Việc khảo sát chiều kích giới trong các quyển sách giáo khoa là một điều cần thiết, vì sách giáo khoa là một phương tiện học tập cĩ khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu đậm tới nhân sinh qu
Trang 1KHẢO SÁT CHIỀU KÍCH GIỚI TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TRẦN HỮU QUANG
TĨM TẮT
Khảo sát chiều kích giới trong sách giáo
khoa là một điều cần thiết, vì sách giáo
khoa là một phương tiện học tập cĩ khả
năng ảnh hưởng sâu đậm tới nhân sinh
quan của học sinh Bài này trình bày
những kết quả chính của một cơng trình
phân tích nội dung sách giáo khoa của sáu
mơn học chính từ lớp 1 tới lớp 12 trong nền
giáo dục phổ thơng ở Việt Nam hiện nay
Trong hai thập niên qua, đã cĩ khơng ít
cơng trình khảo sát và nghiên cứu về
những vấn đề liên quan tới khía cạnh giới
và quan hệ giới ở Việt Nam Tuy nhiên,
cho đến nay vẫn chưa xuất hiện cơng trình
nào khảo sát một cách cĩ hệ thống về
chiều kích giới trong sách giáo khoa của
hệ thống giáo dục phổ thơng, từ bậc tiểu
học tới hết bậc trung học Việc khảo sát
chiều kích giới trong các quyển sách giáo
khoa là một điều cần thiết, vì sách giáo
khoa là một phương tiện học tập cĩ khả
năng ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu đậm tới
nhân sinh quan của học sinh, cũng như tới
quan niệm và hình ảnh về mối quan hệ
giới của cả học sinh lẫn giáo viên trong quá trình chuẩn bị hành trang cho thế hệ trẻ tuổi bước vào đời sống xã hội
Một đề tài nghiên cứu về chủ đề này đã được tiến hành trong năm 2010 dưới sự bảo trợ của Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
và Quỹ Rosa Luxemburg Stiftung (Cộng
mang tính chất thăm dị, nhằm vào những mục tiêu sau đây: (a) nhận diện chiều kích giới trong sách giáo khoa giáo dục phổ thơng thơng qua cơ cấu giới của các nhân vật xuất hiện trong sách giáo khoa và đặc điểm của từng giới xét theo vai trị và nghề nghiệp của các nhân vật; (b) nhận diện những định kiến về giới cĩ thể cĩ dưới những hình thức khác nhau; và (c) dựa trên kết quả khảo sát, đi đến một số kiến nghị nhằm cải thiện quá trình soạn thảo sách giáo khoa xét trên bình diện quan điểm giới
Hầu hết các nhà khoa học xã hội cũng như các nhà hoạt động xã hội ngày nay đều cho rằng sự phân biệt giữa đàn ơng và phụ
nữ khơng phải là một hiện tượng “tự nhiên” hay “đương nhiên”, mà thực ra là một “sự
kiến tạo của xã hội” (social construct) Nếu thuật ngữ phái tính hoặc giới tính (sex)
được dùng để chỉ sự khác biệt sinh học
KINH TẾ HỌC- XÃ HỘI HỌC
Trần Hữu Quang Phĩ Giáo sư, tiến sĩ Trung
tâm Thơng tin Viện Phát triển Bền vững vùng
Nam Bộ
Trang 2giữa nam giới và nữ giới (male and female),
thì thuật ngữ “giới” (gender) có liên quan tới
lĩnh vực văn hóa và tới sự phân chia mang
tính xã hội đối với đàn ông/con trai và đàn
bà/con gái (masculine and feminine)
(Brugeilles et al., 2009, tr 27)
Cho đến gần đây, một số cuộc khảo sát ở
các nước về chiều kích giới trong sách
giáo khoa thường được tiến hành theo lối
tiếp cận sau đây: xuất phát từ một số
phạm trù như “vai trò truyền thống/phi
truyền thống” hay “vai trò cao/thấp” của
nam giới và nữ giới trong xã hội cũng như
trong gia đình để dùng làm khung phân
tích hoặc thước đo khảo sát Tuy nhiên,
