1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án Phát triển nhân lực trong ngành xuất bản Thực trạng và giải pháp

168 98 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 212,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song bên cạnh những thành tích đó, ngành xuất bản đang phải đứng trướcnhững thách thức gay gắt: hệ thống chính sách của Nhà nước đối với sự pháttriển của xuất bản còn có những bất cập;

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nhằm phổ biến,giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dântộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần củanhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của ngườiViệt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, phát triển kinh tế - xã hội,đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, gópphần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xuất bản là hoạtđộng đặc thù, vừa thực hiện mục tiêu tư tưởng - văn hóa vừa bảo đảm hiệuquả kinh tế, nên hoạt động xuất bản có những yêu cầu riêng

Trong những năm qua, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng

đã làm cho xuất bản giữa các nước có sự liên hệ chặt chẽ với nhau Nhiều tácphẩm trở thành mối quan tâm của nhiều độc giả trên thế giới, có sức lan tỏa,ảnh hưởng mạnh mẽ Trong điều kiện đó, những nước có nền xuất bản yếukém sẽ chịu tác động mạnh mẽ của làn sóng văn hóa thông qua các xuất bảnphẩm từ các nước phát triển Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã làm cho xuất bản cónhững thay đổi rất mạnh về hình thức xuất bản và cách thức xuất bản, mà sự

ra đời của xuất bản điện tử là minh chứng rõ ràng nhất

Những năm gần đây, hoạt động xuất bản đã có bước phát triển nhanh,từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và

đa dạng của người đọc, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền phổ biếnđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao dân trí, góp phần tíchcực trong việc tuyên truyền, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, những hiện

Trang 2

tượng tiêu cực trong xã hội, phục vụ ngày càng có hiệu quả công tác tư tưởng,góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế và văn hoá Nhiều bộ sách có giá trị được xuất bản Các mảng sách chính trị - xã hội, khoahọc - kỹ thuật - công nghệ và sách cho thanh niên, thiếu niên khá phong phú,

đa dạng Chất lượng sách giáo khoa từng bước được nâng cao cả về nội dung

và hình thức Công tác chỉ đạo, quản lý xuất bản có tiến bộ, chú trọng đảmbảo định hướng chính trị - tư tưởng và hiệu quả kinh tế của hoạt động xuấtbản, phát hiện, uốn nắn và khắc phục những lệch lạc, sai phạm Hoạt độngxuất bản đã giữ được định hướng chính trị, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đọc củanhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc Nội dung, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý hoạt động xuất bản

có nhiều đổi mới, kịp thời khắc phục một số hạn chế, bất cập trong thực tiễnhoạt động xuất bản

Song bên cạnh những thành tích đó, ngành xuất bản đang phải đứng trướcnhững thách thức gay gắt: hệ thống chính sách của Nhà nước đối với sự pháttriển của xuất bản còn có những bất cập; công tác chỉ đạo, quản lý xuất bản chưatheo kịp với nhu cầu và xu hướng phát triển của ngành; cạnh tranh trong nội bộngành và cạnh tranh với các hình thức truyền bá thông tin khác ngày càng tăng.Quy mô, năng lực hoạt động xuất bản ở nước ta vẫn còn chưa đủ đáp ứng nhucầu ngày càng lớn và đa dạng của xã hội về cung cấp thông tin, tri thức vàthưởng thức văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, mở rộng giao lưu, hội nhập quốc tế, nhất là còn thiếu nhiều loại sáchphổ cập tri thức phục vụ đông đảo quần chúng Nhưng điều đáng quan tâmhơn là chất lượng hoạt động xuất bản chưa cao Sách nghiên cứu, tổng kếtthực tiễn còn ít, chất lượng còn hạn chế Sách viết về công cuộc đổi mới,những nhân tố mới, con người mới, viết về cuộc đấu tranh giữa cái mới, tiến

bộ và cái cũ, cái lạc hậu, kìm hãm, cái hư hỏng còn ít và kém sâu sắc, kémsinh động; vẫn còn xuất bản và lưu hành một số sách có nội dung sai phạm vềchính trị, tư tưởng, gây ảnh hưởng tiêu cực trong đời sống xã hội, ảnh hưởng

Trang 3

xấu đến người đọc, gây dư luận xã hội không tốt; số tác phẩm có giá trị chiếm

tỷ lệ chưa cao, một số hạn chế chậm được khắc phục Khuynh hướng thươngmại hoá, chạy theo lợi nhuận kinh tế thuần tuý tác động xấu đến hoạt độngxuất bản Nạn in lậu xảy ra khá phổ biến, nhưng chưa được kiểm tra, ngănchặn có hiệu quả Mạng lưới phát hành còn chưa đến được nhiều vùng sâu,vùng xa, nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Năng lực,quy mô, trình độ của các nhà xuất bản còn nhiều hạn chế, mô hình tổ chứcchưa phù hợp Công tác chỉ đạo, quản lý nhà nước về xuất bản trên một sốmặt chưa hiệu quả, nhất là quản lý xuất bản điện tử Nhiều cơ quan chủ quảnchưa quản lý chặt chẽ, có hiệu lực, hiệu quả đối với nhà xuất bản trực thuộc.Những hạn chế trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng trực tiếpnhất là do nhân lực trong ngành xuất bản chưa đáp ứng yêu cầu Đội ngũ cán

bộ làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản cònmỏng và còn không ít hạn chế về năng lực hoạt động thực tiễn, lúng túng, bịđộng trong cơ chế thị trường Đội ngũ lãnh đạo, quản lý của các nhà xuất bản

và đội ngũ biên tập viên còn hiều hạn chế về trình độ, năng lực Không ít cán

bộ biên tập không được trang bị đủ các kiến thức chuyên ngành cần thiết nênkhông thể đánh giá được chất lượng bản thảo; tỷ trọng, cơ cấu biên tập viêntrong nhiều nhà xuất bản còn bất hợp lý Bên cạnh đó, do nhận thức về chínhtrị, hiểu biết về xã hội còn hạn chế, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần tráchnhiệm chưa cao, có xu hướng chạy theo thị trường nên để lọt nhiều xuất bảnphẩm có nội dung yếu kém, vi phạm Luật xuất bản… Công tác đào tạo nhânlực cho ngành cũng chưa được quan tâm đúng mức…

Để ngành xuất bản hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhànước giao phó, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển lành mạnh theo xuthế xuất bản hiện đại, thì phát triển nhân lực ngành xuất bản là giải pháp vôcùng quan trọng, cần quan tâm thực hiện ngay trong thời gian tới Việc nàyđòi hỏi sự phối hợp của rất nhiều cơ quan, đơn vị, từ cơ quan tham mưu,quản lý nhà nước, các nhà xuất bản tới các đơn vị đào tạo Chính vì vậy,

Trang 4

nghiên cứu đề tài Phát triển nhân lực trong ngành xuất bản - Thực trạng

và giải pháp có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Các công trình nghiên cứu về vấn đề nhân lực nói chung

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nhânlực và phát triển nhân lực nói chung

2.1.1 Một số sách đã xuất bản liên quan đến nhân lực và phát triển nhân lực

(1) Thu hút, tìm kiếm và lựa chọn nguồn nhân lực của Vũ Văn Tuấn,

NXB Trẻ xuất bản năm 2000 Nội dung cuốn sách giới thiệu một khía cạnh

cụ thể của quá trình quản lý nguồn nhân lực: thu hút, tìm kiếm và lựa chọnnguồn nhân lực: quá trình tuyển dụng, đào tạo và phát triển, sử dụng và quản

lý nhân lực

(2) Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá của

Nguyễn Thanh, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2002 Cuốnsách giới thiệu cơ sở lý luận và thực tiễn, quan điểm, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, qua đó đưa ranhững giải pháp phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêucầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

(3) Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội của Bùi Văn Nhơn,

NXB Tư pháp xuất bản năm 2006 Cuốn sách tập trung làm rõ nội dung cơbản của dân số, chỉ tiêu dân số; xu hướng phát triển dân số thế giới và ViệtNam; các vấn đề về dân số và phát triển ở mỗi quốc gia, chính sách dân số.Bên cạnh đó, cuốn sách cũng nghiên cứu về nguồn nhân lực, đặc điểm củanguồn nhân lực Việt Nam và làm thế nào để sử dụng có hiệu quả nguồn nhânlực ở Việt Nam

(4) Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Phạm Thành Nghị (chủ biên), Trần

Xuân Cầu và Trần Hữu Hân, NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 2006 Nội

Trang 5

dung cuốn sách trình bày cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực; các kinhnghiệm quản lý nguồn nhân lực ở nước ngoài và hiện trạng quản lý nguồnnhân lực ở nước ta Cuốn sách cũng đưa ra mô hình, chính sách và giải phápnâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực.

(5) Vào nghề làm sách của Nguyễn Văn Toại, NXB Văn hoá Thông tin

xuất bản năm 2006 Tác giả bàn về nghề biên tập sách trong giai đoạn hiệnnay; vấn đề câu, chữ trong biên tập sách; thực trạng các loại sách trong xu thếhiện nay

(6) Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

của Phan Văn Kha, NXB Giáo dục xuất bản năm 2007 Cuốn sách giới thiệu

cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; thựctrạng và giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực

ở các cấp trình độ

(7) Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước hiện nay: Những vấn đề đặt ra - giải pháp của Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên), Hoàng Văn

Thanh và Trịnh Thị Kim Ngọc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm

2010 Cuốn sách nêu lên thực trạng nguồn nhân lực và nhân tài của đất nướccho phát triển xã hội; giải pháp xây dựng, quản lý, phát triển nguồn nhân lực

và nhân tài ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới

(8) Quản trị kinh doanh xuất bản của Nguyễn Lan Phương, Đường Vinh

Sường, NXB Lý luận chính trị xuất bản năm 2011 Cuốn sách trình bàynhững vấn đề chung về xuất bản và quản trị xuất bản; quản trị sản xuất trongcác nhà xuất bản; tổ chức bộ máy của các nhà xuất bản; quản trị nhân sự;quản trị chi phí và giá thành xuất bản phẩm; quản trị tài chính và tài sản trongnhà xuất bản; chiến lược thị trường của nhà xuất bản; phân tích hiệu quả kinhdoanh của các nhà xuất bản

(9) Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của PGS.TS Vũ Văn Phúc và TS Nguyễn Duy

Hùng (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2012 Nội

Trang 6

dung các bài viết trong cuốn sách tập trung vào việc phân tích nguồn nhân lực

ở nước ta, đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong điều kiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; các nghiên cứu, giải pháp,

đề xuất của các tác giả tập trung nghiên cứu về nguồn nhân lực nói chung chứkhông đề cập cụ thể đến từng ngành

(10) Công tác xuất bản - Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của

Đường Vinh Sường, NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản năm 2013.Cuốn sách giới thiệu những vấn đề chung về vị trí, vai trò, chức năng và đặcđiểm của hoạt động xuất bản; vấn đề về tổ chức, kinh doanh xuất bản; côngtác xuất bản, phát hành và thị trường sách

(11) Xuất bản Việt Nam trong những năm đổi mới đất nước, NXB.

Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2013 Cuốn sách nêu rõ quá trình rađời và phát triển của nền xuất bản cách mạng Việt Nam; sự lãnh đạo củaĐảng, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản Việt Nam; thành tựu

và hạn chế của hoạt động xuất bản Việt Nam

(12) Luận đàm về ngành xuất bản Trung Quốc của Trần Hân, NXB.

Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2013 (dịch từ tiếng Trung) Nộidung cuốn sách trình bày thực trạng của ngành xuất bản sách Trung Quốctrong những năm 1978-2005, thông qua các số liệu phân tích thực tế để đưa racác dự báo về tình hình phát triển và triển vọng của ngành xuất bản TrungQuốc

(13) Phát triển nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung của Lê Quang Hùng, NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản năm

2014 Tác giả trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhân lực chấtlượng cao, hiện trạng nguồn nhân lực theo tiêu chí chất lượng cao ở vùng kinh

tế trọng điểm miền Trung; phương pháp và các giải pháp chủ yếu phát triểnnhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

(14) Xã hội hoá hoạt động xuất bản - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

của Nguyễn An Tiêm, Nguyễn Nguyên (chủ biên), Nguyễn Thị Mỹ Linh,NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 2015 Cuốn sách trình bày một số vấn

Trang 7

đề lý luận về xã hội hoá hoạt động xuất bản Thực trạng quá trình thực hiệnchủ trương xã hội hoá hoạt động xuất bản ở nước ta Bài học kinh nghiệm vềquản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản của một số quốc gia trên thếgiới Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động xuất bản, in, phát hànhsách ở nước ta.

(15) Phát hiện và sử dụng nhân tài của Nhiệm Ngạn Thân, NXB Chính

trị quốc gia Sự thật xuất bản năm 2015 Nội dung cuốn sách giới thiệu nhữngkiến thức và kinh nghiệm của tác giả trong việc phát hiện và sử dụng nhân tài;

đi sâu trình bày về công tác cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong việcquản lý nhân lực

2.1.2 Một số đề tài, luận án về nhân lực và phát triển nhân lực

a) Về đề tài:

(1) Đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” của TS Lê Thị Hồng Điệp (2010), “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” của các tác giả PGS.TS Nguyễn

Văn Phúc, ThS Mai Thị Thu (2012) đã phân tích về nguồn nhân lực/nhân lựcchất lượng cao ở nước ta, đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực/nhânlực chất lượng cao Các nghiên cứu, giải pháp, đề xuất của các tác giả chỉ tậptrung nghiên cứu về nguồn nhân lực nói chung chứ không đề cập cụ thể đếntừng ngành

(2) Đề tài “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” của tác giả Lê Văn Phục (2014), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh” của TS Võ Thị Kim Loan (2015) nghiên cứu về thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao trong điều kiện hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, trong đó chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng

Trang 8

Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu lại là nguồn nhân lực của một địa phương cụthể (thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh).

(3) Đề tài “Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý” của tác giả Nguyễn

Minh Cương (2009) đã đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcquản lý thông qua công tác quy hoạch cán bộ Tuy nhiên, giải pháp của đề tài

có thể áp dụng chung đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc mọi lĩnh vực,không chuyên cho lĩnh vực xuất bản

(4) Đề tài “Giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” của TS Lương Công Lý (2014) nghiên cứu

về công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển nguồn nhân lực ở nước ta Tuynhiên, nghiên cứu của đề tài là đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồnnhân lực nói chung chứ không cho riêng ngành xuất bản

b) Về luận án:

(1) “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuấtkhẩu lao động của Việt Nam đến năm 2020”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế:62.31.11.01 của Bùi Sỹ Tuấn, 2011 Luận án trình bày cơ sở lý luận về chấtlượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động Đồng thờiphân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xuất khẩulao động của Việt Nam trong thời gian vừa qua và nêu ra các giải pháp nângcao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động củaViệt Nam đến năm 2020

(2) “Nâng cao chất lượng nhân lực của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia ViệtNam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế: 62.34.04.10 của Đoàn Anh Tuấn, 2014 Luận

án trình bày cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành dầukhí; phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng nhân lực của Tập đoàn Dầukhí Quốc gia Việt Nam trong thời gian qua; từ đó đề xuất các giải pháp và môhình đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực, chăm sóc sức khoẻ và tinh thầnnhằm nâng cao chất lượng nhân lực của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Namtrong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 9

(3) “Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốctế”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế: 62.31.01.01 của Nguyễn Ngọc Tú, Trường Đạihọc Kinh tế quốc dân, 2012 Luận án Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhânlực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế; trình bày cơ sở lý luận vàthực tiễn về nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế và thựctrạng, phương hướng, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng caocủa Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế.

(4) “Phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nướcta”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế: 62.31.05.01 của Trần Phương Anh, Trường Đạihọc Kinh tế quốc dân, 2012 Luận án trình bày một số vấn đề lý luận và thựctiễn về phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm; nghiên cứu thựctrạng và đưa ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ nước ta

(5) “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở ViệtNam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế: 5.02.01 của Lê Thị Ngân, Học viện Chính trịQuốc gia Hồ Chí Minh, 2005 Luận án nghiên cứu khái quát lý luận về nguồnnhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực vàvai trò của nó trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức; trên cơ sở phântích, đánh giá thực trạng để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượngnguồn nhân lực trong tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam

(6) “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp côngnghiệp chế biến gỗ Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh doanh và Quản lý,Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, của Nguyễn Thị Hồng Cẩm, 2013 Luận

án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực trongcác doanh nghiệp; thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong các doanhnghiệp công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam; từ đó nêu ra giải pháp nâng caonguồn nhân lực trong các doanh nghiệp công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam.(7) “Nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanh nghiệp may ViệtNam”, Luận án Tiến sĩ Kinh doanh và Quản lý, của Hoàng Xuân Hiệp,

Trang 10

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2013 Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận vàthực trạng về vốn nhân lực và chất lượng vốn nhân lực của doanh nghiệpmay; đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các doanhnghiệp may của Việt Nam.

(8) “Nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học: 62.22.85.01, VũThị Phương Mai, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh,

2013 Luận án phân tích mối quan hệ giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với

sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đánh giá thực trạng nguồnnhân lực chất lượng cao và những vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao; đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta những năm tới

(9) “Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạongười lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Namhiện nay (từ thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long)”, Luận án Tiến sĩ Triết học,Trần Thanh Đức, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002 Luận ántập trung vào vấn đề con người và nhân tố con người trong lực lượng sảnxuất; phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất thông qua quá trìnhđào tạo người lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở ViệtNam; nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo người lao động phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

(10) “Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam”, Luận

án Tiến sĩ Kinh tế, Đinh Văn Toàn, Đại học Kinh tế Quốc dân, 2011 Luận ánphân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực và tác động của nóđến kết quả sản xuất kinh doanh điện; đề xuất mục tiêu, phương hướng nhằmphát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển giai đoạn tới năm 2015

và hoàn thiện công tác này ở Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Ngoài những công trình nghiên cứu về nhân lực hay phát triển nhân lựcđược công bố dưới dạng sách, đề tài, luận án tiến sĩ, còn có các bài viết đăng

Trang 11

trên các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu kinh tế, Thông tin lý luận,

2.2 Các công trình nghiên cứu về vấn đề nhân lực/liên quan đến vấn

đề nhân lực trong lĩnh vực xuất bản

Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng caochất lượng hoạt động xuất bản, trong đó có nội dung nghiên cứu có liên quanđến vấn đề nhân lực:

- Đề tài “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ biên tập sách lý luận chính trị hiện nay” do ThS Trịnh Thúc Huỳnh làm chủ nhiệm (2004), Đề tài “Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ biên tập xuất bản sách lý luận chính trị, pháp luật trong tình hình mới” do TS Nguyễn

Đình Thực làm chủ nhiệm (2013) đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất một sốgiải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ biên tập sách lý luậnchính trị Tuy nhiên, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của các đề tài trên là hẹp,chỉ là cán bộ biên tập sách lý luận chính trị và chưa đề cập đến đào tạo nguồnnhân lực cho ngành xuất bản nói chung

- Đề án “Nâng cao hiệu quả liên kết xuất bản qua thực tiễn hoạt động của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật” do TS Đỗ Quang Dũng

làm chủ nhiệm (2013) nghiên cứu về hoạt động liên kết xuất bản của Nhàxuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, đề ra một số giải pháp nâng cao hiệuquả hoạt động liên kết xuất bản của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sựthật nói riêng, các nhà xuất bản nói chung Một trong những giải pháp quantrọng được nêu ra trong đề án là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực củaNhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật trong các khâu biên tập, in, pháthành Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra vẫn tập trung vào Nhà xuất bảnChính trị quốc gia - Sự thật và nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạtđộng liên kết xuất bản

