TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ====== LÊ THỊ VÂN ANH TRƯỜNG NGHĨA ẨM THỰC TRONG MIẾNG NGON HÀ NỘI CỦA VŨ BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Ngườ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LÊ THỊ VÂN ANH
TRƯỜNG NGHĨA ẨM THỰC TRONG
MIẾNG NGON HÀ NỘI CỦA VŨ BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
LÊ THỊ VÂN ANH
TRƯỜNG NGHĨA ẨM THỰC TRONG
MIẾNG NGON HÀ NỘI CỦA VŨ BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS.ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khóa luận, chúng tôi đã nhận được sự quan tâmgiúp đỡ của thầy cô tổ bộ môn Ngôn ngữ, các thầy cô khoa Ngữ văn và cácbạn sinh viên, đặc biệt là PGS.TS.Đỗ Thị Thu Hương, giáo viên trực tiếphướng dẫn
Nhân khóa luận hoàn thành, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy côgiáo và các bạn
Do thời gian có hạn và cũng là lần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứukhoa học, chắc chắn khóa luận không tránh khỏi những hạn chế Chúng tôimong tiếp tục nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luậnđược hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lê Thị Vân Anh
Trang 4Tôi xin cam đoan
LỜI CAM ĐOAN
1.Khóa luận:Trường nghĩa ẩm thực trong Miếng ngon Hà Nộicủa Vũ
Bằng là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của nhữngngười đi trước và dưới sự giúp đỡ khoa học của giáo viên hướng dẫn khóaluận
2.Khóa luận không sao chép từ một công trình có sẵn nào
3.Kết quả nghiên cứu ít nhiều có đóng góp của tác giả
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
( ký và ghi rõ họ tên )
Lê Thị Vân Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5.Phương pháp nghiên cứu 5
6.Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1.Lí thuyết về trường nghĩa 6
1.1.1.Khái niệm trường nghĩa 6
1.1.2.Các loại trường nghĩa 7
1.1.2.1.Trường nghĩa biểu vật ( trường biểu vật ) 9
1.1.2.2.Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm) 9
1.1.2.3.Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) 9
1.1.2.4.Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng) 10
1.1.3.Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương 11
1.1.3.1.Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương 11
1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm và ngôn ngữ văn chương 11
1.1.3.3 Trường nghĩa liên tưởng và ngôn ngữ văn chương 12
1.2.Vài nét về văn hóa ẩm thực Hà Nội 12
1.3.Tản văn Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng 14
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ TRƯỜNG NGHĨA BIỂU VẬT TRONG MIẾNG NGON HÀ NỘI CỦA VŨ BẰNG 17
2.1.Tổng quan về trường nghĩa ẩm thực trong Miếng ngon Hà Nội – Vũ Bằng 17
Trang 62.2 Trường nghĩa tên gọi các món ăn 17
2.3.Trường nghĩa màu sắc món ăn 22
2.4.Trường nghĩa nguyên liệu chế biến món ăn 25
2.5.Trường nghĩa về mùi vị của món ăn 30
2.6.Trường nghĩa về cách chế biến món ăn 32
2.7.Trường nghĩa về cảm quan đánh giá 36
CHƯƠNG 3 HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA TRƯỜNG NGHĨA ẨM THỰC TRONG MIẾNG NỘI NGON HÀ NỘI CỦA VŨ BẰNG 40
3.1.Trường nghĩa ẩm thực góp phần miêu tả một cách phong phú, đa dạng các món ngon Hà Nội 40
3.2.Trường nghĩa ẩm thực góp phần miêu tả nét đẹp tinh tế của các món ngon Hà Nội 43
3.3.Trường nghĩa ẩm thực góp phần tô đậm văn hóa ẩm thực của người Hà Nội 45
KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7tài nghiên cứu về trường nghĩa như đề tài nghiên cứu Trường nghĩa gió trong
thơ Tố Hữu [20] hay Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt [2] Và một trong số đó, trường nghĩa ẩm thực được nhiều tác giả
chú ý nghiên cứu tới, tuy nhiên họ mới chỉ quan tâm trường nghĩa ẩm thựctrong phạm vi kho từ vựng chứ chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu trong cáctác phẩm văn chương cụ thể Vậy nên,chúng tôi sẽ khảo sát trường nghĩa ẩmthực trên một tác phẩm văn chương cụ thể với mong muốn đóng góp phầnnào vào sự phát triển của khuynh hướng đọc hiểu tác phẩm văn học từ góc độcủa ngôn ngữ
Vũ Bằng một nhà văn để lại nhiều tác phẩm xuất sắc và có tiếngvang cho nền văn học những năm ba mươi Ông sinh năm1913, là một nhàvăn đa tài có thể viết được nhiều thể loại và để lại nhiều dấu ấn Không ítnhững nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học đã cho rằng ngay từ nhữngnăm ba mươi, Vũ Bằng là một trong những cái tên có công lớn trong việccách tân tiểu thuyết Việt Nam, hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam
Vũ Bằng đến với văn chương khá sớm Năm 17 tuổi (1931) ông đã
xuất bản tác phẩm đầu tay Lọ Văn Cùng với đó ông còn hoạt động trên lĩnh
vực báo chí, từ thập niên ba mươi, bốn mươi, khi còn rất trẻ ông đã là chủ bút
tờ "Tiểu thuyết thứ Bảy" và là thư kí tòa soạn tờ Trung Bắc chủ nhật Những
tác phẩm của ông được nhiều người biết đến như Thương nhớ mười hai(bút kí), Một mình trong đêm tối(tiểu thuyết), Tội ác và hối hận (tiểu thuyết
1940)
Trang 8Đặc biệt với "cái ăn" Vũ Bằng viết rất tuyệt Năm 1960, ông cho ra
đời bút ký Miếng ngon Hà Nội Bút ký Miếng ngon Hà Nội là cuốn sách tập
trung giới thiệu các món ngon Hà Nội cũng như tâm tình và kỉ niệm của tácgiả thông qua các món ăn Cuốn sách như một bách khoa toàn thư về ẩm thực
Hà Nội về những nét riêng trong ẩm thực Hà Nội
Với những lí do kể trên, chúng tôi đã chọn đề tài Trường nghĩa ẩm
thực trong Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng để nghiên cứu tác phẩm của ông
theo hướng tiếp cận ngôn ngữ
2.Lịch sử vấn đề
Khi tìm hiểu đề tài, chúng tôi thấy nhiều trường từ vựng- ngữ nghĩathuộc các phạm trù khác nhau như trường nghĩa chỉ vật, trường nghĩa chỉ màusắc, trường nghĩa chỉ con người đã được quan tâm và nghiên cứu Nhiềucông trình đã xem xét sự hoạt động của trường nghĩa trong môi trường lịch sửvăn hóa, xã hội, một số tác giả còn đối sánh trường nghĩa ngôn ngữ với một
số trường nghĩa tương ứng trong ngôn ngữ khác như luận văn “Đối chiếu
trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ thực vật trong tiếng Mông và tiếng Việt”[16].
