I. Lý do Trong nghiệp vụ của người thầy giáo có hai vấn đề quan trọng: thứ nhất là thực tiễn về tiềm năng những kiến thức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản. Thứ hai là thực tiễn về nghiệp vụ thầy giáo phải biết cách truyền thụ kiến thức phù hợp với trình độ của học sinh. Trong đó, thực tiễn thứ hai là điều quyết định trong nghiệp vụ của thầy giáo, nó đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy giáo. Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhất với nhau. Thầy giáo không thể mang hết các kiến thức lý thuyết cao xa và trừu tượng dạy cho học sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầy giáo hiểu biết quá ít.
Trang 1NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH CON NHẰM GÂY HỨNG THÚ VÀ NÂNG
CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIN HỌC
PHẦN I MỞ ĐẦU
I Lý do
Trong nghiệp vụ của người thầy giáo có hai vấn đề quan trọng: thứ nhất làthực tiễn về tiềm năng - những kiến thức lý thuyết mà họ được học rất cơ bản.Thứ hai là thực tiễn về nghiệp vụ - thầy giáo phải biết cách truyền thụ kiến thứcphù hợp với trình độ của học sinh Trong đó, thực tiễn thứ hai là điều quyết địnhtrong nghiệp vụ của thầy giáo, nó đánh giá chất lượng giảng dạy của thầy giáo.Hai thực tiễn trên vừa mâu thuẫn với nhau, lại vừa thống nhất với nhau Thầygiáo không thể mang hết các kiến thức lý thuyết cao xa và trừu tượng dạy chohọc sinh, nhưng cũng không thể dạy tốt cho học sinh nếu thầy giáo hiểu biết quáít
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của họcsinh là một quá trình lâu dài; không thể ngày một ngày hai mà đông đảo giáo viên
từ bỏ được kiểu dạy học truyền thụ kiến thức, tiếp thu thụ động đã quen thuộc từlâu việc phát triển các phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đóquan trọng nhất là bản thân mỗi giáo viên cần có một sự nỗ lực để tìm tòi, sángtạo trong công tác giảng dạy của mình
Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề hết sức quan trọng, nhất là với
bộ môn Tin học hiện đang được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông Làmột giáo viên giảng dạy bộ môn này, theo em không phải cứ tìm được nhiều bàitoán khó, bài toán hay để giảng dạy cho học sinh Mà vấn đề đặt ra là chúng tacần phải tích cực tìm tòi, sáng tạo trong việc đưa ra những bài toán đó để giúpcho học sinh có sự hứng thú, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giài quyết học tập,
từ đó biết vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể ngoài thực tế
Trong việc giảng dạy cho học sinh, ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội nhữngkiến thức cơ bản Thầy giáo còn phải biết kích thích tính tích cực, sự sáng tạo say
mê học hỏi của học sinh trong việc học tập của các em Bởi vì, việc học tập tựgiác, tích cực, chủ động và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải có ý thức về nhữngmục tiêu đặt ra và tạo được động lực bên trong thúc đẩy bản thân họ hoạt động đểđạt các mục tiêu đó
Turbo Pascal là ngôn ngữ lập trình có cấu trúc, nó được dùng phổ biến ở nước tahiện nay trong công tác giảng dạy, lập trình tính toán, đồ họa Turbo Pascal đượcdùng trong chương trình giảng dạy Tin học ở hầu hết các trường đại học, caođẳng, trung học phổ thông
Trong các vấn đề về Tin học được đưa vào giảng dạy ở chương trình bậc họcphổ thông hiện nay Khi nói đến vấn đề dạy học lập trình cho học sinh, vấn đềdạy học cho học sinh về chương trình con là một trong những vấn đề chiếm vaitrò quan trọng Bởi vì, sử dụng chương trình con để hợp lý hóa, tiết kiệm côngsức lập trình Đồng thời, chương trình con có thể giúp cho người lập trình dễ sửachữa, dễ kiểm tra Vấn đề đặt ra là: gợi động cơ hoạt động cho học sinh khi giảng
Trang 2dạy về chương trình con như thế nào? Đó chính là vấn đề mà bản thân em hết sứcquan tâm.
