1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học bài “thao tác lập luận bình luận”

60 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 874,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua việc khảo cứu những công trình khoa học tiêu biểu trên đây, có thể nhậnthấy việc đề xuất các PPDH tích cực, trong đó có thảo luận nhóm đã được nhiều nhànghiên cứu đề cập đến nhưng ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===  ===

HÀ THỊ HƯƠNG

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀO DẠY HỌC BÀI

“THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN”

(NGỮ VĂN 11)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

Sao không theo quy định bìa nhỉ???

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===  ===

HÀ THỊ HƯƠNG

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM VÀO DẠY HỌC BÀI

“THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN”

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - TS.Phạm Kiều Anh - người đã trực tiếp tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tậntình để tôi hoàn thành khoá luận này

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc

biệt là các Thầy, Cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ Văn và các bạn sinh

viên trong nhóm khoá luận đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Hà Thị Hương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Khóa luận tốt nghiệp của tôi là kết quả nghiên cứu, tìm hiểu của riêng tôi,dưới sự hướng dẫn khoa học của giảng viên Phạm Kiều Anh, tôi đã hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp của mình

Những tư liệu được sử dụng, trích dẫn trong đề tài này là trung thực Kếtquả nghiên cứu này không hề trùng với bất cứ công trình nghiên cứu của tác giả nàotrước đó đã được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Hà Thị Hương

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề .2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục khóa luận .6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lý luận .7

1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực .7

1.1.2 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm .10

1.2 Cơ sở lý luận về thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận 17

1.2 1 Khái niệm thao tác lập luận bình luận 17

1.2.2 Cách tiến hành lập luận bình luận .18

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Thao tác lập luận bình luận có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm 19

1.3.1 Thực trạng dạy .19

1.3.2 Thực trạng học .20

1.3.3 Nhận xét chung .21

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN” (NGỮ VĂN 11) SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM 22

2.1 Mục đích dạy học bài Thao tác lập luận bình luận .22

2.2 Nội dung dạy học bài Thao tác lập luận bình luận (Ngữ văn 11) .22

2.3 Xác định các nội dung dạy học bài Thao tác lập luận bình luận có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm 26

2.4 Xác định các phương pháp sử dụng kết hợp với thảo luận nhóm khi dạy học bài Thao tác lập luận bình luận .27

2.4.1 Phương pháp vấn đáp, đàm thoại .27

Trang 7

2.4.2 Phương pháp thuyết trình .28

2.4.3 PP dạy học theo trạm 31

2.5 Định hướng quy trình dạy học bài Thao tác lập luận bình luận có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm 33

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 36

3.1 Mục đích thực nghiệm .36

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 36

3.2 1 Đối tượng thực nghiệm .36

3.2 2 Địa bàn thực nghiệm .36

3.3 Kế hoạch thực nghiệm .37

3.4 Nội dung thực nghiệm 37

3.4.1 Yêu cầu thiết kế giáo án thực nghiệm 37

3.4.2 Giáo án thực nghiệm .38

3.5 Kết quả thực nghiệm .47

3.6 Đánh giá chung .48

KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nền giáo dục nước ta đang chuyển từ chương trình định hướng nội dungsang tiếp cận năng lực của người học Để đạt được mục đích, một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng mà toàn ngành giáo dục phải thực hiện là đổi mới các phươngpháp dạy học (PPDH) Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhấn

mạnh: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp

thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội.” Tiếp đó, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp

hành Trung ương cũng nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học

theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người.” Tại khoản 2 - Điều 28, Luật Giáo dục quy định:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm tin hứng thú học tập cho HS” Có thể thấy những quan

điểm chỉ đạo trên đều tập trung hướng tới nhiệm vụ đổi mới PPDH sao cho việc dạyhọc đáp ứng đúng yêu cầu dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩnăng, hình thành năng lực và phẩm chất cho người học nhằm đáp ứng yêu cầu củathời đại, của thế giới Trong rất nhiều phương pháp được đề xuất, thảo luận nhóm

là một trong những phương pháp phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh (HS) trong học tập Nó chẳng những giúp người học tự giác, tích cực,chủ động tiếp thu kiến thức mà còn tạo môi trường thuận lợi cho người học thamgia thực hành xã hội

1.2 Trong trường THPT, Ngữ văn là môn học có nhiệm vụ cung cấp cho HSnhững kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn

Trang 9

học, phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nguồn nhân lựctrong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Không chỉ có vậy, Ngữ văncòn là môn đảm nhiệm vai trò hình thành và phát triển năng lực sử dụng Tiếng Việt,tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, bên cạnh đó môn học còn bồi dưỡng tình yêuthiên nhiên, yêu gia đình, quê hương đất nước Để truyền đạt hệ thống những trithức này, giáo viên (GV) cần có những cách thức tổ chức nhằm hướng dẫn cho HSxác định rõ điều mà các em mong muốn, đặt những tri thức đó vào những tình huốngtích cực để HS tự chiếm lĩnh tri thức thông qua những hoạt động tự giác, tích cực củachủ thể học tập Làm văn là một phân môn của Ngữ văn Phân môn này giúp HShoàn chỉnh những tri thức về làm văn, các vấn đề lí thuyết và thực hành đã được học,rèn luyện ở bậc học trước sẽ được củng cố, cũng như rèn luyện các kĩ năng chínhtrong việc xây dựng văn bản, nâng cao năng lực ngôn ngữ, tư duy Tuy nhiên, việcdạy học Làm văn còn nhiều hạn chế Để hoạt động dạy học phân môn này đạt hiệuquả, việc đổi mới PPDH là một trong những biện pháp giáo dục không thể thiếu.

1.3 Thao tác lập luận bình luận là bài học thuộc phân môn Làm văn Cũng

giống với thực tế dạy học Làm văn hiện nay, việc dạy học bài này cho HS lớp 11cũng còn nhiều tồn tại Trên thực tế, vẫn còn có một số GV dạy bài này theo hướngcung cấp kiến thức hàn lâm, một chiều; đặt HS trong tình huống làm việc tiếp thukiến thức của bài học thụ động dẫn đến thái độ không hứng thú học tập của chủ thể,kết quả học tập vì thế chưa đạt hiệu quả Nhiều GV còn ngại thay đổi hình thức dạyhọc của mình bởi vì tốn nhiều thời gian, phải sáng tạo tìm tòi khi thiết kế giáo án.Cũng vì thế, việc ngại học, học chống đối trong HS còn nhiều, hiệu quả dạy họcchưa cao Để HS thực sự nắm vững kiến thức, việc sử dụng các PPDH tích cực làđiều cần thiết

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:

Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11).