cách làm này thường gặp phải ít nhất hai
khó khăn: một là quả thực khó mà định
nghĩa được thế nào là lý tưởng bình đẳng
giới, cũng như khó mà xác định được hết
những hình thức định kiến hoặc phân biệt
đối xử; hai là khó mà ghi nhận được
những dạng khuyết (chẳng hạn không nói
tới, không có thông tinz) vốn vẫn có thể
dẫn tới tình trạng định kiến và phân biệt
đối xử về giới Vả lại, cách tiếp cận này
thường bị coi là dễ rơi vào chỗ chủ quan
và không thực sự nghiêm cẩn trong việc
chứng minh các định kiến (Brugeilles et al.,
2009, tr 14, 28-29)
Do đó, chúng tôi đã chọn một lối tiếp cận
mới do tổ chức Mạng lưới thế giới nghiên
cứu về hình ảnh giới trong sách giáo
phương pháp định lượng để khảo sát về
danh vị (identity) của từng giới và về các
vai trò của hai giới nam và nữ trong xã hội
Phương pháp này dựa trên hai nguyên tắc
chính: (a) các hình ảnh giới đều được trình
bày thông qua các nhân vật xuất hiện trong
sách giáo khoa, và chính là thông qua các
hình ảnh này mà sự bình đẳng giới cần được cổ xúy và đề cao; (b) việc đưa một nhân vật nào đó vào trong một quyển sách giáo khoa sẽ góp phần vào việc phát triển các hình ảnh về giới (Dẫn lại theo: Brugeilles et al., 2009, tr 29)
Đề tài này đã thực hiện hai tuyến khảo sát: phân tích nội dung các quyển sách giáo khoa; và khảo sát điền dã tại ba trường ở quận 4 (TPHCM) và ba trường ở huyện Châu Thành (tỉnh Sóc Trăng) (trong đó có
dự giờ và khảo sát một số giáo viên và học sinh) Bài này chủ yếu trình bày một số kết quả chính của tuyến khảo sát về nội dung sách giáo khoa
PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
Để khảo sát chiều kích giới, chúng tôi áp dụng phương pháp phân tích nội dung
(content analysis) đối với các quyển sách
giáo khoa của sáu môn học chính ở cả ba cấp học (tiểu học, trung học cơ sở, và trung học phổ thông; kể từ đây trở đi, chúng tôi sẽ gọi là cấp 1, cấp 2, và cấp 3 cho ngắn gọn) Cụ thể các quyển sách thuộc sáu môn học như sau
1) Tiếng Việt, ngữ văn: Tiếng Việt từ lớp 1
tới lớp 5, Ngữ văn từ lớp 6 tới lớp 12
2) Toán: Toán từ lớp 1 tới lớp 9, Hình học
từ lớp 10 tới lớp 12, Đại số lớp 10, Đại số
và giải tích lớp 11, Giải tích lớp 12
3) Đạo đức, giáo dục công dân: Đạo đức
từ lớp 1 tới lớp 5, Giáo dục công dân từ lớp 6 tới lớp 12
4) Khoa học: Tự nhiên và xã hội từ lớp 1
tới lớp 3, Khoa học từ lớp 4 tới lớp 5
5) Lịch sử, địa lý: Lịch sử và địa lý từ lớp 4
tới lớp 5, Lịch sử từ lớp 6 tới lớp 12
6) Anh văn: từ lớp 6 tới lớp 12
Trang 3Phương pháp phân tích nội dung được áp
Thao tác kỹ thuật của việc phân tích nội
dung thoạt tiên được tiến hành bằng cách
liệt kê và mã hóa tất cả các nhân vật xuất
hiện trong văn bản cũng như trong hình
ảnh, phân theo giới và theo lứa tuổi, sau
đó phân loại các nhân vật theo vai trò trong
gia đình hoặc trong xã hội, nghề nghiệp,
hoạt động và không gian hoạt động, rồi xử
lý thống kê các dữ kiện ấy theo một số
phân tổ cần thiết
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã phân
tích tổng cộng 76 quyển sách giáo khoa
của sáu môn học từ lớp 1 tới lớp 12, với
tổng cộng 11.194 trang (ghi chú: sách giáo
khoa của một số môn có hai tập)
Bình quân mỗi quyển có 147 trang, 34 bài
học, và 96 hình ảnh Cấp 1 có bình quân
