1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học cho học sinh lớp 3

56 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 835,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANĐề tài khoá luận “Tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo, Th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

ThS LÊ THU PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, ThS Lê Thu Phương, giảng

viên khoa Giáo dục Tiểu học, người Thầy đã tận tình chỉ bảo, hết lòng hướngdẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu cùng các giáo viêntrường Tiểu học Vân Xuân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp emthực hiện đề tài này

Lần đầu thực hiện nghiên cứu khoa học giáo dục, do năng lực bản thâncòn hạn chế, thời gian không nhiều nên khoá luận không tránh khỏi những saisót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và cácbạn để khoá luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Phạm Thị Ngọc Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài khoá luận “Tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3” được tôi thực

hiện dưới sự hướng dẫn của cô giáo, ThS Lê Thu Phương Trong quá trình

nghiên cứu, tôi có sử dụng tài liệu của một số tác giả khác Tuy nhiên, đó chỉ là

cơ sở để tôi rút ra được vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đây là kết quảcủa riêng cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng với kết quả nghiên cứu của tácgiả khác

Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Phạm Thị Ngọc Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 4

3.Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu 4

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5.Phương pháp nghiên cứu 4

6.Giả thuyết khoa học 5

7.Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI MÔN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 3 6

1.1.Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 6

1.1.1.Đặc điểm của học sinh lớp 3 6

1.1.2.Năng lực giải quyết vấn đề 9

1.1.3.Hoạt động giáo dụcngoài môn học 13

1.1.4.Chương trình môn Toán lớp 3 20

1.2.Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 22

1.2.1.Thực trạng của việc tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 22

1.2.2.Nguyên nhân của thực trạng 24

Kết luận chương 1 26

Trang 6

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI MÔN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH

LỚP 3 27

2.1 Thiết kế hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 27

2.1.1 Những nguyên tắc khi thiết kế hoạt động giáo dục ngoài môn học 27

2.1.2 Quy trình thiết kế hoạt động giáo dục ngoài môn học 29

2.2 Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 31

2.2.1 Những nguyên tắc khi tổ chức hoạt động giáo dục ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 31

2.2.2 Quy trình tổ chức hoạt động giáo dục ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 33

2.3 Ví dụ minh hoạ 35

Kết luận chương 2 45

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1.2 Xuất phát từ vai trò của môn Toán trong hệ thống giáo dục

Môn Toán là môn học được dạy xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5, có vị trí

vô cùng quan trọng trong hệ thống các môn học ở trường Tiểu học Thôngqua việc học Toán, học sinh biết nhìn nhận thế giới xung quanh qua tư duychặt chẽ của Toán học Các kiến thức và kĩ năng của môn Toán giúp học sinh

có những ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống Môn Toán góp phần quan trọngtrong việc rèn luyện cách suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển tríthông minh Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho học sinh qua mônToán bao gồm: phân tích tổng hợp, so sánh, tương tự, khái quát hóa, trừutượng hóa, cụ thể hóa, đặc biệt hóa Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn luyệncho học sinh bao gồm: tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tínhsáng tạo giúp hình thành nhân cách học sinh

1.3 Xuất phát từ xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay

Hiện nay, sự phát triển tri thức của nhân loại ngày càng tăng, con người

dễ dàng tiếp nhận tri thức qua nhiều phương tiện vì thế xu hướng của giáo dục

là thay đổi từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực cho người học.Việc dạy học không đơn thuần là hình thành tri thức cho học sinh mà quantrọng hơn là dạy cho các em biết cách học, cách vận dụng kiến thức vào thực

Trang 8

tiễn, từ đó hình thành các năng lực, phát huy khả năng tư duy sáng tạo Mộttrong những giải pháp giáo dục hiện đại giúp định hướng và phát huy tối đanăng lực người học đó là tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài môn học Tổchức các hoạt động giáo dụcngoài môn học là thực hiện nguyên lí “Học đi đôivới hành, giáo dục kết hợp với lao động- sản xuất, lí luận gắn liền với thựctiễn” Thông qua việc tham gia các hoạt động ngoài môn học, người học thấyđược giá trị thực tiễn của các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã học được, điều nàytạo ra động cơ tích cực cho việc học.

