm phản ứng
xung và phân rã phương sai cho thấy trong ngắn hạn thì tổng sản phẩm quốc nội, cung tiền
và lãi suất cơ bản là những yếu tố then chốt tác động đến sự biến động của chỉ số VN-Index
Trang 4ABSTRACT
The stock market is a financial market where investors buy and sell shares of publicly
listed companies and other securities This market has an important role in economic
prosperity that enhances capital formation of public corporation and sustains economic
growth The stock market in Vietnam is one of the frontier markets so it needs to be
developed to operate more and more effectively for completing its roles Therefore,
evaluation of the impact of macroeconomic factors on Vietnam stock market plays vital role
for the government as well as investors
This study examined the effects of macroeconomic volatility on stock prices via
selected macro variables including gross domestic product, consumer price index, exchange
rate, monetary policy-related interest rate, money supply (M2), foreign direct investment,
gold price, oil crude price Time series data was obtained from The International Monetary
Fund (IMF), The Asia Development Bank (ADB), The World Gold Council and other
sources trustworthiness from 1/2001 to 6/2017 The study exploits the presence of the order
of integration which is one – I(1) on the time series data to apply the Johansen procedure and
the Vector Error Correction Model (VECM) for data analysis
The Johansen test of cointegration reveals that variables are cointegrated and the
VECM reveals existence of both long-run equilibrium and short-run relationship between
stock price and the macroeconomic variables In particular, the results suggest positive
long-run equilibrium relationship between stock price and gold price as well as gross domestic
product whereas consumer price index and monetary policy-related interest rate show a
negative relationship The positive effect of gross domestic product on stock price be
explained through the negative relationship with intervening variable of consumer price
index Furthermore, foreign direct investment show a insignificantly positive long-run
equilibrium relationship and money supply have a insignificantly negative relationship with
stock price However, this research does not find the effects of oil crude price and exchange
rate on stock price Results of impulse response function and variance decomposition of
forecast errors indicate that gross domestic product, money supply and monetary
policy-related interest rate are the key determinants of the share price movements in Vietnam
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung
do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong khóa luận
Tác giả
Phạm Duy Tính
Trang 6
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành học phần khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đặng Văn Dân đã giúp đỡ trong việc hình thành đề cương nghiên cứu và hỗ trợ trong quá trình hoàn thành luận văn Nhờ vào khung phân tích được hướng dẫn thực hiện mà tác giả có thể tiến hành các bước nghiên cứu mang tính khoa học để giải quyết các vấn đề được đặt ra cũng như đạt được mục tiêu nghiên cứu ban đầu
Bên cạnh đó, tác giả gửi lời cảm ơn đến TS Phạm Thị Tuyết Trinh trong việc biên soạn giáo trình “Kinh tế lượng ứng dụng trong kinh tế và tài chính” Đây làm một trong những tài liệu quý giá đã giúp tác giả hiểu rõ hơn về các quy trình cần thực hiện để đánh giá các chuỗi dữ liệu thời gian bằng mô hình VECM Ngoài ra, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến ThS Nguyễn Xuân Trường đã hướng dẫn tác giả khắc phục các tình huống không kỳ vọng xảy ra trong quá trình xử lý dữ liệu và thực hiện mô hình
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh và toàn thể giảng viên, đặc biệt là quý Thầy/Cô giáo đã từng hướng dẫn, giảng dạy tác giả ở các bộ môn khác nhau Nhờ vào sự tận tâm và nhiệt tình giảng dạy này mà tác giả
có cái nhìn khách quan và tiếp nhận được kiến thức hữu ích về các vấn đề kinh tế vĩ mô, vi
mô, tài chính vẫn đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày Điều này đã có tác động trực tiếp
và gián tiếp đến kết quả khoá luận cuối khoá này của tác giả
Trân trọng cảm ơn /
Tác giả
Phạm Duy Tính
Trang 7MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU viii
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI viii
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI viii
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ix
4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ix
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ix
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI x
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1
1.1 Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán 1
1.1.1 Khái niệm và bản chất thị trường chứng khoán 1
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 2
1.1.3 Vai trò thị trường chứng khoán 9
1.1.4 Phân loại thị trường chứng khoán 12
1.1.5 Chỉ số giá chứng khoán và VN-Index 15
1.2 Tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 21
1.2.1 Lạm phát 21
1.2.2 Tăng trưởng kinh tế 22
1.2.3 Lãi suất 23
1.2.4 Cung tiền 24
1.2.5 Tỷ giá hối đoái 26
1.2.6 Giá dầu thô thế giới 28
1.2.7 Giá vàng thế giới 28
1.2.8 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 29
1.3 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 30
1.3.1 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 30
1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 32
1.3.3 Đánh giá và kết luận rút ra từ các nghiên cứu thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 35
Trang 8KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2.MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 40
2.1 Mô hình nghiên cứu sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 40
2.1.1 Khung phân tích 40
2.1.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 41
2.1.3 Lý do lựa chọn mô hình nghiên cứu 43
2.1.4 Dữ liệu nghiên cứu 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 49
2.2.1 Phương pháp phân tích định lượng sử dụng mô hình VECM 49
2.2.2 Quy trình ước lượng mô hình VECM 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3.TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 67
3.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 67
3.1.1 Quy mô thị trường chứng khoán 67
3.1.2 Diễn biến thị trường chứng khoán qua các năm 74
3.2 Thị trường chứng khoán Việt Nam trong mối tương quan với các nhân tố vĩ mô 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113
CHƯƠNG 4.PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 114
4.1 Thống kê mô tả các biến 114
4.2 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu thời gian 116
4.3 Lựa chọn độ trễ tối ưu 117
4.4 Kiểm định đồng liên kết 118
4.5 Mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM 120
4.5.1 Mối quan hệ dài hạn giữa các biến 120
4.5.2 Mối quan hệ ngắn hạn giữa các biến 125
4.6 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger 127
4.7 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 129
4.8 Hàm phản ứng xung 131
4.9 Phân tích phân rã phương sai 133
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 135
CHƯƠNG 5.GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 137 5.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển thị trường chứng khoán của Đảng và nhà nước 137
5.1.1 Quan điểm 137
5.1.2 Mục tiêu 138
5.1.3 Định hướng 140
5.2 Giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 143
Trang 95.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô 143
5.2.2 Nhóm giải pháp vi mô 144
5.3 Kiến nghị chính sách nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 149
5.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 149
5.3.2 Kiến nghị với Bộ tài chính 151
5.3.3 Kiến nghị với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 154
5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 157
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 159
