1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5

103 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC=== === NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 5 KHÓA LUẬN TỐT N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=== ===

NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN XÁC ĐỊNH TỪ

LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Hà Nội, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=== ===

NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN XÁC ĐỊNH TỪ

LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS Lê Thị Lan Anh

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường ĐHSP HàNội 2 cùng các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ emtrong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện thuận lợi cho em thựchiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến côgiáo TS Lê Thị Lan Anh - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạođiều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa em xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô cùng toànthể các bạn Em kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và cácbạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận nghiên cứu là của riêng tôi Các số liệu,kết quả đưa ra trong khóa luận là trung thực, chính xác và chưa từngđược công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu 7

5 Phạm vi nghiên cứu 7

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

7 Phương pháp nghiên cứu 7

8 Cấu trúc khóa luận 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 5 8

1.1 Cơ sở lí luận của việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5 8

1.1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học 8

1.1.2 Một vài vấn đề về trắc nghiệm khách quan 11

1.1.2.1 Khái niệm hệ thống 11

1.1.2.2 Khái niệm trắc nghiệm 11

1.1.2.3 Phân loại trắc nghiệm 12

1.1.2.4 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 12

1.1.2.5 Phân loại trắc nghiệm khách quan 12

1.1.2.6 Ưu điểm và hạn chế của trắc nghiệm khách quan 17

1.2.3 Một số vấn đề về từ loại tiếng Việt 19

1.2.3.1 Khái niệm 19

1.2.3.2 Căn cứ để phân loại từ 19

1.2.3.3 Phân loại 20

Trang 7

1.2.3.4 Hiện tượng chuyển từ loại trong tiếng Việt 27

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5 29

1.2.1 Nội dung dạy học từ loại trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 29

1.2.2 Thực trạng dạy học từ loại thông qua hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan và khả năng xác định từ loại của học sinh lớp 5 30

1.2.2.1 Đối tượng và nội dung khảo sát 31

1.2.2.2 Kết quả khảo sát 31

Chương 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN XÁC ĐỊNH TỪ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 5 VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM35 2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 35

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 35

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình 35

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo vừa sức và phát triển tính sáng tạo của học sinh 36

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 36

2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 36

2.2 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 36

2.2.1 Tiêu chuẩn của trắc nghiệm khách quan 36

2.2.2 Quy tắc xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 38

2.2.3 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan 39

2.3 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5 39

2.3.1 Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan xác định danh từ 39

2.3.2 Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan xác định động từ 42

2.3.3 Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan xác định tính từ 44

2.3.4 Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan xác định đại từ 46

2.3.5 Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan xác định quan hệ từ 49

Trang 8

2.3.6 Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại 512.4 Hệ thống bài tập mẫu 552.5 Thực nghiệm sư phạm 592.5.1 Thử nghiệm quy trình xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quanxác định từ loại cho học sinh lớp 5 592.5.2 Thử nghiệm tổ chức cho học sinh lớp 5 xác định từ loại thông qua hệthống bài tập trắc nghiệm khách quan 59

KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 9

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 10

Dưới góc độ kinh tế - xã hội, xã hội loài người hiện nay đang bước sang

xã hội tri thức Trong xã hội tri thức, tri thức là yếu tố then chốt của lực lượngkiến tạo xã hội hiện đại, của lực lượng sản xuất và tăng trưởng kinh tế Yêucầu bức thiết đặt ra là phải đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đàotạo phù hợp với mục tiêu của giáo dục đề ra

Tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hìnhthành toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dụcphổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Mục tiêu của giáo dụctiểu học được quy định tại luật Giáo dục Việt Nam năm 2010 là: “Trang bịcho học sinh hệ thống tri thức cơ bản ban đầu, hình thành ở học sinh những kĩnăng cơ bản nền tảng, phát triển hứng thú học tập ở học sinh, thực hiện cácmục tiêu giáo dục toàn diện đối với học sinh tiểu học” Vì vậy, giáo dục Tiểuhọc cần được chuẩn bị tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học lên trên

Trong chương trình tiểu học, Tiếng Việt là môn học trọng tâm, chiếm sốlượng lớn các tiết trong tuần Tiếng Việt ở trường tiểu học với mục tiêu hìnhthành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc,viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi từ đógóp phần rèn luyện thao tác tư duy Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho họcsinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xãhội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài

để từ đó bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần nhỏ trong việc hình thànhnhững phẩm chất quan trọng của con người để góp phần thực hiện nhữngnhiệm vụ đặt ra của hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 11

Các giờ học Tiếng Việt ở trường tiểu học chủ yếu cung cấp kiến thức vềngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách học tiếng Việt và giữ gìn sự trongsáng của tiếng Việt Đặc biệt thông qua phân môn Luyện từ và câu, học sinhđược cung cấp thêm những hiểu biết về kiến thức tiếng Việt, trong đó có ngữpháp học

Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, gắn liền với sự

ra đời và phát triển của ngữ pháp học, từ loại đã được nghiên cứu rất sớm Nó

là một vấn đề cổ truyền bậc nhất của ngữ pháp học truyền thống Ở tiếng Việtcũng như ở nhiều thứ tiếng khác, từ loại được xem là một bộ phận không thểthiếu được trong cơ cấu ngữ pháp học Từ loại tiếng Việt hết sức phong phú,

đa dạng Vì vậy, việc tìm hiểu và xác định chính xác còn gặp nhiều khó khănnhất là đối với học sinh tiểu học

