Điều tra được tiến hành trên 863 trại gà thịt và gà đẻ thuộc địa bàn 5 tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu (BRVT) bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn. Điều tra nhằm đánh giá tổng thể thực trạng bệnh ORT, các thiệt hại của bệnh, cũng như ghi nhận các biện pháp phòng trị ORT mà các trại đang áp dụng. Kết quả ghi nhận từ các câu trả lời của trại cho thấy bệnh ORT đang được quan tâm rất nhiều hiện nay, có tới 80,76% biết về bệnh và 64,19% trại đã từng có bệnh. Trong đó, Đồng Nai và Tiền Giang có tỷ lệ bệnh ORT cao nhất. Số trại trả lời bệnh xuất hiện quanh năm là cao nhất (41,4%). Có 34% trại có câu trả lời tỉ lệ bệnh lên tới 100% gà trong đàn. Khi bệnh xảy ra, cần mất nhiều thời gian để điều trị: thời gian điều trị trên 7 ngày chiếm 40%, từ 37 ngày chiếm 45%. Chi phí điều trị dao động từ 1.307 4.071 đồnggà tùy vào lứa tuổi của gà và trung bình để điều trị cho 1 gà là 2.460 đồng. Ngoài ra, mặc dù có can thiệp điều trị nhưng vẫn có tỉ lệ chết sau điều trị. Các trại vẫn sử dụng thuốc kháng sinh để phòng và điều trị bệnh ORT là chủ yếu (69,96%) dẫn tới việc dễ dàng đề kháng kháng sinh.
Trang 1KHẢO SÁT TÌNH HÌNH BỆNH, THIỆT HẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH
ORNITHOBACTERIUM RHINOTRACHEALE (ORT) TRÊN GÀ TẠI CÁC TỈNH
PHÍA NAM VIỆT NAM Surveying the disease situation, economic loss, prevention and treatment regimen for
Ornithobacterium rhinotracheale (ort) in chickens in the south of Vietnam
Võ Chí Nhân*, Đinh Thùy Phương Thảo*, Bùi Hữu Dũng, Cao Phước Uyên Trân, Nguyễn Mạnh
Hổ, Quách Tuyết Anh và Lê Thanh Hiền
BM Giống Động Vật, Khoa Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Tp HCM
THÔNG TIN
Từ khóa
Khảo sát ORT
Vắc-xin ORT
Thiệt hại kinh tế
Điều trị ORT
Keywords
Survey ORT
Vaccine ORT
Economic loss
Treatment ORT
Tác giả liên hệ:
Võ Chí Nhân
15112342@st.hcmuaf.e
du.vn
Đinh Thùy Phương
Thảo
17111133@st.hcmuaf.e
du.vn
TÓM TẮT
Điều tra được tiến hành trên 863 trại gà thịt và gà đẻ thuộc địa bàn 5 tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu (BRVT) bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn Điều tra nhằm đánh giá tổng thể thực trạng bệnh ORT, các thiệt hại của bệnh, cũng như ghi nhận các biện pháp phòng trị ORT mà các trại đang áp dụng Kết quả ghi nhận từ các câu trả lời của trại cho thấy bệnh ORT đang được quan tâm rất nhiều hiện nay, có tới 80,76% biết về bệnh và 64,19% trại đã từng có bệnh Trong
đó, Đồng Nai và Tiền Giang có tỷ lệ bệnh ORT cao nhất Số trại trả lời
bệnh xuất hiện quanh năm là cao nhất (41,4%) Có 34% trại có câu trả
lời tỉ lệ bệnh lên tới 100% gà trong đàn Khi bệnh xảy ra, cần mất nhiều thời gian để điều trị: thời gian điều trị trên 7 ngày chiếm 40%,
từ 3-7 ngày chiếm 45% Chi phí điều trị dao động từ 1.307 - 4.071 đồng/gà tùy vào lứa tuổi của gà và trung bình để điều trị cho 1 gà là 2.460 đồng Ngoài ra, mặc dù có can thiệp điều trị nhưng vẫn có tỉ lệ chết sau điều trị Các trại vẫn sử dụng thuốc kháng sinh để phòng và điều trị bệnh ORT là chủ yếu (69,96%) dẫn tới việc dễ dàng đề kháng kháng sinh.