1.4 Xuất phát từ vai trò của hoạt động ngoài môn học trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn dề cho học sinh

Theo các quan điểm về giáo dục hiện đại, bản chất của hoạt động họctập là việc giải quyết vấn đề mà thực tế cuộc sống và nhu cầu nhận thức đặt

ra Vì vậy, nền giáo dục hiện nay đặc biệt quan tâm đến việc phát triển nănglực giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cho học sinh Một trong nhữngphương pháp học tập hiệu quả giúp học sinh phát triển năng lực giải quyếtvấn đề là tổ chức cho các em tham gia vào các hoạt động ngoài môn học

Trong những năm gần đây, các nhà trường Tiểu học đã bắt đầu chútrọng tới việc tổ chức các hoạt động ngoài môn học Tuy nhiên, việc tổ chứccác hoạt động giáo dục ngoài môn học còn mang tính hình thức do chưa nắm

rõ quy trình, hiểu đơn giản về tổ chức các hoạt động ngoài môn học nên chỉdừng lại ở việc tham quan thực tế mà chưa thực hiện cụ thể trong từng mônhọc Và đặc biệt, trong môn Toán đòi hỏi học sinh phải chủ động phân tích,tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hoá cao hơn các môn học khác Vì vậy,việc tổ chức các hoạt động ngoài môn học trong nhà trường Tiểu học là rấtcần thiết

Để góp phần cho việc dạy và học nội dung môn Toán lớp 3 đạt hiệuquả, giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề, kết hợp với những

Trang 9

hiểu biết đã có và những điều mới mẻ đã lĩnh hội được, trong khuôn khổ cho

phép của một đề tài khóa luận, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3”.

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động giáo dục ngoài mônhọc, năng lực giải quyết vấn đề trong môn Toán cho học sinh lớp 3, đưa raquy trình thiết kế và tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển nănglực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh, từ đó góp phần nâng cao hiệuquả, chất lượng giáo dục

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động giáo dục ngoài môn học chohọc sinh lớp 3

- Phạm vi nghiên cứu: Trong chương trình giáo dục lớp 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức các hoạt động ngoài mônhọc nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3

- Tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức các hoạt động ngoài môn họcnhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3 vànguyên nhân của thực trạng

- Đưa ra các quy trình thiết kế và tổ chức các hoạt động ngoài môn họcnhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: tìm hiểu, tham khảo các tài liệu khoahọc giáo dục (sách, báo, Tạp chí Toán học), tài liệu Giáo dục học, Tâm lí học,các công trình nghiên cứu có liên quan, từ đó phân tích tổng hợp, xây dựngphần lí luận của đề tài

- Phương pháp quan sát: dự giờ, quan sát hoạt động dạy của giáo viên

và hoạt động học của học sinh

Trang 11

- Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu điều tra, trao đổi giáo viên vàhọc sinh để tìm hiểu về thực trạng tổ chức các hoạt động ngoài môn học chohọc sinh ở trường Tiểu học.

6 Giả thuyết khoa học

Nếu khóa luận đưa ra được quy trình thiết kế và tổ chức các hoạt độngngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho họcsinh lớp 3 phù hợp thì có thể góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy họcToán ở Tiểu học

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, khóa luậngồm 2 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động ngoàimôn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinhlớp 3

- Chương 2: Tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lựcgiải quyết vấn đề Toánhọc cho học sinh lớp 3

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI MÔN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 3

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3

1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 3

1.1.1.1 Đặc điểm sinh lí

Ở lớp 3, đặc điểm về mặt cơ thể của trẻ phát triển khá toàn diện:

Hệ cơ đang trong thời kì phát triển nên các em rất thích hoạt động,muốn tự mình khám phá, ưa trải nghiệm thông qua các hoạt động khác nhau