Xác định được từ loại là vấn đề rất quan trọng trong lĩnh vực xử lí ngônngữ tự nhiên Phân biệt được từ loại sẽ xác định được chính xác từ loại chocác từ trong văn bản tiếng Việt Việc xác định này sẽ hỗ trợ cho việc phântích cú pháp các văn bản góp phần giải quyết tính đa nghĩa của từ và trợ giúpcác hệ thống rút trích thông tin đến ngữ nghĩa Vì vậy đối với học sinh tiểuhọc, việc xác định từ loại là vấn đề vô cùng cần thiết Đặc biệt là đối với họcsinh lớp 5, lớp cuối cấp Tiểu học, số lượng từ loại được bổ sung thêm nênviệc phân biệt từ càng dễ nhầm lẫn và khó xác định

Để giúp học sinh xác định chính xác từ loại trong tiếng Việt, giáo viênphải hướng dẫn học sinh học tập để các em hiểu và tiếp thu bài tốt hơn Bêncạnh đó phải có những câu hỏi, bài tập để giúp các em củng cố và nâng caovốn kiến thức đã có Ngoài những bài tập tự luận trong sách giáo khoa thì đãxuất hiện nhiều dạng bài tập trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm kháchquan giúp các em phát huy khả năng tư duy, nhạy bén, linh hoạt đồng thời có

Trang 12

thể bao quát toàn bộ kiến thức, cùng lúc có thể kiểm tra đánh giá được nhiều nội dung kiến thức và năng lực của học sinh

Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi mạnh dạn tập trung nghiên cứu đề

tài “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5”.

Vào đầu thế kỷ XX, E Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng trắcnghiệm khách quan bắt đầu với môn số học như là phương pháp “khách quan

và nhanh chóng” để đánh giá trình độ học sinh, và sau đó là một số môn khác.Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trìnhnghiên cứu những trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắcnghiệm về trí thông minh Ông được nhà trường ở Paris yêu cầu xây dựngmột phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần màkhông thể tiếp thu được gì theo cách dạy bình thường ở trường Cách tiếp cậncủa Binet rất trực tiếp, các câu hỏi ông xây dựng trong bài trắc nghiệm yêucầu những kĩ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và một kho nhữngthông tin chung cho câu trả lời

Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ratiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford -Binet

Trang 13

Năm 1926 - 1931, ở Liên Xô cũ một số nhà sư phạm tại Matxcơva, Kiep,Leeningrat đã dùng trắc nghiệm để chuẩn đoán đặc điểm tâm lí cá nhân vàkiểm tra kiến thức của học sinh

Đến năm 1940, ở Mỹ có nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giáthành tích học tập của học sinh

Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trịtrong giáo dục Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một sốmôn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến

+ Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (phương pháp thực hành).+ Trắc nghiệm tiêu chí (phương pháp thực hành)

Những năm trở lại đây, trắc nghiệm khách quan đã được đưa vào làm đềthi tốt nghiệp trung học phổ thông và đưa vào làm đề thi tuyển sinh đại học đểđảm bảo được tính công bằng và độ chính xác trong thi cử Từ năm 2006 –

2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chú trọng thi trắc nghiệm trung học phổthông và thi tuyển đại học bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan đối vớicác môn như: Vật lí, Hóa học, Ngoại ngữ, Sinh học,… Đặc biệt năm 2017 vừaqua, Bộ Giáo dục tiến hành triển khai xây dựng đề thi đại học môn Toán theophương pháp trắc nghiệm khách quan

Trang 14

từ thể hiện vị thể của phán đoán Danh từ thì được coi là tên gọi của các sựvật.

Từ thế kỉ XVII - XVIII, các nhà ngữ pháp duy lý lại đặt trở lại mối quan

hệ giữa từ loại và các phạm trù của lô-gic, cụ thể là mối quan hệ giữa động từvới vị thể của phán đoán Danh từ và tính từ lúc này được giải thích như lànhững từ chỉ sự vật không xác định nào đó qua một khái niệm đã xác định màngẫu nhiên đối với bản chất của sự vật

Trải qua nhiều năm, mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù lô-gic vẫnchưa được giải quyết một cách thỏa đáng Cuối thế kỉ XIX, vấn đề của từ loạiTiếng Việt mới được các nhà ngôn ngữ bàn lại:

Năm 1986, tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từloại), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp quan tâm đến các vấn đề:

- Bản chất, các đặc trưng và tiêu chuẩn phân định từ loại

- Hệ thống các từ loại tiếng Việt

- Từ loại là các phạm trù của tư duy

Đến năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ điển tiếng Việt hiện đại,NXB Giáo dục nghiên cứu các vấn đề:

- Khái niệm về từ loại

- Đặc trưng, tiêu chí, mục đích phân định từ loại

Đặc biệt tác giả đi sâu nghiên cứu hệ thống từ loại cơ bản, ranh giới giữa

từ loại cơ bản với từ loại không cơ bản

Trang 15

Năm 2004, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, khi nghiêncứu về từ loại tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã đưa ra ba tiêu chuẩn để phânđịnh từ loại Tiếng Việt:

- Ý nghĩa khái quát

- Khả năng kết hợp

- Chức vụ cú pháp

Ngoài ra khi bàn về vấn đề các lớp từ tiếng Việt, tác giả phân thành hailớp lớn: thực từ và hư từ Trong đó tác giả tập trung nghiên cứu ba từ loạithuộc lớp thực từ: danh từ, động từ và tính từ