KẾT LUẬN CHUNG 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
PHỤ LỤC 170
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACF Auto Correlation Function Hàm tự tương quan
ADF Augmented Dickey Fuller
AEG Augmented Engle Granger
AIC Akaike Information
Criterion
Tiêu chuẩn thông tin Akaike
ARDL Autoregressive Distributed
Lag
Mô hình phân phối trễ tự hồi quy
ECM Error Correction Model Mô hình hiệu chỉnh sai số
ETF Exchange Traded Fund Chứng chỉ quỹ đầu tư chỉ số
FPE Final Prediction Error Sai số dự báo sau cùng
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
(tiền thân của Sở Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội)
Chí Minh
HQ Hannan-Quinn Information
Criterion
Tiêu chuẩn thông tin Hannan-Quinn
IPO Initial Public Offering Phát hành lần đầu ra công chúng
OLS Ordinary Least Square Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ
nhất
SC Schwarz Information Tiêu chuẩn thông tin Schwarz
Trang 11Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
công ty đại chúng chưa niêm yết VAR Vector Autoregression Mô hình vector tự hồi quy
VECM Vector Error Correction
Model
Mô hình vector hiệu chỉnh sai số
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Dữ liệu minh hoạ cách tính chỉ số VN-Index 19
Bảng 1.2 Tổng hợp xu hướng tác động của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán theo các nghiên cứu thực nghiệm tại nước ngoài 36
Bảng 1.3 Tổng hợp xu hướng tác động của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán theo các nghiên cứu được thực nghiệm trong nước 36
Bảng 2.1 Chiều hướng tác động kỳ vọng của các nhân tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán 42
Bảng 2.2 Đặc điểm dữ liệu của các biến được thu thập 46
Bảng 2.3 Giả thuyết kiểm định đồng liên kết Johansen 59
Bảng 3.1 Khối lượng chứng khoán niêm yết, đăng ký giao dịch 69
Bảng 3.2 Số lượng doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch 71
Bảng 3.3 Vốn hoá thị trường của các doanh nghiệp nội địa niêm yết trên thị trường 72
Bảng 3.4 Số liệu thị trường chứng khoán giai đoạn 2000-2005 76
Bảng 3.5 Quy mô niêm yết trên sàn HOSE giai đoạn 2006-2008 76
Bảng 3.6 Giá trị giao dịch theo Quý trong năm 2008 tại sàn HOSE 85
Bảng 3.7 Quy mô thị trường chứng khoán trên sàn HOSE giai đoạn 2012-2015 91
Bảng 3.8 Thanh khoản thị trường của chỉ số VN-Index năm 2015 95
Bảng 3.9 Thống kê thị trường phái sinh kể từ khi thành lập 97
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 115
Bảng 4.2 Kiểm định tính dừng chuỗi dữ liệu thời gian 116
Bảng 4.3 Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu tại độ trễ tối đa là 4 117
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định số vector đồng liên kết 118
Bảng 4.5 Phương trình đồng liên kết 121
Bảng 4.6 Phương trình đồng liên kết ràng buộc 123
Bảng 4.7 Hệ số điều chỉnh sai số 124
Bảng 4.8 Phương trình tác động ngắn hạn của D(LVNI) 125
Bảng 4.9 Hàm phản ứng xung 131
Bảng 4.10 Phân rã phương sai 133
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ phân tích 40
Hình 2.2 Tổng quát mô hình định lượng chuỗi dữ liệu thời gian 44
Hình 2.3 Quy trình ước lượng mô hình VECM 51
Hình 3.1 Giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán 67
Hình 3.2 Số lượng tài khoản nhà đầu tư 71
Hình 3.3 Diễn biến chỉ số VN-Index 74
Hình 3.4 Giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu giai đoạn 2006-2008 77
Hình 3.5 Khối lượng và giá trị cổ phiếu giao dịch trên sàn HOSE năm 2009 86
Hình 3.6 Khối lượng và giá trị giao dịch cổ phiếu trên sàn HOSE giai đoạn 2009-2011 90
Hình 3.7 Khối lượng và giá trị mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài 99
Hình 3.8 Thay đổi của VN-Index và lạm phát 101
Hình 3.9 Thay đổi của VN-Index và tăng trưởng kinh tế 102
Hình 3.10 Thay đổi của VN-Index và lãi suất 104
Hình 3.11 Thay đổi của VN-Index và cung tiền 106
Hình 3.12 Thay đổi của VN-Index và tỷ giá hối đoái 108
Hình 3.13 Thay đổi của VN-Index và giá dầu thô 109
Hình 3.14 Thay đổi của VN-Index và giá vàng 110
Hình 3.15 Thay đổi của VN-Index và đầu tư trực tiếp nước ngoài 111
Hình 4.1 Chiều hướng tác động giữa các nhân tố với nhau 127
Hình 4.2 Đồ thị Histogram phần dư của D(LVNI) 129
Hình 4.3 Kiểm định tự tương quan phần dư: Portmanteau 130
Hình 4.4 Kiểm định tính ổn định của mô hình 131
Trang 14MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thị trường chứng khoán (TTCK) của Việt Nam chính thức ra đời vào ngày 11/07/1998 khi Chính phủ ban hành nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán [8] Đến năm 2000, TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Cho đến nay, TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc như tăng trưởng
về quy mô vốn hóa, số lượng công ty niêm yết gia tăng nhanh chóng và đã trở thành kênh huy động vốn có hiệu quả cho nền kinh tế cũng như là một kênh đầu tư thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước
Tuy nhiên qua khoảng thời gian gần 20 năm hình thành và hoạt động, TTCK Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự phát triển so với tiềm năng vốn có Để nền kinh tế một quốc gia phát triển ổn định và vững mạnh thì cần phải có một thị trường tài chính phát triển đồng
bộ, trong khi đó TTCK giữ vị trí vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của thị trường tài chính Do đó, muốn nền kinh tế nước nhà phát triển vững mạnh với tiềm lực vốn có của
nó thì Việt Nam cần hành động để đưa TTCK phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu Để thực hiện được điều này thì Chính phủ cần phải hiểu được xu hướng và quá trình mà các yếu
tố vĩ mô ảnh hưởng đến TTCK nhằm đưa ra các chính sách điều tiết vĩ mô phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường phát triển
Chính vì vậy việc nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK Việt Nam trong ngắn và dài hạn là một trong những vấn đề cấp thiết cần làm rõ trong quá trình nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị, chính sách thúc đẩy thị trường phát triển
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm ra xu hướng tác động của các yếu tố vĩ mô trong ngắn và dại hạn đến chỉ số giá chứng khoán, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị thích hợp nhằm phát triển TTCK Việt Nam
Trang 153 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
_ Các yếu tố vĩ mô có tác động đến TTCK hay không? Các yếu tố vĩ mô tác động đến TTCK như thế nào?
_ Thực trạng TTCK Việt Nam hiện nay như thế nào?
_ Trong các yếu tố vĩ mô như: tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế, lãi suất, cung tiền, tỷ giá, giá dầu thô, giá vàng và đầu tư trực tiếp nước ngoài thì yếu tố nào thực sự tác động đến TTCK Việt Nam, mức độ tác động và chiều tác động như thế nào? _ Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô như thế nào để thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển?
4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Để phản ánh thực trạng phát triển của TTCK Việt Nam, đề tài chỉ tập trung phân tích đối với chỉ số chứng khoán chung trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là VN-Index Để phản ánh thực trạng các yếu tố vĩ mô, đề tài tập trung phân tích tỷ
lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, cung tiền theo quan điểm rộng (M2), tỷ giá hối đoái giữa VND và USD, giá dầu thô thế giới, giá vàng thế giới và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Để phục vụ cho nội dung nghiên cứu, số liệu trong đề tài được thu thập trong giai đoạn 2001-2017
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp tổng hợp: sử dụng phương pháp này nhằm kế thừa những nghiên cứu trước đây về mặt lý thuyết và thực tiễn về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK, từ đó hình thành nên cơ sở lý thuyết của đề tài
Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng để mô tả thực trạng biến động của chỉ số giá chứng khoán trong mối quan hệ với sự thay đổi của các yếu tố vĩ mô, qua đó phân tích định tính về tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK Việt Nam