Trang 12

- Đề tài “Nâng cao chất lượng xuất bản sách lý luận chính trị phổ thông trong cơ chế thị trường, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do ThS Trịnh Thúc Huỳnh làm chủ nhiệm (1999), Đề tài “Đổi mới công tác phát hành sách lý luận chính trị trong cơ chế thị trường đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới” do ThS Trịnh Thúc Huỳnh làm chủ nhiệm (2001), Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý luận chính trị” do TS Nguyễn Duy Hùng làm chủ nhiệm (2008) nghiên

cứu thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuấtbản, phát hành sách lý luận chính trị nói chung Một trong các giải pháp quantrọng mà các đề tài này đề xuất là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụcông tác xuất bản Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của các đề tài giới hạntrong loại sách lý luận chính trị nên chưa đưa được ra các giải pháp cho ngànhxuất bản nói chung Hơn nữa, thời gian nghiên cứu của các đề tài này đã khálâu, trước khi có Luật xuất bản năm 2012, nên phần thực trạng và giải pháp đề

ra chưa phản ánh được lý luận và thực tiễn trong tình hình hiện nay

Bên cạnh đó, một số báo cáo của các đoàn khảo sát, nghiên cứu, học tậpkinh nghiệm của một số nhà xuất bản ở một số nước như Mỹ, Đức, TrungQuốc, cũng có đề cập đến vấn đề nhân lực, nhưng không sâu, chủ yếu vềnguyên tắc, quy trình xuất bản, sự phối hợp giữa các bộ phận trong nhà xuấtbản, về công tác phát hành, công tác tổ chức cộng tác viên, về phân chia tráchnhiệm, lợi ích của việc làm sách; ít đề cập đến vấn đề nhân lực xuất bản dotính đặc thù của các nhà xuất bản ở mỗi nước

Ngoài ra, còn có một số bài báo đề cập đến thực trạng và đề xuất giảipháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành xuất bản, nhưng chưa nghiên cứuchuyên sâu

Như vậy, qua nghiên cứu các tài liệu đã được công bố nói trên, có thể

thấy trong thời gian qua, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồidưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực trongmột số lĩnh vực, địa phương nói riêng và một số công trình nghiên cứu về

Trang 13

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hoạt động trong các lĩnh vực riêng biệt của

ngành xuất bản như biên tập, in, phát hành , nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển nhân lực trong ngành xuất bản

trong giai đoạn hiện nay

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

- Mục tiêu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng, đánh giá những mặttích cực và hạn chế trong phát triển nhân lực ngành xuất bản, Đề tài sẽ đề xuấtnhững giải pháp phù hợp nhằm phát triển nhân lực trong ngành đáp ứng yêucầu thực tiễn, phù hợp với xu thế xuất bản hiện đại cũng như thực hiện nhiệm

vụ chính trị của ngành trong thời gian tới

- Nhiệm vụ:

(1) Hệ thống hóa, phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháttriển nhân lực trong hoạt động xuất bản; vai trò phát triển nhân lực ngành xuấtbản trong thời gian tới; những kinh nghiệm có ý nghĩa thiết thực trong pháttriển nhân lực của một số nhà xuất bản nước ngoài

2) Khảo sát, đánh giá thực trạng và nêu bật những kết quả đạt được,những vấn đề đặt ra đối với nhân lực trong công tác quản lý xuất bản và côngtác biên tập hiện nay

3) Đề xuất xu hướng phát triển, định hướng và các giải pháp thiết thựcnhằm phát triển nhân lực ngành xuất bản nói chung và nhân lực trong côngtác quản lý xuất bản và công tác biên tập nói riêng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ trong tình hình mới

4) Nêu một số đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển nhân lực trong ngành

xuất bản trong thời gian tới

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về:

Trang 14

(1) Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý xuất bản ở các cơquan tham mưu, quản lý nhà nước về xuất bản; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý của các nhà xuất bản (bao gồm cả quản lý biên tập, in, phát hành);

(2) Đội ngũ biên tập viên trong các nhà xuất bản

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Đề tài phân tích, đánh giá sự vận động, phát triển củađội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý xuất bản ở các cơ quan thammưu, quản lý nhà nước về xuất bản; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của cácnhà xuất bản (bao gồm cả quản lý biên tập, in, phát hành); đội ngũ biên tậpviên trong các nhà xuất bản Trong quá trình khảo sát thực trạng, phân tích và

đề xuất giải pháp, đề tài chủ yếu phân tích dưới góc độ ngành mà không đi sâuphân tích chi tiết vấn đề quản lý phát triển nhân lực trong nội bộ từng nhà xuấtbản

+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển đội ngũ cán bộlàm công tác tham mưu, quản lý xuất bản ở các cơ quan tham mưu, quản lýnhà nước về xuất bản; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của các nhà xuất bản(bao gồm cả quản lý biên tập, in, phát hành); đội ngũ biên tập viên trong cácnhà xuất bản trong giai đoạn 2010-2015, trong đó có chú ý từ khi Luật xuất bảnnăm 2012 được ban hành và có hiệu lực thi hành đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác Lênin, Đề tài sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, thống kê,tổng hợp,… kết hợp với tổ chức điều tra khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn.Ngoài việc hệ thống hóa, kế thừa kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả,

-Đề tài còn phỏng vấn sâu một số chuyên gia, cán bộ quản lý ở các cơ quanquản lý nhà nước, Hội Xuất bản Việt Nam và nhiều nhà xuất bản

Trang 15

6 Lực lượng nghiên cứu

Lực lượng nghiên cứu chủ yếu là cán bộ công tác tại Nhà xuất bản Chínhtrị quốc gia Sự thật, Cục Xuất bản, in và phát hành, Học viện Báo chí và Tuyêntruyền và một số cán bộ công tác, nghiên cứu tại một số cơ quan, nhà xuất bảnkhác

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đềtài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN

LỰC NGÀNH XUẤT BẢN

Chương 2: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH XUẤT BẢN THỜI

GIAN QUA

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC NGÀNH XUẤT

BẢN THỜI GIAN TỚI

Trang 16

1.1.1 Khái niệm nhân lực ngành xuất bản

Xuất bản là ngành mang tính xã hội sâu sắc, chịu sự tác động rất lớn vànhiều mặt của đời sống xã hội Ngược lại, sự phát triển của ngành xuất bảncũng có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Trong xu thế toàn cầu hóa và hộinhập, cũng như nhiều ngành khác, nhân lực ngành xuất bản luôn là vấn đềđược quan tâm hàng đầu, là nhân tố có tính quyết định đến sự phát triển củangành Ngành xuất bản muốn phát triển trong điều kiện mới, phù hợp với xuthế xuất bản hiện đại đòi hỏi phải có được nguồn nhân lực chất lượng cao.Trong những năm qua, quan niệm về xuất bản có nhiều thay đổi Trướcnăm 1993, mọi người vẫn coi xuất bản chỉ là việc của nhà xuất bản và nhânlực của ngành xuất bản bao gồm: (1) nhân lực làm công tác tham mưu, quản

lý xuất bản ở các cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước về xuất bản; (2) nhânlực làm việc trong các nhà xuất bản Từ khi có Luật xuất bản năm 1993 (vàhiện nay là Luật xuất bản năm 2012), khái niệm xuất bản đã được mở rộngbao gồm: xuất bản, in và phát hành Theo đó, nhân lực ngành xuất bản baogồm: (1) nhân lực làm công tác tham mưu, quản lý xuất bản ở các cơ quantham mưu, quản lý nhà nước về xuất bản; (2) nhân lực làm việc trong các nhàxuất bản; (3) nhân lực làm công tác in; (4) nhân lực làm công tác phát hành

Trang 17

Như vậy, trên cơ sở những nội dung nêu trên, có thể nêu khái niệm:

Nhân lực ngành xuất bản là đội ngũ những người làm việc trong các khâu của ngành xuất bản, giúp chuyển tải đến người đọc những tác phẩm, xuất bản phẩm có giá trị về mặt kiến thức, văn hóa, khoa học, tinh thần,

Tuy nhiên, nhân lực ngành xuất bản mà Đề tài tập trung nghiên cứu,khảo sát, đánh giá (trong phạm vi, đối tượng nghiên cứu của Đề tài) chỉ baogồm: (1) đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý xuất bản ở các cơquan tham mưu, quản lý nhà nước về xuất bản; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý của các nhà xuất bản (bao gồm cả quản lý biên tập, in, phát hành); và (2)Đội ngũ biên tập viên trong các nhà xuất bản

- Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý xuất bản ở các cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước về xuất bản: Cán bộ làm công tác tham

mưu, quản lý xuất bản ở các cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước về xuất bản

có trách nhiệm tham mưu cho Đảng về đường lối, chính sách phát triển ngànhxuất bản; tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế,chính sách, đưa ra định hướng chung nhằm thống nhất quản lý lĩnh vực xuấtbản trong cả nước; thanh tra, kiểm tra hoạt động của các nhà xuất bản, các cơ

sở in và phát hành; kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu về nội dung khoa học vànội dung chính trị

Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ thammưu, quản lý hoạt động xuất bản bao gồm: Vụ Báo chí và Xuất bản (BanTuyên giáo Trung ương), Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin vàTruyền thông); Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Thanh tra Văn hóa(của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Cục An ninh Thông tin, Truyền thông(Bộ Công an); Cục Quản lý thị trường, Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) , ở cấpTrung ương; và được phân cấp quản lý theo ngành dọc về các tỉnh (thànhphố), mà cụ thể là Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch, Sở Công an, Chi cục Quản lý thị trường, Chi cục Thuế

Trang 18

Mỗi cơ quan có những vai trò, nhiệm vụ khác nhau trong việc quản lýhoạt động xuất bản nên đội ngũ nhân lực làm việc trong các cơ quan này cónhững đặc điểm, yêu cầu không hoàn toàn giống nhau Việc tham mưu đảmbảo định hướng chính trị tư tưởng, văn hóa trong ngành xuất bản theo chủtrương của Đảng chủ yếu do Vụ Báo chí và Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trungương) đảm nhiệm Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyềnthông) đảm nhận chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản Lựclượng làm công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát mà chủ lực thuộc Bộ Thôngtin và Truyền thông (Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất bản,

In và Phát hành) cùng Thanh tra Văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch),Cục An ninh Thông tin, Truyền thông (Bộ Công an) kiểm tra việc chấp hànhpháp luật trong lĩnh vực xuất bản, bao gồm cả nội dung của xuất bản phẩm vàviệc tổ chức xuất bản xuất bản phẩm Cục Quản lý thị trường, Tổng cục Thuế(Bộ Tài chính) quản lý ngành xuất bản về mặt kinh tế như đối với các phápnhân kinh doanh khác

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các nhà xuất bản: Cán bộ lãnh đạo, quản

lý tại các nhà xuất bản chịu trách nhiệm về hoạt động của nhà xuất bản theođúng tôn chỉ, mục đích của nhà xuất bản; đảm bảo chất lượng các xuất bảnphẩm, phục vụ đúng đối tượng, không để xảy ra sai sót về nội dung; bảo đảmhiệu quả hoạt động của nhà xuất bản