Và gần với đề tài nghiên cứu của chúng tôi là cuốn Ngữ pháp tiếng Việt,NXB Giáo dục, 2006, tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung đã dành ramột chương nghiên cứu về từ loại tiếng Việt với trọng tâm là tiêu chuẩn phânđịnh từ và hệ thống từ loại tiếng Việt

Theo tác giả, hệ thống từ loại gồm hai nhóm:

- Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

- Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ, tiểu từ (trợ từ và tình thái từ)Như vậy, chúng ta có thể thấy việc sử dụng câu hỏi nói chung và đặc biệt

là câu hỏi trắc nghiệm khách quan nói riêng trong việc xác định từ loại chohọc sinh nhất là học sinh lớp 5 là một vấn đề đang thu hút được sự quan tâmcủa nhiều người, nhiều cấp Vì vậy, chúng tôi cũng mạnh dạn triển khai

nghiên cứu đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5”.

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loạicho học sinh lớp 5 nhằm góp phần nâng cao khả năng sử dụng từ loại tronglàm văn và trong giao tiếp hàng ngày của học sinh

Trang 16

4 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinhlớp 5

5 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ thời gian cho phép nên ở đề tài này chúng tôi dừng lạinghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từloại cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Thành phố LàoCai và trường Tiểu học Thượng Thanh - Thành phố Hà Nội

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5

- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại chohọc sinh lớp 5 và thực nghiệm sư phạm

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp hệ thống

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung của khóa luận gồm hai chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5

- Chương 2: Hệ thống bài tập trắc ngiệm khách quan xác định từ loại cho học sinh lớp 5 và thực nghiệm sư phạm

Trang 17

1.1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học

1.1.1.1 Năng lực tư duy của học sinh tiểu học

Tư duy được hiểu là hoạt động nhận thức và phản ánh nhận thức của conngười về hiện thực khách quan

Quá trình tư duy của con người trải qua hai giai đoạn: tư duy cảm tính(nhận thức, phản ánh nhận thức về hiện thực khách quan bằng trực quan sinhđộng) và tư duy trừu tượng (nhận thức, phản ánh nhận thức bằng khái niệm,phán đoán, suy luận thông qua phân tích, tổng hợp)

Học sinh lứa tuổi tiểu học chủ yếu tư duy cảm tính bằng tri giác ở nhữnglớp đầu cấp, rồi dần dần tư duy trừu tượng (bằng khái niệm và bằng phánđoán) ở những lớp cuối cấp

1.1.1.2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh tiểu học

Trang 18

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so vớitrẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dặn.

Ở đầu tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vũng và

1.1.1.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo vàbắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữphát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ củatrẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

1.1.1.4 Sự chú ý của học sinh tiểu học

Trang 19

1.1.1.5 Trí nhớ của học sinh tiểu học

Ở học sinh tiểu học, trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế nhiều hơn

so với trí nhớ từ ngữ - logic

Giai đoạn đầu tiểu học, ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt vàchiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chứcviệc ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớtài liệu

Giai đoạn cuối tiểu học ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăngcường Các em có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hànhđộng của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thànhnét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vàohứng thú nhất thời Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sứchấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của các em,

Trang 20

Tóm lại lứa tổi 4, 5 là bước ngoạt lớn của trẻ thơ Môi trường thay đổiđòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút, chuyển từhiếu kí, tò mò sang ham hiểu biết, hứng thú khám phá Muốn trẻ vượt qua tốtnhững thử thách cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xãhội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học

1.1.2 Một vài vấn đề về trắc nghiệm khách quan

1.1.2.1 Khái niệm hệ thống

Hệ thống tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, cóquan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất

1.1.2.2 Khái niệm trắc nghiệm

Theo từ điển tiếng Việt, “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” có nghĩa

là suy xét, chứng thực

Trắc nghiệm theo tiếng Anh có nghĩa là “thử”, “phép thử”, “sát hạch”.Theo A Petropxi (1970) cho rằng: “Trắc nghiệm là bài tập làm trongthời gian ngắn mà việc thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng,chất lượng có thể coi là dấu hiệu của sự hoàn thiện một số chức năng tâm lí”.Theo Gronlund (1981): “Trắc nghiệm là công cụ hay quy trình có hệthống nhằm đo lường mức độ một cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thểnào đó”

Theo Dương Triệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thứcnhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của cánhân như thế nào khi so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”

Đa số các nhà tâm lí học hiện nay đều có xu hướng xem trắc nghiệm làmột phương pháp dạy học dùng những bài tập ngắn gọn để kiểm tra kiến thức,năng lực trí tuệ và kỹ năng của học sinh

Trang 21

Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về trắc nghiệm và theo chúng tôitrắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lườngnăng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định

Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi,kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộmôn học, đối với cả một cấp học hoặc để tuyển chọn một số người có nănglực nhất vào một khóa học

1.1.2.3 Phân loại trắc nghiệm

Theo một số nhà nghiên cứu khoa học thì trắc nghiệm được chia làm hailoại: trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm tự luận (essay) là phương pháp đánh giá kết quả học tậpbằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạngviết bằng ngôn ngữ của mình trong khoảng thời gian xác định trước

Trắc nghiệm khách quan (objective test) là phương pháp kiểm tra đánhgiá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kháchquan Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụthuộc vào người chấm

Trong khóa luận này chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về trắcnghiệm khách quan