Phương pháp thống kê so sánh: sử dụng để so sánh số tuyệt đối và số tương đối, từ đó phân tích đánh giá xu hướng biến động của TTCK theo thời gian và không gian, nhờ phương
Trang 16pháp này có thể nghiên cứu được những mặt tích cực cũng như hạn chế còn tồn tại trong các hoạt động liên quan đến TTCK
Phương pháp phân tích kinh tế lượng: là phương pháp định lượng đo lường tác động
và đánh giá mối quan hệ giữa các biến số Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết của Johansen và mô hình vector hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model - VECM) để định lượng sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là luận cứ khoa học về sự tác động của các yếu tố vĩ
mô đến thị trường chứng khoán tại Việt Nam và là cơ sở đưa ra các khuyến nghị chính sách
Cụ thể:
_ Giúp Chính phủ, Bộ tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, các nhà nghiên cứu và các nhà đầu tư có thêm thông tin về sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK tại Việt Nam Từ đó, họ có thể đưa ra các chính sách kinh tế đúng đắn, phù hợp để thực hiện tốt và hài hòa cả hai mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển TTCK
_ Giúp hệ thống hóa lại cơ sở lý thuyết về TTCK và lý thuyết các yếu tố vĩ mô tác động đến TTCK
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái niệm và bản chất thị trường chứng khoán
Với sự phát triển lâu dài của TTCK cho nên hiện nay tồn tại khá nhiều khái niệm về nó Một số khái niệm điển hình được đề cập sau đây:
Để tạo tính thống nhất trong khái niệm về TTCK của công dân trong việc thực thi pháp luật, năm 2006 Luật chứng khoán được ban hành và có hiệu lực từ ngày
01/01/2007 với định nghĩa như sau “Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán”[29] Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Phương Nhung (2016) [25] trong nghiên cứu của mình đã trích dẫn khái niệm trong ấn phẩm Những vấn đề cơ bản về chứng khoán
và thị trường chứng khoán của TS Đào Lê Minh được xuất bản bởi UBCKNN vào năm 2006 thì “thị trường chứng khoán là từ ngữ chung chỉ giao dịch mua bán chứng khoán thông qua các thị trường khác nhau như thị trường tập trung và phi tập trung còn Sở giao dịch chứng khoán là để chỉ một địa điểm cụ thể, một nơi có tổ chức, là nơi các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán gặp nhau để thực hiện các lệnh mua bán chứng khoán do các tổ chức và cá nhân giao cho”
Tuy nhiên tác giả nhận thấy khái niệm bao hàm tổng quát nhất là khái niệm được trang web về giáo dục tài chính lớn nhất trên thế giới Investopedia đưa ra và được tác giả tạm dịch như sau: TTCK là tập hợp tất cả các địa điểm mà vốn cổ phần (cổ phiếu của các công ty đại chúng), trái phiếu và các loại chứng khoán khác được phát hành và giao dịch trên cả thị trường tập trung và phi tập trung TTCK còn được biết đến như là một bộ phận của thị trường vốn, đây là một trong những cấu thành quan trọng nhất của nền kinh tế tự do vì nó cho phép các công ty tiếp cận với nguồn vốn trên thị trường bằng cách đổi quyền sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư [76]
Với khái niệm như trên, TTCK là nơi tập trung các nguồn vốn tiết kiệm của xã hội sau đó phân phối cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế dưới hình thức đầu tư
Trang 18gián tiếp Ta có thể thấy rằng TTCK được cấu thành chủ yếu bởi các định chế tài chính bán trực tiếp như công ty chứng khoán và ngân hàng đầu tư với tư cách của một nhà môi giới giúp cho chủ thể cần và thiếu vốn gặp nhau Như vậy, hàng hoá giao dịch trên TTCK không phải là các hàng hoá thông thường như thực phẩm, đồ gia dụng, phương tiện vận tải, dịch vụ y tế, dịch vụ xây dựng … mà là hàng hoá có tính chất đặc biệt được biết đến như một tài sản vô hình – quyền sở hữu tài sản Quyền sở hữu tài sản là một đặc trưng cơ bản để nhận biết tài sản tài chính với các loại tài sản hữu hình và vô hình khác, nó được hiểu là quyền được chi trả cổ tức, tham dự Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết khi sở hữu cổ phiếu phổ thông hay quyền hưởng trái tức khi sở hữu tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ (TPCP), trái phiếu địa phương hoặc là quyền thực hiện mua, bán trong hợp đồng quyền chọn của người đứng ở vị thế mua,…
Do đó, khi xét về bản chất của TTCK thì ta có thểm xem TTCK như một dạng đặc biệt của thị trường trong nền kinh tế, đây là nơi tiếp xúc giữa người mua và bán với hàng hoá được bán là quyền sở hữu tài sản được thể hiện dưới dạng giấy tờ có giá Giá
cả của chúng được quyết định bởi quy luật cung cầu dưới sự tác động của bàn tay vô hình trên thị trường, nó được xem như là lợi nhuận của việc đầu tư vốn khi đứng dưới khía cạnh của người cung ứng vốn và là chi phí của việc huy động vốn khi đứng dưới khía cạnh của người nhận đầu tư Với các đặc điểm như trên, ta có thể kết luận TTCK
là kết quả tất yếu của sự phát triển trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá của
xã hội loài người
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Cũng giống như một số lĩnh vực khác, TTCK ở Việt Nam được hành thành và phát triển sau khi thế giới đã hình thành và phát triển được một khoảng thời gian khá dài để nó có thể hoạt động một cách ổn định và có hiệu quả Do đó, TTCK thế giới có tác động không nhỏ đến TTCK nước ta Để có thể hiểu rõ thêm về quá trình hình thành
và phát triển TTCK, tác giả xin giới thiệu sơ lược cả về thế giới và trong nước
Trang 191.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới
TTCK trên thế giới được hình thành và phát triển sơ khai vào giữa thế kỷ XVI tại Bỉ với định chế đầu tiên ra đời đảm nhận nhiệm vụ gần giống như một Sở Giao dịch Chứng Khoán (SGDCK) Tuy nhiên, TTCK này không phải giao dịch cổ phiếu mà là các món nợ của doanh nhân, thương nhân, công ty hay là Chính phủ Đến những năm đầu của thế kỷ XVII, hàng loạt các thương nhân đến từ các nước Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Bắc Âu, Tây Âu,… tiến hành cuộc hành trình mậu dịch với các vùng đất khác, đặc biệt là Đông Ấn [65] Nhưng thực thế cho thấy, số lượng thương nhân có đủ khả năng để trang trải chi phí cho hành trình của mình là không nhiều nên đã tiến hành vay mượn để thực hiện chuyến đi Tuy nhiên với các sự cố xảy ra, hàng loạt các thương nhân bị phá sản dẫn đến tài sản của họ bị chủ nợ tịch thu Để hạn chế rủi ro cho việc này, tháng 9/1599 tại London đã thành lập một công ty duy nhất cho phép huy động vốn từ các nhà đầu tư để thực hiện hành trình Nếu chuyến hành trình thất bại thì chỉ bị thiệt hại trên số vốn góp của cá nhân và hưởng lợi theo tỷ lệ vốn góp khi chuyến đi thành công Cho đến năm 1609 các công ty tương tự mới được cho phép thành lập tại Anh nên đã thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau
Với sự phát triển nhanh chóng của các công ty phát hành cổ phần đã dẫn đến nhu cầu mua bán phần vốn góp này nên đã thúc đẩy sự ra đời của một trung gian môi giới Vào thời điểm này, các nhà môi giới và nhà đầu tư gặp nhau tại các quán cà phê
để giao dịch cổ phiếu [97] Nếu một công ty muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu thì
họ dán thông báo trên cửa các quán cà phê hoặc gửi thư chào bán cho các nhà đầu tư tiềm năng mà họ hướng đến Đến năm 1773, một nhóm môi giới giàu có đã hiến tặng một toà nhà để làm SGDCK London Từ đây đánh dấu bước ngoặc trong lịch sử phát triển của thị trường tài chính tại London và trở thành trung tâm tài chính lớn nhất thế giới ngay cả khi bị Mỹ vượt qua về kinh tế Với quá trình tương tự, hàng loạt các SGDCK đã được hình thành và phát triển trên toàn thế giới với các sàn lớn như New York, NASDAQ, Tokyo, London, EuroNext, Hong Kong, Thượng Hải, Toronto, Australia,… Trước đây, cổ phiếu được giao dịch theo hình thức thủ công bằng cách
Trang 20báo giá và theo dõi hoạt động mua bán được thực hiện bởi yếu tố con người Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin đã làm thay đổi TTCK vào cuối thế kỷ XX Các tấm bảng điện tử lớn được trang bị lần đầu tiên tại SGDCK NASDAQ có khả năng hiển thị giá đang được giao dịch và được cập nhật liên tục Cùng với đó là hệ thống khớp lệnh cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh để thực hiện nhu cầu của mình