để thỏa mãn sự tò mò Do vậy, khi thiết kế hoạt động ngoài môn học cần chú

ý đảm bảo an toàn cho trẻ

Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duycủa các em bắt đầu chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy trừutượng Do đó, các em rất hứng thú với các câu đố, câu hỏi hoặc các tìnhhuống mà giáo viên đặt ra … điều này kích thích rất lớn đến khả năng sángtạo của các em Trẻ luôn liên kết sự việc với nhau và thường có những ýtưởng vô cùng sáng tạo, độc đáo để giải quyết vấn đề khiến người lớn chúng

ta bất ngờ Dựa vào cơ chế sinh lí này mà các giáo viên khi thiết kế hoạt độngnên cuốn hút các em với những câu hỏi mang tính gợi mở, khơi gợi trí tò mònhằm phát triển tư duy của trẻ

Tuy nhiên, ở độ tuổi này nói riêng cũng như cả giai đoạn Tiểu học nóichung, hệ xương của các em còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông,xương chân, xương tay đang trong thời kì phát triển nên dễ bị cong vẹo, gãydập, … Vì thế, trong các hoạt động vui chơi, học tập, các giáo viên cần phảichú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động lành mạnh, an toàn

Trang 13

1.1.1.2 Tư duy

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặcđiểm trực quan của đối tượng Trong sự phát triển tư duy ở học sinh Tiểu học,tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp và sau đó chuyển dầnsang tính khái quát ở các lớp cuối cấp

Ở lớp 3, học sinh đạt được mức độ phát triển cao nhất về tư duy củagiai đoạn đầu và bước đầu chuyển sang mức tư duy của giai đoạn tiếp theo

Do vậy, sự am hiểu về các sự vật, sự việc, hiện tượng diễn ra xung quanhcuộc sống hàng ngày của trẻ cũng bắt đầu trở nên sâu sắc hơn, tạo tiền đề chomọi sự sáng tạo của trẻ, khơi gợi cho trẻ nhiều ý tưởng mang tính đột phá.Chính vì thế, trong quá trình tổ chức hoạt động ngoài môn học cho học sinhlớp 3, giáo viên cần tổ chức các hoạt động huấn luyện trẻtheo một cách thứcđặc biệt để trẻ chủ động suy nghĩ, động não, trên cơ sở đó hoạt động trí tuệ ởtrẻ sẽ ngày một phát triển hơn

1.1.1.3 Ngôn ngữ

Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp

1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 3, ngôn ngữ viết của trẻ đã thànhthạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm

Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhậnthức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thôngtin khác nhau Cũng nhờ ngôn ngữ mà những thay đổi và những sắp xếp tronghình ảnh tưởng tượng của trẻ được lí giải và luận chứng một cách hợp lí hơn.Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sựphát triển trí tuệ của chúng Đây chính là tiền đề tâm lí quan trọng của sự pháttriển loại tưởng tượng sáng tạo ở học sinh

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng là thế nên thông qua các hình thức tổchức hoạt động ngoài môn học trẻ được tự do đưa ra ý kiến, sáng kiến, bàn

Trang 14

luận,… Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú, đadạng Và quan trọng hơn, với học sinh lớp 3, tất cả các hoạt động trên đều khá

dễ dàng để triển khai

1.1.1.4 Chú ý

Ở giai đoạn đầu Tiểu học, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năngkiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế nhưng đến cuối giai đoạn này trẻ đãbắt đầu hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủđịnh phát triển dần và chiếm ưu thế, trẻ có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt độnghọc tập Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thờigian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc và cốgắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

1.1.1.5 Trí nhớ

Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm

ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức ghinhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cáchkhái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Ở học sinh lớp 3, ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăngcường Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ, sức hấp dẫn của nội dungtài liệu, yếu tố tâm lí, tình cảm hay hứng thú của các em