Nhưng họ mới chỉ nghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ trong mối quan hệ với
sử học, văn hóa học, xã hội học…chứ chưa đi vào tác phẩm văn học nào cụthể Việc nghiên cứu hoạt động của trường nghĩa trong tác phẩm văn chương
là vấn đề còn mới mẻ Cũng đã có một số công trình nghiên cứu như Trường
nghĩa gió trong thơ Tố Hữu [20],Trường nghĩa của từ yêu trong thơ Xuân Diệu [10].
Nhắc đến tên tuổi các nhà văn xuất sắc của thế kỉ XX,Vũ Bằng là cáitên không còn xa lạ với người đọc, tuy nhiên để có được thành công như ngàyhôm nay là cả một chặng đường Ông là người mở đầu cho văn xuôi hiện đại
Việt Nam với khối lượng tác phẩm rất đồ sộ như Thương nhớ mười hai,Lọ
văn,Miếng ngon Hà Nội
Trang 9Tuy nhiên, các tác phẩm của Vũ Bằng chủ yếu được nghiên cứu dướigóc độ văn chương, rất ít công trình nghiên cứu các tác phẩm đó theo hướng
nghiên cứu ngôn ngữ Có thể kể đến tài liệu tiêu biểu như Đặc trưng ngôn
ngữ trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng.Tài liệu nghiên cứu Thương nhớ mười hai theo hướng tổng hợp những nét đặc sắc trong nghệ thuật văn
chương Vũ Bằng
Bút ký Miếng ngon Hà Nội cũng được rất nhiều nhà phê bình và
nghiên cứu quan tâm đến Các bài viết bước đầu đã đi sâu và tìm hiểu tác
phẩm Miếng ngon Hà Nội trên phương diện ẩm thực Năm 2008, trong bài viết Mỹ học ẩm thực của Vũ Bằng qua hai tập kí Miếng ngon Hà Nội và
Thương nhớ mười hai đăng trên tạp chí Non Nước số 137 [24], tác giả Chế
Diễm Trâm đã có cái nhìn khá bao quát và sâu sắc về mỹ học ẩm thực của VũBằng Trong tác phẩm của mình, tác giả đã so sánh, phân tích, tổng hợp và rút
ra nhận xét sự giống và khác nhau trong thú ẩm thực của ba tác giả ThạchLam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng
Tác giả Chế Diễm Trâm với cuốn sách “Thương nhớ mười hai, Mê
chữ, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam-Vũ Bằng”[23], tác giả nghiên
cứu dưới góc độ chất thơ trong lời văn Cũng có những luận văn nghiên cứu
bút kí Miếng ngon Hà Nội trên phương diện văn hóa ẩm thực như Văn hóa ẩm
thực Hà Nội trong tác phẩm Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng [14].
Nhìn chung sau quá trình khảo sát, công trình nghiên cứu về tác giả
Vũ Bằng chúng tôi nhận thấy đa số các công trình đều chú ý đến vấn đề cuộcđời nhiều biến cố cùng với hiện thực tâm trạng của nhà văn Những công trìnhcung cấp cho chúng tôi những tài liệu rất hữu ích liên quan đến cuộc đời cũngnhư sự nghiệp sáng tác của tác giả Vũ Bằng Một đặc điểm khác chúng tôinhận thấy rằng các công trình nghiên cứu kể trên đều không trực tiếp bàn luận
về ẩm thực mà chỉ coi ẩm thực là một phương tiện tác giả gửi gắm tâm tư tình
Trang 10cảm nỗi niềm hoài thương nhớ về xứ Bắc và các công trình nghiên cứu rất ít
đề cập tới vấn đề trường nghĩa trong các sáng tác của Vũ Bằng Vì vậy ,chúng tôi hướng tới cái nhìn trực diện hơn về văn hóa ẩm thực với cái nhìncủa ngôn ngữ mà cụ thể là trường nghĩa ẩm thực trong sáng tác của Vũ Bằng
qua bút kí Miếng ngon Hà Nội.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu trường nghĩa ẩm thực trong tác phẩm Miếng ngon
Hà Nội của Vũ Bằng, khóa luận nhằm mục đích khẳng định tính hệ thống của
từ ngữ trong tác phẩm văn chương Từ đó giúp ích cho việc phân tích từ ngữtrong tác phẩm văn chương
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát những vấn đề lí thuyết có liên quan
- Khảo sát, thống kê, phân loại và miêu tả các trường nghĩa xuất hiện
trong bút kí Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng.