Vào những năm đầu thế kỷ XVIII, hình thức đầu tiên của sản phẩm phái sinh được hình thành tại Nhật Bản với sự ra đời của thị trường giao dịch gạo Dojima với 2 loại: Shomai – thiết lập giao dịch dựa trên giá mua ngay và thực thiện giao dịch trong vòng bốn ngày; Choaimai giao dịch gạo bằng hợp đồng tương lai Để thực hiện giao dịch trên thị trường Choaimai, các thương nhân thiết lập mối quan hệ với trung tâm thanh toán và trung tâm này chịu trách nhiệm trong trường hợp thương nhân vỡ nợ trong giao dịch [79] Các loại hàng hoá khác cũng được thực hiện theo cách tương tự tại nhiều thị trường khác nhau Đến năm 1848, Sở giao dịch Thương mại Chicago (Chicago Board of Trade - CBOT) ra đời đã đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong việc hình thành và phát triển TTCK và giao dịch các sản phẩm phái sinh Sau khi thành lập 2 năm, Sở giao dịch đã phát triển hệ thống các quy tắc và chuẩn mực cho việc vận hành và sử dụng các hợp đồng kỳ hạn và tiếp nối là các hợp đồng tương lai vào năm
1865 Những năm sau đó, hàng loạt các SGDCK phái sinh đã được thành lập tại khu vực Bắc Mỹ như: Sở giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE) vào năm 1973; SGDCK
Mỹ (American Stock Exchange –ASE), Sở giao dịch Montreal (Montreal Exchange – ME) và SGDCK Philadelphia (Philadelphia Stock Exchange) bổ sung loại hình kinh doanh quyền chọn vào năm 1975 cũng như Sở Giao dịch Thái Bình Dương (Pacific Exchange) vào năm 1976 Tính đến thời điểm này, sản phẩm phái sinh không còn giới hạn ở các hợp đồng kỳ hạn và tương lai nữa mà đã bổ sung thêm các sản phẩm mới như quyền chọn và hợp đồng hoán đổi [90]
Với lịch sử phát triển lâu dài của mình, TTCK thế giới đã chứng kiến không ít thời kỳ suy thoái và phát triển một cách bùng nổ của mình Từ đó tạo thành một quy luật vận động tuần hoàn của nó “phát triển – suy thoái” Điển hình là giai đoạn phát
Trang 21triển đỉnh điểm vào những năm 1875-1913 trước khi chiến tranh thế giới bắt đầu vào năm 1914 Trong giai đoạn chiến tranh, thị trường chứng khoán dường như đứng yên không biến động Tuy nhiên sau khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thắng lợi của phe Hiệp ước (Anh – Pháp – Nga) cùng với sự tham gia của Mĩ Chính sự thắng lợi này mà hoạt động sản xuất và giao thương với các nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ tại các nước thắng trận đã dẫn đến cuộc khủng hoảng thừa bùng phát tại Mỹ
và lan truyền ra toàn thế giới Điều này đã tác động trực tiếp đến TTCK thế giới, cụ thể
là ngày thứ năm đen tối (29/10/1929) được biết đến là Vụ đổ vỡ Phố Wall tại TTCK
Mỹ đã mở đầu cho cuộc Đại khủng hoảng trong hệ thống TTCK toàn cầu với sự suy giảm 50% của chỉ số Dow Jones Industrial Average trong vòng một ngày [65] Cuộc khủng hoảng này kết thúc được cho rằng nhờ vào việc tăng cơ hội làm việc và nhu cầu trang bị vũ khí cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai Vừa mới chứng kiến sự phục hồi
và phát triển, TTCK lại tiếp tục lâm vào tình trạng suy thoái khi cuộc khủng hoảng dầu
mỏ bùng nổ nào năm 1973 [100] Điều này đã dẫn đến cuộc suy thoái của TTCK vào năm 1974 tại Anh với sự mất giá 73% của chỉ số FT30 và là ngòi châm cho cuộc khủng hoảng TTCK toàn cầu TTCK được phục hồi và phát triển vào những năm sau
đó cho đến khi đối mặt với cuộc chấn động mới được biết đến là ngày thứ hai đen tối (19/10/1987) bắt đầu tại Mỹ với sự sụt giảm 22.6% của chỉ số Dow Jones Industrial Average với đỉnh điểm là 45.8% tại Hong Kong Với nguyên nhân được biết đến là xuất phát từ việc tranh chấp chính sách tiền tệ giữa các nước công nghiệp phát triển G7 Mỹ muốn nâng giá đồng Dollar và kiểm soát lạm phát bằng việc thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ đã gây ra sự khủng hoảng tại Hong Kong và lan rộng ra toàn thế giới [80] Sau một thời gian dài hồi phục và phát triển kể từ khủng hoảng gần nhất vào năm 1987, TTCK lại đối mặt với cuộc khủng hoảng mới nào năm 2008 với sự khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ Nguyên nhân được các nhà nghiên cứu cho thấy là
từ các khoảng tín dụng dưới chuẩn do áp lực cho vay khi nguồn vốn dư thừa của các trung gian tài chính cùng với việc bong bóng nhà đất hình thành Giai đoạn 2004-2006 lãi suất FED đã tăng từ 1% lên 5.25% làm cho áp lực trả nợ tăng cao đã khiến cho thị trường bất động sản đóng băng Dẫn đến các khoản nợ khó có thể thu hồi được, để khắc phục điều này các định chế tài chính đã mua lại và phân loại các món nợ sau đó
Trang 22đóng gói chúng thành một loại tài sản phái sinh dưới dạng trái phiếu được đảm bảo bằng các khoản nợ dưới chuẩn trên cùng với sự sẵn sàng bảo lãnh của các công ty bảo hiểm đã góp phần tạo tính thanh khoản cao cho nó được lưu hành Chiến lược này được đưa ra nhằm hạn chế rủi ro và tạo thanh khoản cho các khoản nợ vay với mục đích mua bất động sản nhưng đã gây ra tác động ngược bởi chính yếu tố nội tại của các khoản vay đó – dư nợ dưới chuẩn Cuộc khủng hoảng từ đó đã bùng phát tại Mỹ và lan rộng
ra toàn thế giới khiến hàng loạt các doanh nghiệp phá sản cũng như tỷ lệ lạm phát tăng cao [101] Những năm sau đó, TTCK được phục hồi và hoạt động ổn định đến hiện nay
1.1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam
TTCK thế giới đã hình thành trong khoảng thời gian dài với nhiều tác động tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nước sở tại nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Tại Việt Nam, TTCK chỉ mới được thành lập trong khoảng thời gian gần 20 năm cũng đã chứng kiến các giai đoạn thăng trầm khác nhau Sau đây tác giả sẽ giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam cũng như sự ảnh hưởng bởi biến động của TTCK thế giới
Lịch sử hình thành TTCK
Như sự phát triển tất yếu của hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá, TTCK Việt Nam đã bước đầu được hình thành với sự ra đời của UBCKNN vào 28/11/1996 [7] Từ đó đã tạo nên bước đệm về mặt quản lý nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành của TTCK với 2 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK): Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội vào ngày 11/07/1998 Theo quyết định thành lập thì cả hai TTGDCK đều là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp [36] Hai năm sau kể từ khi có quyết định thành lập, TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đầu tiên bắt đầu hoạt động với vai trò của một TTCK và tiến hành tổ chức phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 [82] với hai mã cổ phiếu REE - công ty sản
Trang 23xuất các sản phẩm cơ điện, điều hòa, thi công công trình và SAM - hoạt động sản xuất dây cáp và vật liệu viễn thông lúc bấy giờ [66] TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong khoảng thời gian hơn 5 năm thì vào ngày 08/03/2005, TTCK Việt Nam chứng kiến sự khai trương hoạt động của TTGDCK Hà Nội (HASTC) trong vai trò vận hành thị trường cổ phiếu niêm yết Ngày 20/06/2006 đánh dấu cột mốc cho TTGDCK Hà Nội khi Bộ tài chính ban hành quyết định tập trung đấu thầu TPCP tại TTGDCK Hà Nội [2] Tính đến thời điểm này thì cả hai TTGDCK đều đảm nhận vai trò đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán của các công ty niêm yết tại phòng giao dịch của mình và bắt đầu chuyển giao vai trò này cho Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) vào ngày 01/05/2006 theo quyết định thành lập Trung tâm Lưu ký Chứng khoán của Thủ tướng ký ngày 27/07/2005 [37]