Trên cơ sở những gì mà học sinh được học tập về môn lập trình Pascal, họcsinh có thể sử dụng một cách thành thạo các ngôn ngữ khác để hoàn thành tốthơn những ứng dụng trong thực tế Bởi vì, ngôn ngữ Pascal có tính cấu trúcmạnh, có cơ sở và nó đòi hỏi chương trình phải chặt chẽ, logic Đặc biệt, khi học
về chương trình con, học sinh có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về ngôn ngữ lậptrình, nhìn nhận vấn đề một cách sáng sủa hơn, chặt chẽ hơn và nhất là chươngtrình con có thể giúp cho các em hoàn thành những chương trình lớn hơn vượt ranhững bài toán bình thường mà nội bộ môn học đòi hỏi Chính vì vậy, việc gợiđộng cơ cho học sinh trong việc dạy học chương trình con là một công việc quantrọng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải nỗ lực tìm tòi, sáng tạo giúp cho học sinhnhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn, sáng tạo hơn và nhất là giúp cho các em
có thể yêu thích nhiều hơn nữa ngôn ngữ lập trình Pascal
II Định hướng
1 Mục đích
Tạo động cơ cho học sinh ý thức về ý nghĩa của các hoạt động khi sử dụngchương trình con trong công việc lập trình Từ đó, học sinh có thể liên hệ , vậndụng sáng tạo vào giải quyết các bài toán lập trình và các tình huống thực tế
2 Nhiệm vụ
Qua việc nghiên cứu các vấn đề về chương trình con của ngôn ngữ lập trìnhPascal, các tài liệu về phương pháp giảng dạy Từ đó, đưa ra các biện pháp có thểgợi động cơ hoạt động cho học sinh thông qua các ví dụ cụ thể về chương trìnhcon
III Phương pháp
Trong nghiên cứu lý luận người ta dựa vào những tài liệu sẵn có, những lý
thuyết đã được khẳng định, những thành tựu của nhân loại trên những lĩnh vựckhác nhau như Tâm lý học, Giáo dục học, Tin học, để xem xét vấn đề, tìm ragiải pháp hợp lý có sức thuyết phục vận dụng vào PPDH Tin học
Người ta cũng nghiên cứu cả những kết quả của bản thân chuyên ngành PPDHTin học để kế thừa những cái hay, phê phán và gạt bỏ những cái dở, bổ xung vàhoàn chỉnh những nhận thức đã đạt được
Những hình thức thường dùng trong nghiên cứu lý luận là:
- Phân tích tài liệu lý luận : Giúp chúng ta chọn đề tài, đề ra mục đích nghiên
cứu, hình thành giả thuyết khoa học, xác định tư tưởng chủ đạo và đánh giá sựkiện Khi nghiên cứu lý luận, ta cần phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát để tìm
ra ý mới Cái mới ở đây có thể là một lý thuyết hoàn toàn mới, nhưng cũng có thể
là một cái mới đan kết với những cái cũ, có thể là một sự tổng hợp những nétriêng lẻ đã chứa trong cái cũ, nêu bật cái bản chất từ những cái cũ, bổ xung, cụthể hóa lý thuyết cũ
- So sánh quốc tế : Giúp chúng ta lựa chọn, xây dựng phương án tác động giáo
dục trên cơ sở đánh giá, so sánh tài liệu, cách làm của những nước khác nhau
- Phân tích tiên nhiệm : Thường dựa vào những yếu tố lịch sử, những cách tiếp
cận khác nhau của một lý thuyết, những cách định nghĩa khác nhau của một khái
Trang 3học Nó cũng được dùng để kiểm nghiệm một hiện tượng, một quá trình có thỏamãn những tiêu chuẩn, yêu cầu, điều kiện đặt ra hay không.