1.1.2.4 Khái niệm trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan là hình thức học sinh chỉ sử dụng các kí hiệuđơn giản để xác nhận câu trả lời đúng Thông thường có nhiều câu trả lờiđược cung cấp cho mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một câu trả lời đúng nhất Bàitrắc nghiệm được chấm bằng cách đếm số lần học sinh chọn câu trả lời đúng

Do đó hệ thống cho điểm là khách quan và không phụ thuộc vào người chấm

1.1.2.5 Phân loại trắc nghiệm khách quan

a Trắc nghiệm đúng - sai (Yes/No)

Trang 22

 Mô tả:

 Câu trắc nghiệm đúng - sai gồm 2 phần:

 Phần đề: Một câu hỏi/phát biểu/mệnh đề/…

 Phần phương án chọn lựa: đúng – sai, phải không phải, đồng ý không đồng ý…

- Yêu cầu học sinh phải chọn 1 trong 2 phương án trả lời

 Có thể khuyến khích HS đoán mờ, độ may rủi là 50/50

 Yêu cầu khi thiết kế câu trắc nghiệm đúng - sai

 Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với người học

 Câu hỏi trắc nghiệm phải rõ ràng: Tránh những phát biểu chung chung

 Số lượng câu trắc nghiệm đúng và câu trắc nghiệm sai nên bằng nhau, chiều dài câu trắc nghiệm đúng và câu trắc nghiệm sai nên như nhau

 Tránh dùng phủ định hai lần

 Tránh trích nguyên văn từ sách giáo khoa

Làm cho việc trả lời đơn giản: đánh dấu

 Ví dụ

Dòng nào dưới đây nêu lên 4 động từ? Điền Đ hoặc S vào ô trống trước những phương án dưới đây:

Trang 23

Đem, múa, đánh, cứu

Đem, gươm, múa, cứu

Múa, đánh, dân, cứu

Múa, đẹp, đánh, cứu

Múa, đánh, giúp, cứu

b Trắc nghiệm nhiều lựa chọn

 Mô tả

 Câu trắc nghiệm gồm 2 phần:

+ Phần câu dẫn: là một câu hỏi hay một câu chưa hoàn chỉnh tạo cơ sởcho sự lưa chọn

+ Phần lựa chọn: gồm nhiều phương án trả lời

 Yêu cầu học sinh lựa chọn trong các phương án trả lời phương án trảlời đúng hoặc phương án trả lời đúng nhất Các phương án còn lại là cácphương án gây nhiễu

 Ưu điểm

Độ tin cậy cao, yếu tố ngẫu nhiên, mang tính đơn giản, đảm bảo độ giátrị, có thể đo được khả năng của người học: nhớ, thông hiểu, áp dụng, phântích, tổng hợp,…

 Hạn chế

Khó soạn câu hỏi, đối với những học sinh có óc sáng tạo thì phương ánđúng nhất sẽ không thỏa mãn nếu học sinh tìm ra một phương án hay hơn

 Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi

 Phần dẫn phải diễn đạt rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu Phần câu dẫn đôikhi là câu hỏi hoặc câu nhận định chưa hoàn chỉnh

Trang 24

 Các phương án trả lời có cùng một cách viết và gần giống nhau để tăng độ nhiễu

 Các phương án nhiễu cần được diễn đạt sao cho hợp lí và cảm giác có

độ tin cậy cao

 Các phương án lựa chọn được sắp xếp ngẫu nhiên, không theo một trình tự logic nào cả

 Ví dụ

Dòng nào dưới đây gồm 4 từ láy?

A.Say sưa, ngờm ngợp, lao xao, thung thăng

B Say sưa, ngờm ngợp, xa xanh, thung thăng

C Say sưa, ngờm ngợp, trù phú, thung thăng

D.Say sưa, ngờm ngợp, mênh mông, thung thăng

c Trắc nghiệm điền khuyết

 Mô tả

Những câu trắc nghiệm dạng này có chứa những chỗ trống để họcsinh điền những cụm từ do học sinh nghĩ ra, nhớ ra hoặc được cho sẵntrong những phương án có nhiều lựa chọn

 Thường dùng để kiểm tra ở mức độ biết, hiểu đơn giản

 Đôi khi khó đánh giá đúng nội dung câu trả lời khi học sinh viết sai chính tả hoặc khi câu trắc nghiệm gợi ra nhiều hướng đáp án đúng

Trang 25

 Giáo viên thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu từ sách giáo khoa

 Việc chấm bài mất nhiều thời gian

 Tính khách quan kém, có thể chịu tác động bởi yếu tố chủ quan của giáo viên

 Yêu cầu khi xây dựng câu hỏi

 Không nên để quá nhiều chỗ trống trong mỗi câu

 Các phương án trả lời là các từ, cụm từ, các con số cho trước có thể tương đương hoặc không tương đương với số lượng ô trống Nếu các

từ, cụm từ không cho trước thì đó phải là các từ, cụm từ có nghĩa trongthực tế

 Ví dụ

Chọn tiếng có từ truyền điền vào chỗ trống thích hợp trong các câu sau:

- Bạn ấy đọc bài bằng một giọng ……… rất xúc động

- Đó là một ……… rất hay em đã từng đọc

- Tết âm lịch còn gọi là Tết ……… của dân tộc

- Nhà trường đang ……… học sinh ủng hộ đồng bào

d Câu hỏi ghép đôi

 Mô tả

 Câu hỏi ghép đôi gồm 2 phần:

+ Phần thông tin bảng truy (câu hỏi) và phần thông tin bảng chọn (câu trả

Trang 26

lời)

+ Hai phần này được thiết kế thành 2 cột

 Yêu cầu đặt ra là lựa chọn yếu tố tương đương hoặc có sự kết hợpcủa mỗi cặp thông tin từ bảng truy và bảng chọn

 Ưu điểm

Trang 27

Dễ xây dựng và dễ sử dụng, yếu tố may rủi, ngẫu nhiên giảm dần, hạnchế sự đoán mò.