1.1.1.6 Quan sát

Học sinh đầu Tiểu học chưa có khả năng quan sát bao quát chỉnh thể,thường chú ý đến những đặc điểm bề ngoài mà không thấy được đặc trưngbản chất về ý nghĩa của sự vật Tuy nhiên, ở cuối giai đoạn này, trẻ đã bắt đầuquan sát có mục đích rõ ràng hơn vì trẻ đã hiểu được nhiệm vụ học tập củamình Tính sâu sắc trong quan sát đã nâng cao rõ rệt, thể hiện ở khả năngphân biệt, phán đoán và hệ thống hóa đối với sự vật quan sát

Trang 15

1.1.1.7 Tưởng tượng

Ở đầu Tiểu học, tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững, dễ thay đổi.Tưởng tượng của học sinh lớp 3 đã phát triển phong phú hơn so với học sinhlớp 1, 2 nhờ bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Sốlượng các chi tiết, dấu hiệu trong các hình ảnh mà trẻ tạo nên tăng dần từ lớpnày đến lớp khác nhưng phải đến lớp 3 mới tìm thấy mối liên hệ giữa các chitiết, dấu hiệu để sắp xếp chúng một cách hợp lí, sát thực tế hơn Tính mụcđích, có chủ định của tưởng tượng tăng lên rõ rệt, tính trực quan cụ thể trongbiểu tượng của tưởng tượng giảm dần Tưởng tượng được phát triển, phongphú hơn, phóng khoáng với hiện thực hơn

1.1.2 Năng lực giải quyết vấn đề

1.1.2.1 Năng lực

Năng lực là một khái niệm trừu tượng của tâm lí học Khái niệm nănglực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trên thế giới cũng như ở ViệtNam, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục học rất quan tâm đến vấn đề phát triểnnăng lực

Theo Phạm Minh Hạc: “Năng lực là tổ hợp phức tạp những thuộc tínhtâm lí của mỗi người, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhấtđịnh, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả”

Nguyễn Công Khanh cho rằng: “Năng lực là khả năng làm chủ những

hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp

lí vào thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộcsống”

Bên cạnh đó còn một số cách hiểu về khái niệm “năng lực” như sau:

Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): “Năng lực là khảnăng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm

vụ trong một bối cảnh cụ thể”

Trang 16

Còn theo F E Weinert: “Năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năngsẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyếtnhững vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán

để đi đến giải pháp”

Trong chuyên khảo về khoa học giáo dục đã đưa ra định nghĩa về nănglực như sau: “Năng lực của một người là nói đến khả năng kết hợp các kiếnthức, kĩ năng (nhận thức và thực hành), thái độ, động cơ, cảm xúc, giá trị, đạođức để thực hiện các nhiệm vụ trong bối cảnh, tình huống thực tiễn có hiệuquả

Trong khoá luận của mình, tôi đồng ý với định nghĩa về năng lực củachuyên khảo về khoa học giáo dục: “Năng lực của một người là nói đến khảnăng kết hợp các kiến thức, kĩ năng (nhận thức và thực hành), thái độ, động

cơ, cảm xúc, giá trị, đạo đức để thực hiện các nhiệm vụ trong bối cảnh, tìnhhuống thực tiễn có hiệu quả

Năng lực chia làm hai loại: năng lực chung và năng lực chuyên biệt.+ Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi…làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao độngnhư: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán,năng lực giao tiếp, năng lực vận động,…

+ Năng lực chuyên biệt (còn gọi là năng lực đặc thù) là khả năng vậndụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân một cách chủ động nhằmthực hiện nhiệm vụ chuyên môn có ý nghĩa trong môi trường hoặc tình huống

cụ thể, đáp ứng được yêu cầu hạn hẹp của một hoạt động như: Toán, Âmnhạc, Mĩ thuật,…

Theo đó, học sinh phổ thông nói chung và học sinh Tiểu học nói riêngcần chủ động kết hợp linh hoạt giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt

để giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như trong đời sống hàng ngày