176 hình/quyển, cấp 2 có 62 hình, và cấp 3
có 38 hình: điều dễ hiểu là cấp 1 có nhiều
hình ảnh nhất vì đây là cấp học của lứa
tuổi từ 6 tới 10 tuổi, và càng lên cấp cao
hơn thì số hình ảnh càng giảm
Trong tổng số các hình ảnh, 59% hình ảnh
có con người, còn lại là hình phong cảnh,
đồ vật hoặc thú vật Trong đó, 74% là hình
vẽ, và 26% là hình chụp
SỐ LƯỢNG NHÂN VẬT
Trong 76 quyển sách giáo khoa được phân
tích, có tổng cộng 8.276 nhân vật trong nội
dung văn bản và 7.987 nhân vật trong các
hình ảnh, tức mỗi quyển có trung bình 109
nhân vật trong văn bản và 105 nhân vật
trong hình ảnh
Trong văn bản, càng lên cấp học cao hơn
thì số lượng nhân vật càng tăng (cấp 1 có
bình quân 76 nhân vật/quyển, cấp 2 có
106, và cấp 3 có 154) Còn trong hình ảnh
thì ngược lại, càng lên lớp cao, số nhân vật càng ít đi (cấp 1 có bình quân 201 nhân vật/quyển, cấp 2 có 62, và cấp 3 có 39) Xét theo môn học trong cả ba cấp học, tùy theo từng môn mà có số nhân vật nhiều hay ít Nhiều nhất là môn Anh văn (trong văn bản có bình quân 143 nhân vật/quyển,
và trong hình ảnh có bình quân 245 nhân vật/quyển), kế đó là môn tiếng Việt và ngữ văn (hai con số tương ứng là 201 và 127), khoa học ở cấp tiểu học (3 và 271), lịch sử
và địa lý (167 và 53), đạo đức và giáo dục công dân (50 và 71), và có số lượng nhân vật ít nhất là sách giáo khoa toán học (18
và 28)
XU HƯỚNG THIÊN LỆCH VỀ SỐ LƯỢNG NAM NHÂN VẬT
Nhìn chung, các nhân vật nam giới xuất hiện nhiều hơn hẳn so với nữ giới, nhất là trong văn bản Phần lớn các nhân vật trong văn bản đều là nam giới, chiếm 69%,
nữ giới chỉ đạt 24%, còn lại 7% là trung tính (thí dụ những từ như đứa trẻ, học sinh, giáo viên, phụ huynh, nông dân, công nhânz) hoặc không rõ (thí dụ một số tên riêng có thể đặt cho cả nam lẫn nữ như Minh, Thanhz) Trong các hình ảnh, sự chênh lệch nam/nữ có phần nhẹ hơn: nam chiếm 58%, nữ 41%, và trung tính hoặc không rõ giới tính chỉ có 0,6% (xem Biểu
đồ 1)
Như vậy, sự vắng mặt của nữ giới trong văn bản xảy ra mạnh hơn so với trong hình
ảnh Nói cách khác, sự vắng mặt của nữ
giới có thể nói đã bị che khuất, bị ẩn giấu,
bởi lẽ trước con mắt độc giả, sự vắng mặt này trong văn bản chữ viết khó nhận thấy hơn so với hình ảnh vốn là nơi dễ đập vào mắt khi người ta mở trang sách ra – và
Trang 4điều này hẳn nhiên không dễ được phát
giác nếu chúng ta không tiến hành phương
pháp thống kê nhân vật một cách có hệ
thống
Mức độ chênh lệch số lượng về giới tính
có xu hướng gia tăng theo cấp học, và
nặng nhất nơi cấp 3 Trong văn bản, số
nhân vật nam xuất hiện từ tỷ lệ 51% nơi
cấp 1, 67% nơi cấp 2, và lên tới 81% nơi
cấp 3 Còn trong hình ảnh, số nhân vật
nam từ tỷ lệ 56% nơi cấp 1, 57% nơi cấp
2, và 71% nơi cấp 3
Như vậy, trong văn bản, tỷ suất chênh lệch
nam/nữ (= tỷ lệ nam - tỷ lệ nữ) từ con số
20 đểm % nơi cấp 1 (nam đông hơn nữ
gấp 1,6 lần), 39 đểm % nơi cấp 2 (gấp 2,4
lần) lên tới 66 đểm % nơi cấp 3 (gấp 5,3
lần) Còn trong hình ảnh, tỷ suất chênh
lệch nam/nữ từ mức tương đối nhẹ là 13
đểm % nơi cấp 1 (nam đông hơn nữ gấp 1,3 lần), 1 đểm 5% nơi cấp 2 (gấp 1,3 lần), tăng lên tới 43 đểm % nơi cấp 3 (gấp 2,5 lần)
Tuy nhiên, xu hướng gia tăng độ chênh lệch về số lượng nam/nữ không diễn ra một cách đều đặn theo đường tuyến tính