 Hạn chế

Mất nhiều thời gian cho việc thiết kế và xây dựng câu hỏi

 Yêu cầu khi xây dụng câu hỏi

 Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, cóliên quan đến nhau, sắp xếp nội dung của hai dãy một cách rõ ràng, mang tínhđồng nhất

 Thông tin ở hai cột không nên bằng nhau, nên có thông tin dư ở một cột để tặng sự cân nhắc khi lựa chọn Thứ tự các câu của hai cột không khớpvới nhau để gây khó khắn trong việc lựa chọn và ghép đôi

 Ví dụ

Tìm nghĩa ở cột B thích hợp với mỗi từ ở cột A:

Răng a, Bộ phận ở hai bên đầu người và động vật, dùng để nghe

Mũi b, Phần xương cứng, màu trắng, mọc trên hàm, dùng để

cắn, giữ và nhai thức ăn

Tai c, Bộ phận nhô lên ở giữa mặt người hoặc động vật có

- Trong một thời gian ngắn kiểm tra được một phạm vi kiến thức rộng

Do vậy tránh được tình trạng học tủ, học đối phó

Trang 28

- Tiết kiệm thời gian cho cả học sinh và giáo viên.

- Đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy cao khi tổ chức chấm thi

- Cùng một nội dung có thể xây dựng các bài trắc nghiệm, các câu hỏiphong phú và đa dạng

- Giáo viên có thể phân loại độ đồng đều của từng lớp học sinh với độchính xác cao

- Tạo điều kiện áp dụng công nghệ mới trong tổ chức kiểm tra, thi vàchấm thi

- Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan với hàm lượng thông tincao có thể dùng để kiểm tra đánh giá nhiều lần

- Gây hứng thú và tính tích cực trong học tập cho học sinh

- Rèn luyện cho học sinh phản ứng nhanh nhạy, tính quyết đoán trongtình huống có vấn đề

- Rèn luyện tư duy độc lập và khả năng phán đoán của học sinh

Trong dạy học từ loại cho học sinh lớp 5, việc tìm ra một phương phápdạy học và kiểm tra đánh giá vừa gây hứng thú và khả năng ghi nhớ đặcđiểm, xác định và sử dụng từ loại phù hợp trong giao tiếp hàng ngày là hếtsức quan trọng Sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan sẽ manglại hiệu quả cao phù hợp với tầm nhận thức của học sinh

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm, thì phương pháp trắc nghiệmkhách quan cũng có một số nhược điểm nhất định

b Nhược điểm

- Dễ gây ra tình trạng đoán mò, chọn mò cho học sinh khi không nắmchắc kiến thức

- Không phát triển được tư duy sáng tạo cho học sinh

- Hạn chế trong việc rèn luyện kỹ năng viết, tư duy lập luận logic, trìnhbày một vấn đề

Trang 29

- Hạn chế trong việc đánh giá kết quả nhận thức thái độ của học sinhđối với thế giới quan, nhân sinh quan.

- Đòi hỏi giáo viên công phu trong khâu ra đề, đồng thời phải có mộttrình độ nhất định và mặt bằng chung của đối tượng cụ thể

1.2.3 Một số vấn đề về từ loại tiếng Việt

1.2.3.1 Khái niệm

Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp được phân chia theo

ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác và thực hiệnnhững chức năng cú pháp nhất định trong câu [7]

Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữ pháp theobản chất ngữ pháp của từ [5]

Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó lànhững lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưngthống nhất làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại [4]

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (2008) định nghĩa: “Từ loại là phạm trùngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quátnhư: danh từ, động từ, tính tính,…”

Có rất nhiều khái niệm từ loại đã được các tác giả đưa ra, chúng tôi xintheo quan điểm của Đinh Văn Đức Từ loại là những lớp từ có cùng bản chấtngữ pháp được phân chia theo ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp với các từngữ khác và thực hiện những chức năng cú pháp nhất định trong câu

1.2.3.2 Căn cứ để phân loại từ

a Ý nghĩa khái quát

“Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ, trên cơ sở kháiquát hóa từ vựng thành khái quát hóa phạm trù ngữ pháp chung” [4] Trongphạm vi đơn vị được xét là từ, thì ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho mộtlớp từ Đây là căn cứ đầu tiên để phân định từ loại

Trang 30

Ví dụ các từ: thơ, trâu, trăng, sao, nhà, tình cảm,… có ý nghĩa khái quát

là chỉ sự vật, hiện tượng; còn các từ: ăn, học, đi, chạy,… có ý nghĩa khái quát

Chẳng hạn, từ chứng cho danh từ thường là: những, các, mọi, cái, này,

kia, ấy, nọ,…; từ chứng cho động từ thường là: đã, đang, sẽ, hãy, đừng, xong, rồi,…; từ chứng cho tính từ thường là: rất, hơi, quá, lắm,…

c Chức năng cú pháp

Tham gia vào cấu tạo câu, các từ có thể đứng ở một hay một số vị trínhất định trong câu, hoặc có thể thay đổi cho nhau ở vị trí đó và cùng biểu thịmột mối quan hệ về chức năng cú pháp với các thành phần khác trong cấu tạocâu thì có thể phân vào một từ loại [4]