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu PPDH hiện nay có nhiều khuynh hướng khác nhau Có nhữngtác giả đi sâu tìm hiểu về mặt lí luận của việc thực hiện đổi mới phương pháp nói

Trang 10

chung, cũng có tác giả đi sâu nghiên cứu về thực tiễn thực hiện các phương phápđổi mới ở các môn học cụ thể Tuy mức độ và khía cạnh tìm hiểu có khác nhaunhưng nhìn chung là các tác giả đều hướng đến tư tưởng phát huy tính tích cực chủđộng, sáng tạo của người học Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu:

Nhà nghiên cứu Phan Trọng Ngọ (2005) trong cuốn Dạy học và phương

pháp dạy học trong nhà trường, đã đưa ra hệ thống lí thuyết về dạy học, và về

PPDH Theo tác giả thì các PPDH có thể được sử dụng trong nhà trường hiện đạinhư: Phương pháp dùng lời của GV, phương pháp trao đổi, phương pháp tổ chứctương tác,… nhằm phát huy tính tích cực chủ động cho người học

Cũng bàn về PPDH, tác giả Thái Duy Tuyên (2007) trong cuốn Phương pháp

dạy học truyền thống và đổi mới lại đưa ra dạy học tích cực hóa học tập là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động Từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.Trong các nhóm PPDH được nhắc tới, tác giả Thái Duy Tuyên cũng đề cập tới phương pháp thảo luận nhóm (PPTLN) Còn trong giáo trình “Giáo dục 2”, tác giả Nguyễn Thị Cúc có đề cập đến hình thức thảo luận nhóm nhưng sự

trình bày của thạc sĩ lại khá khái quát: Nêu định nghĩa, chỉ ra các loại nhóm, nhữngchú ý khi thực hiện các loại nhóm Cho nên người đọc chưa thể hình dung một cách

cụ thể về hình thức thảo luận nhóm Tuy nhiên, thạc sĩ cũng chỉ ra được những tácdụng tích cực khi sử dụng thảo luận nhóm: Phát huy vai trò tích cực của HS, giúp

HS chủ động trong học tập

Cũng bàn về thảo luận nhóm, các tác giả: Phan Trọng Luận, Z.IA.REZ,Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt, Nguyễn Duy Bình đã đề cập đến hình thứcthảo luận nhóm, nhưng các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ khám phá một loại hìnhthức dạy học mới nhằm phát huy vai trò của HS mà thôi Các tác giả đều có điểmchung là nhìn nhận thảo luận nhóm “công cụ xúc tác” để hỗ trợ cho việc dạy học.Nhà nghiên cứu Đồng Xuân Quế khi đánh giá về thảo luận nhóm đã nhìn nhận vấn

đề sâu hơn Tác giả đi sâu phân tích từng khía cạnh của vấn đề, chỉ ra tác dụng vàvai trò của hình thức thảo luận nhóm, đồng thời còn đưa ra những trường hợp sử

Trang 11

dụng thảo luận nhóm khi dạy học Song, điều hạn chế của tác giả là ở chỗ phân chia

nhóm: “Mỗi nhóm cử một nhóm trưởng, thư kí,… thực hiện vai trò trong suốt quá

trình thảo luận nhóm”.

Tác giả Nguyễn Trọng Sửu khi nghiên cứu về thảo luận nhóm cũng trình bàykhá cụ thể về PPDH này Tác giả đã chỉ ra được của hình thức thảo luận nhóm:

“Dạy học nhóm đòi hỏi nhiều thời gian, 45 phút của một tiết học cũng là một trở

ngại trên con đường thành công cho công việc nhóm… Nếu tổ chức và thực hiện kém, nó thường dẫn đến kết quả ngược lại với những dự định sẽ đạt Bên cạnh đó, trong các nhóm chưa luyện tập sẽ dễ gây ra hỗn loạn,…” Các tác giả Hoàng Thảo

Nguyên, Trịnh Xuân Vũ, Lê Thị Xuân Liên cũng nhìn nhận hình thức thảo luậnnhóm trên phương diện lí luận học song chưa đưa ra một cách cụ thể về hình thứcthảo luận nhóm

Qua việc khảo cứu những công trình khoa học tiêu biểu trên đây, có thể nhậnthấy việc đề xuất các PPDH tích cực, trong đó có thảo luận nhóm đã được nhiều nhànghiên cứu đề cập đến nhưng chưa có một công trình đi sâu nghiên cứu về việc vận

dụng PPTLN vào dạy một bài học cụ thể là bài Thao tác lập luận bình luận (Ngữ

văn 11) Vì thế, chúng tôi chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu với mong muốn tìmhiểu và đề xuất cách thức vận dụng PPDH này nhằm phát huy tính chủ động, tích

cực cho người học khi học Làm văn nói chung, dạy học bài Thao tác lập luận bình

luận nói riêng để hoạt động dạy học đạt hiệu quả.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích vận dụng một cách hiệu quả phương

pháp thảo luận nhóm vào dạy học bài Thao tác lập luận bình luận (Ngữ văn 11),

nhằm nâng cao chất lượng dạy học Làm văn nói riêng và bộ môn Ngữ văn ở trườngTHPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài “Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học

bài “Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11), chúng tôi xác định những nhiệm

vụ nghiên cứu cơ bản sau:

Trang 12

- Tổng hợp hệ thống cơ sở khoa học về PPDH tích cực, PPTLN và CHNVĐ

và thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận

- Nghiên cứu khả năng và tác dụng của việc sử dụng PPTLN vào dạy học bài

“Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11).

- Đề xuất cách thức sử dụng PPTLN vào thiết kế dạy học bài “Thao tác lập

luận bình luận” ở trường THPT.