từ lớp nhỏ tới lớp lớn, mà có lúc tăng lúc giảm ở một số lớp Chẳng hạn, trong văn bản, tỷ suất chênh lệch nam/nữ từ con số
âm trong các quyển sách giáo khoa lớp 1
và lớp 2 (-15 đểm % và -3 đểm %) rồi lên tới 54 đểm % nơi lớp 5, nhưng sau đó giảm dần còn 36 đểm % nơi lớp 9, rồi lại tăng lên khoảng 60-70 đểm % nơi các lớp 10-12 Điều này có nghĩa là cách chọn lựa
và trình bày các nhân vật trong sách giáo khoa phụ thuộc phần lớn vào quan điểm
Biểu đồ 1 Giới tính của các nhân vật trong
văn bản và hình ảnh, phân theo cấp học
(Đơn vị tính: %)
43.3
31.2
56.3
51.4
42.2
28.4
56.9 67.2
28.1
15.3
71.5 81.3
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ
thông
Nữ trong hình ảnh
Nữ trong văn bản Nam trong hình ảnh Nam trong văn bản
Ghi chú: Các tỷ lệ của nam và nữ được tính trên
tổng số nhân vật tương ứng trong hình ảnh và
trong văn bản các quyển sách giáo khoa của
từng cấp học Các con số tỷ lệ của những nhân
vật trung tính hoặc không rõ giới tính không được
đưa vào trong biểu đồ này
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối
cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
Biểu đồ 2 Giới tính của các nhân vật trong văn bản và hình ảnh, phân theo môn học (Đơn vị tính: %)
39.3
23.1
60.3 67.7
31.8 31.5
65.7 58.6 44.8
29.2
55.258.4 47.8
57.1 51.7 42.9
20.8
3.5
78.6 96.2
47.7 52.7 51.9 43.2
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Tiếng Việt Toán Đạo đức Khoa học Sử địa Anh văn
Nữ trong hình ảnh
Nữ trong văn bản Nam trong hình ảnh Nam trong văn bản
Ghi chú: Các tỷ lệ của nam và nữ được tính trên
tổng số nhân vật tương ứng trong hình ảnh và trong văn bản các quyển sách giáo khoa của từng môn Các con số tỷ lệ của những nhân vật trung tính hoặc không rõ giới tính không được đưa vào trong biểu đồ này
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010.
Trang 5của từng nhóm tác giả khác nhau của các
quyển sách
Cơ cấu giới tính của các nhân vật trong
các quyển sách giáo khoa cũng hết sức
khác biệt giữa các môn học Tỷ suất chênh
lệch nam/nữ xuất hiện nặng nề nhất nơi
sách giáo khoa lịch sử và địa lý, trong đó
chủ yếu là sách lịch sử, với mức chênh
lệch là 93 đểm % trong văn bản và 58 đểm
% trong hình ảnh Kế đó là môn tiếng Việt
và ngữ văn với mức chênh lệch 45 đểm %
trong văn bản và 21 đểm % trong hình
ảnh Tỷ suất chênh lệch xảy ra tương đối
thấp hơn nơi môn toán và môn đạo đức,
giáo dục công dân Mức chênh lệch thấp
nhất là nơi môn khoa học và môn Anh văn,
với các con số tương ứng trong nội dung
văn bản là -14 đểm % và -9 đểm % (xem
Biểu đồ 2)
GIỚI TÍNH CỦA CÁC NHÂN VẬT PHÂN
THEO LỨA TUỔI
Việc phân tích các nhân vật theo lứa tuổi
cũng bộc lộ những xu hướng có ý nghĩa Ở
đây, chúng tôi chỉ phân biệt hai nhóm tuổi
của từng giới như sau: bé gái (dưới 18
tuổi), phụ nữ (từ 18 tuổi trở lên), bé trai
(dưới 18 tuổi), đàn ông (từ 18 tuổi trở lên)
Kết quả phân tích cho thấy rằng cả trong
văn bản lẫn trong hình ảnh, càng lên lớp
trên, số nhân vật bé gái và bé trai đều
giảm đi rõ rệt Nói cách khác, càng lên bậc
học cao hơn, các cô cậu học sinh càng
được giới thiệu những bức tranh tiến gần
hơn đến thế giới người lớn Tuy nhiên,
những bức tranh của thế giới người lớn