- Đội ngũ biên tập viên: Biên tập, theo lý luận xuất bản, là một khâu, một

công đoạn trong dây chuyền sản xuất, phân phối và tiêu dùng xuất bản phẩm.Biên tập là một quá trình sản xuất tinh thần nhằm tìm kiếm, tổ chức, khaithác, lựa chọn những tác phẩm, tài liệu (bản thảo) phục vụ cho nhu cầu truyềnthông; đánh giá, rà soát, tu chỉnh, nâng cao chất lượng và hoàn thiện hình thứcnhững sản phẩm ấy để cung cấp cho đông đảo quần chúng những sản phẩm cógiá trị văn hóa - xã hội cao, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của họ và yêu cầuphát triển lành mạnh của xã hội Công tác biên tập góp phần để những tácphẩm văn hóa tinh thần có giá trị ra đời, song bản chất, không phải là hoạt

Trang 19

động sáng tác Người biên tập sách thường không phải là tác giả cuốn sách.Biên tập viên là người sử dụng những thành quả của hoạt động sáng tác để giacông, hoàn thiện nó phục vụ cho nhu cầu truyền thông xã hội Lao động củangười biên tập là lao động sản xuất tinh thần Sản phẩm của biên tập là nhữngbản thảo tác phẩm hoàn thiện, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu để truyền bárộng rãi trong xã hội Thiếu khâu biên tập, hoạt động xuất bản hiện đại khôngthể thực hiện có chất lượng và hiệu quả, không thể hoàn thành tốt vai trò xãhội của mình

Do vậy, đội ngũ biên tập viên là lực lượng lao động chủ yếu, nòng cốttrong các nhà xuất bản Họ là những người sản xuất từ khâu đầu đến khâucuối của quá trình sản xuất, tức là từ thiết kế xây dựng đề tài đến việc biêntập, chỉnh sửa để có sản phẩm

Biên tập viên trong một nhà xuất bản lại phân chia theo chức năng nhưbiên tập viên nội dung, biên tập viên mỹ thuật, biên tập viên kỹ thuật vàđược phân chia theo lĩnh vực chuyên ngành hoặc chuyên môn mà họ am hiểu,nắm vững nhất

1.1.2 Vai trò của nhân lực trong ngành xuất bản

- Nhân lực là nhân tố chủ yếu đảm bảo hoạt động xuất bản được tiến hành

Chúng ta đều biết, mọi hoạt động kinh tế - xã hội nói chung, quá trìnhsản xuất nói riêng là sự kết hợp các yếu tố tư liệu sản xuất và lao động củacon người Không có yếu tố con người sẽ không có quá trình sản xuất nàođược diễn ra, khi đó tư liệu sản xuất chỉ là yếu tố tiềm năng, chỉ có tác độngcủa lao động của con người mới làm tư liệu sản xuất vận động, tạo ra sảnphẩm mới Trong nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm cần thiết cho conngười và do con người tạo ra đều là hàng hóa, trong đó có hàng hóa sức laođộng Khi mua hàng hóa sức lao động, một trong những yếu tố đầu vào, cầnphải có tính toán sao cho hiệu quả sử dụng là cao nhất Mặt khác, nhân lực làchủ thể trong quá trình sản xuất nên người lao động cũng có sự tính toán, lựa

Trang 20

chọn các phương án tối ưu nhất nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao nhất cho bảnthân.

Xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, là một ngành kinh doanh cóđiều kiện, do đó có thể nói nhân lực lại càng đóng vai trò quan trọng tronghoạt động xuất bản

Đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước trong lĩnh vựcxuất bản có trách nhiệm trong việc xây dựng các chỉ thị, nghị quyết củaĐảng, các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản, quyền tác giả và quyềnliên quan trong hoạt động xuất bản và các biện pháp phòng, chống in lậu, ingiả, in nối bản trái phép xuất bản phẩm; đại diện cho cơ quan nhà nước cóthẩm quyền trong việc cấp, cấp đổi, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấyphép, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề, xác nhận đăng ký trong hoạtđộng xuất bản theo quy định; nhận, quản lý, tổ chức đọc, kiểm tra xuất bảnphẩm lưu chiểu và xử lý xuất bản phẩm vi phạm theo quy định… Hoạt độngthực thi các công vụ trên của họ có vai trò vô cùng quan trọng, quyết địnhđến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cả bộ máy nhà nước, là yếu tố quyếtđịnh thành bại của các chủ trương, chính sách Do vậy, năng lực, tinh thầnlàm việc của họ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác, hoạt động của các

cơ quan, đơn vị

Đội ngũ lãnh đạo, quản lý nhà xuất bản, cũng như những người làm quản

lý nói chung, là những người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động hiện tạicũng như định hướng phát triển trong tương lai của nhà xuất bản Nhưng vớiđặc thù của nghề xuất bản, những cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà xuất bản còn

là những người chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tác giả, trước ngườiđọc về chất lượng nội dung, chất lượng khoa học và đảm bảo tính chính trị, tưtưởng của xuất bản phẩm Bất cứ một xuất bản phẩm nào muốn được lưuhành trên thị trường đều phải thông qua sự thẩm định và cấp phép của nhàxuất bản Chính những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong nhà xuất bản sẽ có ý

Trang 21

kiến quyết định về việc xuất bản phẩm có đủ chất lượng, có thể lưu hành trênthị trường hay không Và khi đã cấp quyết định in một xuất bản phẩm, cónghĩa là họ sẽ phải chịu trách nhiệm với xuất bản phẩm đó

Đội ngũ biên tập viên giữ vai trò chủ chốt trong công tác xuất bản, gópphần quyết định việc đưa tới bạn đọc những xuất bản phẩm có chất lượng,hoàn thành kế hoạch xuất bản, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và công táckinh doanh của nhà xuất bản Trong hoạt động xuất bản, biên tập là một khâuquan trọng, góp phần quyết định nâng cao chất lượng nội dung chính trị, nộidung khoa học và hình thức của bản thảo Việc biên tập bản thảo là nội dungbắt buộc cho bất kể loại bản thảo nào, với mọi tác giả Thực tế biên tập đã chỉ

rõ, dù bản thảo có chất lượng tốt đến mấy, dù tác giả đã chuẩn bị rất công phu,khi biên tập vẫn phát hiện có những hạn chế, thiếu sót Do đó, công đoạn biêntập, chỉnh lý là để nâng cao chất lượng bản thảo, làm cho tác phẩm có chấtlượng hơn, hoàn thiện thêm Nó bảo đảm sự chuẩn xác, chuẩn mực và tínhthống nhất cao trong toàn bộ tác phẩm được xuất bản, để tác phẩm khi nhânbản không còn những “hạt sạn” Biên tập bản thảo là sự can thiệp trực tiếpcủa biên tập viên vào tác phẩm của tác giả, góp phần nâng cao chất lượng bảnthảo, vì vậy, nó phải đúng đắn, khách quan, tuân theo những nguyên tắc nhấtđịnh Những sáng tạo của người biên tập trong công việc hoàn thiện bản thảotrực tiếp thể hiện vai trò cầu nối giữa tác giả và bạn đọc, là khâu trung giangắn kết quá trình sản xuất tinh thần với sản xuất vật chất để làm ra các xuấtbản phẩm

- Nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược, là động lực cho sự phát triển của ngành xuất bản

Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị tríđịa lý… là những khách thể, chịu sự khai thác, cải tạo của con người, các hoạtđộng có ý thức của con người sẽ tác động vào và gắn kết chúng lại để tạo rasản phẩm phục vụ cho nhu cầu của xã hội Như vậy để xã hội thực sự pháttriển thì động lực lớn nhất, quan trọng nhất đó chính là năng lực của con

Trang 22

người Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế tri thức đang ngày càng phát triển thìcác nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nótrong khi nhân tố tri thức của con người ngày càng thể hiện vị trí chiến lượccủa mình Nguồn nhân lực với tính năng động, sáng tạo của mình ngày càngđóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển Chính vì vậy cần phải sử dụng

và khai thác hợp lý, để nguồn nhân lực thực sự là động lực to lớn, hữu ích cho

sự phát triển

Ở tầm vi mô, nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra doanh thu, lợi nhuận chodoanh nghiệp, đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức Chỉ có con ngườimới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuấtkinh doanh đó Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những tàinguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân lực -con người lại đặc biệt quan trọng Không có những con người làm việc hiệuquả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu

Đối với ngành xuất bản, điều này lại càng được thể hiện rõ Là hoạt độngkinh tế - xã hội liên quan nhiều đến hoạt động trí óc, nhất là công tác biên tập,nhân lực có thể nói chính là yếu tố tạo ra giá trị cho ngành xuất bản Dựa trênnguyên liệu đầu vào là bản thảo (sản phẩm nghiên cứu khoa học, tác phẩmvăn học ), đều là những sản phẩm của trí tuệ con người, biên tập viên sẽ làngười gia cố, nâng cao chất lượng nội dung của sản phẩm Thực tế cho thấy,giá trị của xuất bản phẩm được tạo nên bởi nội dung, tinh thần mà nó truyềntải, chủ yếu do tài năng sáng tạo của các tác giả quyết định Tuy nhiên, biêntập viên cũng góp phần quan trọng vào chất lượng sáng tác, chất lượng truyềnthông Biên tập viên là cầu nối giữa bạn đọc và tác giả, vừa đại diện cho bạnđọc, vừa đại diện cho người sáng tác Vì vậy, họ có điều kiện và trách nhiệmđánh giá chính xác những ưu, khuyết điểm của tác phẩm cả về nội dung vàhình thức thể hiện Thẩm định cẩn thận, chính xác bản thảo là một yêu cầuđặc trưng của công tác biên tập Đây là yêu cầu rất cao về năng lực trí tuệ, vềphương pháp làm việc khoa học, về tác phong cẩn trọng, tỉ mỉ của nhữngngười biên tập Việc thẩm định bản thảo trong công tác biên tập được ví như

Trang 23

“việc gác cổng” cho sự truyền bá văn hóa, như việc “khám bệnh” cho các tácphẩm văn hóa chính là lý do đó