- Bước đầu đánh giá tính hiệu quả và khả năng thực thi của việc vận dụngPPTLN bằng dạy học thực nghiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Gắn với nội dung đề tài, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu của đề tàilà: phương pháp dạy học tích cực, PPTLN và thao tác lập luận bình luận

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung xem xét cách vận dụng PPTLN vào dạy học bài Thao

tác lập luận bình luận SGK Ngữ văn 11, tập 2, ban cơ bản.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài: Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học

bài “Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11), chúng tôi kết hợp sử dụng các

phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được dùng để: Phát hiện, nghiên cứu lịch sử vấn đề và rút

ra những kết luận cần thiết về cơ sở lí luận thông qua tìm hiểu các bài nghiên cứu,giáo trình, phương pháp dạy học văn có liên quan trực tiếp đến phạm vi đề tài

5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Phương pháp này là điều tra, khảo sát để thu thập những thông tin thực tế vàtình hình dạy học Làm văn đang diễn ra ở trường THPT

5.3 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được sử dụng khi xem xét tính khả thi của những nội dung

đề xuất trình bày trong chương 2 của khóa luận

Trang 13

5.4 Phương pháp thống kê

Phương pháp này dùng để: Xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sátthực nghiệm, bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những kếtluận chính xác và khách quan

5.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Phương pháp này được dùng để xem lại những thành quả của quá trìnhnghiên cứu đề tài nhằm rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học

6 Bố cục khóa luận

Ngoài lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục viết tắt, phần mở đầu, phụ lục, kếtluận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm ba chương

Chương 1: Cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn

Chương 2: Dạy học bài Thao tác lập luận bình luận” (Ngữ văn 11) có sử

dụng phương pháp thảo luận nhóm

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học tích cực

1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực

1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

PPDH là một thuật ngữ của giáo dục học Về cơ bản, nó được hiểu là cáchthức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy họcxác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học Trong quá trình giáo dục, khi GV tổ chứcđược các nội dung học tập tạo hứng thú cho người học, khiến chủ thể học tập thamgia tích cực vào quá trình chiếm lĩnh tri thức thì các phương pháp dạy học đó đượcgọi là PPHD tích cực

PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉnhững phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng tạo người học điều kiện cho chủthể học tập thể hiện tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân Nói một cáchkhác, đó là quá trình GV thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập để HS chủ độngkhám phá, tìm tòi và chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực chủ động của HS được đánhgiá qua các phương diện như:

Biểu hiện rõ nhất của tính tích cực là HS tự nguyện tham gia trả lời câu hỏicủa GV, bổ sung câu trả lời của các bạn, thích phát biểu ý kiến của mình về vấn đềđược nêu ra

Một biểu hiện của sự tích cực là trong quá trình học tập, người học hay nêuthắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa rõ, chưa đủ.Cùng với đó là thái độ chủ động vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để nhậnthức những vấn đề mới của người học Khi HS đã thực sự chủ động chiếm lĩnh trithức, các em sẽ luôn có thái độ đánh giá, nhận xét những thông tin mới từ cácnguồn, có khi ngoài phạm vi môn học, biểu hiện có tích cực học tập thành ý chínhư: chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành bài tập, không nản chí, khôngtrùng bước khi công việc chưa xong

Trang 15

Như vậy, PPDH tích cực chính là một biện pháp giáo dục thể hiện rõ tínhtrung tâm của chủ thể học tập trong quá trình giáo dục Tuy nhiên để việc sử dụngcác PPDH tích cực một cách hiệu quả thì GV phải nỗ lực nhiều hơn so với lối dạytruyền thống Bởi lẽ, trong quá trình dạy và học tích cực, GV không còn đóng vaitrò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự chiếm lĩnh nội dunghọc tập.

1.1.1.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

Khi sử dụng các PPDH tích cực, một trong những nguyên tắc cơ bản là trongmọi khâu, mọi hoạt động của quá trình giáo dục, HS là phải thực sự là trung tâm, lànhân tố được tiếp nhận tất cả những tác động của quá trình đó Thông qua nhữnghoạt động cụ thể, người học sẽ hình thành những năng lực thiết yếu Mỗi phươngpháp có bản chất riêng nhưng nhìn chung, các PPDH tích cực đều có những đặctrưng cơ bản sau:

Thứ nhất, thông qua các hoạt động để hình thành kiến thức, khơi dậy những

tiềm năng sáng tạo Trong PPDH tích cực, GV không giảng giải hay cung cấp kiếnthức mà định hướng, khích lệ, hỗ trợ HS tự khám phá tri thức hình thành kĩ năng.Nghĩa là HS được đặt vào những tình huống cụ thể, trực tiếp quan sát, thảo luận,phát hiện, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Đó là cơ sở giúpngười học phát huy sức sáng tạo

Thứ hai, khi được sử dụng vào quá trình dạy học, các PPDH tích cực đều

hướng tới nhiệm vụ rèn luyện phương pháp tự học cho người học Việc rèn luyệnphương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học

mà còn là một mục tiêu dạy học Muốn HS biết tự học, phải dạy cho HS cách học,cách tư duy trước mỗi vấn đề, mỗi tình huống học tập

Thứ ba, tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một

lớp học, năng lực nhận thức, khả năng tư duy của HS không đồng đều tuyệt đối thìkhi áp dụng phương pháp tích cực phải có sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoànthành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt độngđộc lập Áp dụng PPDH tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn

Trang 16

Thứ tư, việc sử dụng các PPDH tích cực không tách khỏi kiểm tra đánh giá.

Trong quá trình dạy học, việc đánh giá HS không phải để xếp loại mà là để khích lệ

HS hứng thú học tập, tư vấn giúp HS tìm ra cách học phù hợp nhất Như đã nói trên,một trong những mục tiêu của PPDH tích cực là hướng dẫn HS biết cách tự học.Muốn vậy, ngoài sự thuần thục về kĩ năng, HS phải có hứng thú học tập GV cầntạo hứng thú cho HS bằng cách định hướng, khích lệ những ý tưởng sáng tạo thôngqua đánh giá

1.1.1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực thường được sử trong quá trình giáo dục

Thứ nhất là phương pháp đàm thoại, gợi mở Đây là phương pháp mà ở đó,

GV đặt ra một hệ thống câu hỏi để HS sẽ trả lời ngay hoặc sẽ thảo luận, tranh luậnnhằm làm sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phá những tri thức mới bằng sự táihiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộcsống, từ đó củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa những tri thức đã tiếpthu được Theo quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phươngpháp này không chỉ hướng tới làm rõ các tri thức mà còn chủ yếu hướng tới làm rõcác kĩ năng, thái độ, sự vận dụng tổng hợp các tri thức (kiến thức), kĩ năng, tháiđộ, vào giải quyết nhiệm vụ trong thực tiễn cuộc sống và thực tiễn học tập của

HS Như vậy, mục đích của việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong phương pháp nàykhông chỉ để dẫn dắt HS mà còn khuyến khích các em tự đặt câu hỏi thể hiện tínhtích cực của các em trong quá trình học tập để hình thành và phát triển năng lực, đặcbiệt là năng lực giải quyết vấn đề

Hiện nay, có một PPDH được nhiều GV sử dụng là phương pháp đóng vai.Đây là cách GV tổ chức cho HS hóa thân thành một nhân vật, một đối tượng nào đórồi tham gia vào thực hiện một số nhiệm vụ nào đó trong một tình huống giả định.Khi sử dụng phương pháp này, GV có thể rèn luyện được cho HS hình thành những

kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trongthực tiễn; tạo được hứng thú và chú ý cho HS; tạo điều kiện để phát triển óc sáng tạocủa HS; khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực Như vậy,

Trang 17

HS vừa chủ động hoạt động, vừa được tập duyệt qua những tình huống phát huy tínhchủ động sáng tạo, tập phân tích, đánh giá lợi ích của từng giải pháp, so sánh, lựachọn,… để có được những kĩ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay.