này lại tỏ ra mất cân đối về cơ cấu giới
tính: tỷ lệ phụ nữ chỉ tăng một cách yếu ớt
trong các hình ảnh (từ 16% ở sách giáo
khoa cấp 1 lên 19% nơi cấp 3), và thậm
chí còn giảm trong văn bản (từ 21% nơi cấp 1 giảm còn 13% nơi cấp 3) Trong khi
đó, tỷ lệ đàn ông tăng lên đều đặn và mạnh mẽ cả trong hình ảnh (từ 22% nơi cấp 1 lên tới 60% nơi cấp 3) lẫn trong văn bản (từ 40% nơi cấp 1 lên tới 79% nơi cấp 3)
Biểu đồ 3 phân tổ chi tiết theo từng lớp cho thấy tỷ lệ của cả phụ nữ lẫn bé gái đều giảm đi tương đối đều đặn từ lớp 1 tới lớp
12 Ngược lại, riêng tỷ lệ đàn ông (từ 18 tuổi trở lên) thì liên tục tăng để cuối cùng chiếm tỷ lệ áp đảo nơi sách giáo khoa của
ba lớp ở cấp 3 (xem Biểu đồ 3)
Việc phân tích các nhân vật trong sách giáo khoa phân tổ theo môn học cho thấy sách giáo khoa của phần lớn các môn
cũng đều trình bày một thế giới chủ yếu
Biểu đồ 3 Giới tính của các nhân vật trong văn bản, phân theo lứa tuổi và theo cấp học (Đơn vị tính: %)
Lớp 0
10 20 30 40 50 60 70 80
Phụ nữ
Bé gái Đàn ông
Bé trai
Ghi chú: Các tỷ lệ của phụ nữ, bé gái, đàn ông và
bé trai được tính trên tổng số nhân vật xuất hiện trong nội dung văn bản các quyển sách giáo khoa của từng lớp Các con số tỷ lệ của những nhân vật trung tính hoặc không rõ giới tính không được đưa vào trong biểu đồ này
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
Trang 6của đàn ông, ngoại trừ môn khoa học và
môn Anh văn: trong môn tiếng Việt và ngữ
văn, đàn ông chiếm 62% (so với phụ nữ
19%), còn trong môn lịch sử và địa lý thì
đàn ông chiếm tuyệt đại đa số, 95% (phụ
nữ chỉ có 4%) (xem Biểu đồ 4)
Biểu đồ 4 Giới tính của các nhân vật trong
văn bản, phân theo lứa tuổi và theo môn học
(Đơn vị tính: %)
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Tiếng Việt Toán Ðạo đức Khoa học Sử địa Anh văn
Phụ nữ
Bé gái Ðàn ông
Bé trai
Ghi chú: Các tỷ lệ của phụ nữ, bé gái, đàn ông và
bé trai được tính trên tổng số nhân vật xuất hiện
trong nội dung văn bản các quyển sách giáo khoa
của từng môn học Các con số tỷ lệ của những
nhân vật trung tính hoặc không rõ giới tính không
được đưa vào trong biểu đồ này
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối
cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ NHÂN VẬT
ĐƯƠNG ĐẠI
Trong tổng số 8.276 nhân vật trong văn
bản của 76 quyển sách giáo khoa được
phân tích, có 3.252 nhân vật lịch sử (chiếm
39%) và 583 nhân vật đương đại (7%),
trong đó đa số đều là những nhân vật nổi
tiếng, và bên cạnh phần lớn là những nhân
vật chính diện (anh hùng, danh nhânz) thì
cũng có một số nhân vật phản diện (chẳng
hạn kẻ xâm lược, kẻ tội phạmz)
Người Việt Nam chiếm 64% nhân vật lịch
sử và 83% nhân vật đương đại, còn người ngoại quốc thì ít hơn, chiếm 36% nhân vật lịch sử và 17% nhân vật đương đại
Tỷ lệ nhân vật lịch sử trong sách giáo khoa gia tăng theo cấp học: 21% trong tổng số nhân vật nơi cấp 1, 35% nơi cấp 2, và 55% nơi cấp 3 Con số nhân vật đương đại tuy
ít hơn nhưng cũng xuất hiện theo chiều hướng tương tự: 3% trong tổng số nhân vật nơi cấp 1, 5% nơi cấp 2, và 12% nơi cấp 3
Nhân vật lịch sử chiếm tỷ lệ tới 96% (cao nhất) trong sách giáo khoa lịch sử và địa lý (ở đây bao gồm chủ yếu là sách lịch sử), 32% nơi môn tiếng Việt và ngữ văn, 32% nơi sách toán, 19% nơi môn đạo đức và giáo dục công dân, và chỉ có 2% nơi môn Anh văn