Sau khi hình thành và phát triển, cả 2 TTGDCK đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình được giao Tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng của thị trường và yêu cầu đổi mới nền kinh tế bên cạnh việc tái cơ cấu các doanh nghiệp thì ngày 11/05/2007 Thủ tướng ban hành quyết định chuyển TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh – HOSE theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sở hữu 100% vốn nhà nước [38] Với việc chuyển đổi này đã mạng lại cho HOSE vị trí tương xứng với các SGDCK khác trên thế giới và nâng cao tầm ảnh hướng của TTCK Việt Nam trong quan hệ hợp tác quốc tế Với sự thí điểm đầu tiên và thành công của HOSE, ngày 02/01/2009 Thủ tướng tiếp tục ban hành quyết định chuyển TTGDCK Hà Nội thành Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội – HNX với mô hình hoạt động giống với HOSE [39] Lần này, HNX có sự khác biệt so với HOSE đó là đảm nhận nhiệm vụ vận hành thị trường đăng ký giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) Như vậy, HNX được khai trương cùng với sự ra đời mới của thị trường UPCoM vào ngày 24/06/2009 đã đánh dấu cho việc mở rộng kiểm soát của nhà nước trong việc hạn chế thị trường phi tập trung
Lịch sử phát triển TTCK
Kể từ khi bắt đầu được thành lập, chu kỳ thanh toán của TTCK được quy định là vào 15 giờ ngày T+3 được xem như là T+4 vì đã cuối ngày giao dịch nên khách hàng
Trang 24không thể bán số cổ phiếu mình vừa sở hữu Chu kỳ thanh toán của nước ta giống với
Mỹ trong khi các nước khác phổ biến là T+3 và số ít là T+2 Kể từ ngày 04/09/2012, chu kỳ thanh toán được quy định chuyển về 9 giờ sáng ngày T+3 giúp cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có thể giao dịch chứng khoán của mình nhanh hơn tạo dòng lưu chuyển vốn tối ưu Và quy định được áp dụng hiện nay kể từ ngày 1/1/2016 là T+2 [68]
Với lịch sử hình thành và phát triển của mình, TTCK đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm Đặc biệt là sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới 2008 đã khiến cho TTCK trong nước chứng kiến các biến động mạnh Cụ thể, chỉ số giá chứng khoán liên tục giảm trong năm 2008 và giá trị vốn hoá thị trường giảm hơn 50% xuống còn 18% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product – GDP) [69] Đặc biệt là
sự phá sản của nhiều công ty liên quan đến lĩnh vực bất động sản đã làm giảm số lượng công ty niêm yết trên sàn một cách đáng kể Với các nỗ lực của Chính phủ trong việc khắc phục khủng hoảng thông qua chính sách thắt chặt tài khoá và tiền tệ cùng với sự hồi phục của thị trường thế giới từ quý II/2009 thì TTCK Việt Nam bắt đầu chứng kiến dấu hiệu hồi phục với số lượng các công ty niêm yết tăng trở lại Giá trị vốn hoá cuối năm 2009 đạt 620,000 tỷ động tương đương với 38% GDP [99]
Với các điều kiện về quản lý vĩ mô và các yếu tố khác, Việt Nam đón nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ về khối lượng và quy mô thị trường trong khoảng thời gian gần
20 năm đi vào hoạt động Nhằm phát triển thị trường chứng khoán ổn định và vững chắc, ngày 01/03/2012 Thủ tướng đã ban hành quyết định “Phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” Một trong những mục tiêu mà quyết định đặt ra là phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu vào năm 2020 đạt khoảng 70% GDP [40] Tuy nhiên, kết quả đáng ngạc nhiên đã xảy ra khi giá trị vốn hoá thị trường đạt gần 70% vào cuối năm 2016 và vượt lên 73.6% vào cuối tháng 1 năm 2017 Cụ thể, theo số liệu thống kê của UBCKNN thì giá trị vốn hoá TTCK vào những năm đầu thành lập chỉ đạt dưới 1% GDP thì đến nay, tính đến ngày 28/02/2018 TTCK đã đạt 110.99% GDP tương ứng 4,997,533 tỷ đồng Trong đó, giá trị cao nhất thuộc về SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh với giá trị 3,039,209 tỷ đồng
Trang 25chiếm hơn 60% vốn hoá thị trường [93] Như vậy, thị trường đã có sự đột phá trong tăng trưởng và khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế - dẫn vốn trung và dài hạn
Dựa theo số liệu thống kê của UBCKNN ta có thể thấy được sự phát triển mạnh
mẽ của TTCK Việt Nam Cụ thể, tại thời điểm 28/02/2018 đã thu hút hơn 2,064 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch với 385 doanh nghiệp tại HNX và 350 doanh nghiệp tại HOSE Như vậy mức tăng trưởng đạt tỷ lệ 136.28% so với cuối năm 2015 tương ứng với mức tăng trưởng bình quân là 27.5 doanh nghiệp/tháng Cùng với đó là tốc độ tăng trưởng vượt bậc trong số lượng chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch với 109.05 tỷ chứng khoán vào cuối tháng 2 năm 2018 So với cuối năm 2015 thì đã tăng 43.25 tỷ chứng khoán với tỷ lệ bình quân 2.56%/tháng [93]
Điểm nhấn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam là “Quyết định phê duyệt
đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam” do Thủ tướng ban hành ngày 11/03/2014 Theo đó, việc xây dựng TTCK phái sinh Việt Nam được chia theo lộ trình từ đơn giản đến phức tạp gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2013-2015) hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công nghệ như hệ thống giao dịch và thanh toán bù trừ chứng khoán, hệ thống giám sát, công bố thông tin, … Giai đoạn 2 (2016-2020) tổ chức và vận hành TTCK phái sinh trên tài sản cơ sở là các chứng khoán bao gồm chỉ số chứng khoán, TPCP và cổ phiếu Giai đoạn 3 (sau năm 2020) hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động và giám sát thị trường từ đó đa dạng hoá dần các sản phẩm dựa trên nhiều loại tài sản cơ sở khác nhau tiếp cận với thông lệ quốc tế [41] Kết quả của cả quá trình trên là sự ra đời của sản phẩm phái sinh đầu tiên ra mắt và giao dịch trên thị trường là Hợp đồng tương lai chỉ số VN30 vào ngày 10/08/2017 Theo đó, mỗi hợp đồng tương lai chỉ số VN30 sẽ gồm 4 mã chứng khoán tương ứng với 4 kỳ hạn đáo hạn là tháng hiện tại, tháng kế tiếp và 2 tháng cuối của 2 quý gần nhất [84]
1.1.3 Vai trò thị trường chứng khoán
TTCK thế giới hình thành và phát triển bền vững đã tạo nên vị thế quan trọng của TTCK đối với nền kinh tế của một quốc gia Qua quá trình nghiên cứu, các tác giả
Trang 26Nguyễn Thanh Tuyền và Nguyễn Đăng Dờn (2006) [21], Lê Văn Tề (2007) [18], Hoàng Văn Huỳnh (2009) [16], Lê Hoàng Nga (2011) [17], Bùi Kim Yến (2013) [5] đều cho thấy TTCK có 5 vai trò cơ bản trong nền kinh tế
Huy động vốn cho nền kinh tế
TTCK được biết đến như là bán trung gian tài chính làm cầu nối cho sự tiếp xúc giữa các chủ thể thiếu vốn và thừa vốn trong nền kinh tế Tại đây, các doanh nghiệp, Chính phủ tiếp cận với nguồn vốn đầu tư đa dạng và dồi dào đáp ứng nhu cầu vốn của mình Đối cá nhân, hộ gia đình thì tăng tiết kiệm thông qua việc đầu tư vào chứng khoán trên thị trường Từ đó, nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân được huy động để làm nội lực cho hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế Dựa trên việc luân chuyển các loại chứng khoán khác nhau đã giúp điều tiết sự cân bằng của nguồn vốn trong nền kinh tế Thông qua đó mà nguồn lực đầu tư vào các ngành nghề là khác nhau giúp cho việc hạn chế nguồn lực vào các ngành kém hiệu quả và đầu tư nhiều vào các lĩnh vực
có hiệu quả kinh tế cao trong cùng thời điểm Từ đó, nguồn lực của xã hội được sử dụng một cách hiệu quả nhất góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ
Không chỉ thu hút nguồn lực nội tại trong nước vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất mà nó còn thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào thị trường làm gia tăng nguồn lực của nền kinh tế Để thu hút được nguồn lực nước ngoài thì thị trường chứng khoán trong nước phải cho thấy được sức hút đối với các nhà đầu tư ngoại trong việc không tồn tại rào cản pháp lý, thông tin minh bạch, lợi nhuận cao và
ổn định, Như vậy, một khi TTCK đã phát triển và thúc đẩy nền kinh tế đi lên thì sẽ càng thu hút thêm nguồn vốn trong và ngoài nước từ đó bước vào vòng tuần hoàn của
sự phát triển kinh tế
Cung cấp môi trường tiết kiệm và đầu tư cho công chúng
Sản phẩm trên TTCK rất đa dạng như cổ phiếu, TPCP, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị, trái phiếu doanh nghiệp (TPDN),… với nhiều loại kỳ hạn khác nhau nên
đã tạo ra các mức độ rủi ro khác nhau cho mỗi loại tài sản Điều này đã đưa ra hàng loạt các sản phẩm đầu tư cho công chúng lựa chọn sao cho thích hợp với đặc điểm cá