Một phương pháp nữa có thể được nhắc tới là phương pháp sử dụng trò chơi.Bản chất của phương pháp này là dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt độngbằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu củabài học Sử dụng trò chơi học tập để tạo hứng thú học tập cho chủ thể HS khi họctập

Cùng với những phương pháp kể trên, để HS có thể rút ra được những kếtluận khoa học, GV cũng có thể sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn

đề Bản chất của phương pháp này là GV tạo điều kiện cho HS tranh luận, tìm tòi,phát hiện vấn đề thông qua các tình huống có vấn đề Các tình huống này có thể do

GV chủ động xây dựng, có thể do logic kiến thức của bài học tạo nên Thông quacác tình huống học tập, GV khuyến khích HS phát hiện và tự giải quyết vấn đề Vấn

đề cốt yếu của phương pháp này là thông qua quá trình gợi ý, dẫn dắt, nêu câu hỏi,giả định

1.1.2 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm

1.1.2.1 Khái niệm phương pháp thảo luận nhóm

Trong hệ thống các PPDH tích cực, thảo luận nhóm cũng đã và đang đượcchú trọng sử dụng trong quá trình giáo dục Khi tìm hiểu về PPDH này, nhà nghiêncứu Trịnh Xuân Vũ gọi hình thức thảo luận nhóm là “phương pháp”, vì nó có vaitrò độc lập tích cực trong dạy học, đồng thời bản thân nó cũng đủ điều kiện để vận

dụng trong việc dạy học: “trong tính hoàn chỉnh của nó, PPTLN có thể phát huy tối

đa vai trò học tập tích cực của HS” [2; tr.21] Còn Th.s Nguyễn Thị Cúc gọi thảo

luận nhóm là một “hình thức dạy học”, bởi vì “một phương pháp được phát huy hết

ưu điểm của nó cần phải có cần phải có một hình thức dạy học phù hợp, hình thức thảo luận nhóm đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển tư duy HS” [5; tr 49].

Các tác giả: Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nam, thạc sĩ Nguyễn Trọng Sửu, thạc

sĩ Lê Thị Xuân Liên lại nhìn nhận hình thức thảo luận nhóm là một “biện pháp”nằm trong hệ thống PPDH tích cực Cách gọi tên này xem ra chính xác hơn, vì hình

Trang 18

thức thảo luận nhóm được vận dụng nhằm mục đích phát huy vai trò của người học,bản thân nó chưa thể xem là một phương pháp Tóm lại, có nhiều cách gọi tên khácnhau, nhưng các tác gỉa đều có điểm chung là công nhận thảo luận nhóm có tácdụng tích cực trong dạy học tập làm văn Bằng lí lẽ riêng của mỗi người, một số tácgiả đã diễn đạt thành các khái niệm như sau:

Theo tác giả Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương thì: “dạy học theo hình thức

thảo luận nhóm là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó các nhóm HS cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do GV đưa ra, từ đó rút ra bài học dưới sự hướng dẫn của GV” [6; 104].

Còn tác giả Nguyễn Trọng Sửu lại quan niệm: “dạy học nhóm là một hình

thức của xã hội học tập, trong đó HS của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian nhất định, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước lớp” (Dạy học nhóm, phương pháp dạy học tích

cực) [sđd; tr23].Trên cơ sở những định nghĩa trên, chúng tôi có thể đưa ra một định

nghĩa về thảo luận nhóm như sau: “thảo luận nhóm là một quá trình hợp tác giữa

các thành viên trong nhóm, trong lớp nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn, lãnh đạo của GV”.

Tổ chức dạy học nhóm là một hình thức dạy học mới Đó là một trong nhữnghình thức thực hiện tốt việc dạy học phát huy tính tích cực và tương tác của HS.Dạy học theo nhóm đòi hỏi GV phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọnnhững nội dung thực sự phù hợp với hoạt động nhóm và thiết kế được các hoạtđộng giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất Như vậy,PPTLN được sử dụng nhằm khai thác vốn kiến thức mà các em đã tích lũy, nhữnghiểu biết thực tế đời sống hoặc vận dụng kiến thức vào cuộc sống lao động sản xuất

1.1.2.2 Các hình thức thảo luận nhóm

Theo ông Đồng Xuân Quế, hình thức thảo luận nhóm có ba loại cơ bản là:loại nhóm nhỏ (2 HS); loại nhóm nhỡ (4-5 HS) và loại nhóm lớn (8-10 HS) Còntheo cách phân chia của tác giả Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương thì thảo luậnnhóm có

Trang 19

thể chia thành năm loại nhóm khác nhau và trong từng loại cũng có sự chỉ dẫn, phântích rất tỉ mỉ Chính những định hướng cụ thể của thạc sĩ là cơ hội tốt cho chúng ta

có thể vận dụng trong dạy học tập làm văn Trong khóa luận, chúng tôi sẽ kế thừahoàn toàn nghiên cứu khoa học này của thạc sĩ và chúng tôi xin dẫn ra như sau:

Thứ nhất là loại nhóm làm việc theo cặp HS: Đây là hình thức HS trao đổi

với bạn ngồi kế nhau để giải quyết những tình huống do GV đưa ra, trong quá trìnhgiải quyết các tình huống, HS sẽ thu nhận kiến thức một cách tích cực Để HS cóthể làm việc theo cặp, GV phải tạo ra những dạng bài tập “lỗ hổng thông tin”cho