Phân tổ theo lĩnh vực hoạt động, chúng ta thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nhân vật lịch sử và nhân vật đương đại Trong số các nhân vật lịch sử, có 41% hoạt động trong lĩnh vực chính trị, 29% trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục, 20% trong lĩnh vực quân sự, 7% trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, và chỉ có 0,6% trong lĩnh vực kinh tế Nhưng trong số các nhân vật đương đại, chiếm đông nhất là những nhân vật văn hóa và giáo dục, 73%, còn ở các lĩnh vực khác thì đều khá ít ỏi: chính trị 5%, quân
sự 0,9%, khoa học kỹ thuật 3%, kinh tế 2% Trong thời đại thường được chú trọng
là “hội nhập” như hiện nay mà con số nhân vật nổi tiếng trong các ngành khoa học kỹ thuật cũng như kinh tế xuất hiện còn quá ít
ỏi trong sách giáo khoa có lẽ cũng là một điều đáng suy nghĩ và cần xem lại
Đáng chú ý là nam giới chiếm tới 95% các nhân vật lịch sử và 88% các nhân vật
Trang 7đương đại, còn nữ giới chỉ chiếm 5% các
nhân vật lịch sử và 11% các nhân vật
đương đại Điều này có nghĩa là giới “nam
nhi” coi như thống lĩnh tuyệt đại đa số
trong số các nhân vật nổi tiếng đáng chú ý
trong sách giáo khoa hiện nay
HÌNH ẢNH ĐÁM ĐÔNG: CŨNG THIÊN VỊ
GIỚI
Nếu phân tích riêng hiện tượng đám đông
xuất hiện trong các hình ảnh trong sách
giáo khoa, chúng ta cũng thấy khá rõ xu
hướng thiên lệch về phía nam giới
Trong tổng số 7.286 hình ảnh của 76
quyển sách giáo khoa, có 837 hình ảnh có
đám đông (tức khoảng 7-10 người trở lên,
vẽ nhỏ hơn, thường là bên cạnh hoặc
đằng sau một vài nhân vật chính trong
hình ảnh) Trong số đám đông này, 23%
bao gồm phần lớn là nam giới, chỉ có 6%
bao gồm phần lớn là nữ giới, và 66% có tỷ
lệ nam và nữ tương đối cân bằng (và 5%
không rõ) Hình ảnh đám đông tương đối
cân bằng giới chiếm tỷ lệ nhiều nhất (trong
số các hình ảnh có đám đông) nơi sách
giáo khoa cấp 1 (75%), và đồng thời
ngược lại, nơi sách giáo khoa cấp 2 và cấp
3 thì có tỷ lệ đám đông thiên về nam giới
nhiều hơn (39% và 30%)
Phân loại sách giáo khoa theo môn học,
chúng ta có thể thấy các môn khoa học,
toán, đạo đức và giáo dục công dân có
hầu hết hình ảnh đám đông theo hướng
cân bằng giới, còn môn tiếng Việt, ngữ văn
và nhất là môn sử thì trình bày hình ảnh
đám đông thiên lệch về nam giới nhiều
hơn
VAI TRÒ TRONG GIA ĐÌNH
Khảo sát các vai trò mà các nhân vật đảm
nhiệm trong định chế gia đình cũng là một
hướng phân tích mang nhiều hứa hẹn trong việc nhận diện chiều kích giới trong
sách giáo khoa
Trong nội dung văn bản, chúng tôi đã tìm thấy 434 nhân vật xuất hiện trong vai trò người cha hoặc người mẹ, trong đó cha chiếm 34% (149 nhân vật) và mẹ 66% (285 nhân vật) Còn trong hình ảnh, có 337 nhân vật là cha hoặc mẹ, trong đó cha chiếm 31% (103 nhân vật) và mẹ 69% (234 nhân vật)
Như vậy, vai trò người mẹ xuất hiện với tần suất tương đối nhiều hơn so với vai trò người cha, cả trong văn bản lẫn trong hình ảnh Ở cả ba cấp học, vai trò người mẹ đều đông hơn so với vai trò người cha, nhưng tỷ lệ này đặc biệt chiếm vị trí áp đảo trong sách giáo khoa cấp 1 và cấp 2, tức dành cho học sinh lứa tuổi 6-14 (xem Biểu