- Phân tích ngữ liệu cụ thể để thấy được hiệu quả của trường nghĩatrong việc thể hiện nội dung của tác phẩm
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
-Từ ngữ thuộc trường nghĩa ẩm thực trong Miếng ngon Hà Nội của Vũ
Trang 115.Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
-Phuơng pháp miêu tả
-Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
6.Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, khóa luận gồm 3 chương
Chương 1.Cơ sở lí luận
Chương 2.Một số trường nghĩa biểu vật trong Miếng ngon Hà Nộicủa
Vũ Bằng
Chương 3.Hiệu quả nghệ thuật của trường nghĩa ẩm thực trong tùy
bút Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng.
Trang 12Một kiểu trường nghĩa được nghiên cứu nhiều nhất chính là “nhóm từvựng- ngữ nghĩa” Đó là kiểu trường nghĩa được xác lập dựa trên từ khái quátbiểu thị các khái niệm chung nhất, trừu tượng nhất và chung hòa nhất Một số
ví dụ như:trường nghĩa gió, trường nghĩa đồ vật, trường nghĩa màu săc,
có quan hệ với nhau như:trường nghĩa của từ đầu, trường nghĩa của từ chín,
trường nghĩa của từ ăn…
1.1.1.Khái niệm trường nghĩa
Dựa theo những quan niệm của nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôinhận thấy một cách hiểu chung về trường từ vựng- ngữ nghĩa để làm cơ sởcho nghiên cứu:
“Một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa
gọi là trường từ vựng Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường
Trang 13nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau một nét nào đó về nghĩa
[9,tr35]
Ví dụ: Trường tự vựng chỉ bộ phận cơ thể con người bao gồm: mắt,
mình, chân, tay, đầu, môi, mũi, tai…
Có thể hình dung khái niệm trường từ vựng- ngữ nghĩa bằng một số ví
dụ sau:
Trường có ý niệm chỉ người hay con người bao gồm các nhóm từ cómối qua hệ với nó như sau:
Về giới tính có các từ: nam, nữ, trai, gái, phụ nữ, đàn ông…
Về tuổi tác có già, trẻ, thiếu nhi, thiếu niên, phụ lão, trung niên…
Về ngoại hình có cao, thấp, béo, lùn, xấu, xinh….
Quan niệm về trường nghĩa mà chúng tôi trình bày trong luận văn này
chủ yếu dựa trên định nghĩa: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là trường
nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [7,172] và
định nghĩa: “Trường nghĩa là một tổ chức các từ và các biến thể sử dụng từ
có quan hệ với nhau làm thành một hệ thống Hệ thống này cho thấy mối liên
hệ của chúng dựa theo một cái gì đó”[1,9] Theo các định nghĩa này có thể
hiểu, trường nghĩa là một tập hợp, một tổ chức, một nhóm các từ có mốiquan hệ nào đó với nhau về ngữ nghĩa Chúng làm thành một tiểu hệ thốngtrong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Việc xác lập trường nghĩa do đóphải dựa trên những tiêu chí ngôn ngữ xác định
1.1.2.Các loại trường nghĩa
Việc phân loại trường nghĩa nên dựa vào sự hiểu biết về hai loại quan
hệ chủ yếu trong ngôn ngữ là: quan hệ ngữ đoạn(quan hệ ngang) và quan hệ
hệ hình(quan hệ dọc) Theo đó, trường nghĩa được phân làm loại: trườngnghĩa ngang và trường nghĩa dọc và trường nghĩa có quan hệ chi phối cả haitrường nghĩa trên là trường nghĩa liên tưởng
Trang 14Phân định và xác lập một trường nghĩa về cơ bản dựa vào các tiêu chí
Thứ nhất: do các trường nghĩa là các sự kiện thuộc phạm trù ngôn ngữnên việc phân lập chúng trước tiên phải dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ- những
ý nghĩa ngôn ngữ Ý nghĩa ngôn ngữ chính là ý nghĩa của từ, cơ sở để xác lập
từ thành trường
Thứ hai: phải tìm được các trường hợp điển hình- từ điển hình Nó sẽtạo ra một lực nghĩa “ thu hút, hấp dẫn” các từ khác thành một trường Theotiêu chí này các trường nghĩa có ranh giới tương đối có thể độc lập hoặc giaonhau thậm chí là bao hàm lẫn nhau
Thứ ba: dựa vào các lớp nghĩa biểu vật và biểu niệm, có thể phân biệttrường biểu vật và biểu niệm
Thứ tư: với trường nghĩa biểu vật tiêu chí xác lập chỉ là sự đồng nhất
Thứ bảy: với trường liên tưởng,cơ sở để xác lập trường liên tưởng làcác nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm Đó là những nghĩa mới được tạo ratrong quá trình hành chức, chưa đi vào hệ thống Từ trung tâm khi cùng xuấthiện với loạt các từ nào đấy nhiều ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tượng đẳngcấu ngữ nghĩa, Khi đó chúng sẽ tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà ở
đó các từ có quan hệ với nhau nhờ mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó
Trang 15Theo các tiêu chí trên hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ cóthể phân lập ra các trường nghĩa như trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểuniệm, trường nghĩa tuyến tính,trường nghĩa liên tưởng.