HS Điều này có nghĩa là HS A nắm giữ một số thông tin này, HS B nắm giữ một sốthông tin khác Chỉ bằng cách hợp tác với nhau, chia sẻ, thảo luận những thông tinmình có, nói cách khác là ghép các “mảnh kiến thức” lại với nhau thì hai HS có thểtạo nên một “bức tranh” hoàn chỉnh

Thứ hai là loại nhóm 4-5 HS: Ở loại này, GV chia lớp thành nhiều nhóm,

mỗi nhóm 4-5 HS và cho thảo luận các bài tập, tình huống do GV đưa ra Có hailoại bài tập: bài tập cho hoạt động trao đổi và bài tập cho hoạt động so sánh Tronghoạt động trao đổi, mỗi nhóm giải một vấn đề khác nhau, sau đó trao đổi vấn đề vàcách giải quyết vấn đề của nhóm Cụ thể các loại nhóm hoạt động với mục đích sau:loại hoạt động trao đổi thường được sử dụng cho những bài học có những dunglượng lớn mà thời gian trên lớp lại hạn hẹp và loại hoạt động so sánh thường dànhcho những bài học có dung lượng kiến thức không lớn

Tiếp theo là loại ghép nhóm: Trong hình thức ghép nhóm, cần tổ chức các

nhóm có tính luân chuyển Trước tiên, GV chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm cómột số thành viên Mỗi thành viên có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề khác nhau củabài học và mỗi thành viên trong nhóm phải ghi chép Sau đó, GV tách các thànhviên trong nhóm thành năm nhóm mới, mỗi nhóm cũng gồm năm thành viên lấy từcác nhóm cũ mỗi nhóm một thành viên Các thành viên trở thành “đại sứ” cho nhómcủa mình trong nhóm mới, họ phải thông báo nhiệm vụ và cách giải quyết nhiệm vụcủa nhóm cho nhóm khác Hình thức ghép nhóm này khó sử dụng ở những lớp đông

HS, nhưng có ưu điểm rất lớn là việc báo cáo công việc của các nhóm sẽ do tất cả

Trang 20

các thành viên trong nhóm đảm nhận Mỗi HS sẽ nắm một mảng thông tin để lắpghép thành một thông tin hoàn chỉnh và sẽ không có một HS nào đứng ngoài hoạtđộng của lớp Các HS góp phần làm tăng sự tin cậy cho các thành viên trong nhóm.Nếu trong các loại nhóm khác, ưu thế thường thuộc về các thành viên khá, giỏi thìtrong nhóm mới, mỗi thành viên đều có vai trò thực sự.

Một loại nữa là nhóm kim tự tháp: Đây là cách tổng hợp ý kiến của tập thể

lớp học về một vấn đề của bài học Đầu tiên GV nêu ra một vấn đề cho HS làm việcđộc lập, sau đó ghép hai HS thành một cặp, để các HS chia sẻ ý kiến của mình; kếđến, các cặp sẽ kết hợp lại thành nhóm bốn người, tiếp tục trao đổi ý kiến Cácnhóm bốn sẽ hợp lại thành nhóm tám, nhóm mười sáu,… Cuối cùng, cả lớp sẽ cómột bảng tổng kết các ý kiến hoặc một giải pháp tốt nhất để giải quyết một vấn đề.Như vậy, bất cứ ý kiến cá nhân nào cũng đều phải dựa trên ý kiến của số đông.Hình thức học tập này thể hiện tinh thần dân chủ và dựa trên nguyên tắc tương hỗ,cách học này giúp HS nhận ra rằng ý kiến tập thể tốt hơn ý kiến cá nhân “một câylàm chẳng lên non, ba cây chụp lại nên hòn núi cao” HS có thể học hỏi cái hay từnhiều bạn Việc tổ chức lớp học theo mô hình kim tự tháp rất phù hợp với các giờ

ôn tập khi mà HS cần phải nhớ lại các định nghĩa, khái niệm, công thức,… đã họctrong một chương, một nhóm kiến thức hoặc một chủ đề học tập cụ thể

Cuối cùng là loại nhóm hoạt động trà trộn: Trong hình thức này tất cả HS

trong một lớp phải đứng dậy và di chuyển trong lớp để thu thập thông tin từ cácthành viên khác, giống như các khách mời trong một buổi tiệc đứng dậy gặp gỡ,tiếp xúc với nhau Sự di chuyển khỏi chỗ ngồi làm cho các em thấy thích thú, năngđộng hơn Đối với những HS trung bình hay HS yếu kém thì đây là cơ hội để traođổi với những em HS khá, giỏi và những HS khác không cảm thấy xấu hổ Cũngbằng cách học này, HS thấy rằng có nhiều câu trả lời dùng nhiều ý kiến, quan điểmkhác nhau cho cùng một vấn đề Có thể hoạt động “trà trộn” là “bằng trưng cầu ýkiến” hoặc “khảo sát ý kiến” của tập thể

1.1.2.3 Cách tiến hành thảo luận nhóm

Cách tiến hành thảo luận nhóm bao gồm bốn bước cơ bản:

Trang 21

Bước một

Nêu vấn đề xác định nhiệm vụnhận thức

Tổ chức các nhóm, giao nhiệm

vụ cho các nhómHướng dẫn cách làm việc theo nhóm

Nhận xét, phát hiện vấn đề

Tham gia các nhóm, tổ chứcnhóm

Thu thập thông tin, tái hiện trithức chuẩn bị làm việc trongnhóm

Bước hai

Khích lệ HS làm việc, khuyếnkhích sự tham gia của mỗi cánhân HS vào các hoạt động họctập chung của nhóm

Đưa ra những câu hỏi gợi ý khithảo luận bế tắc hoặc đi chệchhướng

Tự đặt mình vào các tình huống,

tự sắm vai đưa ra cách xử lí tìnhhuống, trao đổi ý kiến, thảo luậntrong nhóm, xử lí thông tin

Tự ghi lại ý kiến theo chủ kiếncủa mình, khai thác những gì đãhợp tác với bạn hoặc tham khảothêm ý kiến của GV để bổ sungsản phẩm ban đầu của mình

Trang 22

Tổ chức thảo luận toàn lớp.

Đại diện các nhóm trình bày, bảo

Bước bốn

Tóm tắt từng vấn đề

Đưa ra những nhận xét đánhgiá về kết quả của từng nhóm,

từ đó đưa ra các kết luận khoahọc

GV tổng kết, đặt vấn đề tiếptheo

So sánh, đối chiếu kết luận của

GV và của các bạn với sản phẩmban đầu của mình

Tự sửa sai, bổ sung, điều chỉnhnhững gì cần thiết

Tự rút kinh nghiệm về cách học,cách xử lý tình huống, cách giảiquyết vấn đề của mình

1.1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm

Bất cứ PPDH và biện pháp dạy học nào cũng đều có những ưu điểm và hạnchế của nó PPTLN cũng không ngoại lệ

Trước hết là sự ưu việt của PPTLN Trong quá trình giáo dục, thông qua việc

sử dụng PPDH này, GV có thể: phát huy tính chủ động, sáng tạo và tạo điều kiệncho HS được nói lên ý kiến của mình; tạo sự đoàn kết, hợp tác giữa các thành viêntrong nhóm và mở rộng sự giao lưu với các HS khác, góp phần trong quá trình xâydựng nội dung bài học; GV rèn luyện dần phương pháp học tập, nghiên cứu và thái

độ học tập tập thể, trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện tốt cho các em hoạc tập tốt hơn;rèn luyện vốn ngôn ngữ cho các em trong giao tiếp cũng như trong lĩnh vực học tập,kết chặt tình bạn bè qua những lời nói sẻ chia, thông cảm và yêu thương Khi HStham gia vào thực hiện các nhiệm vụ khi thảo luận nhóm, các em tự tin qua nhữnglần thảo luận, thuyết trình, đồng thời rèn luyện năng lực tư duy và phát hiện vấn đề.Nói một cách khác thì thảo luận nhóm là cơ hội tốt cho các em học tập, trao đổi với

Trang 23

nhau Qua đó các em sẽ góp nhặt nhưng kiến thức của nhau mà hoàn chỉnh dần kiếnthức của mình Cách dạy học này sẽ gắn kết tình thầy trò với nhau, tạo điều kiệncho GV truyền đạt những tư tưởng thẩm mĩ tốt đẹp cho các em và là nơi GV nhận

sự tác động ngược lại từ phía HS để điều chỉnh bản thân và cách dạy của mình

Bên cạnh những ưu điểm, thảo luận nhóm cũng có những nhược điểm cầnphải khắc phục Trong quá trình giáo dục, sử dụng PPDH này rất dễ tốn thời gian,

dễ gây ảnh hưởng tới tiến độ học tập Việc phân nhóm cũng đòi hỏi GV phải có sựcân nhắc để chất lượng học tập của các nhóm tương đồng với nhau Việc phân chianhiệm vụ học tập cũng phải đều cho tất cả các thành viên trong từng nhóm để tránh sự

lơ là hoặc lảng tránh trách nhiệm trong giờ thảo luận

1.1.2.5 Mối quan hệ giữa phương pháp thảo luận nhóm với các phương pháp dạy học khác

Mỗi PPDH đều có những mặt mạnh và hạn chế nhất định, để đạt được hiệuquả cao nhất thì các PPDH phải kết hợp với nhau một cách hợp lí, phù hợp với mụctiêu và nội dung bài học

PPTLN là một PPDH đã được sử dụng khá phổ biến, thường xuyên, so sánhvới các phương pháp dạy học tích cực khác trong quá trình dạy học, chẳng hạn: Khi

GV yêu cầu HS thảo luận để đưa ra ý kiến, quan điểm về một chủ đề nào đó thì lúc

đó phương pháp thảo luận đang được thực hiện nhưng để có được ý kiến và quanđiểm thống nhất thì HS các nhóm phải đào sâu suy nghĩ Như vậy qua thảo luận màphương pháp động não được thực hiện Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề cũngchỉ được thực hiện có hiệu quả khi các nhóm trao đổi bàn bạc một cách tích cực, sôinổi các vấn đề, mục tiêu học tập đã đề ra Phương pháp vấn đáp còn được sử dụngtrong giờ thảo luận tập thể bằng một hệ thống câu hỏi giúp HS cùng tranh luận đểhiểu sâu sắc hơn vấn đề đang học

Tóm lại, PPTLN là một trong những PPDH có thể kết hợp với nhiều phươngpháp dạy học tích cực khác mà điển hình là những phương pháp nêu trên Thảo luậnnhóm là phương tiện, điều kiện cho sự thành công của các PPDH tích cực khác vàngược lại cũng nhờ những PPDH tích cực đó mà PPTLN đã phát huy được tác

Trang 24

dụng, thế mạnh của mình Vì vậy, có thể khẳng định PPTLN có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học.

1.2 Cơ sở lý luận về thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận

1.2 1 Khái niệm thao tác lập luận bình luận

Thao tác là thuật ngữ được đề ra từ tâm lý học hoạt động Tạo lập văn bản

nghị luận là một hoạt động Hoạt động đó được con người thực hiện nhằm đáp ứngnhững nhu cầu riêng của bản thân Muốn đạt được nhu cầu ấy, con người phải thựchiện các động tác - cơ sở để thực hiện và vận hành những hành động nghị luận Lậpluận là một trong những hành động không thể thiếu khi con người thực hiện hoạtđộng nghị luận Và để thực hiện hành động ấy, người nghị luận phải sử dụng tới thao

tác lập luận Theo đó, ta có thể quan niệm về thao tác lập luận như sau: Thao tác lập

luận là những động tác có tính chất kỹ thuật mà người nói, người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện hoạt động nghị luận.

Trong văn bản nghị luận, bàn bạc, đánh giá là một đặc trưng không thể thiếu

Vì thế khi tạo lập kiểu văn bản này, người viết phải sử dụng thao tác lập luận bìnhluận Hiểu một cách đơn giản nhất thì thao tác lập luận bình luận (TTLLBL) là cáchngười viết đưa ra lý lẽ dẫn chứng nhằm bàn luận, đánh giá, bày tỏ quan điểm, thái

độ của bản thân để thuyết phục mọi người đồng ý với các vấn đề mình đưara.Trong văn bản nghị luận, bình luận là thao tác giúp người nghị luận có thể thựchiện được mục đích bàn bạc, đánh giá của bản thân Cũng vì thế, có thể thấy đặctrưng của thao tác lập luận này trong các toàn bộ văn bản Ta có thể xem xét nó quangữ liệu sau:

Bệnh lề mề

Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người đều thấy, nhưng thường bỏ qua Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc là một biểu hiện [ ] Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức Nhưng những cuộc họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hoá.