đồ 5)
Biểu đồ 5 Vai trò làm mẹ và làm cha của các nhân vật trong văn bản và hình ảnh của sách giáo khoa phân theo cấp học
(Đơn vị tính: %)
70 67
30 33
71 64
30 36 53 65
47 35
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Vai mẹ trong hình ảnh Vai mẹ trong văn bản Vai cha trong hình ảnh Vai cha trong văn bản
Ghi chú: Các tỷ lệ của người mẹ và người cha
được tính trên tổng số nhân vật xuất hiện với tư cách là cha hoặc mẹ trong văn bản và trong hình ảnh của từng cấp học
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
Trang 8Hai vai trò vợ và chồng xuất hiện ít hơn
nhiều so với hai vai trò cha và mẹ Trong
nội dung, có 86 nhân vật xuất hiện trong
vai trò vợ hoặc chồng, trong đó vợ chiếm
66% (57 nhân vật) và chồng 34% (29 nhân
vật) Còn trong hình ảnh, có 33 nhân vật là
vợ hoặc chồng, trong đó vợ chiếm 67%
(22 nhân vật) và chồng 33% (11 nhân vật)
Ngoài ra, trong hình ảnh, có 56 nhân vật
xuất hiện trong vai trò ông bà nội/ngoại,
trong đó ông nội/ngoại chiếm 20% (11
nhân vật) và bà nội/ngoại 80% (45 nhân
vật)
Biểu đồ 6 và Biểu đồ 7 cho thấy càng lên
cấp học cao hơn, tỷ lệ người phụ nữ trong
tư cách làm vợ và làm bà nội hay bà ngoại
càng cao so với tỷ lệ người chồng và tỷ lệ
ông nội hay ông ngoại
Những con số vừa nêu đã bộc lộ một tình
hình trái ngược với xu hướng mà chúng tôi
đã nhận diện ở những mục trên Nếu nam giới hầu như luôn luôn xuất hiện với số lượng vượt xa so với nữ giới trong sách giáo khoa phần lớn các môn, trong văn bản cũng như trong hình ảnh, thì ở đây, ngược lại, xét về mặt vai trò trong không gian gia đình, nữ giới lại chiếm tỷ lệ đông hơn so với nam giới, kể cả trên phương diện cha mẹ, vợ chồng, hay ông bà nội,
ông bà ngoại Nói cách khác, thế giới của
người phụ nữ được trình bày trong sách
giáo khoa chủ yếu là thế giới gia đình (xem
Biểu đồ 6, 7)
CƠ CẤU GIỚI TRONG CÁC NHÂN VẬT ĐỜI THƯỜNG
Ngoài những nhân vật “nổi tiếng” trong lịch
sử hoặc đương đại, chúng ta cũng cần
quan tâm tới những nhân vật đời thường,
để xem loại nhân vật này được mô tả và trình bày như thế nào trong sách giáo khoa xét về mặt giới Đây là những nhân vật
Biểu đồ 6 Vai trò làm vợ và làm chồng của
các nhân vật trong văn bản và hình ảnh của
sách giáo khoa phân theo cấp học (Đơn vị
tính: %)
63 62
37 38
67 70
33 30
80 66
20 34
0
10
20
30
40
50
60
70
80
V ai vợ t r ong hình ảnh
V ai vợ t r ong văn bản
V ai chồng t r ong hình ảnh
V ai chồng t r ong văn bản
Ghi chú: Các tỷ lệ của người vợ và người chồng
được tính trên tổng số nhân vật xuất hiện với tư
cách là vợ hoặc chồng trong văn bản và trong
hình ảnh của từng cấp học
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong
bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
Biểu đồ 7 Vai trò ông bà nội/ngoại của các nhân vật trong hình ảnh của sách giáo khoa phân theo cấp học (Đơn vị tính: %)
76
24 87
13 100
0 0
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3
Bà nội/ngoại Ông nội/ngoại
Ghi chú: Các tỷ lệ của ông nội/ngoại và bà
nội/ngoại được tính trên tổng số nhân vật xuất hiện với tư cách là ông bà nội/ngoại trong hình ảnh của từng cấp học
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự
án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010.