Trang 27nhân về thời gian nhàn rỗi của nguồn vốn, mức độ chấp nhận rủi ro, sự hiểu biết về ngành nghề đầu tư, khả năng tài chính… Như vậy, bên cạnh các công cụ tiết kiệm và đầu tư truyền thống như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, vàng,… TTCK đã tạo cho công chúng thêm một công cụ để tiết kiệm thông qua việc đầu tư sao cho nguồn vốn nhàn rỗi của mình được sử dụng hợp lý và đem lại hiệu quả cao nhất
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Chính phủ với vai trò nhà điều hành nền kinh tế nên cần một môi trường để các chính sách của mình đưa ra tác động nhanh chóng đến toàn bộ thị trường TTCK đã phát huy được vai trò của mình trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách và quản
lý kinh tế thực hiện nhiệm vụ trên dưới tư cách là môi trường truyền dẫn chính sách Chính phủ có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn nhằm thực hiện chính sách đầu
tư công trong giải quyết vấn đề việc làm, gia tăng tốc độ tăng trưởng GDP hoặc mua lại các trái phiếu đã phát hành trên để hạn chế lạm phát thông qua giảm đầu tư công Ngoài ra, TTCK là nơi tập hợp số lượng lớn các doanh nghiệp, công ty hoạt động ở nhiều ngành nghề khác nhau nên thông qua giá chứng khoán của từng mã chứng khoán, Chính phủ có thể tính toán các chỉ số giá theo ngành nghề hoặc khu vực kinh doanh Từ đó, Chính phủ có cơ sở làm ước tính mức độ phát triển của từng ngành nghề, khu vực thông qua tính đại diện có được từ các chỉ số chứng khoán và tiến hành giám sát chặt chẽ hoạt động của nền kinh tế Dựa trên kết quả giám sát và theo dõi, Chính phủ có thể đưa ra các chính sách định hướng đầu tư hoặc các chính sách tác động trực tiếp đến từng lĩnh vực theo định hướng phát triển đất nước của mình
Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Chứng khoán là công cụ huy động vốn cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh
tế và là công cụ tiết kiệm, đầu tư của các chủ thể thừa vốn Tuy nhiên, thừa vốn chỉ mang tính chất tạm thời cho nên việc chuyển từ tài sản tài chính sang tài sản thực (tiền mặt) là nhu cầu thiết yếu có thể xảy ra bất kỳ lúc nào đối với các nhà đầu tư Như vậy,
để đảm bảo nguồn vốn hoạt động cho các công ty, doanh nghiệp, Chính phủ luôn được đảm bảo và liên tục thì giao dịch chứng khoán trên TTCK là lựa chọn hữu hiệu nhất
Trang 28TTCK đã tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán trong trường hợp các nhà đầu tư muốn thoái vốn của mình thành tiền mặt hay chuyển từ cổ phiếu này sang cổ phiếu hoặc các loại chứng khoán khác được diễn ra một cách dễ dàng, thuận tiện Nhờ vào việc liên kết người mua và người bán chứng khoán lại với nhau nên khi giao dịch có diễn ra thì nguồn vốn đang được đưa vào sản xuất kinh doanh của nhà phát hành vẫn không bị tác động và ảnh hưởng
Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp
Như đã đề cập ở trên, giá chứng khoán là thước đo hiệu quả hoạt động và sự phát triển của một doanh nghiệp TTCK là nơi giao dịch các loại chứng khoán dựa trên quy luật cung cầu nên đã thiết lập cho mỗi loại chứng khoán một mức giá hợp lý Như vậy, giá là số tiền hợp lý mà nhà đầu tư nhận thấy đáng bỏ ra để sở hữu loại tài sản tài chính này thông qua các lợi ích mà nó đem lại trong tương lai Với mệnh giá cổ phiếu
là 10,000đ/cổ phiếu, để thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong đợt phát hành ra công chúng lần đầu với giá giao dịch cao hơn mệnh giá đem về phần thặng dư vốn cho công
ty góp phần nâng cao nguồn vốn hoạt động thì công ty phải hoạt động thực sự có hiệu quả cũng như thông tin minh bạch công khai Cũng như là các doanh nghiệp phải luôn cải tiến sản phẩm, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm cung ứng
để tạo dựng thương hiệu và niềm tin đối với khách hàng giúp cho lợi nhuận luôn phát triển mạnh mẽ và đều đặn
1.1.4 Phân loại thị trường chứng khoán
Hiện nay, TTCK được các nhà nghiên cứu phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, tuy nhiên có 3 tiêu chí nổi bật được nhiều nhà khoa học phân loại, điển hình như của Lê Hoàng Nga (2011) [17], Bùi Kim Yến (2013) [5]
1.1.4.1 Căn cứ theo phương thức giao dịch
Theo tiêu chí này, TTCK được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp (Primary market)
Trang 29Thị trường sơ cấp là thị trường hình thành nên các loại cổ phiếu đầu tiên khởi đầu cho quá trình mua bán, trao đổi giữa các nhà đầu tư sau này Tại đây, các công ty niêm yết trên thị trường sẽ phát hành cổ phiếu cũng như Chính phủ đấu thầu các trái phiếu của mình ra công chúng lần đầu nhằm huy động vốn Giá giao dịch lần đầu tiên sau khi trừ đi các chi phí liên quan đến việc phát hành là số tiền mà các chủ thể phát hành nhận được và có thể sử dụng cho hoạt động kinh doanh đáp ứng nhu cầu huy động vốn ban đầu đặt ra Đây chính là giai đoạn bơm vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh, sản xuất, thương mại, dịch của doanh nghiệp, công
ty và đầu tư của Chính phủ
Thị trường thứ cấp (Secondary market)
Các loại chứng khoán sau khi được phát hành lần đầu ra công chúng thì sẽ được giao dịch trên thị trường thứ cấp Như vậy, ta có thể nói thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho các nhà đầu tư trong việc sở hữu các loại chứng khoán này Quá trình mua bán và giao dịch trên thị trường thứ cấp đã tạo nên sự biến động giá liên tục của từng loại tài sản tài chính thể hiện sự nhận thức, đánh giá của công chúng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các giao dịch trên thị trường này không tác động đến nguồn vốn của chủ thể phát hành mà chỉ là quá trình chuyển quyền sở hữu và các quyền lợi khác liên quan đến tài sản cơ sở đang giao dịch từ nhà đầu tư này qua nhà đầu tư khác Chính điều này là góp phần làm ổn định nguồn vốn hoạt động của nhà phát hành
1.1.4.2 Căn cứ theo tính chất đăng ký
Theo tiêu chí này, TTCK được phân thành 2 nhóm là thị trường tập trung (các SGDCK) và thị trường phi tập trung
Thị trường tập trung
SGDCK là nơi tập trung các loại cổ phiếu, trái phiếu và cho phép chúng niêm yết trên sàn để tạo cơ sở cho việc giao dịch giữa các nhà đầu tư SGDCK sẽ đặt ra các chỉ tiêu quy định nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá được giao dịch trên thị trường đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư trong việc tiến hành rót vốn của mình vào nền kinh tế
Trang 30Tại đây, các loại chứng khoán sẽ tham gia vào quá trình giao dịch thoả thuận và khớp lệnh liên tục hoặc định kỳ Giao dịch được diễn ra dưới sự kiểm soát và bảo hộ bởi các công ty chứng khoán góp phần hạn chế các rủi ro giao dịch xảy ra
Thị trường phi tập trung
Đây là thị trường giao dịch mà không có địa điểm cụ thể nên chỉ có thể giao dịch qua phương thức giao dịch thoả thuận nên tính thanh khoản trên thị trường này rất kém so với thị trường tập trung Do đó, thị trường này không đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt như yêu cầu niêm yết tại các SGDCK do đó phù hợp với các công ty nhỏ, mới thành lập Thị trường này rất khó kiểm soát bởi không có địa điểm cụ thể, cố định nên
ẩn chứa nhiều rủi ro trong quá trình giao dịch cũng như thông tin bất cân xứng giữa người mua và người bán là rất lớn Các công ty phát hành sẽ phải tự đi tìm nhà đầu tư cho mình thông qua việc gọi điện hoặc chào mời qua các phương tiện khác nhau hay nhờ sự tư vấn và tìm kiếm đối tác của các công ty môi giới chứng khoán
1.1.4.3 Căn cứ theo công cụ lưu thông
TTCK lưu thông 3 công cụ chứng khoán chủ yếu: cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán phái sinh
Thị trường cổ phiếu
Đây là thị trường giao dịch các công cụ vốn (cổ phiếu) bao gồm các loại cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết nhằm huy động vốn chủ cho các doanh nghiệp
Thị trường trái phiếu
Đây là thị trường phát hành và lưu thông các loại công cụ nợ (trái phiếu) như TPDN, TPCP,…với nhiều kỳ hạn đáo hạn khác nhau đã tạo nên tính đa dạng của thị trường này
Thị trường chứng khoán phái sinh
Trang 31Đây là thị trường phát hành và giao dịch các loại chứng khoán phái sinh – là loại chứng khoán được phát hành dựa trên các tài sản cơ sở Đây là loại hình phát triển bậc cao của TTCK nên chỉ hoạt động và phát triển mạnh mẽ tại các nước có TTCK phát triển và Việt Nam chỉ vừa cho ra đời và giao dịch công cụ phái sinh đầu tiên dựa trên chỉ số VN30 vào ngày 10/08/2017