Quan sát điều tra được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục Đó làphương pháp tri giác có mục đích một hiện tượng giáo dục nào đó để thu lượmnhững số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiệntượng mà ta dự định khảo sát Chúng ta quan tâm đến chất lượng của các mốiquan hệ, của các hoạt động, của tình huống Điều tra giống quan sát ở chỗ cùngdựa vào và khai thác những hiện tượng có sẵn, không chủ động gây nên nhữngtác động sư phạm, nhưng quan sát thiên về xuất phát từ những dấu hiệu bênngoài, còn điều tra có thể khai thác những thông tin sâu kín từ bên trong, chẳnghạn cho làm những bài kiểm tra rồi đánh giá
Quan sát - điều tra giúp chúng ta theo dõi hiện tượng giáo dục theo trình tựthời gian, phát hiện những biến đổi số lượng, chất lượng gây ra do tác động giáodục Nó giúp ta thấy được những vấn đề thời sự cấp bách đòi hỏi phải nghiên cứuhoặc góp phần giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu Môi trường tự nhiên là nguồncung cấp dữ liệu trực tiếp cho ta Người nghiên cứu đến trực tiếp một nơi nào đó
mà họ quan tâm để quan sát và thu thập dữ liệu, bởi vì các hoạt động chỉ có thểhiểu tốt nhất là trong môi trường tự nhiên, trong ngữ cảnh mà chúng xuất hiện.Quan sát - điều tra thực tiễn sư phạm, chẳng hạn thăm lớp dự giờ sẽ giúpchúng ta nhận thức được thực trạng dạy học Tin, phát hiện được những vấn đềthời sự cấp bách cần nghiên cứu, giúp ta thu được những tài liệu sinh động và bổích cho nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khi quan sát - điều tra diễn biến thực của những hiện tượng sưphạm, có khi người ta tình cờ phát hiện ra những sự kiện, hiện tượng sư phạmmới ngoài dự kiến ban đầu
Tổng kết kinh nghiệm thực chất là đánh giá và khái quát hóa những kinhnghiệm đã thu thập được trong hoạt động thực tiễn, từ đó phát hiện ra những vấn
đề cần khẳng định để đưa ra áp dụng rộng rãi hoặc cần tiếp tục nghiên cứu hayloại bỏ Nó có nguồn gốc từ kinh nghiệm, mang tính khoa học, được lĩnh hội,kiểm chứng từ quá trình hoạt động thực tiễn sinh động Bài học kinh nghiệm là
sự cụ thể hóa một cách sáng tạo tư tưởng, luận điểm, lý luận giáo dục đã đi vàocuộc sống Trong quá trình nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm, có khi người takhám phá ra những mối liên hệ có tính quy luật của những hiện tượng giáo dục Bài học kinh nghiệm cần trình bày theo trình tự sau:
- Tên bài học kinh nghiệm
- Nêu bối cảnh xuất hiện vấn đề mà khi giải quyết dẫn đến bài học kinhnghiệm
- Những kết quả đạt được gắn với nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống biện pháp đã vận dụng đạt kết quả cao
- Đánh giá tác dụng, hiệu quả của bài học kinh nghiệm, đưa ra nhận định cótính khái quát về bài học mang tính lý luận
Tổng kết kinh nghiệm không chỉ đơn giản là trình bày lại những công việc đãlàm và những kết quả đã đạt được Là một phương thức nghiên cứu khoa học, nóphải được tiến hành theo một quy trình nghiêm túc,
Những bước của quá trình phát hiện có thể là:
Trang 4- Nêu mục đích yêu cầu phát hiện.