ABSTRACT
The survey was conducted on 863 layer and broiler chicken farms
in 5 provinces including Tien Giang, Long An, Ben Tre, Dong Nai and
Ba Ria Vung Tau (BRVT) by directly interviewing farmers using dedicated questionnaires The aims of the survey were to overall evaluate the current ORT epidemiology and losses caused by this disease, as well as ORT treatment regimens applied Results from the farm's answers showed that currently, ORT disease was known
in 80.76% of the farms and outbreaks were reported in 64.19% of the farms Dong Nai and Tien Giang provinces had particularly high rates of ORT disease The disease outbreaks all year long in 41,4% of the farms and 34%
of farms reported morbidity rate of up to 100% When the disease occurs, it took long time to treat this disease The duration
of treatment ranged from 3-7 days in 45% of the farms
to over 7 days in 40% Treatment costs ranged from VND 1,307 -4,071 per chicken depending on the age of the chickens and the average expense treatment for one chicken was VND 2,460 In addition, despite treatment interventions, birds continued to suffer and die causing heavy loss to the farms In 69.96%
of the farms, preventive treatment still mainly based on antibiotics and thus creating high chance of antibiotic resistant development.
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở các tỉnh phía nam như Tiền Giang,
Long An, Bến Tre, Bà Rịa-Vũng Tàu (BRVT)
và Đồng Nai là nơi có tổng đàn gà lớn nhất của
khu vực miền Nam Các vấn đề dịch bệnh, đặc
biệt là bệnh trên đường hô hấp luôn là vấn đề
nhức nhối trong chăn nuôi gà hiện nay Nguyên
nhân gây bệnh hô hấp trên gia cầm rất đa dạng,
có thể là các tác nhân vi sinh vật như virus, vi
khuẩn, nấm hoặc do vấn đề quản lý trong trại
chăn nuôi Trong đó, vi khuẩn
Ornithobacterium rhinotracheale (ORT) đóng
vai trò quan trọng trong việc gây các hội chứng
phức hợp ở đường hô hấp, tỉ lệ tử vong và thiệt
hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm
thế giới (Umali và cs, 2018)
Cho tới nay ở Việt Nam, chỉ có vài công
trình nghiên cứu về bệnh ORT như Nguyễn Thị
Bích Liên và cs (2014), Nguyễn Thị Lan và
cs., (2016, 2017) và vẫn chưa có nghiên cứu
nào về sự lưu hành của vi khuẩn ORT trên gà ở
các tỉnh miền nam Việt Nam được công bố
chính thức
Trước thực trạng trên, việc khảo sát,
đánh giá về tình hình bệnh, thiệt hại cũng như
khả năng phòng và trị bệnh do vi khuẩn ORT
trên đàn gà là cần thiết Đề tài cũng nhằm xây
dựng cơ sở dữ liệu cho việc phân tích, chẩn
đoán bệnh nhằm phục vụ quá trình phòng và trị
bệnh ORT tốt hơn
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
Các trại gà có quy mô đàn từ 500 con trở
lên tại một số huyện thuộc 5 tỉnh Tiền Giang,
Long An, Bến Tre, Đồng Nai và BRVT được
tiến hành phỏng vấn tại trại bằng bảng câu hỏi
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương
pháp phỏng vấn trực tiếp dựa vào bảng câu hỏi
điều tra được chuẩn bị sẵn để ghi nhận và đánh
giá tình hình bệnh ORT, ghi nhận các tổn thất
do bệnh gây ra và các biện pháp phòng trị ORT
ở 863 trại chăn nuôi gà trên địa bàn 5 tỉnh Tiền