Tuy nhiên thường một từ có thể giữ nhiều chức năng cú pháp trong câunên cần phải xem xét chức năng cú pháp nào của từ là chủ yếu để làm căn cứphân loại Chẳng hạn, những từ có ý nghĩa chỉ sự vật thường làm chủ ngữ, bổngữ; còn những từ chỉ hoạt động, trạng thái thường làm vị ngữ…

Trang 31

từ Thực từ là tập hợp lớn nhất về số lượng trong vốn từ vựng tiếng Việt; bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ.

Hư từ là lớp từ không có ý nghĩa từ vựng, chỉ biểu thị ý nghĩa ngữ pháphoặc ý nghĩa tình thái Hư từ không có khả năng làm thành tố chính trong cụm

từ và nó được dung kèm với thực từ có tác dụng kết nối, diễn đạt ý nghĩa tìnhthái Hư từ bao gồm phó từ, lượng từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ, chỉ từ,thán từ

Trong khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi chỉ dừng lại nghiên cứu vềdanh từ, động từ, tính từ, đại từ và quan hệ từ

a Danh từ

* Ý nghĩa khái quát

Danh từ là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể

* Khả năng kết hợp

Danh từ có khả năng làm thành tố chính cụm danh từ; có khả năng kết

hợp với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ…; có khả năng kết hợp trực tiếp

hay gián tiếp với số từ

* Chức năng cú pháp

Chức năng cú pháp chính của nó là làm chủ ngữ trong câu

* Phân loại và miêu tả

Ví dụ: Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng,…

Trang 32

- Danh từ riêng chỉ tên sự vật: gồm tên gọi một con vật cụ thể, tên gọimột đồ vật cụ thể, tên gọi tổ chức xã hội cụ thể, địa danh…

Ví dụ: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Xuân Hòa,…

 Danh từ chung:

Danh từ chung là từ chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tínhkhái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụthể được gọi tên Bao gồm các loại: danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật

- Danh từ chỉ đơn vị: Đây là một tiểu loại danh từ rất đa dạng, baogồm các lớp từ không thuần nhất Nét nổi bật của nó là khả năng kết hợp trựctiếp, vô điều kiện với số từ (là danh từ đếm được tiêu biểu)

+ Nhóm danh từ chỉ đơn vị tính toán quy ước: (thường đứng ở vị trítrung gian giữa số từ và danh từ chỉ chất liệu)

Ví dụ: cân, tạ, lít, yến, mét, sào, mẫu, cốc, thúng, bó, chai, ly,…

+ Nhóm danh từ chỉ đơn vị tự nhiên (danh từ chỉ loại, loại từ): Đây làmột tiểu loại danh từ khá đặc biệt Tiếng Việt có các danh từ chỉ loại chuyên

dùng như: con, tấm, bức, cái, chiếc, ngôi, hòn, đứa, thằng, ; có những danh

từ chỉ loại lâm thời như: người, ông, bà, cô, bác, anh, chị, em,…

- Danh từ chỉ sự vật

+ Danh từ tổng hợp: danh từ tổng hợp dung để gọi tên những sự vậttồn tại thành từng tổng thể gồm nhiều sự vật cùng loại với nhau hoặc cóchung một số đặc điểm nào đấy

Ví dụ: quần áo, sách vở, chợ búa, đất đai, bàn ghế,…

+ Danh từ không tổng hợp: bao gồm các tiểu loại khác nhau

 Nhóm danh từ chỉ chất liệu: biểu thị sự vật có ý nghĩa chỉ về chấtliệu ở các thể chất khác nhau

Ví dụ: nước, dầu, mỡ, khí, hơi, đường, bột, cát, sạn,…

 Nhóm danh từ chỉ khái niệm thời gian, không gian

Trang 33

sau,…

Ví dụ: chốn, miền, phía, hướng, hồi, dạo, buổi, mùa, khi, thủa, lúc,…

 Nhóm danh từ chỉ khái niệm về sự vật, sự việc, khái niệm trừu

Ví dụ: sự, nỗi, niềm, cuộc, trận, phen, trên, dưới, trong, ngoài, trước,

 Nhóm danh từ chỉ người: bao gồm từ chỉ quan hệ thân thuộc, chức

Trang 34

vụ, nghề nghiệp, học làm, tầng lớp xã hội,…

Ví dụ: ông, bà, anh, chị, đàn ông, đàn bà, bác sĩ, kỹ sư, học sinh, hiệu

trưởng,…

 Nhóm danh từ chỉ đồ vật, động vật, thực vật

Ví dụ: bàn, ghế, sách, vở, tre, trúc, hoa, quả, trâu, bò, gà, vịt,…

 Nhóm danh từ chỉ đơn vị tổ chức, địa lý

Ví dụ: tỉnh, xã, phường, đoàn, ủy ban, viện, khoa, trường,…

b Động từ

* Ý nghĩa khái quát

Động từ biểu thị ý nghĩa hoạt động, quá trình, trạng thái của đối tượng

* Khả năng kết hợp

Động từ làm trung tâm trong cụm động từ Các từ chứng tiêu biểu của động từlà: hãy, đừng, chớ, đã, đang, sẽ, đều, vẫn, cũng, xong, rồi, nữa,…