(Theo Phương Thảo - Theo SGK Ngữ văn 9, tập 2, Tr 20)

Trang 25

Ngữ liệu trên bàn về một hiện tượng của đời sống Để thể hiện thái độ củabản thân đối với một thói xấu trong cuộc sống, người viết đã sử dụng các lí lẽ, lậpluận và cả các dẫn chứng minh họa để đánh giá nhằm thể hiện suy nghĩ, bộc lộ quanđiểm của mình về căn bệnh xã hội này và qua đó giúp mỗi cá nhân có thái độ ứng

xử đúng đắn với chính bản thân mình và với mọi người trong xã hội Là một đoạnngắn của một văn bản nghị luận xã hội song trước những hiện tượng đời sống ấy,người viết đã đưa ra những lời bàn luận, đánh giá nhằm mục đích nhận thức và phảnánh được sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan Như vậy, bình luận nhằmthuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận củamình về một hiện tương (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học Có nhiều cáchbình luận, nhưng dù theo cách nào thì người bình luận cũng phải đảm bảo các yêucầu như: trình bày rõ ràng, trung thực hiện tượng (vấn đề) được bình luận; đề xuất

và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá của mình là xác đáng; có những lờibàn sâu rộng về chủ đề bình luận

1.2.2 Cách tiến hành lập luận bình luận

Cách tiến hành TTLLBL như sau:

* Bước thứ nhất

- Nêu hiện tượng (vấn đề) cần bình luận

+ Nêu rõ được thái độ và sự đánh giá của người bình luận trước vấn đề đưa ra.+ Cần trình bày trung thực rõ ràng hiện tượng (vấn đề) cần bình luận Khôngthể bình luận những vấn đề, hiện tượng còn xa lạ

* Bước thứ hai

- Đánh giá hiện tượng (vấn đề) cần bình luận

- Phải đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá của mình là xác đáng

- Có thể đánh giá vấn đề theo 1 trong 3 cách:

+ Đứng hẳn về 1 phía, tìm lí lẽ, dẫn chứng để nhiệt tình ủng hộ phía đúng vàphê phán phía sai

+ Kết hợp phần đúng của 2 phía, loại bỏ phần còn hạn chế để đưa ra sự đánhgiá công bằng, hợp lý

Trang 26

+ Đưa ra cách đánh giá của riêng mình.

* Bước thứ ba

- Bàn về hiện tượng (vấn đề) cần bình luận

+ Bàn về thái độ, hành động, cách giải quyết trước vấn đề đang được xem xét.+ Bàn về những điều rút ra khi liên hệ với thời đại, hoàn cảnh, lứa tuổi,…+ Bàn về những vấn đề sâu xa hơn mà vấn đề được bình luận gợi ra

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Thao tác lập luận bình luận có sử dụng

phương pháp thảo luận nhóm

1.3.1 Thực trạng dạy

TTLLBL là một cách tổ chức thông dụng trong toàn bộ văn bản Mục đíchchính của việc dạy bài này là giúp HS biết cách tổ chức các lí lẽ, dẫn chứng để thựchiện nội dung bình luận Tuy nhiên, để HS thực sự hứng thú học tập với nội dung

này là điều không hề đơn giản Vì thế, để thực hiện tốt việc dạy bài “Thao tác lập

luận bình luận”, thì GV cần phải có sự kết hợp nhiều yếu tố như phương pháp, nắm

chắc kiến thức, thái độ, cách tổ chức giờ học

Qua khảo sát thực tế, qua dự giờ dạy của một số GV ở tỉnh Ninh Bình, chúngtôi nhận thấy hiện nay, mặc dù GV đã có ý thức đổi mới PPDH văn, nhưng việcthực hiện mới chỉ mang tính chất hình thức, thử nghiệm chưa mang lại hiệu quả nhưmong muốn GV đã bước đầu có sự đổi mới, nhưng phần lớn vấn còn dạy học theo

kiểu truyền thụ kiến thức một chiều như đối với bài “Thao tác lập luận bình luận”

thì GV chỉ chủ yếu truyền đạt, thuyết giảng, ghi bảng nhiều, HS lắng nghe ghi chéplời giảng của GV vào vở GV chủ động cung cấp kiến thức cho HS, áp đặt kinhnghiệm, cách cảm, cách nghĩ của mình tới HS Nhiều GV chưa chú trọng đến việctiếp thu của HS, tạo ra giờ học như một giờ diễn thuyết mà quên mất đi việc giớithiệu kiến thức chính của bài và nêu rõ cách thức của TTLLBL

Trong quá trình giảng dạy, một bộ phận GV còn ít sử dụng các PPDH tíchcực, cụ thể là PPTLN bởi vì GV lo cháy giáo án; điều kiện không gian lớp học chưathực sự phù hợp; cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế đã ảnh hưởng đến việcthảo luận của HS Sau khi thảo luận xong, để học tiếp nội dung khác lại phải kêlại bàn

Trang 27

ghế, HS trong khi kê lại bàn ghế gây ra mất trật tự, phát ra tiếng động làm ảnh hưởngđến lớp học và lớp bên cạnh Vì vậy, GV rất ít khi sử dụng PPTLN trong giờ học.

Bên cạnh đó, trong quá trình khảo sát, dự giờ, chúng tôi cũng nhận thấy nhiềuthầy cô đã ý thức được và có sự đổi mới trong bài dạy, biết cách vận dụng các PPDHtích cực trong đó có thảo luận nhóm vào dạy học để vừa tăng cơ hội tham gia xâydựng bài cho HS, vừa thay đổi không khí lớp học gây hứng thú cũng như giúp các

em tiếp thu bài nhanh hơn, kích thích sự thể hiện của HS trong quá trình học tập

1.3.2 Thực trạng học

Mỗi phân môn khác nhau lại có đặc trưng riêng Không là ngoại lệ, phânmôn Làm văn cũng có những đặc trưng riêng Khi học phân môn này, ngoài việctiếp nhận những tri thức của các kiểu văn bản, HS phải thực hiện nhiệm vụ tạo lậpcác văn bản theo yêu cầu cụ thể Đây là một hoạt động trí óc, thể hiện khả năngnhận thức, khả năng tư duy và khả năng sáng tạo của chủ thể học tập Vì thế, để làmđược việc này, HS cần có một hệ thống năng lực như phân tích, cảm thụ, bộc lộ suynghĩ của bản thân, khả năng trình bày bài viết Tuy nhiên, do việc dạy còn nhiều tồntại nên chất lượng học của HS còn nhiều hạn chế Nhiều HS viết văn còn khô khan,khó hiểu, chưa biết cách diễn đạt, chưa phân biệt được các kiểu văn bản trongchương trình