Vào những năm 90 của thế kỷ XX trở về trước, ở nước ta, biên tập sáchvẫn là một nghề được tôn trọng và biên tập viên được ví như là “bà đỡ” cho

sự ra đời của các tác phẩm Tất cả các bản thảo, dù tác giả là nhà khoa học nổitiếng hay là các nhà chính trị,… khi đưa vào quy trình xuất bản đều phải quakhâu biên tập, chỉnh sửa, và lãnh đạo nhà xuất bản chỉ duyệt và ký quyết địnhxuất bản khi đã qua tất cả các bộ phận nghiệp vụ, trong đó nhất thiết là phải

có sự xác nhận chất lượng bản thảo của biên tập viên Trước đây, không ítbiên tập viên là nhà văn hóa lớn, là nhà khoa học được nhiều người biết đến Cho tới nay, biên tập viên vẫn rất được coi trọng và là trụ cột của mỗinhà xuất bản Một biên tập viên muốn phát triển được ngoài việc cần có trình

độ chuyên môn, ngoại ngữ, trình độ chính trị… thì cần phải có một tâm hồnyêu cái đẹp và tấm lòng say mê nghề biên tập sách Đội ngũ biên tập viên cóchất lượng chính là nguồn lực mang tính chiến lược đối với sự phát triển củangành xuất bản

Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, các nước, các vùng có ngành xuất bảnphát triển đều là những nơi có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao Ở đó cólượng người viết và người đọc lớn, đồng thời cũng là những nơi tập trungnhiều các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất bản Chính những nhân lựchoạt động trong ngành xuất bản kéo người viết lại gần người đọc, góp phầnquan trọng tạo động lực để các tác giả xã hội hóa tác phẩm của mình, là nhân

tố kích thích người đọc tìm đọc những tác phẩm có giá trị

- Nhân lực trong ngành xuất bản là nhân tố tạo ra sản phẩm có giá trị phục vụ xã hội, trong đó các biên tập viên đóng vai trò “bà đỡ” cho ra đời của xuất bản phẩm

Trong cơ chế thị trường, xuất bản vẫn là hoạt động sản xuất hàng hóa kinh doanh dịch vụ văn hóa có điều kiện Chính vì vậy, bên cạnh việc đảmbảo chất lượng nội dung, đảm bảo tính định hướng chính trị của xuất bản

Trang 24

-phẩm, hoạt động xuất bản cũng phải đáp ứng các yêu cầu mà thị trường đặt ranhư phục vụ nhu cầu, thị hiếu của các tầng lớp bạn đọc, thời gian ra sách phùhợp, hình thức đẹp, giá cả hợp lý… Với những yêu cầu trên, nhân lực chính lànhân tố then chốt trong hoạt động xuất bản, tạo ra sản phẩm có giá trị phục vụ

xã hội, trong đó biên tập viên chính là những “bà đỡ” cho sự ra đời của xuất

là “linh hồn” của công tác biên tập Sau khi đã phát hiện được những bản thảotốt, những “viên ngọc thô” có thể đem lại giá trị cao về tinh thần cho xã hội,đóng góp cho khoa học, và đem lại giá trị kinh tế cao cho đơn vị xuất bản,biên tập viên sẽ đưa bản thảo đó vào quy trình xuất bản, gia cố, nâng cao chấtlượng, hoàn thiện và phát hành xuất bản phẩm ra thị trường

1.1.3 Đặc điểm của nhân lực trong ngành xuất bản

1.1.3.1 Phẩm chất chính trị vững vàng

Là ngành kinh doanh có điều kiện, người làm việc trong ngành xuất bảnphải có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, cólòng yêu nghề, tận tâm với công việc, trung thành với tôn chỉ, mục đích củanhà xuất bản, trung thực với nội dung tác phẩm và tôn trọng người đọc

Đặc điểm này được phản ánh qua các yếu tố sau:

Một là, phải có thế giới quan khoa học Người làm việc trong ngành xuất

bản, nhất là các biên tập viên, cần phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng lập trường, quan điểm, phương phápcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức, phân tích và

Trang 25

-xử lý các vấn đề một cách đúng đắn, khoa học Phải có sự hiểu biết thấu đáo

và có trình độ lý luận chính trị để có thể phản bác, không để lọt các quan điểmsai trái, thù địch trong các xuất bản phẩm, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay

Hai là, phải có lòng say mê, yêu nghề, tâm huyết và nhiệt tình với sự

nghiệp xuất bản, thực sự yêu mến công tác biên tập xuất bản, hết sức chuyêntâm vào sự nghiệp xuất bản Nhất là trong điều kiện hiện nay, xuất bản nóichung, nghề biên tập nói riêng, không phải là một nghề hấp dẫn vì thu nhậpkhông cao, lao động trí óc nặng nhọc, lại chưa được xã hội đánh giá đúngmức vai trò và vị trí Vì vậy, chỉ có những người thực sự tâm huyết và gắn bóvới nghề biên tập mới có thể yên tâm công tác

Ba là, có tinh thần cống hiến, phục vụ độc giả, coi đó là trách nhiệm xã

hội mà mình phải thực hiện tốt nhất Một sản phẩm tinh thần ra đời được côngchúng hoan nghênh, tìm đọc, tác động đến ý thức và tinh thần của các thànhviên trong xã hội, tạo động lực cho xã hội phát triển theo hướng tốt đẹp…chính là thể hiện tinh thần, thái độ phục vụ quần chúng nhân dân của hoạtđộng xuất bản nói chung, trong đó đóng vai trò quan trọng nhất là các biên tậpviên

1.1.3.2 Vừa nắm vững kiến thức chuyên môn, vừa thành thạo nghiệp vụ xuất bản, đồng thời có năng lực hoạt động xã hội và năng lực tổ chức

Nhân lực trong ngành xuất bản là những người nắm vững kiến thứcchuyên môn, chuyên ngành, được đào tạo cơ bản (có trình độ chuyên môn từđại học trở lên, trình độ chính trị từ trung cấp trở lên, nắm vững một ngoạingữ, sử dụng thành thạo tin học văn phòng…), bên cạnh đó phải thành thạocác nghiệp vụ như nghiệp vụ biên tập - xuất bản (đối với biên tập viên và cán

bộ lãnh đạo, quản lý nhà xuất bản), khả năng xây dựng chính sách, nắm vữngnghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, thuế… (đối với cán bộ quản lý nhà nước về

Trang 26

xuất bản) Ngoài ra, nhân lực trong các nhà xuất bản cần có năng lực hoạtđộng xã hội và năng lực tổ chức công việc tương đối cao.

Cán bộ công tác tại Vụ Báo chí - Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trung ương)trước tiên phải vững vàng về tư tưởng chính trị, nắm vững đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời có tầm nhìn

xa để có thể đề xuất, tham mưu với các cấp lãnh đạo về các vấn đề liên quanđến tư tưởng, chính trị đã và sẽ phát sinh, từ đó tham mưu cho Đảng đề ra chủtrương, đường lối đúng giúp ngành xuất bản giữ vững và thực hiện tốt nhiệm

vụ định hướng chính trị tư tưởng

Đối với cán bộ công tác tại Cục Xuất bản, In và Phát hành, đồng thời vớiviệc nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, vững vàng về chính trị tưtưởng, có kiến thức nền rộng để đánh giá, thẩm định đăng ký đề tài của cácnhà xuất bản, kiểm tra lưu chiểu xuất bản phẩm, còn phải nắm vững kiến thức

về quản lý nhà nước, có khả năng xây dựng chiến lược phát triển chung củangành và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản,đảm bảo cho ngành phát triển đúng định hướng đã đề ra

Những cán bộ công tác trong các đơn vị thanh tra, kiểm tra cần giỏi cáckiến thức, nghiệp vụ chuyên môn của công tác thanh tra, kiểm tra, đồng thờinắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước để có thể phát hiện các sai phạm (nếu có) trong hoạt động xuất bản,đồng thời cũng tránh gây những phiền hà không đáng có đối với hoạt độngxuất bản nói chung

Các cán bộ thuộc Cục Quản lý thị trường, Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính)cần nắm vững chính sách thuế, quản lý thị trường trong lĩnh vực kinh doanhđặc thù là văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng, để đảm bảo không làm thấtthoát nguồn thu của ngân sách nhà nước, không để lọt sách giả, sách in lậu

ra thị trường, nhưng vẫn bảo đảm khuyến khích ngành xuất bản phát triển.Nhìn chung, cán bộ tham mưu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuấtbản, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, thuế… phải vừa hoàn thành nhiệm vụ được

Trang 27

giao, vừa tham mưu, xây dựng được chế độ, chính sách tạo điều kiện chongành xuất bản phát triển, đáp ứng những đòi hỏi từ thực tiễn.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý của nhà xuất bản là những người có nhiều nămkinh nghiệm làm việc trong các nhà xuất bản, đã trải qua thực tế công tác biêntập, xử lý bản thảo và các hoạt động nghiệp vụ xuất bản khác Trước tiên, cán

bộ lãnh đạo, quản lý của nhà xuất bản phải nắm vững đường lối, chủ trươngcủa Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động xuất bản; cókiến thức sâu rộng, có năng lực tổ chức quản lý hoạt động biên tập, xuất bản,

có khả năng xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu, chiến lược, kếhoạch, đề tài của nhà xuất bản Ngoài ra, cần có tầm nhìn và am hiểu về sựphát triển của hoạt động xuất bản trong nước và thế giới Đặc biệt cần có khảnăng tổ chức công việc và tổ chức bộ máy, nhân sự thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của nhà xuất bản

Với cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà xuất bản và biên tập viên, nghiệp vụbiên tập xuất bản thành thạo thể hiện ở các khả năng thiết kế, khai thác, lựachọn, đánh giá bản thảo; năng lực viết, gia công, biên tập để nâng tầm bảnthảo; năng lực thẩm định, đọc duyệt, phát hiện những bản thảo có vấn đề vềchính trị tư tưởng, nội dung khoa học Một người có thể không tinh thông tất

cả các nghiệp vụ biên tập xuất bản, nhưng phải cố gắng có khả năng đa dạng,vừa có sở trường về một mặt nào đó, vừa có thể thích ứng với nhu cầu côngtác ở một lĩnh vực khác

Năng lực hoạt động xã hội và năng lực tổ chức của cán bộ nhà xuất bảnthể hiện ở khả năng giao tiếp, xây dựng được quan hệ và tổ chức, điều hòađược các mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ với cộng tác viên, tác giả và nắmbắt được nhu cầu thị trường, để hoàn thành nhiệm vụ biên tập của biên tậpviên, và phổ biến rộng rãi xuất bản phẩm của hoạt động xuất bản nói chung.Đặc biệt, khi phải xuất bản một công trình đồ sộ hoặc dài hơi, thì năng lực tổchức của biên tập viên càng cần được phát huy mạnh mẽ để cho ra đời sảnphẩm có chất lượng cao cả về nội dung khoa học, chính trị và hình thức

Trang 28

Trong quá trình làm nghề, các biên tập viên phải tự học hỏi, tự tích lũykiến thức cho mình thông qua việc biên tập bản thảo, qua trao đổi với cộngtác viên cũng như qua tiếp nhận các nguồn thông tin khác Để có thể biên tậpnhững bản thảo khó, cùng với việc tự học, các biên tập viên cần có trình độcao hơn Chỉ có liên tục tự học và học ở các trường lớp thì biên tập viên mớitích lũy đủ kiến thức chuyên môn, đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ củamình.

1.1.3.3 Vừa có kiến thức chuyên ngành sâu, đồng thời có một phông kiến thức nền rộng

Nhân lực trong ngành xuất bản, nhất là những người trực tiếp liên quanđến nội dung bản thảo trước khi xuất bản và xuất bản phẩm đã được pháthành như biên tập viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà xuất bản, cán bộ đọckiểm tra lưu chiểu trước hết là những người được đào tạo chính quy, cơ bảntrong một lĩnh vực chuyên môn nhất định, nắm vững những kiến thức chuyênngành mình được đào tạo (như kinh tế, lịch sử, văn học, khoa học kỹ thuật, yhọc…) Kiến thức chuyên môn đó sẽ là nền tảng để họ thẩm định chất lượngcũng như gia cố nâng cao chất lượng bản thảo, hoặc phát hiện những sai sót

về nội dung của xuất bản phẩm

Trên thực tế, biên tập viên phải đối mặt với rất nhiều loại bản thảo vàtrong mỗi loại lại có nhiều chuyên ngành hẹp khác nhau, với nhiều tác giả vàđối tượng người đọc rất khác nhau Vì vậy, biên tập viên cần phải có phôngvăn hóa rộng lớn, tri thức khoa học phong phú và sở thích văn hóa đa dạng thìmới có thể hoàn thành tốt công tác biên tập của mình

Nhìn chung, biên tập viên cần có các loại tri thức sau để có thể hoànthành nhiệm vụ của mình:

Một là, tri thức chung (hay phông kiến thức nền), là các tri thức mà một

người có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên phải nắm được: kinh tế,

Trang 29

chính trị, xã hội, triết học, ngoại ngữ, lịch sử, tin học, văn hóa, ngôn ngữ vàcác tri thức đời sống xã hội khác.

Hai là, các tri thức về nghiệp vụ biên tập Biên tập viên cần nắm

vững, xử lý thành thạo các công đoạn của công tác biên tập (chọn đề tài, tổchức bản thảo, gia công, chỉnh lý, đối chiếu, kiểm tra nội dung bản thảo)

Ba là, tri thức chuyên môn sâu trong phạm vi lĩnh vực biên tập viên phụ

trách, ví dụ như biên tập viên sách kinh tế phải có kiến thức kinh tế cơ bản nhưkinh tế chính trị Mác - Lênin, kinh tế học vi mô và vĩ mô, kinh tế lượng; đồngthời nghiên cứu sâu một số lĩnh vực kinh tế chuyên ngành như tài chính, ngânhàng, bảo hiểm, chứng khoán, quản lý đầu tư, kế toán

Bốn là, tri thức về công tác in ấn, phát hành xuất bản phẩm Biên tập

viên phải có những kiến thức về quy trình, công nghệ in ấn xuất bản phẩm để

có thể lựa chọn được được công nghệ in phù hợp với nội dung xuất bản phẩm,với chi phí hợp lý Đồng thời, biên tập viên cần nắm được quy trình phát hànhxuất bản phẩm, yêu cầu thị trường, nhu cầu của độc giả từ đó có thể tìm kiếm,

tổ chức được những bản thảo phù hợp, có hiệu quả kinh tế cao

1.1.3.4 Có tình yêu với công việc, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, có tinh thần trách nhiệm cao

Hoạt động xuất bản nói chung, công tác biên tập nói riêng, là công việcđặc thù trong lĩnh vực tư tưởng Người biên tập có vai trò rất quan trọng trongviệc nâng cao chất lượng xuất bản phẩm, họ vừa đứng ở quan điểm của ngườiviết, đồng thời cũng là người được đọc tác phẩm đầu tiên nên sẽ có những nhìnnhận khách quan về bản thảo, có thể coi là cầu nối giữa người viết và ngườiđọc Tuy nhiên hiện nay ở nước ta, vai trò của biên tập viên chưa được coitrọng, chưa được nhìn nhận đúng vai trò, chức năng Hầu hết cho rằng biên tậpchỉ là việc chỉnh sửa dấu câu, sửa lỗi chính tả, đây là sự nhầm lẫn bởi công việctrên chỉ là một phần của công tác biên tập, biên tập kỹ thuật (đọc morat), khâucuối cùng hoàn thiện bản đưa in Công tác biên tập còn nhiều khâu khác như tổchức bản thảo, thẩm định, góp ý, gia cố chỉnh sửa nội dung và kết cấu của bản

Trang 30

thảo… Bên cạnh đó, người làm nghề xuất bản nói chung, người làm công tácbiên tập nói riêng, có mức thu nhập không cao so với mặt bằng chung của xãhội cũng như chưa tương xứng với mức đầu tư chất xám trong công việc.Chính vì vậy, hầu hết những người làm trong ngành xuất bản đều là nhữngngười có tình yêu với nghề, mong muốn được truyền bá, phổ biến tri thức tớirộng rãi mọi người Và chỉ những người đó mới trụ lại với nghề, tiếp tục đưangành xuất bản phát triển.

Bên cạnh đó, những người làm việc trong ngành xuất bản, nhất là các biêntập viên, nhất định phải có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.Đạo đức nghề nghiệp là những quy tắc, hành vi cơ bản mà mọi người đều phảituân theo trong hoạt động nghề nghiệp, trong đó có nghề xuất bản Xây dựngđạo đức nghề nghiệp là một trong những nội dung cần chú trọng thường xuyêntrong xây dựng đạo đức công dân nói chung, trong khi làm nghề của mỗi biêntập viên nói riêng Có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao, biêntập viên mới có thể đóng góp để đưa đến tay bạn đọc những xuất bản phẩm cóchất lượng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Nếu không, sẽ để lọtnhững xuất bản phẩm kém chất lượng tới bạn đọc, và tệ hơn nữa là những xuấtbản phẩm có nội dung trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước

Đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm của biên tập viên được thểhiện qua 3 nội dung cơ bản:

Một là, biên tập viên tuân thủ chuẩn mực đạo đức cơ bản trong hoạt

động văn hóa nói chung và hoạt động xuất bản nói riêng

Hai là, biên tập viên là người làm nghề mang tính xã hội rộng lớn, phải

tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà mọi người làm nghề mang tính

xã hội đều phải tuân thủ

Ba là, biên tập viên là người làm công tác xuất bản, vì vậy cần đặt lợi ích

xã hội lên trước tiên, thể hiện rõ trách nhiệm chính trị và tuân thủ pháp luật

1.2 Các nhân tố tác động tới nhân lực trong ngành xuất bản

Trang 31

1.2.1 Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với ngành xuất bản

Xuất bản là ngành thuộc lĩnh vực tư tưởng văn hóa, đồng thời cũng làngành kinh doanh có điều kiện Hoạt động xuất bản có vai trò quan trọngtrong việc nâng cao nhận thức, trình độ cho các tầng lớp nhân dân; tuyêntruyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, đưa chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước vào cuộc sống, đáp ứng nhu cầu đọc của nhân dân, đồng thờiphải thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh,… Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta

đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật tronglĩnh vực xuất bản, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành xuấtbản Các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhànước về xuất bản đã tạo ra khung khổ cho hoạt động của ngành, có tác độngtrực tiếp, mạnh mẽ tới nhân lực ngành xuất bản

Hiện nay, luật pháp nước ta cho phép mọi thành phần kinh tế có thểtham gia vào hoạt động xuất bản, đặc biệt trong các khâu tổ chức bản thảo,thiết kế, in ấn, phát hành Riêng khâu kiểm soát chất lượng nội dung xuất bảnphẩm, tức là biên tập và cấp phép xuất bản, vẫn hoàn toàn do các nhà xuấtbản là các đơn vị công lập chịu trách nhiệm Điều đó có nghĩa là đã mở rộngnguồn nhân lực, tạo điều kiện cho lượng lớn nhân lực tham gia hoạt độngtrong ngành xuất bản, đồng thời đòi hỏi các biên tập viên trong các nhà xuấtbản phải nâng cao trình độ, năng suất làm việc cũng như tính năng động để cóđáp ứng yêu cầu cạnh tranh công việc trong thời kỳ mới mà vẫn đảm bảo chấtlượng sản phẩm xuất bản Bên cạnh đó, sự phát triển của ngành xuất bản theohướng xuất bản hiện đại cũng góp phần làm cho nhân lực ngành xuất bản giatăng

Việc quy định các nhà xuất bản phải dần chuyển đổi hoạt động theo cơchế doanh nghiệp đã buộc các nhà xuất bản phải tăng sức cạnh tranh trên thịtrường, thậm chí những nhà xuất bản yếu kém đã phải giải thể hoặc sáp nhập,chỉ còn những nhà xuất bản hoạt động có hiệu quả là tồn tại được và phát

Trang 32

triển Điều này tác động mạnh đến nhân lực của ngành, một mặt loại bỏnhững nhân lực yếu kém khỏi ngành, mặt khác đòi hỏi những nhân lực đanglàm việc trong các nhà xuất bản đang hoạt động phải nỗ lực hơn, năng độngnữa để tránh tình trạng tương tự

Bên cạnh đó, Đảng đã đề ra một số chủ trương nhằm thúc đẩy sự pháttriển của ngành xuất bản, trong đó chú trọng việc nâng cao chất lượng nhânlực với những yêu cầu, giải pháp thiết thực, cụ thể Thể chế hóa những chủtrương trên của Đảng, Luật Xuất bản và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cónhững quy định cụ thể về tiêu chuẩn, yêu cầu đối với nhân lực hoạt độngtrong ngành, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà xuất bản và đội ngũ biêntập viên như phải có trình độ đại học trở lên, có trình độ lý luận chính trị, cóphẩm chất đạo đức tốt, có chứng chỉ hành nghề biên tập do Bộ Thông tin vàTruyền thông cấp và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật Cácquy định như trên đã thúc đẩy cán bộ tự học tập nâng cao trình độ nhằm đápứng các tiêu chuẩn đề ra