Trang 17

1.1.2.2 Năng lực giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề vừa là quá trình, vừa là phương tiện để cá nhân sửdụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm có được trước đó để giải quyết một tìnhhuống mới mà cá nhân đó có nhu cầu Quá trình đó bắt đầu khi cá nhân gặpvấn đề và kết thúc khi có câu trả lời phù hợp với những điều kiện ban đầu.Học sinh phải khái quát những gì đã học được và áp dụng vào một tình huốngmới

Trên thực tế, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về nănglực giải quyết vấn đề Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đó đều thống nhấtcho rằng: “Giải quyết vấn đề là một năng lực chung, thể hiện khả năng củamỗi người trong việc vận dụng và kết nối kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị,…

để tháo gỡ, giải quyết những tình huống khó khăn trong học tập và cuộc sống

Năng lực giải quyết vấn đề Toán học là năng lực hoạt động trí tuệ củahọc sinh khi đứng trước vấn đề, những bài toán cụ thể, có mục tiêu và có tínhhướng đích cao, đòi hỏi phải huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạonhằm tìm ra lời giải cho vấn đề

1.1.2.3 Các mức độ phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề gồm các thành tố chính với các mức pháttriển được sắp xếp như sau:

(1) Nhận dạng được yếu tố và xác định được vấn đề;

(2) Xác định bối cảnh, đối tượng, phạm vi, cấu trúc vấn đề;

(3) Xây dựng hệ thống giải pháp để giải quyết vấn đề;

(4) Khái quát hóa thành mô hình, giải pháp trong bối cảnh, tình huống mới; (5) Đánh giá và đưa ra giả thuyết cho giải pháp tổng thể

Trong đó, học sinh Tiểu học có thể đạt được 3 mức từ mức thấp nhất làmức độ (1) đến mức độ cao nhất là mức độ (3) Bảng sau mô tả cụ thể cácmức độ phát triển năng lực giải quyết vấn đề ở học sinh Tiểu học:

Trang 18

Mức độ Năng lực giải quyết vấn đề

1

Học sinh có thể phân tích, nhận dạng được các thànhphần, yếu tố khác nhau có trong nhiệm vụ nhưng khôngthực hiện được bất kì hoạt động giải quyết vấn đề nào

2

Học sinh có thể vẽ hình, vẽ sơ đồ, viết hoặc diễn đạt bằnglời cách giải quyết vấn đề nhưng chưa đầy đủ Học sinh cóthể nhận thức được một mô hình, cấu trúc không nêu đượcbản chất của nó; bước đầu biết biến đổi, thực hiện giảipháp trong các tình huống tương tự

3

Học sinh chỉ ra được quy trình giải quyết vấn đề; nói, vẽhình, lập bảng, lập sơ đồ tư duy … để mô tả cách tiếp cậnvấn đề; sử dụng thành thạo quy trình đối với các tìnhhuống quen thuộc; bước đầu mở rộng quy trình cho cácvấn đề ít quen thuộc hơn

12

Trang 19

1.1.3 Hoạt động giáo dụcngoài môn học

1.1.3.1 Quan niệm về hoạt động giáo dục ngoài môn học cấp Tiểu học

Hoạt động giáo dục được quy định cụ thể tại điều lệ trường Tiểu họcban hành kèm theo thông tư số 41/2010/TT- BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm

2010 của Bộ GD-ĐT, tại Điều 29 đã chỉ rõ: “Hoạt động giáo dục bao gồmhoạt động trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức,phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh yếu kém phù hợpvới đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học Hoạt động giáo dụctrong lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tựchọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo ban hành Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồmhoạt động ngoại khoá, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao,tham quan du lịch,giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạtđộng xã hội khác”

Theo chương trình giáo dục phổ thông, hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp, ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 05tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là những hoạtđộng giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá Đây là một trong

Trang 20

hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực hiện một cách có tổ chức, có mụcđích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơvới hoạt động học tập trên lớp, nhằm góp phần hình thành và phát triển nhâncách học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xãhội đối với thế hệ trẻ.