- Triển khai những hình thức phát hiện
- Thẩm định, bổ sung thông tin
- Tiến hành xử lý thông tin
Khi tiến hành xử lý thông tin phải căn cứ vào cái có thực thu được qua quátrình khảo sát, phát hiện thu thập được Dùng lý luận để phân tích các tư liệu, sốliệu rút ra được từ thực tiễn Rút ra bài học kinh nghiệm dưới dạng khái quátmang tính lý luận hay khẳng định về mặt lý luận và thực tiễn Trong quá trình xử
lý, cần áp dụng những thao tác tư duy khoa học, trừu tượng hóa các yếu tố ngẫunhiên, tìm ra tính đặc thù, tất yếu
Trang 5Làm cho học sinh có ý thức về ý nghĩa của những hoạt động và của đốitượng hoạt động Gợi động cơ nhằm làm cho những mục tiêu sư phạm biến thànhnhững mục tiêu của cá nhân học sinh, chứ không phải chỉ là sự vào bài, đặt vấn
đề một cách hình thức
Ở những lớp dưới, thầy giáo thường dùng những cách như cho điểm, khen chê,thông báo kết quả học tập cho gia đình, để gợi động cơ Càng lên lớp cao, cùngvới sự trưởng thành của học sinh, với trình độ nhận thức và giác ngộ chính trịngày càng cao những cách gợi động cơ xuất phát từ nội dung hướng và nhữngnhu cầu nhận thức, nhu cầu đời sống, trách nhiệm đối với xã hội ngày càng trởnên quan trọng
CHƯƠNG I: ĐỘNG CƠ MỞ ĐẦU
Việc xuất phát từ thực tế không những có tác dụng gợi động cơ mà còn gópphần hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Nhờ đó, học sinh nhận rõ việcnhận thức và cải tạo thế giới đã đòi hỏi phải suy nghĩ và giải quyết những vấn đềTin học như thế nào, tức là nhận rõ Tin học bắt nguồn từ những nhu cầu của đờisống thực tế Vì vậy, chúng ta cần khai thác triệt để mọi khả năng để gợi động cơxuất phát từ thực tế Tuy nhiên, để gợi động cơ xuất phát từ thực tế cần chú ý cácđiều kiện sau:
- Vấn đề đặt ra phải đảm bảo tính chân thực, đương nhiên có thể đơn giản hóa
vì lý do sư phạm trong trường hợp cần thiết
- Việc nêu vấn đề không đòi hỏi quá nhiều tri thức bổ xung
- Con đường từ lúc nêu vấn đề cho tới khi giải quyết vấn đề càng ngắn càngtốt
Mặc dù Tin học phản ánh thực tế một cách toàn bộ và nhiều tầng Tuy nhiênkhông phải bất cứ nội dung nào, hoạt động nào cũng có thể gợi động cơ xuất phát
từ thực tế Vì vậy, ta còn tận dụng cả những khả năng gợi động cơ xuất phát từnội bộ Tin học
Gợi động cơ từ nội bộ Tin học là nêu vấn đề Tin học xuất phát từ nhu cầu Tinhọc, từ việc xây dựng khoa học Tin hoc, từ những phương thức tư duy và hoạtđộng Tin học Gợi động cơ theo cách này là cần thiết vì:
- Việc gợi động cơ xuất phát từ thực tế không phải bao giờ cũng thực hiệnđược
- Việc gợi động cơ từ nội bộ Tin học sẽ giúp học sinh hình dung được đúng sựhình thành và phát triển của Tin học cùng với những đặc điểm của nó và có thểdần dần tiến tới hoạt động Tin học một cách độc lập
Thông thường khi bắt đầu một nội dung lớn, chẳng hạn một phân môn hay mộtchương ta nên cố gắng xuất phát từ thực tế Còn đối với từng bài hay từng phầncủa bài thì cần tính tới những khả năng gợi động cơ từ nội bộ Tin học Đó lànhững cách sau đây:
Xét bài toán : “Viết chương trình cho máy tính chu vi, diện tích và đường chéo của ba hình chữ nhật theo hai kích thước của mỗi hình Trong đó:
- Hình thứ nhất có hai kích thước là a1, a2
Trang 6- Hình thứ hai có hai kích thước là b1, b2
- Hình thứ ba có hai kích thước là a1+b1 và a2*b2”.
Var a1, b1, a2, b2, c1, c2, c3, d1, d2, d3, m1, m2, m3 : Real;
Writeln('Dien tich bang : ',d1:0:2);
Writeln('Duong cheo bang: ',m1:0:2);
Writeln('Hinh chu nhat thu hai:');
Writeln('Chu vi bang : ',c2:0:2);
Writeln('Dien tich bang : ',d2:0:2);
Writeln('Duong cheo bang: ',m2:0:2);
Writeln('Hinh chu nhat thu ba:');
Writeln('Chu vi bang : ',c3:0:2);
Writeln('Dien tich bang : ',d3:0:2);
Writeln('Duong cheo bang: ',m3:0:2);
Readln
End.