Các chính sách về đào tạo, đào tạo lại, chế độ đãi ngộ, bồi dưỡng cán bộ,khen thưởng, kỷ luật, chế tài đối với những vi phạm trong hoạt động củangành xuất bản… được ban hành cũng có những tác động tới nhân lực trongngành Về chính sách đào tạo, ngoài một số người có bằng xuất bản chính quytại các cơ sở đào tạo chuyên ngành, việc quy định có chứng chỉ hành nghềbiên tập đã buộc các biên tập viên phải tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡngnhằm đạt tiêu chuẩn hành nghề theo quy định Ngoài ra, Nhà nước cũng banhành một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ nhân lực ngành xuất bản thamgia các khóa đào tạo, đào tạo lại, nhưng nhìn chung số lượng và chất lượngchưa thực sự đáp ứng yêu cầu công việc Tuy là ngành hoạt động trong lĩnhvực tư tưởng văn hóa nhưng Nhà nước chưa có những chính đãi ngộ hợp lý,chính sách thu hút nhân tài vào làm việc trong lĩnh vực xuất bản Chỉ so vớinhững ngành khác trong cùng khối tư tưởng văn hóa thì sự ưu đãi trong chínhsách của Nhà nước đối với nhân lực ngành xuất bản cũng kém hơn hẳn, ảnh

Trang 33

hưởng đến tâm tư, nguyện vọng cũng như khả năng thu hút nhân lực chấtlượng cao vào làm việc trong ngành

Gần đây, một số đề xuất nhằm siết chặt quản lý nội dung xuất bản phẩmcũng như hoạt động xuất bản nói chung trong điều kiện nhiều xuất bản phẩmsau khi phát hành bị phát hiện sai sót, vi phạm nghiêm trọng, đã được dư luậnnói chung, những người làm việc trong ngành xuất bản đồng tình ủng hộ Tuynhiên, việc hình sự hóa một số vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất bảnkhiến những người hoạt động trong ngành xuất bản phản ứng dữ dội, và gây

ra những lo lắng, bức xúc không cần thiết

1.2.2 Môi trường làm việc

Môi trường làm việc có ảnh hưởng đến nhân lực trong mọi ngành nghề,

và xuất bản cũng không phải là ngoại lệ Môi trường làm việc bao gồm điềukiện làm việc, mối quan hệ, khả năng thăng tiến trong công việc và vấn đề thunhập

- Về điều kiện làm việc, hay chất lượng văn phòng, công sở, khung cảnh

làm việc Cải thiện điều kiện làm việc không chỉ có ý nghĩa nhân văn, pháttriển lấy con người làm trung tâm, mà còn mang ý nghĩa kinh tế Điều kiệnlàm việc tốt sẽ có ảnh hưởng tích cực tới năng suất lao động, mong muốn tiếptục làm việc cũng như sức khỏe của con người

+ Chất lượng văn phòng, trụ sở, diện tích làm việc có tác động khôngnhỏ đến sự phát triển nhân lực ngành xuất bản Nếu chất lượng văn phòng, trụ

sở làm việc bảo đảm, sẽ tạo điều kiện cho người lao động hăng say làm việc

và làm việc có hiệu quả, yêu nghề hơn từ đó sẽ tác động thuận chiều đến việctăng cả về số lượng và chất lượng nhân lực Ngược lại, nếu chất lượng vănphòng, trụ sở làm việc không tốt sẽ gây ức chế cho người lao động, dẫn đếngiảm năng suất lao động, chán nghề Đây là điều kiện khá quan trọng để thuhút và phát triển nhân lực ngành xuất bản

Trang 34

+ Trang thiết bị làm việc có vai trò hết sức quan trọng đối với việc pháttriển nhân lực ngành xuất bản Việc được sử dụng những thiết bị làm việchiện đại, đồng bộ sẽ giúp cho người lao động nâng cao năng suất lao động,nâng cao năng lực xử lý các công việc như: quản lý xuất bản, biên tập, thiết

kế bìa, trình bày, chế bản, marketing, Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, việc ứng dụng công nghệ cao vào ngành xuất bản, đặc biệt là ứngdụng công nghệ trong việc làm sách điện tử là rất quan trọng

- Về mối quan hệ trong công việc:

+ Mối quan hệ với bên ngoài: Làm việc trong ngành xuất bản, đặc biệt ở

vị trí biên tập viên, việc xây dựng được hệ thống cộng tác viên là vô cùng cầnthiết Cộng tác viên là một trong những vấn đề mang tính quyết định sự thànhcông của một nhà xuất bản Làm sao để tìm kiếm, lựa chọn và kết nối hệ thốngcộng tác viên phù hợp? Làm sao để mời được những nhà văn, họa sĩ, nhà khoahọc lớn tham gia vào các đề tài sách mà biên tập viên tổ chức? Tìm được cộngtác viên đã khó, giữ họ cộng tác với mình lâu dài còn khó hơn Biên tập viênphải có vốn văn hóa sâu rộng, sự lịch thiệp, tinh tế trong giao tiếp, và đặc biệt

là sự chân thành, có trước có sau Đồng thời, cũng phải thật linh hoạt khi traođổi, xử lý công việc với cộng tác viên Dù biên tập viên đã có thâm niên nghềnghiệp, song đây vẫn luôn là một trong những thách thức lớn nhất Chính vìvậy, xây dựng được một mối quan hệ rộng để có đội ngũ cộng tác viên hiệu quả

là vấn đề đối với mọi biên tập viên

+ Mối quan hệ nội bộ nhà xuất bản: Cũng như mọi cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp, mối quan hệ nội bộ có tác động lớn đến chất lượng, tư tưởng và

số lượng nhân lực Những nơi có môi trường làm việc tốt, xây dựng được quychế công việc rõ ràng, minh bạch, xây dựng được hệ thống đánh giá chấtlượng, hiệu quả công việc tốt; người lao động thấy được khả năng phát triển

sự nghiệp; đồng nghiệp thân ái, hữu nghị, hỗ trợ nhau trong công việc sẽkhiến mọi người có tinh thần thoải mái, nhiệt tình làm việc, hiệu quả côngviệc sẽ được nâng cao Còn những nơi quy chế công việc không rõ ràng,

Trang 35

không có hệ thống đánh giá chất lượng tốt, có hiện tượng mất đoàn kết nội bộthì chắc chắn người lao động sẽ không thể yên tâm công tác, người giỏi,người có tâm sẽ không muốn làm việc Hiện tượng một số biên tập viên cónăng lực của các nhà xuất bản chuyển sang công tác khác, hoặc chuyển ra làmcho các đơn vị làm sách tư nhân cũng có một phần nguyên nhân từ đây.

Trên thực tế, một số nhà xuất bản lâu năm, có bề dày kinh nghiệm đãxây dựng được đội ngũ cán bộ biên tập cơ bản đảm bảo yêu cầu về chấtlượng và số lượng, cơ cấu độ tuổi, duy trì được môi trường làm việc ổn định,đáp ứng được yêu cầu công tác xuất bản trong tình hình mới Nhưng vớinhững nhà xuất bản mới được thành lập, rất khó thu hút được cán bộ trẻ vàolàm việc ở vị trí biên tập do biên chế không cho phép tuyển dụng nhiều, cán

bộ trẻ có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ ít vào làm việc ở nhà xuất bảnbên cạnh lý do thu nhập thấp, cơ chế ràng buộc về nhiều mặt, thì môi trườnglàm việc cũng là vấn đề ảnh hưởng đáng kể đến lựa chọn công việc của họ

Đó là chưa kể đến việc tiếp nhận do ảnh hưởng từ các mối quan hệ đồngnghiệp, thân tình nên càng khó chọn người giỏi

- Về thu nhập:

Thu nhập là vấn đề mà mọi lao động đều quan tâm Phân phối thu nhậphợp lý có tác dụng thúc đẩy mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúcđẩy nâng cao năng suất lao động, tinh thần và thái độ lao động, khắc phụcnhững tàn dư tư tưởng ỷ lai, trông chờ, củng cố kỷ luật lao động ; đồng thờicòn thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hóa.Phân phối thu nhập hợp lý là động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩysản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế - xã hội và cải thiện đời sốngnhân dân Ngược lại, phân phối thu nhập không bảo đảm lợi ích kinh tế chongười lao động, thiếu công bằng, sẽ thui chột động lực làm việc của ngườilao động, kìm hãm, thậm chí phá hoại sản xuất

Biên tập viên xuất bản phải chịu áp lực công việc rất lớn, từ tổ chức xâydựng đề tài; trao đổi, thương lượng với tác giả về nội dung bản thảo, về nhuận

Trang 36

bút, về số lượng in,… Yêu cầu công việc cao như thế nhưng mức thu nhập lạikhông đủ bù đắp hao phí sức lao động, chưa đủ trang trải cuộc sống Hay nóicách khác, giữa đòi hỏi của công việc với thu nhập là một khoảng cách rất xa.Ngoài mức lương nhận theo lương ngạch bậc do Nhà nước quy định, các nhàxuất bản có thêm một khoản tiền nữa từ phần sản xuất kinh doanh Nhưngkhoản thu nhập này thường xuyên không ổn định Cộng hai khoản đó lại, biêntập viên vẫn khó có thể lo nổi các chi phí sinh hoạt ở mức bình thường Đó làchưa kể việc các chính sách đãi ngộ ngoài lương, chính sách thu hút và sửdụng người tài trong ngành xuất bản hầu như không có Đây là nguyên nhânquan trọng khiến các nhà xuất bản khó giữ được các cán bộ, biên tập viêngiỏi