Có cách gọi Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giống như Hoạt độngngoại khoá (Extra-Curricular Activities) Hoạt động ngoài giờ lên lớp (AfterSchool Activities) là các hoạt động sau giờ học chính khoá, thường theo năngkhiếu, sở thích, tự chọn: ca, múa, nhạc, kịch, thể thao,… có thể thuộc haykhông thuộc nội dung môn học

Hoạt động ngoại khoá chính là hoạt động học tập nằm ngoài chươngtrình chính khoá, gọi là ngoại khoá Ngoại khoá là các hoạt động xã hội, thamgia các câu lạc bộ, các dự án với các nội dung đa dạng, phong phú, chủ yếuhình thành kĩ năng sống trong các lĩnh vực khác nhau cho học sinh

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường tổ chức và quản lívới sự tham gia của các lực lượng xã hội Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen

kẽ hoạt động dạy – học trong nhà trường hoặc trong phạm vi cộng đồng Hoạtđộng này diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quátrình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi

Do đặc thù của Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nên trong quátrình thực hiện chương trình có thể vận dụng một cách linh hoạt các nội dung

và hình thức hoạt động theo vùng miền và đối tượng học sinh, với điều kiện

và hoàn cảnh của nhà trường, địa phương Có như vậy, hoạt động của họcsinh mới gắn được với thực tiễn cuộc sống và hoạt động giáo dục ngoài giờlên lớp mới đem lại hiệu quả thiết thực

Trang 21

1.1.3.2 Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài môn học

Khi thiết kế, tổ chức bất kì một hoạt động giáo dục nào cũng cần xácđịnh được các mục tiêu rõ ràng, thiết thực nhằm định hướng cho các hoạtđộng giáo dục đó Do vậy, việc thiết kế, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoàimôn học cũng cần đảm bảo các mục tiêu sau:

- Thứ nhất, tạo cơ hội cho học sinh được tham gia vào đời sống cộngđồng, bước đầu vận dụng kiến thức đã học vào trong cuộc sống thực tiễn

+ Tạo cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm, được rèn luyệnnhững kĩ năng sống trong cuộc sống thực, trong các tình huống của cuộcsống, bước đầu phát triển ở học sinh những kĩ năng sống cần thiết cho cáclĩnh vực của cuộc sống hàng ngày, phù hợp với lứa tuổi

+ Phát triển năng khiếu của học sinh trong một số lĩnh vực nghệ thuật,thể thao và phát triển tình cảm đạo đức giữa con người với con người và thếgiới xung quanh, giáo dục lối sống lành mạnh, tiết kiệm, chia sẻ, tự chủ, cóvăn hóa,…

Thứ hai, hoạt động ngoài môn học là sự tiếp nối các hoạt động dạy học, là con đường gắn liền với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức

+ Hiểu được một số quyền trong Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em

 Về kĩ năng:

Trang 22

Có các kĩ năng cơ bản theo mục tiêu giáo dục của cấp học, góp phần hìnhthành những năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thíchứng, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, ứng xử,…

 Về thái độ:

+ Có lối sống phù hợp với các giá trị xã hội;

+ Có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội; có ý thứclựa chọn nghề nghiệp trong tương lai;

+ Có hứng thú và nhu cầu tham gia các hoạt động chung;

+ Có tình cảm đạo đức trong sáng, biết trân trọng cái tốt, cái đẹp;

+ Tích cực, chủ động và linh hoạt trong các hoạt động tập thể

1.1.3.3 Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoài môn học

Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông

là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ vàcác kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo,hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách

và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vàocuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông chủ yếu là trang bị cho học sinhnhững năng lực cần thiết, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn.Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi mới theo hướng “phát huytính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo” của học sinh; phù hợp với đặc điểmcủa từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tư học, khả năng làmviệc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức thực tiễn; tác động đếntình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh,…

Hoạt động giáo dục ngoài môn học rất quan trọng, vì:

+ Là nơi thể nghiệm, vận dụng và củng cố tri thức

Trang 23

+ Là cơ hội để học sinh bộc lộ nhân cách toàn vẹn, từ đó khẳng định vị trícủa mình.