Chương trình trên để thực hiện được yêu cầu của đề bài, chúng ta phải viết điviết lại ba dòng liên tiếp tính chu vi, diện tích và đường chéo của từng hình chữnhật Giả sử nếu phải tính đến n hình chữ nhật thì vấn đề quả thực là hết sức phứctạp Trong bài toán trên ta còn chưa có phần kiểm tra điều kiện nhập vào của mỗihình Nếu có thêm điều kiện này, chắc chắn chương trình còn dài nữa Vấn đề đặt
ra là: làm thế nào có thể xóa bỏ được sự hạn chế này? Ở đây, chúng ta có thểhướng dẫn cho học sinh sử dụng chương trình con để khắc phục sự hạn chế đó.Thay vì phải viết nhiều lần lệnh nhập, tính đi tính lại cho từng hình ta có thể viết
2 thủ tục:
1 Thủ tục nhập hai cạnh của hình chữ nhật
2 Thủ tục Tính ba giá trị cho mỗi hình
Trang 7Var a1, b1, a2, b2: Real;
Procedure Nhap(Var x, y: Real; i: Byte);
Begin
Writeln('Nhap hai kich thuoc cua hinh chu nhat thu ',i,':');
Repeat
Write('Canh thu nhat: '); Readln(x);
Write('Canh thu hai : '); Readln(y);
If (x <= 0) Or (y <= 0) Then Writeln('Nhap lai!');
Writeln('Dien tich bang : ',a * b:0:2);
Writeln('Duong cheo bang: ',sqrt(a * a + b * b):0:2);
Xét bài toán sau: “Nhập vào 1 dãy n số nguyên lớn hơn 1 Viết ra màn hình tất
cả các số của dãy thỏa mãn điều kiện là số nguyên tố”.
Var A: Array[1 100] Of Integer;
Write('Nhap so phan tu: '); Readln(n);
Writeln('Nhap cac phan tu cua day Chu y: A[k] >= 2');
Trang 8Writeln('Cac so nguyen to cua day so tren la:');
bài toán trên chúng ta có thể sửa chữa thành bài toán: “Viết ra màn hình tất cả các số của dãy thỏa mãn điều kiện là hợp số” chỉ bằng hai câu lệnh:
- Dòng lệnh Writeln(‘Cac so nguyen to cua day so tren la:’); Sửa thành: Writeln(‘Cac so la hop so cua day so tren la:’);
- Dòng lệnh : If NgTo(A[k]) Then Write(A[k]:6) ta thay bằng dòng lệnh If Not
NgTo(A[k]) Then Write(A[k]:6)
Có những khái niệm mà học sinh đã biết ở từng bài riêng lẻ chưa thể đưa rangay những nhận xét, những kết luận chính xác liên quan tới khái niệm đó; tớimột thời điểm nào đó có đủ điều kiện thì chúng ta có thể gợi lại vấn đề và giúphọc sinh chính xác hóa khái niệm đó Chẳng hạn, ta cần chính xác hóa khái niệm
sử dụng tham biến của chương trình con Sau khi học cách sử dụng tham trị,chúng ta có thể yêu cầu học sinh làm bài tập sau:
“Viết một thủ tục nhập vào số đo bán kính của 3 đường tròn Sau đó tính chu
vi và diện tích của mỗi đường tròn đó”.
Trang 9Chúng ta có thể yêu cầu học sinh thực thi chương trình trên và chạy thử Họcsinh sẽ phát hiện ra là kết quả chu vi và diện tích của cả ba đường tròn đều bằng
0 Vấn đề đặt ra là: Chương trình sai ở chỗ nào? Lúc này giáo viên có thể khẳngđịnh sự phân biệt giữa tham biến và tham trị, các giá trị của tham biến được lưugiữ khi ra ngoài chương trình con, còn giá trị của tham trị chỉ lưu giữ khi thựchiện chương trình con, nếu ra khỏi chương trình con nó sẽ không còn lưu giữ giátrị đó Điều này sẽ giúp cho chúng ta chính xác hóa khái niệm tham biến và thamtrị cho học sinh
Chương trình trên cần sửa lại như sau:
Trang 10dùng tham trị, các chương trình con gọi lẫn nhau như thế nào?, Chúng ta có thểđưa ra ví dụ sau:
“Viết chương trình nhập vào số cạnh của n tam giác, sau đó tính diện tích của mỗi tam giác vừa nhập và tổng diện tích của tất cả các tam giác đó”.