1.1.2.1.Trường nghĩa biểu vật ( trường biểu vật )
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật.Từđiển hình của trường thường là các danh từ có tính khái quát cao và gần như
đó là tên gọi của các phạm trù biểu vật Với trường nghĩa ẩm thực thì từ trungtâm khái quát sẽ là ẩm thực Từ này tập hợp được các từ có cùng hạt nhân ýnghĩa với nó như: mùi vị, nguyên liệu chế biến…
Các trường nghĩa biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức cácđơn vị,miền phân bố.Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật nên một số từ có thểnằm trong nhiều trường khác nhau từ đó dẫn tới hiện tượng thẩm thấu và giaothoa giữa các trường
Trong một trường biểu vật, quan hệ của các từ ngữ đối với trường là khônggiống nhau Những từ có nghĩa biểu vật gần giống với từ trung tâm sẽ gắnchặt với trường và tạo thành “lõi” của trường Ngoài “ lõi” là các lớp từ gắn
bó với trường theo chiều hướng lỏng lẻo dần
1.1.2.2.Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm)
Trường biểu niệm là tập hợp từ có chung một cấu trúc biểu niệm Cũngnhư các trường biểu vật thì trường biểu niệm lớn có thể phân thành các trườngnhỏ hơn với những miền và mật độ khác nhau Các trường biểu niệm cũnggiao thoa và thẩm thấu vào nhau và cũng có “lõi” trung tâm là các từ điểnhình và các lớp ngoại vi là những từ kém điển hình
1.1.2.3.Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Như đã nói ở trên, tiêu chí để phân loại trường tuyến tính là dựa hẳn vàongữ nghĩa từ trung tâm Để lập các trường tuyến tính, chúng ta chọn một từlàm gốc rồi tìm tất cả từ có thể kết hợp với nó thành một chuỗi tuyến tính
Trang 16chấp nhận được trong ngôn ngữ Ví dụ trường nghĩa tuyến tính của từ mưa là mưa đá, mưa phùn, mưa rào…
Vậy các từ trong tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâmtrong các loại ngôn ngữ bản.Cùng với trường nghĩ dọc, trường nghĩa tuyếntính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựngphát hiện những đặc điểm nội tại và những hoạt động của từ
1.1.2.4.Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng)
Sự phân lập ra các trường biểu niệm và biểu vật như trên là cần thiết đểtìm hiểu những quan hệ và ngữ nghĩa-ngữ pháp, phát hiện những đặc điểmnội tại và đặc điểm hoạt động của từ.Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích “cấutrúc bề mặt” của ngôn ngữ, trong ngôn ngữ còn có “cấu trúc bề sâu” Và đó là
lí do xác lập trường liên tưởng
Nhà ngôn ngữ Pháp Ch.Bally là tác giả đầu tiên của trường liên tưởng.Theo ông mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng Như thế các
từ trong trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng các ý nghĩaliên hội có thể có của từ trung tâm
Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sự
vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất có quan hệ liên tưởng với nhau.
Chẳng hạn, trường nghĩa liên tưởng của từ trắng gồm các đơn vị từ vựng:trong trắng, tinh khiết, hoa mơ, tuyết, áo dài, phấn, tóc
Các từ trong một trường nghĩa liên tưởng trước hết là những từ cùng nằmtrong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ
có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm
Trang 171.1.3.Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương
1.1.3.1.Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương
Chúng ta đã biết, từ ngữ có thể chuyển nghĩa theo phương thức hoán
dụ và ẩn dụ Có thể nhận xét như sau: Các từ trong một trường biểu vậtthường lôi kéo nhau chuyển nghĩa theo một hướng nhất định
Nếu các từ chuyển theo ẩn dụ thì thường xảy ra sự chuyển trường biểuvật,có nghĩa là các từ thuộc trường biểu vật này kéo nhau chuyển sang trườngnghĩa biểu vật khác Ví dụ: từ lửa chuyển sang trường “tình cảm trạng thái
tâm lí” thì kéo theo các từ hừng hực, rực,nhen nhóm, tàn… cùng chuyển sang
trường đó
Trường lửa cũng có chuyển sang trường chỉ các cuộc đấu tranh xã hội.Nhiều từ cùng với lửa cũng chuyển thể nghĩa : lửa đấu tranh giải phóng dântộc, phong trào đấu tranh vẫn còn âm ỉ, không thể dập tắt được Nên chú ý khitrường nghĩa được dùng đúng với trường của chúng thì tác dụng gợi hình ảnhkém đi hoặc không có bởi sự trung hòa về ngữ cảnh Trong văn chương, các
từ ngữ trong một câu văn, một đoạn văn thường kéo theo nhau theo cùng mộttrường để tạo nên sự phù hợp về trường nghĩa biểu vật
1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm và ngôn ngữ văn chương
Khi phản ánh một hiện tượng nào đó vào tác phẩm, người viết khắc sâu
nó bằng ngôn ngữ của mình Tại một chỗ,tác phẩm chỉ có thể phản ánh mộtphương diện thực tế mà thôi Để làm nổi bật cái đồng nhất đó, từ ngữ diễn đạtcũng phải chứa cái gì đó chung, phù hợp với nhau để tạo nên hiện tượng gọi
là sự cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các từ Sự cộng hưởng ngữ nghĩa này dựatrên nét đồng nghĩa nhất định vốn có trong từ, nói khác đi, dựa trên nét nghĩachung cho một trường nghĩa biểu niệm Sự cộng hưởng về ngữ nghĩa nàykhông chỉ xảy ra với các từ ngữ Nó có thể chi phối cả cấu trúc ngữ pháp, cảngữ âm tiết tấu Nói một cách khác, người viết thường phối hợp tất cả yếu tố
Trang 18các phương tiện ngôn ngữ để tạo nên sự toàn bích về hình thức cho tác phẩmcủa mình.