1.2.3 Mô hình tổ chức hoạt động của nhà xuất bản

Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động sẽ quyết định quy mô, tốc độ tăngtrưởng, xu hướng phát triển của tổ chức cũng như số lượng và chất lượng nhânlực đang và sẽ hoạt động Một bộ máy được tổ chức hoàn chỉnh, thống nhất vàhoạt động hiệu quả cùng một cơ chế hoạt động thông thoáng dựa trên một nềntảng pháp lý đồng bộ, một hình thức quản trị hiệu quả tương thích với đặc điểm

và mục tiêu phát triển của chính đơn vị sẽ có tác động thúc đẩy tổ chức pháttriển và ngược lại Trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, xây dựng mô hìnhquản trị doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm đối với việc hoạch định chiếnlược phát triển cả trong ngắn hạn và dài hạn Một bộ máy tinh giản gọn nhẹcùng đội ngũ cán bộ quản lý có khả năng phản ứng nhanh nhạy với những biếnđổi thường xuyên của thị trường sẽ là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của bất

cứ tổ chức nào

Những nhà xuất bản có mô hình tổ chức hoạt động phù hợp, cơ cấu hợp

lý giữa các phòng, ban, bộ phận về số lượng nhân lực, phân công chức trách,nhiệm vụ khoa học, rõ ràng, không chồng chéo, trùng lặp sẽ là điều kiện thuậnlợi để người lao động phát huy cao nhất năng lực của mình trong công việc,

Trang 37

hoàn thành chức trách được giao Trong điều kiện đó, nhân lực xuất bản sẽlàm việc với trạng thái tinh thần tốt hơn, kết quả làm việc khả quan hơn, làmviệc có chất lượng và hiệu quả hơn Như vậy sẽ thu hút được nhiều nhân lực

có trình độ cũng như những nhân lực mới nhưng có năng lực tốt tham gia.Bên cạnh đó, người lao động sẽ có tinh thần cộng đồng, tinh thần cố gắng họchỏi để vươn lên Thực tế cho thấy, những nhà xuất bản xác định rõ được địnhhướng phát triển của mình, xây dựng được mô hình tổ chức tốt, gọn nhẹ, phâncông, phân nhiệm rõ ràng giữa bộ phận biên tập và các bộ phận chức năng, có

cơ chế tài chính linh hoạt đều là những nhà xuất bản làm ăn có hiệu quả,thường xuyên giới thiệu được với bạn đọc các ấn phẩm có giá trị Trên cơ sở

mô hình tổ chức hoạt động, các nhà xuất bản sẽ xác định được nhu cầunhân lực của mình trong ngắn, trung và dài hạn Nhà xuất bản có thể xâydựng cho mình quy hoạch cán bộ làm công tác quản lý, biên tập; xác định

cơ cấu, số lượng nhân lực giữa các bộ phận sao cho hợp lý; đề ra yêu cầuchất lượng đối với nhân lực hiện tại và trong tương lai để có chính sách đàotạo, đào tạo lại nhân lực hiện có cũng như thu hút nhân lực chất lượng caovào làm việc

Ngược lại, những nhà xuất bản có mô hình tổ chức cồng kềnh, phâncông, phân nhiệm không rõ ràng, kém khoa học, bộ phận lao động gián tiếp

có nhiều nhân lực hơn bộ phận lao động trực tiếp sẽ dẫn đến tình trạng giẫmchân nhau trong hoạt động, chỗ nhiều việc cần thì không ai làm, trong khi chỗkhác lại nhiều người ngồi không, hiệu quả công việc chung sút kém, môitrường làm việc có chất lượng kém Điều này cũng dễ dẫn đến tình trạng ganh

tị, ỷ lại, dèm pha nói xấu nhau mà không dành thời gian để làm việc, học tậpnâng cao trình độ Các nhà xuất bản trong tình trạng này đều đang rất khókhăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

1.2.4 Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực xuất bản

Trang 38

Một đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay là sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượngsản xuất trực tiếp và đồng thời đóng vai trò cốt lõi trong mọi tiến trình pháttriển Những tiến bộ như vũ bão của khoa học và công nghệ trong những năm

từ cuối thế kỷ XX đến nay đã làm thay đổi căn bản lịch sử xã hội loài người,tác động sâu sắc đến đời sống của mỗi cá nhân, đồng thời làm đảo lộn tư duychiến lược của mỗi quốc gia trong tiến trình phát triển

Với tư cách là lĩnh vực văn hóa tư tưởng, đồng thời cũng là một ngành kinh

tế - kỹ thuật, hoạt động xuất bản cùng với tiến trình xã hội hóa của mình cũngchịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt

là công nghệ thông tin Xuất bản là một hình thức vật thể hóa các giá trị tưtưởng của các tác phẩm, tài liệu thành những cuốn sách cụ thể nhằm phổ biếnđến đông đảo công chúng, do vậy đòi hỏi phải có các yếu tố kinh tế - kỹ thuật

để hoàn thiện những công đoạn đó Chính vì vậy, hoạt động xuất bản luôn gắnliền với những thành tựu của khoa học - kỹ thuật, mà trước hết là những ứngdụng kỹ thuật công nghệ trong ngành in Những thành tựu phát triển của côngnghệ hóa in, vật lý, điện tử, tự động hóa, số hóa truyền dẫn, đã tác độngtrước hết và làm thay đổi căn bản bộ mặt xuất bản Nghề xuất bản, in sách từchỗ thủ công, cơ giới hóa một phần nay đã chuyển sang tự động hóa toàn bộcác quy trình xuất bản, in Nhờ đó số lượng sách được in ra ngày một nhanhhơn, nhiều hơn với chất lượng ngày càng tốt hơn Với sự ứng dụng rộng rãikhoa học và công nghệ như vậy, chúng ta có thể thấy hoạt động xuất bảnnhanh chóng được xã hội hóa nhờ việc các tổ chức, cá nhân dễ dàng tham giavào các công đoạn của quá trình xuất bản

Trong nền kinh tế tri thức, với sự thâm nhập của công nghệ thông tin vàomọi lĩnh vực đời sống, nội dung công tác biên tập xuất bản cũng có nhiều thayđổi Việc tìm kiếm, khai thác bản thảo ngày nay được thực hiện nhờ công cụhiện đại, nhanh chóng và hiệu quả hơn Bản thảo cho xuất bản điện tử và xuấtbản truyền thống được khai thác trên phạm vi toàn cầu, bằng các giao dịch

Trang 39

điện tử trên toàn thế giới Công nghiệp xuất bản cũng đang được điện tử hóa,toàn cầu hóa Tuy nhiên, dù phát triển đến trình độ nào, hoạt động xuất bảnvẫn không thể thiếu công tác biên tập Những nội dung cụ thể của công tácbiên tập như tổ chức khai thác bản thảo, thẩm định, lựa chọn bản thảo, giaodịch ký hợp đồng bản quyền, biên tập, gia cố, nâng cao chất lượng bản thảo,

… vẫn không thể bỏ qua, thậm chí còn có yêu cầu cao hơn Có điều, các nộidung biên tập này được thực hiện bởi công nghệ thông tin, bằng máy tính điện

tử nối mạng toàn cầu

Riêng đối với ngành xuất bản, sự phát triển của khoa học và công nghệ,đặc biệt là công nghệ thông tin, trong kỷ nguyên kỹ thuật số hiện nay đã làmthay đổi căn bản tư duy về xuất bản, về cách thức cũng như phương thức xuấtbản Hiện nay đã xuất hiện cách thức xuất bản mới, đó là xuất bản điện tử.Bên cạnh Amazon Kindle, còn có khá nhiều thương hiệu máy đọc sách độc lậpnhư Sony PRS, Libre, BeBook, PocketBook, Cybook, Foxit Cùng với sáchđiện tử, nhờ sự phát triển và ứng dụng ngày càng toàn diện của Internet, sựxuất hiện của các trang mạng xã hội cho phép con người có thể kết nối, chia

sẻ thông tin một cách nhanh chóng và rộng rãi, hình thành nên môi trường xãhội thông tin, một lần nữa khẳng định xu hướng xuất bản điện tử đã và đangtrở thành một xu thế chủ đạo trong đời sống xuất bản hiện đại ở cả phía công

bố, phổ biến tác phẩm lẫn người thụ hưởng tác phẩm Việc chuyển từ xuấtbản phẩm in truyền thống sang xuất bản số trên thế giới ngày càng phổ biến

và đang trở thành xu thế chung

Chính sự phát triển mạnh mẽ và xu hướng thay đổi trên có tác động tolớn tới nhân lực trong ngành xuất bản Nhân lực ngành xuất bản phải nhanhchóng cập nhật những xu hướng phát triển của ngành xuất bản trên thế giới,những thành tựu của khoa học và công nghệ vào hoạt động của mình Trongđiều kiện Việt Nam hiện nay, các biên tập viên tối thiểu phải biết ứng dụng tin

Trang 40

học căn bản vào công tác biên tập để nâng cao hiệu quả và chất lượng côngviệc

1.2.5 Những nhân tố nội tại của nhân lực

Những nhân tố nội tại của nhân lực bao gồm: trình độ văn hóa, trình độchuyên môn, nhận thức chính trị, thâm niên công tác, yếu tố thể lực, lànhững nhân tố có tác động to lớn đến chất lượng nhân lực

- Trình độ văn hoá là những kiến thức phổ thông của người lao động về

tự nhiên và xã hội Trong chừng mực nhất định, trình độ văn hoá của ngườilao động biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia Trình độ văn hoá của nhânlực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nhân lực và có tácđộng mạnh tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trình độ văn hoá cao tạokhả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ và thànhtựu của cách mạng khoa học và công nghệ vào thực tiễn, đồng thời là kiếnthức nền tảng để biên tập viên có thể biên tập được nhiều loại sách khác nhau

- Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành hoặc chỉ đạoviệc thực hiện một chuyên môn hoặc công việc nhất định, thể hiện trình độđào tạo của nhân lực ở các cơ sở đào tạo Do đó, mặt bằng trình độ chuyênmôn của nhân lực trong ngành xuất bản cao sẽ là yếu tố đầu tiên, cần thiết,giúp nâng cao chất lượng xuất bản nói chung, chất lượng biên tập nói riêng

- Khả năng nhận thức chính trị là khả năng nắm bắt được tình hình chínhtrị đang diễn ra trong nước và trên thế giới Định hướng phát triển của một đấtnước được thể hiện bằng chính quan điểm, chủ trương, chính sách, thể chếcủa đất nước đó Những định hướng này nhằm đưa đất nước ngày càng pháttriển, để người dân được ấm no, tự do, hạnh phúc Do vậy, nhân lực trongngành xuất bản cần có nhận thức và lập trường tư tưởng vững vàng, góp phầnvào bảo vệ, phát triển sự nghiệp đổi mới của đất nước, phê phán, phản bác lạicác quan điểm sai trái, thù địch

Ngày đăng: 01/08/2022, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w