+ Là môi trường nuôi dưỡng và phát triển tính chủ thể của học sinh: chủ động, tích cực, độc lập và sáng tạo

+ Là dịp tốt để thu hút cả ba lực lượng giáo dục cùng tham gia giáo dục.Hoạt động ngoài môn học mang tính chất linh hoạt, có tính mở khácvới các môn học văn hóa phải chịu sự chi phối chặt chẽ về thời điểm,thờilượng dạy học, tài liệu học tập, về quy mô tổ chức dạy học, về nội dung dạyhọc Hoạt động ngoài môn học có thể tổ chức vào những thời điểm khác nhautrong năm học, với thời lượng thời gian linh hoạt từ vài chục phút cho đếnhàng tháng và có thể tổ chức theo những quy mô khác nhau như: theo nhóm,theo lớp, theo khối lớp hoặc theo trường, liên trường hoặc liên quận, thànhphố hoặc toàn quốc Hoạt động ngoài môn học có thể tổ chức theo các hìnhthức đa dạng khác nhau như: chiến dịch, hội chợ, tham quan, dã ngoại, hộidiễn văn nghệ,… có thể sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau: từ sáchbáo, từ mạng Internet,…có nội dung hoạt động khác nhau

Hoạt động ngoài môn học có nội dung mang tính tích hợp cao của cácmôn học, nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống thực tiễn Vì thế nội dung giáodục của hoạt động ngoài môn học gần gũi với cuộc sống hơn, thiết thực hơn,giúp các em có cơ hội nhìn cuộc sống từ các góc độ khác nhau, đáp ứng nhucầu của các em, có cơ hội lĩnh hội và ứng dụng các nội dung giáo dục vàotrong thực tiễn cuộc sống

Hoạt động ngoài môn học giúp các em phát triển các kĩ năng, thái độ vàhành vi tích cực, phát triển năng lực thích ứng cần thiết cho con người trong

xã hội hiện đại Các em được thể hiện, được bộc lộ, được khẳng định bảnthân, được giao lưu, học hỏi bạn bè Các em được phát triển những kĩ năngsống, những phẩm chất tích cực, những giá trị tốt đẹp như: tinh thần đồng đội,

Trang 24

khả năng hợp tác, tinh thần trách nhiệm, năng lực giải quyết vấn đề, lòngnhân ái, tư duy phê phán,…

Hoạt động ngoài môn học còn tạo điều kiện cho học sinh được thamgia, được hội nhập vào cuộc sống thực tiễn của địa phương, của cộng đồnghay khu vực mình sinh sống Hoạt động ngoài môn học tạo ra hứng thú, lòngnhiệt tình, sự quan tâm của học sinh với các hoạt động mang tính cộng đồng

Các hình thức đa dạng của hoạt động ngoài môn học giúp cho việcchuyển tải các nội dung giáo dục tới học sinh một cách nhẹ nhàng, hấp dẫn.Hoạt động ngoài môn học không bị bó hẹp về thời gian, không gian và quy

mô tổ chức như hoạt động dạy học các môn văn hóa nên có những lợi thếriêng trong việc chuyển tải nội dung thực hiện một cách tự nhiên, sinh động,không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm lí cũng như nhu cầu,nguyện vọng của học sinh Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các hoạtđộng ngoài môn học, cả giáo viên lẫn học sinh đều có cơ hội thể hiện sự linhhoạt, sáng tạo, chủ động của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo củacác loại hình hoạt động

Hoạt động ngoài môn học có khả năng phối hợp, liên kết nhiều lựclượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như Ban Giám hiệu, Tổng phụtrách, giáo viên, chính quyền địa phương, các nhà hoạt động xã hội,… Vì thếtạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội các nội dung giáo dục bằng nhiều kênhkhác nhau, với nhiều cách tiếp cận khác nhau, làm tăng tính hấp dẫn, đa dạng

và hiệu quả giáo dục

1.1.3.4 Các hình thức tổ chức của hoạt động ngoài môn học cho học sinh Tiểu học

Với mỗi chủ đề, lĩnh vực, nội dung của hoạt động đều có thể sử dụngnhiều hình thức tổ chức khác nhau cho học sinh tiểu học ở trong nhà trường