* Chức năng cú pháp

Chức năng cú pháp chính là làm vị ngữ trong câu

* Phân loại và miêu tả

Dựa vào bản chất nghĩa – ngữ pháp của động từ, ta có thể chia động từ thànhhai loại lớn: Những động từ độc lập và những động từ không độc lập

 Nhóm động từ độc lập

Động từ độc lập là những động từ tự thân có nghĩa Chúng có thể dungđộc lập, không cần một động từ khác đi kèm Bao gồm:

Trang 35

- Nhóm động từ tác động đến đối tượng: loại động từ này đòi hỏi phải

có thành tố phụ (bổ ngữ) đi sau

Ví dụ: làm, cắt, chặt, quăng, trồng, vẽ,…

- Nhóm động từ trao nhận: thường cần hai bổ ngữ

Ví dụ: cho, biếu, tặng, bán, nhận, vay, mua,…

- Nhóm động từ gây khiến: loại này cũng cần hai bổ ngữ

Ví dụ: cấm, bảo, bắt buộc, kêu gọi, đề nghị, xin, ép, khuyên, để,…

- Nhóm động từ cảm nghĩ, nói năng: biết, hiểu, nghĩ, nghe, thấy,…

- Nhóm động từ chuyển động: ra, vào, lên, xuống, đi, chạy, bò, lắn,

kéo,…

- Nhóm động từ tồn tại hoặc tiêu biến: còn, biến, mất, có, hết,…

- Nhóm động từ không tác động đến đối tượng: ở, ngồi, đứng, nằm,

ngủ, thức, cười, cằn nhằn,…

- Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục,

kết thức, ngừng, thôi, hết,…

- Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến trong không gian: gần, xa, ở,…

- Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lý: yêu, ghét, sợ, thích, mê,…

- Nhóm động từ tổng hợp: đi đứng, ra vào, trò chuyện,…

Trang 36

+ Tình thái về sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải,…

+ Tình thái về khả năng: có thể, không thể, chưa thể,…

+ Tình thái về ý chí: định, toan, nỡ, dám,…

+ Tình thái về mong muốn: mong, muốn, ước, tưởng, ngỡ,…

+ Tình thái về sự tiếp thu chịu đựng: bị, mắc, phải, được,…

+ Tình thái về sự đánh giá: cho, xem, thấy (thường kèm với từ “rằng”)

c Tính từ

* Ý nghĩa khái quát

Tình từ là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặctrưng của quá trình)

* Khả năng kết hợp

Tính từ thường làm thành tố trung tâm trong cụm tính từ Từ chứng cho

tính từ là các phó từ: rất, hơi, quá, lắm,…

* Chức năng cú pháp

Tính từ thường làm vị ngữ trong câu

* Phân loại và miêu tả

Dựa vào nghĩa và khả năng kết hợp của tính từ (về ngữ pháp) có thểchia tính từ thành các tiểu loại

 Những tính từ chỉ đặc trưng, tính chất tuyệt đối (không được đánh

giá theo thang độ): riêng, chung, công, tư, chính, phụ, công cộng, đỏ

lòm, trắng phau, đen sì, xanh mượt,…

 Những tính từ chỉ đặc trưng thuộc về phẩm chất (được đánh giá theothang độ)

- Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc, mùi vị: xanh, đỏ, vàng, đậm, nhạt,

thơm, cay, ngọt,…

- Tính từ chỉ tính chất phẩm chất: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng, tầm thường,

quan trọng, phải, trái, hèn, mạnh, dung cảm,…

Trang 37

- Tính từ chỉ đặc trưng về kích thước, số lượng: to, nhỏ, nặng, nhẹ,

nhiều, ít, rậm, thưa, ngắn, dài,…

- Tính từ chỉ đặc trưng về cường độ: mạnh, yếu, nóng, lạnh,…

- Tính từ chỉ đặc trưng về hình thể: vuông, tròn, thẳng, gãy, cong, méo,

béo,…

- Tính từ chỉ đặc trưng về âm thanh: ồn, im, ồn ào, im lìm,…

- Tính từ chỉ đặc trưng mô phòng: chúng thường là từ láy

Ví dụ: ồn ào, đùng đùng, chênh vênh, gập ghềnh,…

d Đại từ

* Ý nghĩa khái quát

Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Nghĩa của đại từ là biểu thịcác quan hệ định vị bao hàm cả nghĩa trỏ và thay thế Ý nghĩa thay thế ở đây

là thay thế cái đã được gọi tên, cái đã được nói tới và được biết tới trước đó

Ý nghĩa thay thế là thay thế về mặt cú pháp chứ không thay thế về từ loại

- Đại từ trỏ người, sự vật (đại từ xưng hô): tôi, tao, tớ, ta, mày, nó, hắn,

chúng tôi, chúng mày, chúng bay, ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, chủ tích, bác sĩ, sếp,…

- Đại từ trỏ số lượng: bấy, bấy nhiêu,…

- Đại từ trỏ hoạt động, tính chất: thế, vậy,…

 Đại từ để hỏi

Trang 38

- Đại từ để hỏi về người, sự vật: ai, gì, nào (cái gì, cái nào)…

- Đại từ để hỏi về số lượng: bao giờ, bao lâu, mấy, bao nhiêu,…

- Đại từ để hỏi về hoạt động tính chất: sao, vì sao, nào, thế nào, ra

sao,…

e Quan hệ từ

* Ý nghĩa khái quát

Quan hệ từ là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm vàđối tượng được phản ảnh Quan hệ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ,các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu mà nó liên kết Quan

hệ từ không có ý nghĩa từ vựng chỉ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp

Ví dụ: của, cho, bằng, do, vì, bởi, tại, để, mà, về, đến, tới, từ, trong,

ngoài, trên, dưới,…

 Quan hệ từ đẳng lập: chỉ ý nghĩa quan hệ đẳng lập Quan hệ từ chuyênnối các thành tố có quan hệ đẳng lập

Ví dụ: và, với, cùng, hay, hoặc, rồi, còn, là, thì, thà, chứ,…

1.2.3.4 Hiện tượng chuyển từ loại trong tiếng Việt

Hiện tượng chuyển loại của từ là sự chuyển hóa ở phạm trù từ loại hoặctiểu loại này sang phạm trù từ loại hoặc tiểu loại khác với sự giúp đỡ củaphương tiện cấu tạo từ tối thiểu mà ngôn ngữ học có được

Trang 39

a, Hiện tượng chuyển loại thực từ thành hư từ (hiện tượng hư hóa)

 Danh từ, động từ chuyển loại thành quan hệ từ

Ví dụ:

- Rừng là của quý cần bảo vệ  Đây là vườn của nhà tôi.

- Trèo xuống dưới  Dưới bàn có quyển sách.

- Anh cho em túi kẹo  Anh đưa cho em cái kẹo.

 Động từ, tính từ chuyển loại thành phó từ

Ví dụ:

- Trong vườn có nhiều hoa  Chị có đi chơi không?

- Nhà không còn gạo  Vẫn còn thương em.

- Tôi có quyển sách mới  Tôi mới mua quyển sách.

 Động từ chuyển thành tình thái từ

Ví dụ:

Tôi đi học  Em về

đi b, Hiện tượng chuyển lọai giữa các thực từ

 Chuyển loại giữa danh từ và động từ

 Chuyển lọai danh từ thành động từ

 Chuyển loại giữa tính từ và danh từ

- Chuyển loại tính từ thành danh từ

Ví dụ:

Trang 40

+ Tôi rất hạnh phúc  Tôi có những hạnh phúc ấy.

+ Công việc ấy rất khó khăn  Những khó khăn ấy rất khó để

vượt qua

- Chuyển loại danh từ thành tính từ

Ví dụ:

+ Đó là lý tưởng của tôi  Công việc ấy rất lý tưởng.

+ Tấm vải lụa rất đẹp  Anh ta là một tay lái lụa.

 Chuyển loại danh từ thành đại từ

Một số danh từ chỉ quan hệ thân thuộc (ông, bà, cô chú,…) và danh

từ chỉ chức danh, nghề nghiệp (bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, tiến sỹ…) đượcchuyển loại làm đại từ nhân xưng

 Chuyển loại trong nội bộ danh từ

Một số danh từ chỉ quan hệ thân thuộc (anh, em, ông, bà, ), danh từchỉ bộ phận (tay, chân, cành,…), danh từ chỉ đồ vật dùng để đựng (ly,chén, xe, thuyền,…) được chuyển loại thành danh từ chỉ đơn vị

1.2.1 Nội dung dạy học từ loại trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5

với thiên nhiên Luyện từ và câu Đại từ 92

11 Giữ lấy màu xanh Luyện từ và câu Đại từ xưng hô 107

12 Giữ lấy màu xanh Luyện từ và câu Luyện tập quan hệ từ 121

13 Giữ lấy màu xanh Luyện từ và câu Luyện tập quan hệ từ 131

Ngày đăng: 07/09/2019, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết (2006), Đánh giá kết quả học tập ở Tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tậpở Tiểu học
Tác giả: Vũ Thị Phương Anh, Hoàng Thị Tuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[3]. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt (2 tập), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (2 tập)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[4]. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (2006), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2006
[5]. Lê Biên (1998), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
[6]. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 2001
[7]. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại)
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
[8]. Nhiều tác giả ( 2006), Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (2 tập), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (2 tập)
Nhà XB: Nxb Giáodục
[9]. Phó Đức Hòa (2012), Đánh giá trong giáo dục Tiểu học, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phó Đức Hòa
Nhà XB: Nxb Đại họcHuế
Năm: 2012
[10]. Lê Phương Nga (1998), Dạy học ngữ pháp ở tiểu học, Nxb Giáo dục [11]. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), Đánh giá và đo lường kết quả học tập ở tiểu học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học ngữ pháp ở tiểu học", Nxb Giáo dục [11]. Trần Thị Tuyết Oanh (2007), "Đánh giá và đo lường kết quả học tập ởtiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga (1998), Dạy học ngữ pháp ở tiểu học, Nxb Giáo dục [11]. Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục [11]. Trần Thị Tuyết Oanh (2007)
Năm: 2007
[12]. Dương Triều Thống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập của học sinh, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tậpcủa học sinh
Tác giả: Dương Triều Thống
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[13]. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 5, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[1]. Lê Thị Lan Anh (2006), Từ loại tiếng Việt và dạy từ loại cho học sinh Tiểu học Khác
1) Hình thức học sinh chỉ sử dụng các kí hiệu đơn giản để xác nhận câu trả lời đúng Khác
2) Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Khác
3) Hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá năng lực của học sinh.Ý kiến khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w