1.1.5 Chỉ số giá chứng khoán và VN-Index
1.1.5.1 Giới thiệu về chỉ số giá chứng khoán
Chỉ số giá nói chung và chỉ số giá chứng khoán nói riêng là một đại lượng thống
kê phản ánh sự thay đổi về giá của một hoặc nhiều mặt hàng được phân vào một nhóm theo một tiêu chí cụ thể nào đó trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy, khi nói
về chỉ số giá chứng khoán chúng ta có thể chia thành 2 loại như các loại chỉ số thông thường khác, đó là chỉ số cá thể và chỉ số tổng hợp Trong đó, chỉ số giá chứng khoán
cá thể là chỉ số giá của một loại chứng khoán cụ thể như chỉ số giá cổ phiếu VNM (Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam), MWG (Công ty cổ phần Đầu tư Thế giới Di động), CIC (Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng COTEC),… Chỉ số giá chứng khoán tổng hợp là chỉ số của một nhóm chứng khoán được phân theo các tiêu chí cụ thể như sàn giao dịch (VN-Index, HNX-Index, UPCoM-Index,…), ngành nghề (như công thệ thông tin, tài chính, công nghiệp, hàng tiêu dùng),
Chỉ số giá chứng khoán có nhiều phương pháp để tính, tuy nhiên trên thế giới hiện nay có 5 phương pháp được áp dụng chủ yếu [89] Tính chất chung của mỗi phương pháp đều là xem xét sự biến động của giá trên cơ sở cố định các yếu tố còn lại theo quy tắc thống kê
Phương pháp chỉ số bình quân đơn giản
Phương pháp này được tính một cách đơn giản thông qua việc lấy tổng giá trị của các loại chứng khoán đang xem xét chia cho số loại chứng khoán
Trong đó:
Trang 32Ip: là chỉ số giá chứng khoán bình quân
Pi: là giá của chứng khoán thứ i
n: là số loại chứng khoán
Phương pháp chỉ số bình quân nhân đơn giản
Chỉ số giá này được tính bằng phương pháp trung bình nhân của giá từng loại cổ phiếu tại thời điểm nghiên cứu
√∏
Trong đó:
Ip: là chỉ số giá chứng khoán bình quân
Pi: là giá của chứng khoán thứ i
n: là số loại chứng khoán
Phương pháp chỉ số giá bình quân gia quyền – Laspeyres
Đây là phương pháp tính chỉ số giá có quyền số là số lượng chứng khoán và được cố định ở gốc thời gian
Trong đó:
: là chỉ số giá chứng khoán bình quân gia quyền – Laspeyres
P0: là giá của chứng khoán ở gốc thời gian
P1: là giá của chứng khoán vào thời điểm nghiên cứu
Q0: là số lượng chứng khoán ở gốc thời gian
Q1: là số lượng chứng khoán vào thời điểm nghiên cứu
∑P0Q0: là tổng giá trị của các loại cổ phiếu ở gốc thời gian được tính bằng giá gốc
Trang 33∑P1Q0: là tổng giá trị của các loại cổ phiếu ở gốc thời gian được tính bằng giá tại thời điểm nghiên cứu
Phương pháp chỉ số giá bình quân gia quyền – Passcher
Trong đó:
: là chỉ số giá chứng khoán bình quân gia quyền – Passcher
P0: là giá của chứng khoán ở gốc thời gian
P1: là giá của chứng khoán vào thời điểm nghiên cứu
Q0: là số lượng chứng khoán ở gốc thời gian
Q1: là số lượng chứng khoán vào thời điểm nghiên cứu
∑P0Q1: là tổng giá trị của các loại cổ phiếu ở thời điểm nghiên cứu được tính bằng giá gốc
∑P1Q1: là tổng giá trị của các loại cổ phiếu ở thời điểm nghiên cứu được tính bằng giá tại thời điểm nghiên cứu
Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher
Được tính bằng cách lấy bình quân nhân chỉ số giá bình quân gia quyền – Passcher và chỉ số giá bình quân gia quyền – Laspeyres
Trong đó:
Ip: là chỉ số giá chứng khoán bình quân Fisher
: là chỉ số giá chứng khoán bình quân gia quyền – Passcher
: là chỉ số giá chứng khoán bình quân gia quyền – Laspeyres
TTCK Việt Nam hiện có nhiều loại chỉ số khác nhau nhằm đáp ứng các yêu cầu phân tích và theo dõi khác nhau như: VN-Index, HNX-Index, HNX30 Index, HNX30 TRI, VN30, VNMidcap, VNSmallcap,… Nhìn chung, phương pháp tính các chỉ số chứng khoán ở nước ta đều dùng phương pháp chỉ số giá bình quân gia quyền –
Trang 34Passcher VN-Index là chỉ số chứng khoán đầu tiên được hình thành trên TTCK Việt Nam vào ngày 28/07/2000 và là ngày cơ cở với điểm cơ sở 100 Ngoài ra cũng là chỉ
số đại diện nhất cho toàn thị trường khi nó có số lượng doanh nghiệp niêm yết với giá trị vốn hoá lớn nhất trong các chỉ số giá chứng khoán khác Do đó, sau đây tác giả sẽ trình bày phương pháp xác định chỉ số VN-Index
1.1.5.2 Giới thiệu về chỉ số VN-Index
Chỉ số VN-Index được sử dụng lần đầu vào ngày đầu tiên giao dịch của TTCK được tính dựa trên sự biến động của tổng giá trị vốn hoá thị trường theo phương pháp chỉ số giá bình quân gia quyền – Passcher VN-Index là chỉ số đặc trưng cho sự thay đổi giá trung bình của tất cả các mã chứng khoán được niêm yết và giao dịch trên SGDCK HOSE Cách tính VN-Index được thể hiện dưới đây:
Trong đó:
VN-Index là chỉ số giá chứng khoán (làm tròn 2 chữ số thập phân)
CMV là giá trị vốn hoá thị trường tại thời điểm tính toán
Hệ số chia được xác định lại sau khi xảy ra các sự kiện cần điều chỉnh
Hệ số chia phiên giao dịch đầu tiên được tính bằng chính giá trị vốn hoá toàn thị trường của phiên giao dịch đầu tiên đó chia cho điểm cơ sở 100 nên đã đem tới kết quả giá trị chỉ số VN-Index lần đầu là 100 điểm Ở các phiên giao dịch tiếp theo, tuỳ vào diễn biến thị trường mà hệ số chia sẽ được giữ nguyên hay điều chỉnh Khi có sự biến động của vốn hoá thị trường không do tác động của việc biến động giá mà đến từ các tác động của số lượng cổ phiếu như: số mã cổ phiếu trên thị trường tăng lên do có công
ty mới niêm yết; giảm mã do hoạt động mua bán, sáp nhập; chuyển đổi trái phiếu thành
cổ phiếu;… được gọi chung là các sự kiện cần điều chỉnh hệ số chia Khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi số chia thì hệ số chia được xác định lại 1 ngày trước ngày xảy ra sự kiện nhằm đảm bảo tính liên tục cũng như phản ánh chính xác sự biến động của giá chứng khoán và dưới dây là phương thức xác định hệ số chia khi có sự thay đổi [34]
Trang 35
Trong đó:
VN-Indextrước/sau: là chỉ số VN-Index trước/sau khi xảy ra sự kiện cần điều chỉnh hệ số chia
CMVtrước/sau: là giá trị vốn hoá toàn thị trường trước và sau khi xảy ra các sự kiện cần điều chỉnh hệ số chia
Hệ số chia trước/sau: là hệ số chia trước/sau khi điều chỉnh do xảy ra các sự kiện cần điều chỉnh
Sau đây tác giả sẽ trình bày một ví dụ để có thể minh hoạ một cách dễ hiểu nhất phương thức xác định chỉ số VN-Index và điều chỉnh hệ số chia đang được áp dụng hiện nay
Bảng 1.1 Dữ liệu minh hoạ cách tính chỉ số VN-Index
MÃ CỔ
NGÀY 1/1/N
NGÀY 1/2/N
NGÀY 1/3/N
NGÀY 1/4/N
Trang 36Số lượng niêm yết 2,500 Tổng giá trị vốn hoá thị
trường 53,000,000 54,600,000 96,910,000 92,690,000
Nguồn: Tác giả giả định
Thị trường HOSE được tác giả giả sử giao dịch lần đầu tiên vào ngày 1/1/N với
2 mã cổ phiếu được thể hiện trên bảng 1.1, từ đây chỉ số VN-Index được xác định như sau:
Kết thúc phiên giao dịch ngày 1/2/N thì số lượng cổ phiếu không có sự biến động nên hệ số chia không thay đổi, khi đó chỉ số VN-Index được xác định là
Như vậy, chỉ số giá chứng khoán đã tăng 3.02 điểm tức là 3.02% so với ngày đầu tiên giao dịch Tuy nhiên kết thúc phiên giao dịch ngày 1/3/N đã xảy ra sự kiện cần phải điều chỉnh hệ số chia đó là niêm yết mới cổ phiếu C và D cũng như việc gia tăng
số lượng cổ phiếu A Do đó, trước khi xác định chỉ số VN-Index ta cần phải xác định lại hệ số chia và cho kết quả như sau:
Trang 37
được mức tăng giá trị vốn hoá thị trường dưới tác động của giá cổ phiếu là 3.56% so với ngày 1/1/N tương ứng với mức tăng 0.54 điểm so với ngày 1/2/N TTCK trong ví
dụ tác giả minh hoạ đã trải qua thời kỳ suy giảm với sự giảm giá hàng loạt của các mã
cổ phiếu cũng như sự rút lui khỏi thị trường của mã cổ phiếu D vào ngày 1/4/N Do đó,
để tiến hành tính toán chỉ số VN-Index chúng ta cần phải xác định lại hệ số chia theo quy tắc đã nêu trên, cụ thể như sau:
Thông qua ví dụ trên, chỉ số VN-Index ngày 1/4/N đã có sự sụt giảm dưới tác động của thị trường làm cho toàn thị trường trên sàn HOSE giảm 1.07 điểm so với tháng trước
1.2 Tác động của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán
1.2.1 Lạm phát