1.1.3.3 Trường nghĩa liên tưởng và ngôn ngữ văn chương.
Trường liên tưởng có hiệu lực lớn, giải thích sự dùng từ dùng từ, nhất
là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích hiện tượng sáo ngữ, sự ưathích lựa chọn những từ ngữ nào đấy để nói hay viết,sự né tránh hoặc kiêng kịnhững từ ngữ nhất định… Không nói đến những sự sai biệt về chủ đề tưtưởng, về các chi tiết thực tế về hình tượng… chỉ riêng diện mạo ngôn ngữcũng đủ làm cho tác phẩm thời kì này không lẫn với tác phẩm văn học thời kìkhác Một tác giả đã từng sáng tác có kết quả trong thời kì trước thường gặpkhó khăn trong thời kì sau, đặc biệt là những thời kì đã có những thay đổi cănbản trong xã hội bởi vì người sáng tác đã bị ràng buộc quá nặng của nhữngtrường liên tưởng cũ
Ví dụ như trong văn học hiện đại Việt Nam trước 1945, từ li biệt làm
ta liên tưởng tới tống biệt, chia li, và thường gợi những từ như con thuyền,
bến hoàng hôn:
“ Đưa người ta không đưa qua sông
Mà sao thấy sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”… (
Thanh Tâm)
1.2.Vài nét về văn hóa ẩm thực Hà Nội
Mỗi vùng miền trên đất nước ta đều có những đặc trưng riêng biệt.Mỗi vùng lại có một nền văn hóa ẩm thực riêng biệt tạo nên bản sắc riêng chomỗi vùng miền.Và Hà Nội là một vùng đất như vậy
Hà Nội- mảnh đất nghìn năm văn hiến, mảnh đất của tinh hoa trời đất
tụ hội Chính điều đó cũng phần nào chi phối văn hóa ẩm thực đất Bắc Đó là
Trang 19một nền ẩm thực cầu kì có tính cung đình nhưng lại có lối ẩm thực bình dị đơn giản.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Ẩm thực” chính là ăn uống, là hoạtđộng cung cấp năng lượng cho con người Ẩm thực là một trong những nhucầu cơ bản để duy trì sự sống Như vậy văn hóa ẩm thực là một yếu tố thamgia tích cực vào việc phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc
Văn hóa ẩm thực là những tập quán, khẩu vị của con người, những ứng
xử của con người trong ăn uống cho đến những phương thức chế biến và trìnhbày, cách thưởng thức món ăn Đồng thời hiểu rộng hơn văn hóa ẩm thực làmột phần văn hóa nằm trong tổng thể, phức thể, các đăc trưng diện mạo vậtchất, tinh thần, tri thức, tình cảm khắc họa một số nét cơ bản, đặc sắc của giađình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, dân tộc.Nó chi phối một phần khôngnhỏ cách ứng xử, giao tiếp tạo nên đặc thù của cộng đồng ấy
Văn hóa ẩm thực là như thế, vậy văn hóa ẩm thực Hà Nội có điều gìđặc sắc.Văn hóa ẩm thực Hà Nội trước hêt ở chỗ “tinh sành”, “Qúy hồ tinhbất quý hồ đa” thanh cảnh, ngon mà lành, mỗi món ăn lại có một thứ gia vịriêng biệt đầy ngụ ý của người nấu
Không thể kể hết cách ăn của người Hà Nội, họ đã quen với cách ănthanh lịch, mùa nào thức ấy Chẳng thế mà nhà văn Vũ Bằng khi vào Sài Gònsống hàng chục năm trời, cách xa Hà Nội, ông lại mang bệnh nhớ nhung cồncào , se sắt ẩm thực Hà Nội.Hay nhà văn Nguyễn Tuân có sở thích ăn phở HàNội, đến nỗi trong dịp dự Đại hội hòa bình thế giới tại Hensiki (Phần Lan )
mới xa chưa đầy một tuần lễ, Nguyễn Tuân đã nhớ phở gà tới mức:“Chúng tôi
nhớ heo hắt vì đi xa đất nước, khẩu vị lạc điệu, thấy nhớ nhà, nhớ đất nước,có cả một sự nhớ ăn phở nữa” Phải chăng nét đặt sắc của ẩm thực Hà
Nội đã khiến con người khi nếm một lần khó lòng quên được đó là những
Trang 20món ăn như phở, chả cá, cốm làng Vòng hay nem rán… Chính đặc sắc của
ẩm thực đã đem đến cho Hà Nội một nét rất riêng
Riêng các món quà thì Hà Nội đã nâng nghệ thuật ăn uống lên tầm caomới Nói đến phở người ta nhớ ngay tới phở Bắc, mà phở Bắc không đâubằng phở Hà Nội Vũ Bằng đã từng viết, phở là món ăn điểm tâm của tất cảngười Việt Người Việt có thể không ăn cái này cái kia nhưng chắc chắn aicũng đã từng ăn phở Mà phở ngon nhất là phở Hà Nội.Hễ cứ trông thấyngười Hà Nội ăn phở thì đố ai mà ngưng lại được cái sự phải ăn theo
Cách ăn của người Hà Nội cũng hết sức tinh tế, cầu kì Người Hà Nộicho rằng ăn không phải lấy no mà ăn để thưởng thức Mỗi món ăn lại đượclàm một cách tỉ mỉ, cẩn thận vì thế khi thưởng thức cũng là lối nhâm nhi, từtốn từng miếng nhỏ, cảm nhận từ đầu lưỡi đến tận cùng hương vị chứa đựngtrong mỗi món ăn
Như vậy chúng ta đã có một Việt Nam- nghìn năm văn hiến, có một
Hà Nội- một nghìn năm văn vật thì bây giờ có một Hà Nội di sản ẩm thực
1.3.Tản văn Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng.
Miếng ngon Hà Nội là một tác phẩm bút ký của nhà văn Vũ Bằng, một
nhà văn người Hà Nội gốc và rất sành về các món ăn Hà Nội Hơn hai mươinăm cuối đời ông sống và viết ở Sài Gòn, nhưng ông lại viết toàn truyện HàNội Có lẽ do những năm tháng tha hương ấy, nỗi nhớ quê da diết đã đưa ngòibút của ông đến với từng hương vị của kỷ niệm Hà Nội,của đất Bắc Kì trongcác tác phẩm của mình
Miếng ngon Hà Nội được Vũ Bằng viết vào mùa thu năm 1952 tại Hà
Nội, sửa chữa và viết thêm tại Sài Gòn vào năm 1956,1958,1959 Ông viết về
Miếng ngon Hà Nộilà viết về chính cuộc đời mình:“Miếng ngon Hà Nội, vì
thế,nhiều khi làm cho ta yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội nao lòng, làm cho
Trang 21ta cảm giác ta là người Hà Nội hơn…Những miếng ngon mà người Hà Nội ăn vào thấy ngát mùi đất nước thấy mình Việt Nam hơn”.
Mỗi món ăn trong bút kí là một đặc trưng trong ẩm thực Hà Nội, 15món ăn khác nhau được tác giả đề cập tới, được tác giả mô tả chăm chút kĩlưỡng Các món ăn ấy đều là “quốc hồn, quốc túy” mà bao thế hệ Hà Nội đều
mê, đều thèm đầu bảng là phở bò, rồi phở gà, bánh cuốn,bánh đúc, bánhkhoái, bánh Xuân Cầu, cốm Vòng, rươi, ngô rang khoai lùi, gỏi, quà bún, chả
cá, thịt cầy, tiết canh, cháo lòng, hẩu lốn Tất cả như làm nên hương vị, ẩmthực Hà Nội
Miếng ngon Hà Nội là một góc cảm xúc chất chứa tình yêu thương vô
bờ bến của người con xa xứ, một người con xa nhà, một người chồng xa vợ,một người bố xa con, một người anh xa em Trong khoảng cách xa xôi ấy, xacách của không gian và thời gian, tác phẩm là một quyển sách quý gửi về HàNội yêu dấu, là sự kết tinh của tình yêu quê hương yêu đất nước.Đó như làmột “Menu” về những món ăn ngon của Hà Nội.Đằng sau mỗi món ăn gắnvới không gian quen thuộc của Hà Nội những năm 50 của thế kỉ XX đượcmiêu tả một cách tỉ mỉ cùng với cách nói sống động Và đằng sau “khoái cảmvăn bản” của văn phong tùy bút của Vũ Bằng, người đọc đã tìm thấy được ẩmthực của cả Hà Nội gói gọn vào trong đó
Miếng ngon Hà Nội là thể văn xuôi giao thoa giữa tự sự và trữ tình,
chất thơ của bút ký biểu thị qua nội tâm phong phú của chủ thể, qua khả năngliên tưởng dồi dào và thế giới ngôn từ giàu hình ảnh và cảm xúc Trong vănhọc Việt Nam hiện đại thế kỉ XX, sau Nguyễn Tuân thì Thạch Lam và VũBằng là hai tác giả tạo dựng được phong cách riêng và khá thành công với thểloại bút ký bởi lối viết tài hoa, giàu cảm xúc Cả hai đều là nhà “Hà Nội học”,
ở họ đều có điểm chung là tình yêu mãnh liệt với mảnh đất Hà Nội Tuy nhiêngiữa hai con người ấy vẫn có sự khác biệt Nếu như Thạch Lam nhẹ nhàng
Trang 22tinh tế, từ màu sắc, hương vị của món ăn, ông thường liên tưởng tới một tácphẩm nghệ thuật mà xa hơn là những giá trị tinh thần vĩnh hằng Vũ Bằng lạikhác,một chút nồng nàn, mạnh mẽ,“đàn ông tính” đậm đặc hơn Và vì “đànông tính” này đã chi phối cách viết, bút pháp của Vũ Bằng Dù chỉ mới ngắmnghía say sưa màu sắc,cách bài trí bắt mắt của “miếng ngon” hay say sưathưởng thức hương vị ngây ngất của chúng, bao giờ Vũ Bằng cũng liên tưởngtới mĩ nhân Từ sức hấp dẫn của những thực đơn bình dân, Vũ Bằng đã dựngđược một thế giới mĩ nhân vừa thanh cao vừa tinh khiết, vừa khiêu gợi vừalẳng lơ Đó chính là sắc hương tình yêu- một “tín hiệu” nổi bật trong nghệ
thuật ẩm thực cũng như nghệ thuật sáng tác của Vũ Bằng qua Miếng ngon Hà
Nội So với Hà Nội băm mươi sáu phố phường của Thạch Lam thì Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng có tiết tấu nhanh hơn, gần gũi với đời thường và
phóng túng hơn
Tiểu kết:
Ở chương này,chúng tôi đã tổng hợp các vấn đề lí thuyết về trường nhưkhái niệm, cách loại trường nghĩa, giá trị của trường nghĩa, đồng thời là cơ sởthiết yếu để chúng tôi thực hiện khảo sát, phân loại trường nghĩa ẩm thực
trong bút kí Miếng ngon Hà Nộicủa Vũ Bằng Cùng với đó là những trình bày đôi nét về đặc sắc trong ẩm thực Hà Nội và bút ký Miếng ngon Hà Nội Từ
những hệ thống kiến thức về trường nghĩa kết hợp với tìm hiểu tùy bút trên,
chúng tôi tiến hành khảo sát trường nghĩa ẩm trong Miếng ngon Hà Nội của
Vũ Bằng
Trang 23CHƯƠNG 2.
MỘT SỐ TRƯỜNG NGHĨA BIỂU VẬT
TRONG MIẾNG NGON HÀ NỘI CỦA VŨ BẰNG
2.1.Tổng quan về trường nghĩa ẩm thực trong Miếng ngon Hà Nội –
Vũ Bằng.
Khi đi vào tìm hiểu tùy bút Miếng ngon Hà Nội chúng tôi nhận thấy
rằng ẩm thực không phải là trường nghĩa duy nhất đóng vai trò quan trọngtrong tùy bút trên Tuy nhiên, trong mối tương quan với các trường nghĩakhác chúng tôi nhận thấy “ẩm thực” là vấn đề độc đáo và chiếm số lượng lớntrong tác phẩm
Khảo sát trường nghĩa ẩm thực trong cuốn Miếng ngon Hà Nội của Vũ
Bằng, Nhà xuất bản Văn học năm 2013, chúng tôi thu được kết quả có tất cả 6trường nghĩa ẩm thực xuất hiện trong tác phẩm như trường nghĩa tên gọi món
ăn, trường nghĩa màu sắc món ăn, trường nghĩa mùi vị món ăn, trường nghĩanguyên liệu chế biến, trường nghĩa cách chế biến và trường nghĩa cảm quanđánh giá
2.2 Trường nghĩa tên gọi các món ăn
STT Tên gọi Tần số xuất
Trang 24nhất [3,32].
5 Thịt cầy 47 6,5 Là vì đời có thịt cầy,thỉnh
thoảng ăn chơi một bữa.[3,115]
6 Cháo lòng 39 5,3 Sao ta có thể nói tới cháo lòng
Tiết canh 23 3,2 trước khi nói tới tiết
9 Hẩu lốn 22 3 Tôi ưa sà bần nhưng tôi yêu
hẩu lốn hơn nhiều [3,147].
-Bún cuốn 8 1,1 năm,là thứ quà bún chả[3,101].
-Bún thang 5 0,7 Trái với bún chả,món
-Bún riêu 3 0,4 cuốn,trước kia chỉ ăn vào dịp
-Bún ốc 1 0,1 Trái với cuốn,thang lại cần cho
-Bún đậu 1 0,1 thật nóng giãy lên.[3,106]
Trang 25Nhưng mà đẹp mắt hơn vàđược nhiều người thèm hơn
nữa, có lẽ là bún ốc[3,107].
Ai muốn thanh cảnh, chỉ ăn bún với đậu chấm nước mắm[3,109].
13 Bánh Xuân 16 2,2 Những chiếc bánh Xuân Cầu
bé bé, xinh xinh [3,52]
Cầu
liệt [3,87]
15 Bánh khoái 7 1 Trong bánh khoái nóng hổi
người ta cắt mấy miếng bánh giày Mơ [3,50]
than tro hồng mà ăn thì thútuyệt trần [3,91]
Bảng 1.2 Trường nghĩa tên gọi các món ăn
Dưới đây là một số nhận xét của chúng tôi về trường biểu vật tên gọicác món ăn:
Trong tùy bút Miếng ngon Hà Nội,Vũ Bằng đã kiệt kê ra 15 món ăn chính cụ thể gồm có: phở bò, phở gà, bánh cuốn, bánh đúc, bánh khoái, bánh
Xuân Cầu, cốm Vòng, rươi, ngô rang- khoai lùi, gỏi, quà bún, chả cá, thịt cầy, tiết canh- cháo lòng, hẩu lốn Mười lăm món ăn ấy không phải là toàn bộ
miếng ngon Hà Nội, tuy nhiên chúng tôi thấy rằng đây đều là những món ăn
Trang 26đã dành 13 trang viết dành cho cốm.
Sau món cốm Vòng, là món phở bò Từ phở bò xuất hiện 79 lần chiếm10,9% Ngay như ban đầu,Vũ Bằng đã gọi ngay “phở bò- món quà căn bản”,món phở bò đã quá quen với người dân Hà thành Đối với người dân ViệtNam có thể không ăn bánh bao, có thể không ăn vằn thắn hay mì, có thểkhông ăn xôi lúa, nhưng chắc chắn ai cũng từng đã ăn phở [3,15] Món phởquá thân quen với người dân, chính vì vậy tên gọi phở bò xuất hiện rất nhiềutrong những trang văncủa ông Vũ Bằng ưu ái dành cho phở bò 12 trang văn,qua đó, người đọc cũng thấy được tình yêu của ông dành cho món quà cănbản này Cũng là món phở nhưng có lẽ do phở gà “sinh sau, đẻ muộn” hoặc
do người dân Hà Nội đã quá quen với phở bò mà tình cảm dành cho phở gà ít
đi đôi chút Cái tên “phở gà” được tác giả nhắc lại 21 lần
Một món ăn mà Vũ Bằng nhắc lại khá nhiều lần đó là món rươi Mónrươi có thể coi là một món ăn bổ mà hiếm vì chỉ được ăn theo mùa "Thángchín ăn rươi, tháng mười ăn nhộng", chính vì điều đặc biệt của rươi mà VũBằng nhắc lại cái tên "rươi”chiếm 13,5% Suốt 18 trang văn dành cho món ănrươi, phải chăng Vũ Bằng rất ưu ái "rươi"? Món "rươi" đối với người Hà Nội
không còn xa lạ.Vũ Bằng viết "Bởi vì ở Bắc Việt, ăn rươi là một công lệ, đến
mùa mà không được ăn thì như một người đàn bà đẹp đẽ đã để phí mất tuổi hoa, sau này sẽ nặng một lòng tiếc nhớ.[3,71].Qua lời văn đó ta thấy được nỗi
niềm của những con người đam mê ẩm thực, tiếc nuối khi bỏ lỡ một mónngon
Trang 27Món bánh cuốn được nhắc lại rất nhiều đứng ở vị trí thứ 4 với 61 lầnchiếm 8,4% và đặc biệt là bánh cuốn Thanh Trì.Tác giả nhắc tới cái tên bánhcuốn Thanh Trì 24 lần chiếm gần một nửa tên gọi chung bánh cuốn 35 lần cáitên bánh cuốn được nhắc lại là để gọi tên món bánh cuốn nhân mộc nhĩ, bánhcuốn Bà Hai Tầu, bánh cuốn hiệu Ninh Thịnh và bánh cuốn cụ Còng
Nhắc tới Miếng ngon Hà Nội không thể không nhắc tới món bún
Trong cuốn bút kí Miếng ngon Hà Nội Vũ Bằng đã kể tên rất nhiều món quà
bún Trong tác phẩm của mình Vũ Bằng chia ra thành bún chả, bún thang, búnriêu, canh bún, bún ốc và bún đậu Món bún chả được tác giả giới thiệu đầu
tiên "Qùa bún có cả một trăm thứ, nhưng ai đã ở Hà Nội, ai đã đi qua Hà
Nội, làm sao có thể quên được thứ quà bún phổ thông nhất, bán với giá bình dân nhất, ăn một miếng mà nhớ đến một năm, là thứ quà bún chả?"[3,101].
Qua lời giới thiệu ngắn gọn đó thôi, người đọc thấy được bún chả làmột món ăn thân thuộc thế nào Bún chả cái tên được nhắc lại 14 lần nhiềunhất trong tên gọi các món quà bún Suốt 5 trang viết, Vũ Bằng dành cho búnchả Cùng với món bún chả các loại bún khác cũng được Vũ Bằng liệt kê ranhư bún thang, với 5 lần xuất hiện, bún cuộn với 8 lần được kể tên, bún riêuxuất hiện 3 lần, canh bún được gọi tên 1 lần, bún ốc với 1 lần xuất hiện vàkhông thể bỏ qua bún đậu mắm tôm Vũ Bằng đã nêu ra những món bún quáquen thuộc với người Hà Thành Mỗi người với mỗi sở thích có thể tìm đọctrong cuốn bút kí món ăn mình thích
Nhắc tới miếng ngon Hà Nội không thể không nhắc tới món gỏi Móngỏi được Vũ Bằng viết từ trang 93- 109, với tần suất xuất hiện của món gỏi là
35 lần chiếm 4,8% tống phần trăm.Vũ Bằng nhắc tới món gỏi với bao niềmthích thú: "Riêng tôi, ăn gỏi gà tôi thấy thích thú hơn là phở gà[3,97]
Hay nhắc tới món cháo lòng tiết canh, Vũ Bằng phải thổ lộ "Tiết canh
cháo lòng ám ảnh ta, không thể làm cho ta quên được"[3,133] Cụm từ cháo
Trang 28lòng xuất hiện 23 lần, tiết canh xuất hiện 39 lần Hai tiết món "cháo lòng canh
như hình với bóng”mà theo như Vũ Bằng muốn thưởng thức hết cái ngon của
nó thì phải ăn có trật tự có tôn ti, ăn cho đúng phép
Và trong 15 món ăn được tác giả liệt kê ra đây, người đọc không khỏi
ấn tượng món thịt cầy Thịt cầy xuất hiện 47 lần trong tác phẩm
Bên cạnh đó là bánh đúc xuất hiện 35 lần chiếm 4,8%, hẩu lốn đượcnhắc 22 lần chiếm 3% và chả cá là 17 lần chiếm 2,3%
Món ngô rang, khoai lùi,bánh khoái xuất hiện với tần xuất ít nhất trongtrường nghĩa tên gọi
Cùng với tên gọi của 15 món ăn chính, trong tùy bút Miếng ngon Hà
Nội Vũ Bằng còn liệt kê ra rất nhiều tên gọi các món ăn khác như cari dê,bò
trộn đường,miến lươn chợ Đồng Xuân,bánh đậu Hải Dương,kẹo mè ThiềuChâu, nhãn Cót,bánh Lam Lim, bánh giầy Quán Thánh Có cả món ăn ViệtNam, có cả món ăn nước ngoài Nhưng có thể nói, 15 món ăn kể trên lànhững món ăn tiêu biểu của Hà Nội những món ăn gắn liền với bao thế hệngười Hà Nội
2.3.Trường nghĩa màu sắc món ăn
sắc món ăn xuất hiện ( %)