Giang, Long An, Bến Tre, BRVT và Đồng Nai
Phương pháp xử lí số liệu
Sau khi có thông tin từ bảng câu hỏi điều tra, dữ liệu được số hóa sau đó được trích xuất, phân tích xử lý theo phương pháp thống kê mô
tả bằng phần mềm Excel 2010 và phần mềm Minitab 16
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tình hình bệnh ORT ở các địa bàn khảo sát
1.1 Mức độ quan tâm, biết về bệnh ORT Bảng 1 Mức độ quan tâm, biết về bệnh ORT
Qua Bảng 1 cho thấy: tỷ lệ trại được
khảo sát đang quan tâm, biết về ORT chiếm tỷ
lệ rất cao với 697/863 trại (80,76%) Trong khi
đó, chỉ có 19,23% không biết bệnh này Rõ ràng ORT đã và đang là một trong những vấn
đề được quan tâm rất lớn của các trại chăn nuôi
gà tại các khu vực được khảo sát
1.2 Tình hình bệnh ORT tại các tỉnh Bảng 2 Số trại có triệu chứng lâm sàng nghi ORT tại các tỉnh
Số trại Tỷ lệ
Có 554/863 trại chiếm 64,19% trại đã từng xảy ra bệnh ORT Như vậy, ORT đã và đang xảy ra hầu như khá phổ biến trên các địa bàn được khảo sát So sánh tỷ lệ bệnh ORT giữa các tỉnh, cho thấy: có sự khác nhau rõ rệt
về tỷ lệ bệnh ORT giữa 5 tỉnh khảo sát với
P<0,001 Trong đó, Đồng Nai và Tiền Giang
có tỷ lệ bệnh ORT cao nhất, lần lượt là 81,37%
và 66,67%
1.3 Tình hình bệnh ORT theo mùa
Trong số các trại bị bệnh ORT thì có 544 trại có câu trả lời về mùa xảy ra bệnh, trong khi
Trang 3đó có 10 trại không thu thập được câu trả lời rõ
ràng nên các trại này được bỏ qua Kết quả
được thể hiện qua Bảng 3 Ta thấy có sự khác
nhau rõ rệt về khả năng bị ORT giữa các thời
điểm trong năm Bệnh xảy ra quanh năm chiếm
tỷ lệ cao nhất với 41,36% Theo Lopes và cs.,
(2002), ORT thường xảy ra vào mùa đông,
mùa xuân và thời điểm giao mùa trong năm khi
nền nhiệt có sự biến đổi nhiều Tuy nhiên, với
phương thức chăn nuôi gà công nghiệp tập
trung với mật độ cao nhưng chưa đảm bảo
được an toàn sinh học như một số nơi hiện nay
thì bệnh ORT có thể xảy ra bất cứ thời điểm
nào trong năm
Bảng 3 Tình hình bệnh ORT tại các thời
điểm trong năm
Không rõ mùa bị bệnh 130 23,89
2 Thiệt hại do ORT trên các trại khảo sát
2.1Tỷ lệ bệnh
Bệnh <5%; 15.31%
Bệnh 5% - <10%; 6.12%
Bệnh 10% - <15%; 7.14%Bệnh 15% - <20%; 1.02%
Bệnh 20% - <30%; 5.10%
Bệnh 30% - <40%; 7.14%
Bệnh 40% - <60%; 18.37%
Bệnh 60% - < 80%; 4.08%
Bệnh 80% -100%; 35.71%
Biểu đồ 1 Tỉ lệ bệnh ORT ở các trại
Khi được hỏi với câu hỏi mở về tỷ lệ
bệnh khi bị bệnh ORT, thì 34% trong tổng số
98 trại có câu trả lời có tỷ lệ bệnh là 100% gà
trong đàn, tiếp theo sau là tỷ lệ bệnh 50% đàn
chiếm 15% trại có câu trả lời, còn lại là các câu
trả lời khác được thể hiện trên Biểu đồ 1 Qua
đó ta thấy khi đàn bị bệnh ORT thì nguy cơ lây
cho toàn đàn gà là rất cao
2.2 Tỷ lệ chết khi có can thiệp điều trị ORT
Khi có biểu hiện bệnh ORT, các trại đã
tiến hành chẩn đoán và đưa các phương pháp
điều trị Tuy nhiên, vẫn có tỷ lệ chết trong đàn,
được ghi nhận qua Biểu đồ 2 Trong 119 câu
trả lời khi được hỏi câu hỏi mở về tỷ lệ chết khi
bị bệnh ORT thì có 55% câu trả lời là chết dưới 5%, 16% câu trả lời chết từ 5% - 10%, 13% trại có câu trả lời chết trong khoảng 10% -15%
Theo Goovaerts và cs (1998), tỷ lệ chết