Tồn tại lớn nhất của HS hiện nay là thói quen thụ động, quen nghe, quen ghichép, học thuộc, tái hiện một cách máy móc, dập khuôn những gì GV đã giảng, đãviết Một phần HS không yêu thích phân môn Làm văn, một phần HS chưa có thóiquen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học, lười suy nghĩ, đặc biệt đối với nhữngbài học không thi cuối kì, hay thi đại học thì việc học lại không được đề cao, chú ý.Dạy TTLLBL là dạy nhằm trang bị cho người học kĩ năng tổ chức lập luận Nó làmột nội dung kĩ năng trừu tượng nên trong quá trình dạy, HS không chú ý tiếp nhận

và học tập

Hiện nay, HS soạn bài bằng cách chép từ sách học tốt, sách giải và chép bài

để đối phó, rất ít HS đọc sách về bài mới và chuẩn bị cho bài mới Đối với phần

thực hành như trong bài “Thao tác lập luận bình luận”, HS dựa vào học tốt, sách

Trang 28

tham khảo, điện thoại để giải quyết vấn đề mà không cần suy nghĩ động não Có thểnói rào cản lớn nhất là thói quen học tập thụ động, đối phó của HS trong học tậpchính là một khó khăn, thách thức với người GV không chỉ với phân môn Làm văn

mà còn đối với các phân môn khác của bộ môn Ngữ văn

1.3.3 Nhận xét chung

Nhìn chung việc sử dụng PPTLN ở THPT nói chung và trong quá trình dạy

học bài “Thao tác lập luận bình luận” nói riêng, vẫn chưa được chú trọng Tuy

nhiên, đây lại là PPDH tích cực có nhiều tính năng đối với quá trình hình thành,phát triển nhận thức, năng lực người học Cũng vì thế, việc nghiên cứu và đề xuấtcách vận dụng PPDH này vào quá trình dạy học là việc làm hữu ích Với nhận thức

đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra những cách thức phát huytính tích cực, chủ động, kích thích sự sáng tạo của HS khi học Làm văn nói riêng,học Ngữ văn nói chung

Trang 29

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN”

(NGỮ VĂN 11) SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM

2.1 Mục đích dạy học bài Thao tác lập luận bình luận

Việc dạy học bài Thao tác lập luận bình luận trong SGK Ngữ văn 11 hướng

tới các mục tiêu sau:

- Về năng lực cần hình thành và phát triển ở HS

+ Năng lực tự học, năng lực hợp tác

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

+ Năng lực giao tiếp

+ Năng lực thẩm mĩ

+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực tạo lập văn bản

2.2 Nội dung dạy học bài Thao tác lập luận bình luận (Ngữ văn 11)

Để giúp HS hiểu đúng hơn về cách tổ chức lập luận bình luận trong văn bảnnghị luận, SGK Ngữ văn đã triển khai nội dung bài học thành các phần sau:

Trước hết, SGK Ngữ văn triển khai nội dung kiến thức lí thuyết bao gồm:

I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bình luận

Trang 30

- Mục đích, yêu cầu của TTLLBL: Phân tích cách lập luận của văn bản “Xin

lập khoa luật” (Nguyễn Trường Tộ - Ngữ văn 11, tập 1).

+ Vấn đề: đề cao luật pháp của các nước phương tây và chỉ ra sự cần thiếtcủa luật pháp đối với xã hội

• Giỏi luật: làm quan

• Quan dùng luật: trị dân theo luật và giữ gìn

• Khi sử phạt đều phải dựa vào ngũ hình

• Vua không được đoán phạt một người theo ý mình mà phải dựa vào ý kiếncủa các quan

+ Thái độ: phê phán đạo nho: “chỉ nói xuông trên giấy, không làm cũngchẳng bị ai phạt, có làm cũng chẳng được ai thưởng Bởi vậy xưa nay học đã nhiều

mà mấy ai đổi được tâm tính, sửa được lỗi lầm”

=>Tác giả có ý thức tranh luận với quan niệm cho rằng việc lập khoa luật làkhông cần thiết

+ Nêu vấn đề đúng, sai của đời sông, bàn bạc sâu rộng: “nếu bảo luật lệ chỉtốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi thế thì không biết rằng trái luật làtội, giữ đúng luật là đức Nếu tận dụng cái lẽ công bằng trong luật mà sử sự thì mọiquyền pháp đều là đạo đức” Vua chúa thồng trị đất nước đều phải dựa vào luật vàtheo luật

->Thuyết phục triều đình cho mở khoa luật

Kết luận về mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bình luận

TTLLBL có mục đích, yêu cầu như sau:

- Mục đích: nhằm đề suất ý kiến, nhận xét, đánh giá giúp người đọc, ngườinghe hiểu, tán đồng với mình về một hiện tượng một vấn đề nào đó

- Yêu cầu:

+ Trình bày rõ ràng, trung thực vấn đề được bình luận

+ Lập luận để khẳng định, để nhận xét đánh giá phải đúng đắn phù hợp thực tế

+ Bàn bạc mở rộng vấn đề một cách rõ ràng, thuyết phục

II Cách bình luận

Ngày đăng: 07/09/2019, 14:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán (2005), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếngViệt
Tác giả: Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 11, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thực hiện chươngtrình sách giáo khoa lớp 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, Nxb GD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb GD ViệtNam
Năm: 2008
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 11, Nxb GD Việt Nam 5. Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương (2005), Phương pháp dạy văn, Đại học An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 11", Nxb GD Việt Nam5. Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương (2005), "Phương pháp dạy văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 11, Nxb GD Việt Nam 5. Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương
Nhà XB: Nxb GD Việt Nam5. Lâm Trần Sơn Ngọc Thiên Chương (2005)
Năm: 2005
6. Dự án Việt - Bỉ (2010), Dạy và học tích cực, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực
Tác giả: Dự án Việt - Bỉ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
7. Đảng Công sản Việt Nam (2015), Nghị quyết 29 TW Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện, giáo dục Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 29 TW Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện, giáo dục Việt Nam
Tác giả: Đảng Công sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2015
8. Nguyễn Văn Đường (chủ biên), (2013), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 2, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11
Tác giả: Nguyễn Văn Đường (chủ biên)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2013
9. Lê Bá Hán (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb GD, Hà Nội.’ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004
10. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
11. Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục Khác
12. https:/ / text.12 3 doc . org/docu m ent/18 2 152 6 -phuong- p hap-day - ho c -theo-nho m - pptx.htm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w