Trang 9Bảng 1 Giới tính của các nhân vật đời thường trong văn bản sách giáo khoa của ba môn học (toán, đạo đức và giáo dục công dân, và Anh văn), phân theo cấp học (%)
Nam Nữ Không rõ Tổng cộng Chênh lệch tỷ lệ nam/nữ*
(điểm phần trăm)
(N=687) (N=768) (N=115) (N=1.570)
Hệ số V của Cramer = 0,100 (ngưỡng ý nghĩa thống kê: 0,000)
Ghi chú: * Mức độ chênh lệch tỷ lệ nam/nữ = tỷ lệ nam - tỷ lệ nữ
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
bình thường trong cuộc sống hàng ngày
được đưa ra để minh họa hoặc làm thí dụ
trong các bài học hay bài tập, thường chỉ
có tên gọi chứ không có tên họ (như thầy
Hùng, cô Lan, bác Tám, em Ngaz) hay
thậm chí không có tên (như cô giáo, ông
nông dân, bác tiều phu, cô y tá, em béz)
Để phân tích loại nhân vật này, chúng tôi
đã chọn riêng sách giáo khoa của ba môn
là toán, đạo đức và giáo dục công dân, và
Anh văn, bởi lẽ ba môn này không có nhiều
nhân vật lịch sử và nhân vật đương đại
Trong tổng số 38 quyển sách giáo khoa
của ba môn này thuộc cả ba cấp học, kết
quả mã hóa trong nội dung văn bản (tức
không kể các hình ảnh) cho biết số nhân
vật đời thường chiếm 81% (1.570 trong
tổng số 1.944 nhân vật xuất hiện trong các
quyển sách này) Tỷ lệ này là 66% nơi
môn toán, 71% nơi môn đạo đức và giáo
dục công dân, và 91% nơi môn Anh văn
Phần lớn các nhân vật đời thường đều còn
trẻ: 63% thuộc lứa dưới 18 tuổi, 34% là
giới thành niên từ 18 tuổi trở lên (và 3%
không rõ tuổi tác)
Điểm nổi bật cần ghi nhận nơi các nhân vật đời thường ở đây là tỷ lệ nữ giới cao hơn so với nam giới: nữ 49%, nam 44%,
và 7% trung tính hoặc không rõ Nữ đông hơn nam (tỷ suất chênh lệch nam/nữ mang con số âm) nơi cấp 1 và cấp 2, cũng như nơi môn toán và môn Anh văn (xem Bảng
1 và 2)
Nếu chỉ tính lứa tuổi đã thành niên và không kể học sinh và sinh viên, thì kết quả thống kê cho biết 80% nam giới có một nghề nghiệp nào đó, trong khi tỷ lệ này nơi
nữ giới chỉ đạt 66% Kết quả phân tổ theo nghề nghiệp cho biết như sau Nữ có nghề lao động trí óc cao hơn nam (36% so với 22%), nhưng trong đó 81% là cô giáo Nữ giới có hai nghề chiếm tỷ lệ cao nhất là giáo viên (29%) và nhân viên văn phòng hoặc công ty (14%), trong khi đó, nam giới
có nhiều nghề đa dạng hơn, đó là chưa kể
nữ có tới 25% là nội trợ (tỷ lệ này nơi nam
là 0%)
Việc phân tích về không gian hoạt động của những nhân vật đời thường (tuổi thành niên) cho biết phụ nữ xuất hiện nhiều hơn
Trang 10Bảng 2 Giới tính của các nhân vật đời thường trong văn bản sách giáo khoa, phân theo môn học
Nam Nữ Không rõ Tổng cộng Chênh lệch tỷ lệ nam/nữ*
(điểm phần trăm)
(N=687) (N=768) (N=115) (N=1.570)
Hệ số V của Cramer = 0,183 (ngưỡng ý nghĩa thống kê: 0,000)
Ghi chú: * Mức độ chênh lệch tỷ lệ nam/nữ = tỷ lệ nam - tỷ lệ nữ
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
Bảng 3 Không gian hoạt động của các nhân vật đời thường thuộc lứa tuổi thành niên trong văn bản sách giáo khoa của ba môn học (toán, đạo đức và giáo dục công dân, và Anh văn), phân theo giới tính
Hệ số V của Cramer = 0,218 (ngưỡng ý nghĩa thống kê: 0,265)
Ghi chú: Hệ số V của Cramer ở đây không đạt ngưỡng có ý nghĩa thống kê, theo chúng tôi, một phần
do số mẫu ít, và phần khác do nữ giới có tỷ lệ làm giáo viên đông, nên tỷ lệ hoạt động “trong trường” của nữ giới cũng khá cao
Nguồn: Kết quả khảo sát của Hợp phần 2, Dự án nghiên cứu “Vấn đề giới ở Nam Bộ trong bối
cảnh biến đổi xã hội nhanh”, năm 2010
trong không gian gia đình (23% nơi nữ giới
so với 16% nơi nam giới), và ngược lại,
nam giới có xu hướng xuất hiện nhiều hơn
trong không gian công cộng và không gian
lao động, sản xuất (xem Bảng 3)
NHẬN ĐỊNH KẾT LUẬN Kết quả phân tích nội dung sách giáo khoa của nền giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay đã cung cấp những dữ kiện và bằng
chứng cho thấy có những xu hướng thiên