Var a:array[1 3,1 100] Of Real; {Bien toan cuc}
Function Ktra(x, y, z: Real): Boolean; {Ham co tham tri}
Write('Nhap do dai canh thu nhat: '); Readln(a);
Write('Nhap do dai canh thu hai : '); Readln(b);
Write('Nhap do dai canh thu ba : '); Readln(c);
If Not Ktra(a, b, c) Then
Writeln('Ba do dai vua nhap khong phai la 3 canh tam giac! Nhap lai:'); Until Ktra(a, b, c);
End;
Function DT(m, n, p:Real): Real; {Ham co tham tri}
Var d: Real; {Bien cuc bo}
Begin
d := (m + n + p) / 2;
DT := sqrt(d * (d - m) * (d - n) * (d - p));
End;
Procedure Tinh; {Thu tuc khong co tham chieu}
Var k, n, j: Integer; tong: Real; {Bien cuc bo}
Tong := tong + DT(a[1, k], a[2,k], a[3,k]);
Writeln('Dien tich cua tam giac thu ',k,': ',DT(a[1, k], a[2, k], a[3, k]):6:1); End;
Writeln('Tong dien tich cua ',n,' tam giac la: ',tong:6:1);
Trang 11Học sinh đã biết trong bảng mã ASCII mỗi ký tự viết hoa A, B, C, , Z được
mã hóa bằng các con số từ 65 đến 90 Còn các ký tự thường a, b, c, z được mãhóa bằng các con số từ 97 đến 122 Ta thấy rõ mỗi ký tự viết hoa và viết thườngcủa một chữ cách nhau 32 đơn vị Chính vì vậy, ta có thể sử dụng quy luật này đểđổi một xâu ký tự viết HOA thành xâu ký tự viết thường bằng cách dùng mộtvòng For chạy từ đầu xâu đến cuối xâu và đổi từng ký tự thành mã ASCII, nếugặp ký tự viết hoa, ta cộng mã ASCII của nó thêm 32 đơn vị Chương trình nhưsau:
Write('Doi sang chu thuong: ');
For i := 1 to Length(x) Do Begin
Trang 12Write('Nhap do dai canh thu nhat: '); Readln(m);
Write('Nhap do dai canh thu hai : '); Readln(n);
Write('Nhap do dai canh thu ba : '); Readln(p);
If Not Ktra(m, n, p) Then
Writeln('Ba do dai vua nhap khong phai la 3 canh tam giac! Nhap lai:'); Until Ktra(a, b, c);
Tương tự, chúng ta yêu cầu học sinh giải bài toán sau:
“Viết chương trình tìm độ dài 3 đường trung tuyến của một tam giác khi biết
ba cạnh của tam giác”.
Trang 13Write('Nhap do dai canh thu hai : '); Readln(b);
Write('Nhap do dai canh thu ba : '); Readln(c);
If Not Ktra(a, b, c) Then
Writeln('Ba do dai vua nhap khong phai la 3 canh tam giac! Nhap lai:'); Until Ktra(a, b, c);
Writeln('Nhap vao 2 so:'); Readln(a,b);
If (a<=0) Or (b<=0) then Writeln(‚Nhap lai!’);
Until (a>0) And (b>0);
Var a, b, c, tam: Integer;
Function UCLN(Var x, y: Integer): Integer;
Trang 14Var tam: Integer;
“Viết chương trình tìm ước chung lớn nhất của n số ”.
Để thực hiện, ta có thể hướng dẫn học sinh dùng thủ tục tìm ước chung lớnnhất của hai số Sau đó, dùng một biến tạm là u để lưu giữ giá trị đầu tiên của dãy
số, tiếp theo ta lần lượt xác định ước chung lớn nhất của u với từng giá trị của dãy
từ vị trí thứ hai Cuối cùng, ước chung lớn nhất của dãy chính là giá trị u
Var A: Array[1 100] Of Integer;
a1, u, i, n: Integer;
Procedure UCLN(Var x, y: Integer);
Var tam, tg: Integer;