do ORT có thể lên tới 20% Còn theo Van Veen và cs (2000), các tổn thương do ORT có thể làm tỷ lệ chết tăng cao tới 50% hoặc cao hơn
chết <5%; 54.62%
chết 5% - <10%;
15.97%
chết 10% - <15%;
13.45%
chết 15% - <20%;
2.52%
chết 20% - <30%;
5.88%
chết 30% - <40%;
3.36%
chết 40% - <60%;
1.68% chết 60% - < 80%; 1.68% chết 80% -100%; 0.84%
Biểu đồ 2 Tỷ lệ gà chết 2.3 Thời gian điều trị bệnh ORT
14.99%
44.97% 23.13%
16.92%
< 3 ngày 3-7 ngày 7-14 ngày Kéo dài (>14 ngày)
Biểu đồ 3 Thời gian điều trị bệnh ORT
Tổng 467 trại bị bệnh ORT có câu trả lời
cụ thể thời gian cho một liệu trình điều trị ca bệnh ORT có hiệu quả Ta thấy thời gian để điều trị ca bệnh trên 7 ngày chiếm 40%, điều trị
từ 3-7 ngày chiếm 45% (Biểu đồ 3) Như vậy, ORT cần phải điều trị lâu dài mới thấy được kết quả
2.4 Chi phí điều trị bệnh ORT Bảng 4 Chi phí điều trị bệnh ORT
Lứa tuổi
Số trại Tổng gàđiều trị quân/gà (đồng)Chi phí bình (tuần tuổi)
Trang 47-10 tuần 164 479.4 2.885
(*): nghìn đồng
Trong 374 trại bị bệnh và có ghi nhận
thông tin về chi phí điều trị ORT theo từng
nhóm tuổi được thể hiện qua Bảng 4 Qua kết
quả trên có thể thấy, nhóm tuổi bệnh có chi phí
điều trị cao nhất là 11 - 15 tuần tuổi, tới 4.071
đồng/con Tiếp theo là giai đoạn từ 7 - 10 tuần
tuổi với chi phí trung bình là 2.885 đồng/con
Tính trung bình trong 374 trại bị bệnh ORT với
tổng đàn gà bị bệnh là 1.248.600 con, tốn hết
3.071.495.000 đồng thì chi phí điều trị cho 1
con gà là 2.460 đồng/con
3 Khảo sát phương pháp phòng trị bệnh
ORT trên các trại khảo sát
3.1 Phương pháp phòng bệnh ORT
Có 90/863 trại có áp dụng các biện pháp
để phòng bệnh ORT trong chăn nuôi, chỉ chiếm
10,43% trong tổng số trại được phỏng vấn Ghi
nhận từ các câu trả lời của trại thì phương pháp
thường được sử dụng để phòng ORT phổ biến
nhất là kháng sinh với 76,67%, những phương
pháp còn lại như thuốc hỗ trợ, kết hợp vắc-xin
ILT+ kháng sinh, hay kháng sinh + thuốc hỗ
trợ chiếm rất ít Trình bày trong Bảng 5
Bảng 5 Phương pháp phòng bệnh
ORT
ILT KS HT KS+IL T KS + HT Tổng
Tỉ lệ % 10 76,6
(*) Ghi chú: ILT (vắc-xin viêm thanh khí quản), KS
(Kháng sinh), HT (hỗ trợ), ST (Sát trùng)
Qua thực tế khảo sát, chúng tôi đánh giá
rằng: việc phòng bệnh bằng kháng sinh mang
nhiều mối nguy và vẫn đang mất dần hiệu quả
nên đây cũng không phải là giải pháp lâu dài
và không phải tối ưu nhất Theo Devriese và
cs (2001), các chủng của vi khuẩn ORT đã đề
kháng từ 80% đến 100% các kháng sinh
thường dùng trong điều trị bệnh ở gia cầm như
ampicillin, ceftiofur, tylosin, spiramycin,
lincomycin, tilmicosin, flumequine,
enrofloxacin và doxycycline
3.2 Phương pháp điều trị bệnh ORT
Phương pháp điều trị ảnh hưởng trực tiếp kết quả điều trị cũng như hiệu quả của sản xuất Do vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất chăn nuôi cần phải sử dụng phù hợp và tiết kiệm chi phí sản xuất trong đó có chi phí điều trị
Bảng 6 Phương pháp điều trị ORT
IL T
+HT
KS +S T
KS+HT +ST
KS+ND / IB/ILT
Số
5 69,96 21,97 2,69 2,24 0,45 (*) Ghi chú: ILT xin viêm thanh khí quản), IB (vắc-xin viêm phế quản) ND (vắc-(vắc-xin Newcastle), KS (Kháng sinh), HT (hỗ trợ), ST (Sát trùng).
Có 223 trại có câu trả lời về việc áp dụng các phương pháp cụ thể để trị bệnh ORT qua Bảng 6 Trong đó, số trại sử dụng kháng sinh phổ biến nhất, chiếm tới 69,96% Ngược lại, cũng có một số trại sử dụng kháng sinh, thuốc
hỗ trợ kết hợp với các vắc-xin IB, ND và ILT khi có bệnh xảy ra Tuy nhiên, theo van Empel
và Hafez (2010), độ nhạy của ORT với kháng sinh rất khác nhau, phụ thuộc vào từng chủng
mà gà bị nhiễm
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Bệnh ORT xảy ra khá phổ biến ở tất cả các tỉnh khảo sát (64,19%) Bệnh thường xảy
ra quanh năm với tỉ lệ bệnh cao, dễ lây lan trong đàn Thiệt hại do ORT chủ yếu đến từ chi phí điều trị bệnh, thời gian điều trị kéo dài và tỉ
lệ chết cũng như sức khỏe đàn gà mặc dù đã có can thiệp điều trị Hơn nữa việc phòng và trị bệnh chủ yếu phụ thuộc vào kháng sinh; điều này chứa nhiều nguy cơ về đề kháng kháng sinh và tồn dư kháng sinh trong thực phẩm Nên có những nghiên cứu kỹ hơn về tỷ lệ lưu hành của bệnh ORT thông qua kiểm tra huyết thanh học ở các trại và xác định các chủng ORT phổ biến ở Việt Nam để sử dụng các loại vắc-xin phù hợp giúp phòng bệnh ORT hiệu quả hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Devriese, L.A., De Herdt, P., & Haesebrouck, F (2001) Antibiotic sensitivity and resistance in
Ornithobacterium rhinotracheale strains from Belgian broiler chickens Avian Pathology 30: 197-200.
Empel, P.C.M (1998)
Trang 5Immuno-histochemical and bacteriological
investigation of the pathogenesis of
Ornithobacterium rhinotracheale infection
in South Africa in chickens with osteitis
and encephalitis syndrome In Proceedings
of the 16th meeting of the European
Society of Veterinary Pathology,
Lillehammer, pp.81
Halvorson, D.A., Nagaraja, K.V (2002)
Development, Characterization, and
Preliminary Evaluation of a
Temperature-Sensitive Mutant of Ornithobacterium
rhinotracheale for Potential Use as a Live
Vaccine in Turkeys Avian Diseases 46:
162-168
Trần Thị Ngọc Hân, Hồ Quang Dũng,
Niwwat Chansiripornchai (2014) Nhận
dạng, phân lập và xác định mức độ mẫn
cảm kháng sinh của vi khuẩn
Orninobacterium rhinotracheale ở gà Tạp
chí Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp,
4: 23-25
Bá Hiên, Phạm Hồng Ngân, Lê văn Hùng,
Nguyễn Thị Yến (2016) Đặc điểm của vi
khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale
(ORT) phân lập từ đàn gà nuôi tại một số
tỉnh phía bắc Việt Nam Tạp chí KH Nông
nghiệp Việt Nam 14(11): 1734-1740.
Hữu Nam, Lê Văn Hùng (2017) Nghiên
cứu lựa chọn phương pháp chẩn đoán bệnh
(ORT) trên gà Tạp chí Khoa học kỹ thuật
thú y, 24(5): 69-74.
H (2018) Characterization of
Ornithobacterium rhinotracheale from
commercial layer chickens in eastern
Japan Poultry Science 97: 24-29
(2010) Ornithobacteriumrhinotracheale:
A review, Avian Pathology, 28(3):
217-227
[9] Van Veen, L., Gruys, E., Frik, K., van
Empel, P (2000) Increased condemnation
Ornithobacterium rhinotracheale, Vet
Rec 147(15): 422-3