Để thực hiện quá trình trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế, người ta đã sử dụng tiền như là một phương tiện trao đổi cũng như là thước đo giá trị của các loại hàng hoá nhằm đơn giản hoá các giao dịch diễn ra hằng ngày Tuy nhiên, tiền được Chính phủ các quốc gia phát hành và đảm bảo bằng quyền lực của nhà nước chứ không được đảm bảo bằng chính giá trị của nó như vàng Do đó, tiền được tạo ra để đại diện cho giá trị hàng hoá của toàn xã hội dựa trên ước tính của nhà quản lý, điều hành nền kinh tế Chính vì điều này đã đặt ra cho nền kinh tế một vấn đề đó là tình trạng lạm phát Làm phát là thuật ngữ được sử dụng để thể hiện cho sự phát hành tiền vượt quá giá trị thực
tế của hàng hoá, sản phẩm trong nền kinh tế với nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước trong việc thực hiện thu chi nhằm đảm bảo chức năng của mình Với giá trị hàng hoá không đổi nhưng lượng tiền tăng lên đã dẫn đến việc gia
Trang 38tăng giá cả của các loại mặt hàng trong nền kinh tế Đây là một trong những biểu hiện hàng đầu của việc phát hành tiền vượt quá giá trị thực của nền kinh tế
Với sự tăng giá của tất cả các mặt hàng trong nền kinh tế đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của TTCK Để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì các doanh nghiệp phải mua nguyên vật liệu đầu vào nhưng do giá cả tăng đã làm cho chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra tăng theo tương ứng Bên cạnh đó, chi phí lãi vay cũng bị tác động đáng kể bởi sự gia tăng lãi suất cho vay tại các ngân hàng Cụ thể, thu nhập từ dân chúng được sử dụng với 2 mục đích chủ yếu là tiêu dùng và tiết kiệm Với thu nhập hằng tháng không đổi do độ trễ trong tác động giữa các yếu tố vĩ mô với nhau trong khi chi phí cho sinh hoạt, tiêu dùng hằng ngày tăng lên đã làm nguồn vốn dành cho tiết kiệm giảm xuống Điều này đã trực tiếp tác động đến nguồn vốn nhàn rỗi cung cấp cho các tổ chức tín dụng theo chiều hướng tiêu cực Như vậy, với nguồn cung vốn hạn hẹp trong khi nhu cầu vốn không đổi đã dẫn đến sự gia tăng của lãi suất cho vay
mà doanh nghiệp phải chi trả Hơn nữa, chi phí nhân công cũng gia tăng do nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu cho nhân viên đã góp phần gia tăng chi phí cho doanh nghiệp Tất cả các chi phí đầu vào của doanh nghiệp đều tăng dẫn đến giá thành của sản phẩm tăng theo nên để đảm bảo lợi nhuận thì giá bán cũng phải tăng tương ứng Tuy nhiên khi giá bán tăng thì sản lượng tiêu thụ lại giảm do giá cao hơn mức kỳ vọng của dân chúng nên đã thiết lập một trạng thái cân bằng mới giữa lượng và giá Tất cả các điều này đã ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của công ty Chính vì vậy, với lợi nhuận đến từ hoạt động kinh doanh giảm đã làm giảm sức hút nguồn vốn đầu tư từ công chúng Thay vì đầu tư vào TTCK thì công chúng chuyển sang các công cụ đầu tư có hiệu quả khác Như vậy, ta có thể nói rằng lạm phát có tác động tiêu cực đến sự phát tiển TTCK hay giữa TTCK và lạm phát có mối quan hệ nghịch chiều
1.2.2 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố cấu thành nên sự phát triển kinh
tế của một quốc gia cũng như đo lường hiệu quả điều hành nền kinh tế của Chính phủ Tăng trưởng kinh tế là thuật ngữ dùng để đại diện cho sự gia tăng thu nhập thực theo đầu người của một quốc gia Thu nhập của người dân xuất phát từ sự lao động, sản
Trang 39xuất của cải vật chất nên tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được phản ánh qua sự gia tăng giá trị của hàng hoá, dịch vụ được tạo ra trong nền kinh tế một đất nước sau khi đã điều chỉnh cho yếu tố lạm phát Tăng trưởng GDP được xem là sự tăng trưởng kinh tế do nó được tính dựa trên tổng giá trị sản phẩm, hàng hoá dịch vụ được sản xuất cuối cùng trong một năm của một quốc gia Để thu nhập của dân cư tăng thì sản phẩm
họ làm ra phải đạt năng suất cao và nâng cao chất lượng nhằm gia tăng giá trị sản phẩm Để quá trình sản xuất phát triển nhằm tăng trưởng thu nhập quốc dân thì 4 yếu
tố cơ bản: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, công nghệ kỹ thuật và tư bản đều được các quốc gia trên thế giới quan tâm và chú trọng phát triển
Khi kinh tế tăng trưởng cũng đồng nghĩa với việc thu nhập của dân cư tăng cao, tức là giá trị tiêu dùng và nguồn vốn tiết kiệm cũng tăng theo tương ứng Khi tiêu dùng tăng thì các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ mà các công ty, doanh nghiệp cung cấp được tiêu thụ một cách nhanh chóng giúp cho quá trình sản xuất được đẩy nhanh, giảm thiểu thời gian tồn kho, gia tăng tính hiệu quả của nền kinh tế Bên cạnh đó, tiết kiệm tăng nên sẽ cung ứng thêm nguồn vốn cho nền kinh tế góp phần giảm lãi suất ngân hàng làm tiết giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp giúp cho giá thành giảm Khi giá thành giảm, doanh nghiệp có được biên lợi nhuận cao hơn do giá bán không đổi hoặc thực hiện các chính sách khuyến mãi, giảm giá để kích thích tiêu dùng nhằm thúc đẩy chu
kỳ kinh doanh diễn ra nhanh chóng Với sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của mình, công ty, doanh nghiệp sẽ đầu tư thêm nhiều nguồn lực để tận dụng cơ hội thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Do vậy, các công ty hoạt động có hiệu quả với lợi nhuận cao sẽ là một trong những điều kiện thu hút sự chú ý của công chúng và gia tăng nguồn vốn rót vào đây góp phần phát triển TTCK bởi TTCK là nơi giá trị của các công
ty niêm yết được định giá và trao đổi Như vậy, tăng trưởng kinh tế và TTCK có tác động mật thiết với nhau theo chiều hướng tích cực
1.2.3 Lãi suất
Lãi suất được xác định thông qua quy luật cung cầu nguồn vốn cho vay, theo đó nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng nhiều sẽ được truyền dẫn đến các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế thông qua các trung gian tài chính mà điển hình là ngân hàng Khi
Trang 40cầu quỹ vốn không thay đổi nhưng cung vốn tăng cao làm cho đường cung vốn - trong
đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu vốn quyết định lãi suất – dịch chuyển sang phải làm cho lãi suất giảm và ngược lại Đây là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được Chính phủ các quốc gia sử dụng để điều hành nền kinh tế của mình và định hướng phát triển cho đất nước
Lãi suất là chi phí đầu vào của các doanh nghiệp khi thực tế hiện nay cho thấy rằng các công ty thường sử dụng vốn vay do thiếu vốn hay muốn sử dụng đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận của mình Lãi suất giảm sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn dồi dào và rẻ giúp cho họ hoạch định được các chính sách phát triển công ty mà không phải đặt quá nặng vấn đề giải quyết nguồn cung vốn bởi họ dễ dàng được đáp ứng qua vốn vay Chính vì điều này đã thúc đẩy nguồn vốn được đưa vào đầu tư ngày càng lớn, nhiều doanh nghiệp mới được hình thành và đi vào hoạt động với hiệu quả cao Ngược lại, lãi suất tăng sẽ là vấn đề nan giải đối với nhà quản trị công ty bởi họ phải sử dụng vốn thắt chặt hơn và cân nhắc sử dụng một cách hợp lý với khả năng tạo lợi nhuận của họ Khi lãi suất tăng cao hơn với khả năng tạo ra lợi nhuận thì doanh nghiệp đã bị ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng đòn bẩy làm cho hàng loạt các công ty thua lỗ thậm chí là phá sản Như vậy, lãi suất và TTCK có mối quan hệ ngược chiều nhau Cụ thể, khi lãi suất giảm sẽ kích thích sự phát triển của TTCK do hoạt động có hiệu quả của các công ty niêm yết trên SGDCK
và ngược lại, lãi suất tăng cao sẽ làm gia tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp gây
ra các khoản lỗ và khó khăn trong hoạt động làm trì trệ sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung và TTCK nói riêng
1.2.4 Cung tiền
Để thực hiện chức năng điều hành kinh tế vĩ mô của bộ máy quản lý nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những công cụ có hiệu quả, đặc biệt là cung tiền tệ Cung tiền là lượng tiền được phát hành và đưa vào trong quá trình lưu thông giúp cho việc trao đổi hàng hoá dịch vụ được xảy ra nhanh chóng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Hiện nay cung tiền có nhiều thước đo khác nhau, gồm có: