QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 Từ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn 2011 - 2020 và từ những bất cập, hạn chế của nền HCN
Trang 1Chuyên đề:
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠO ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
I QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
Từ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn 2011 - 2020 và từ những bất cập, hạn chế của nền HCNN hiện tại đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh CCHC trong thời gian tới CCHC nhà nước là một trong giải pháp quan trọng nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020
1.1 Quan điểm cải cách hành chính nhà nước
- CCHC phải được tiến hành đồng bộ trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy nhà nước
- CCHC phải đáp ứng yêu cầu hoàn thiện nhanh và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, tổ chức và góp phần tích cực chống quan liêu, hách dịch, phòng và chống tham nhũng
- Thông qua cải cách, tiếp tục làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan hành chính, thực hiện phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa tập thể và người đứng đầu các cơ quan HCNN
- Xây dựng đội ngũ CBCCVC có phẩm chất và trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
- CCHC phải hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, ứng dụng
có hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin
1.2 Mục tiêu cải cách hành chính nhà nước
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2020 xây dựng được một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của
Trang 2nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và phục vụ tốt người dân, doanh nghiệp và xã hội
Trọng tâm CCHC trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực để CBCC thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả; nâng cao chất lượng cung ứng DVC
1.2.2 Các mục tiêu cụ thể
- Chức năng của các cơ quan HCNN được xác định phù hợp, không còn sự chồng chéo, trùng lắp, chuyển những việc không nhất thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ
Đến năm 2020, các cơ quan HCNN có chức năng phù hợp với cơ chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN, thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương được phân cấp hợp lý
- Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý, theo nguyên tắc bộ quản lý
đa ngành, đa lĩnh vực Đến năm 2020, số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ dưới 20
- Chính quyền địa phương các cấp được tổ chức hợp lý, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn Đến năm 2020, số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh dưới
15, thuộc UBND cấp huyện dưới 10
- Đến năm 2015, TTHC liên quan tới cá nhân, tổ chức được cải cách cơ bản theo hướng gọn nhẹ, đơn giản, phấn đấu mỗi năm giảm trung bình 10% chi phí
mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra khi giải quyết các TTHC với các cơ quan HCNN
- Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai 100% vào năm 2013 tại các cơ quan HCNN ở địa phương; sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với dịch vụ
do cơ quan HCNN cung cấp đạt mức 65% vào năm 2015 và 85% vào năm 2020
- Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp DVC được triển khai trên diện rộng, chất lượng DVC được nâng cao, nhất là trên các lĩnh vực giáo dục, y tế; sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với dịch vụ do đơn vị
Trang 3sự nghiệp cung cấp trên các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức 65% vào năm 2015
và 85% vào năm 2020
- Đến năm 2015, 100% các cơ quan HCNN thực hiện cơ cấu công chức theo vị trí việc làm, khắc phục xong về cơ bản tình trạng công chức cấp xã không đạt tiêu chuẩn theo chức danh
Đến năm 2020, đội ngũ CBCC có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân
- Đến năm 2020, tiền lương của CBCC được cải cách cơ bản, bảo đảm cuộc sống của CBCC và gia đình
- Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan HCNN: Đến năm 2015, 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các
cơ quan HCNN được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử; hầu hết CBCC thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan
- Đến năm 2015, 100% cơ quan HCNN từ cấp huyện trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định, cung cấp tất cả các DVC trực tiếp
- Đến năm 2020, hầu hết các giao dịch của các cơ quan HCNN được thực hiện trên môi trường điện tử ở mọi lúc, mọi nơi
II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 Những kết quả đã đạt được
Những năm qua, CCHC đã được triển khai toàn diện trên 6 nội dung là cải cách thể chế HCNN, cải cách TTHC, cải cách tổ chức bộ máy HCNN, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, cải cách tài chính công, hiện đại hóa nền hành chính CCHC đã từng bước đi vào chiều sâu, tạo ra những chuyển biến đáng ghi nhận của nền hành chính và được đặt trong khuôn khổ là một
Trang 4trong 3 giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011 - 2020
a Những kết quả đã đạt được trong cải cách thể chế HCNN
Thể chế của nền hành chính được cải cách và dần được hoàn thiện cơ bản phù hợp với yêu cầu chủ trương quan trọng của Đảng và cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Triển khai thực hiện Hiến pháp 2013, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực rà soát, hệ thống hóa trên 100.000 văn bản quy phạm pháp luật các loại, đề xuất, kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới trên 17.000 văn bản QPPL Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Chính phủ đã xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua
64 luật, 19 luật sửa đổi, bổ sung
b Những kết quả đã đạt được trong cải cách TTHC
TTHC có bước chuyển biến rõ rệt Những TTHC được đơn giản hoá theo hướng công khai, minh bạch tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp
Cải cách TTHC là một trong những nội dung được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm, chỉ đạo sát sao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
đa ban hành nhiều văn bản nhằm đẩy mạnh cải cách TTHC Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Hội đồng Tư vấn cải cách TTHC Tính đến hết Quý I năm
2016 đã đơn giản hóa 4.525/4.723 TTHC Nhiều đề án, sáng kiến cải cách TTHC mang tính đột phá được nghiên cứu xây dựng và triển khai thực hiện, thông qua đó đã đạt đươc nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là các kết quả cải cách, cắt giảm thời gian giải quyết TTHC về thuế, hải quan và bảo hiểm xã hội
Cơ chế một cửa, một cửa liên thông tiếp tục được đẩy mạnh triển khai tại các địa phương Đến nay về cơ bản tất cả các cấp hành chính đã thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông
Trang 5Bảng thống kê: K t qu th c hi n c ch m t c a, m t c a liên thôngết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ơ chế một cửa, một cửa liên thông ết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ột cửa, một cửa liên thông ửa, một cửa liên thông ột cửa, một cửa liên thông ửa, một cửa liên thông
Các cơ quan chuyên môn
Tổng
số
Đã
triển
khai
Tỷ lệ
%
Chưa triển khai
Tỷ lệ
%
Tổng số
Đã triển khai
Tỷ lệ
%
Chưa triển khai
Tỷ lệ
%
Tổng số
Đã triển khai
Tỷ lệ
%
Chưa triển khai
Tỷ lệ
% 1.204 1.114 92,5 90 7,5 713 704 98,7 9 1,3 11.164 10.960 98,2 204 1,8 Nguồn: Bộ Nội vụ
c Những kết quả đã đạt được trong cải cách tổ chức bộ máy HCNN
Bộ máy hành chính tốt hơn nhiều so với những năm trước đây, bớt trùng lắp, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ; đầu mối các cơ quan Chính phủ được thu gọn hơn; có sự phân định rõ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị
sự nghiệp; tiếp tục tách rõ quản lý NN về kinh tế với quản lý của các DNNN
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/4/2012 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành 27 nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Về tổ chức bộ máy địa phương, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định
số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh
Phân công, phân cấp giữa cơ quan trung ương với địa phương và giữa các cấp ở địa phương với nhau được triển khai Quan niệm và nhận thức về vai trò và chức năng quản lý vĩ mô của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường ngày càng rõ nét và phù hợp hơn Nhiều công việc trước đây do Chính phủ, Thủ tướng chính phủ giải quyết nay đã được chuyển cho các bộ, ngành trung ương và phân cấp cho CQĐP thực hiện, như cấp giấy phép đầu tư, quản lý đất đai, khai thác khoáng sản, đăng ký kinh doanh, biên chế sự nghiệp, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 21/NQ-CP ngày 21/3/2016
Trang 6về phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
d Những kết quả đã đạt được trong xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có một số đổi mới
- Các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai xây dựng vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc để trình Bộ Nội vụ thẩm định, phê duyệt Tính đến đầu tháng 12/2015, Bộ Nội vụ đã thẩm định và phê duyệt Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức của 17/20
bộ, ngành (chiếm 85%) và 53/63 địa phương (chiếm 84,12%)
- Bộ Nội vụ và một số bộ, ngành, địa phương đã triển khai ứng dụng phần mềm trực tuyến vào thi tuyển công chức, thi nâng ngach công chức và đã đạt được môt số kết quả tích cưc
- Đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp phòng
Đã có 06 bộ, ngành và 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm việc thi tuyển lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng
- Chính phủ đã có quy định về việc xét tuyển đặc cách đối với những người tốt nghiệp thủ khoa, tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài hoặc có kinh nghiệm công tác từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng
- Bộ Nội vụ đã trình CP ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế
đ Những kết quả đã đạt được trong cải cách tài chính công
- Cải cách tài chính công đã đạt được kết quả tích cực góp phần tăng cường
kỷ luật tài chính, từng bước tăng tính minh bạch trong thực hiện ngân sách
- Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh
Trang 7phí hành chính đối với các cơ quan HCNN; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị SNCL; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị nghiên cứu khoa học Ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
16/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL thay cho Nghị định 43/2006
e Những kết quả đã đạt được trong hiện đại hóa nền HCNN
Nội dung hiện đại hoá nền HCNN đã thu được những kết quả bước đầu Trụ sở làm việc được đầu tư khang trang hơn trước, nhất là các cơ quan HCNN
và bộ phận “một cửa” ở cấp huyện Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO, ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng được mở rộng trong các cơ quan HCNN Chính phủ và các bộ, ngành đã tổ chức nhiều cuộc họp, giao ban trực tuyến với các địa phương
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan HCNN được triển khai một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, từng bước phấn đấu theo hướng “Chính phủ điện tử”, “Chính quyền điện tử”
Đến nay, đã có 100% các dịch vụ công cơ bản đã được các bộ, ngành và địa phương cung cấp trực tuyến mức độ 2; các dịch vụ công trực tuyến mức độ
3, 4 đã và đang được các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện Một số địa phương đang tích cực triển khai xây dựng Chính quyền điện tử, như: Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh
Một số địa phương đã xây dựng trung tâm hành chính tập trung của tỉnh như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Lào Cai
2.2 Những tồn tại, hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng nhìn chung tốc độ CCHC còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả còn thấp so với mục tiêu đặt ra Nền hành chính tuy đã có chuyển biến nhưng còn tụt hậu và có nguy
Trang 8cơ tụt hậu hơn nữa so với tốc độ cải cách của các nền hành chính hiện đại, nguy
cơ tụt hậu của nền hành chính Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới có xu thế ngày càng gia tăng Nhìn một cách tổng thể, những kết quả đạt được trong CCHC còn rất hạn chế, không tương xứng với yêu cầu, quy mô đổi mới toàn diện theo tinh thần Nghị quyết của Đảng và mục tiêu chung mà chương trình tổng thể CCHC đề ra Những tồn tại, hạn chế được thể hiện ở những nội dung sau:
- Hệ thống thể chế HCNN thiếu đồng bộ, thống nhất, chồng chéo, chất
lượng thấp Chưa đổi mới căn bản công tác xây dựng thể chế, có cơ quan chuyên trách để xây dựng tránh việc cục bộ của các bộ, ngành trong quá trình xây dựng thể chế HCNN
- TTHC trên một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp Số lượng các TTHC thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông còn ít Việc công bố, công khai TTHC còn chậm, còn tình trạng công khai TTHC đã hết hiệu lực
- Về tổ chức bộ máy HCNN, trong những năm đã giảm đáng kể đầu mối
các cơ quan trực thuộc Chính phủ, nhưng bộ máy bên trong các bộ, ngành lại phình ra, đặc biệt là các tổng cục, cục Trong 5 năm gần đây, số tổng cụ, cục tăng thêm 48 đơn vị
Bảng thống kê: Tổ chức bộ máy trung ương và địa phương
(Tính đến ngày 31/10/2015)
Chính phủ khóa XII (Tháng 8/2010) Chính phủ khóa XIII (Tháng 8/2010) Biến động
Trang 9Vụ và tương đương thuộc
tổng cục
Nguồn: Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ
- Tình trạng “lạm phát” cấp phó diễn ra phổ biến ở nhiều bộ, ngành và các cấp hành chính Bộ Công thương hiện có tới 9 thứ trưởng, Bộ NN&PTNT có 8 thứ trưởng Các bộ khác có 5 - 6 thứ trưởng (Luật Tổ chức CP quy định tới đa có 4) Nhiều vụ có tới 4 - 6 phó vụ trưởng (quy định chỉ có 3) Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương có 36 công chức, viên chức thì có tới 34 người làm lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh có 29 CBCC thì có tới 25 người làm lãnh đạo Theo báo cáo của Ủy ban giám sát của Quốc hội, ở nước ta hiện nay
cứ 5 CBCC thì có 1 lãnh đạo cấp phó (cả nước hiện có 52 nghìn lãnh đạo cấp phó
từ phó phòng đến thứ trưởng) Tình trạng phong “hàm” diễn ra rất phổ biến: hàm
vụ trưởng, hàm vụ phó, hàm trưởng phòng, hàm phó trưởng phòng
- Đội ngũ CBCC vẫn tiếp tục tăng Số lượng CBCC trong một Bộ hiện nay ở nước ta đều trên dưới 1.000 người Tổng số CBCCVC hiện nay ở nước ta lên đến 2,8 triệu người: CBCC trong các các cơ quan NN là 650 nghìn; CBCC cấp xã 450 nghìn, viên chức 1,8 triệu
- Vẫn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ (giữa Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên - Môi trường về quản lý và khai thác khoáng sản; giữa Bộ NN&PTNN và Bộ Tài nguyên - Môi trường về quản
lý đất đai, tài nguyên nước; giữa Bộ y tế và Bộ NN&PTNN trong quản lý NN
về vệ sinh, an toàn thực phẩm )
- Bộ máy CQĐP thiếu ổn định, thường xuyên thay đổi Thiếu quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính các cấp Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, có lẽ Việt Nam là quốc gia có tình trạng biến động về đơn vị hành chính nhiều và liên tục nhiều nhất trên thế giới trong mấy chục năm vừa qua Trong 20 năm qua số đơn vị hành chính cấp tỉnh đã tăng thêm 19, tăng 178 đơn vị cấp huyện, 1.136 đơn vị cấp xã Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý của các cấp
Trang 10CQĐP Các nước trên thế giới đều rất ít biến động về số lượng các đơn vị hành chính các cấp
Quốc hội vừa quyết định tới đây sẽ sát nhập hơn 700 xã không có đủ quy
mô về diện tích và dân số theo quy định
S thay ực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đổi về số lượng đơn vị hành chính các cấp ở Việt Nam ề số lượng đơn vị hành chính các cấp ở Việt Nam ố lượng đơn vị hành chính các cấp ở Việt Nam ượng đơn vị hành chính các cấp ở Việt Nami v s l ng đơ chế một cửa, một cửa liên thôngn v h nh chính các c p Vi t Namị hành chính các cấp ở Việt Nam ành chính các cấp ở Việt Nam ấp ở Việt Nam ở Việt Nam ện cơ chế một cửa, một cửa liên thông
Nguồn: Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ
- Về phân cấp quản lý: Việc phân cấp quản lý thực hiện chưa đồng bộ, mới chỉ phân cấp nhiệm vụ chứ chưa gắn phân cấp nhiệm vụ cùng với phân cấp quyền lực, phân cấp ngân sách, phân cấp quản lý nhân sự Việc phân cấp chưa phù hợp với tình hình ở địa phương, chưa tương xứng với năng lực của chính quyền cấp dưới Phân cấp trong những năm vừa qua chủ yếu thực hiện ở hình thức phân quyền, không có sự kiểm tra, giám sát để kịp thời đưa ra những điều chỉnh hợp lý (Phân cấp có 3 hình thức: tản quyền, uỷ quyền, phân quyền)
- Công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, Chính phủ chưa xây dựng cơ cấu CBCC trong các cơ quan HCNN, chưa thực hiện tốt việc ĐTBD trước khi bổ nhiệm, chưa có cơ chế quy định trách nhiệm của người đứng đầu, chưa đánh giá được chất lượng đội ngũ CBCC sau đào tạo, công tác cải cách tiền lương triển khai quá chậm Công tác tuyển dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, đề bạt CBCC chậm thay đổi Môi trường làm việc kém hấp dẫn nên không thu hút được những người giỏi vào làm việc ở các cơ quan HCNN Nội dung ĐTBD cán bộ, công chức còn nhiều trùng lắp, không thiết thực Chất lượng đội ngũ CBCC chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong cơ chế mới Một bộ phận CBCC suy thoái phẩm chất đạo đức, hách dịch, cửa quyền, lãng phí, tham nhũng, thiếu ý thức, trách nhiệm, vô cảm trước yêu cầu