Trang 25

hoặc ngoài nhà trường Một số hình thức tổ chức của hoạt động ngoài môn học như sau:

+ Lễ hội: Tết trung thu; ngày phụ nữ Việt Nam 20/10; ngày Nhà giáoViệt Nam 20/11; ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12; lễ Nô-en; tết Dương lịch; tết Nguyên Đán; tết Nguyên tiêu; tết trồng cây; Quốc tếPhụ nữ 8/3; ngày hội môi trường; ngày hội đọc sách; ngày hội giao lưu vănhóa; ngày hội chia sẻ đồ chơi, sách truyện, đồ dùng học tập; hội làng truyềnthống; Giỗ tổ Hùng Vương; …

+ Câu lạc bộ: Câu lạc bộ bóng đá, bóng bàn, bóng rổ, võ thuật, cờ, bơi,thể dục nhịp điệu, khiêu vũ,…; câu lạc bộ em yêu Khoa học, em yêu môitrường; câu lạc bộ họa sĩ nhí; câu lạc bộ nhiếp ảnh- phóng viên; câu lạc bộtiếng anh; câu lạc bộ khéo tay hay làm; …

+ Trực nhật/lao động công ích trong trường; trực nhật về nề nếp họctập, vệ sinh trường lớp;…

+ Viết thư: Viết thư kết bạn và chia sẻ với thiếu nhi trong nước và quốctế; viết thư hỏi thăm các chú bộ đội ở biên giới và hải đảo;…

+ Triển lãm: Triển lãm tranh, ảnh, bài viết, các sản phẩm, tư liệu theochủ đề,…

+ Diễn đàn: Thông điệp của học sinh với cộng đồng trong nước vàquốc tế, bày tỏ thái độ và kiến nghị; …

+ Báo tường, tập san

Trang 26

+ Quyên góp, ủng hộ theo các chủ đề: Ủng hộ các bạn khó khăn trongtrường, các bạn vùng cao,…

+ Chiến dịch: chiến dịch an toàn giao thông; chiến dịch nụ cười trẻ thơ;hướng về cội nguồn; …

+ Điều tra: Điều tra theo nội dung môn học; điều tra theo các vấn đềnhư: những cây xanh có trong vườn trường; những địa điểm chưa an toàntrong trường học; những loại năng lượng sử dụng trong gia đình, trong nhàtrường; những di tích lịch sử có ở địa phương; những danh nhân văn hóa ViệtNam; những loại hình hát múa truyền thống của địa phương; …

1.1.4 Chương trình môn Toán lớp 3

Số học

- Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000 (tiếp)

Củng cố các bảng nhân và bảng chia 2, 3, 4, 5; bổ sung cộng, trừ các

số có ba chữ số có nhớ không quá 1 lần; lập các bảng nhân, bảng chia 6 ,7, 8,9; hoàn thiện các bảng nhân và bảng chia; nhân, chia ngoài bảng trong phạm

vi 1000; thực hành tính; làm quen với biểu thức số và giá trị biểu thức; giớithiệu thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến hai dấu phéptính, có hoặc không có dấu ngoặc

-Giới thiệu các số trong phạm vi 100 000 Giới thiệu hàng nghìn, hàng

vạn, hàng chục vạn

Trang 27

+ Phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá 2 lần,trong phạm vi 100000 Phép nhân có đến 4 chữ số với số có một chữ số cónhớ không liên tiếp và không quá 2 lần, tích không quá 100000 Phép chia cóđến 5 chữ số cho số có một chữ số (chia hết và chia có dư).

+Tính giá trị biểu thức số có đến ba dấu phép tính, có hoặc không códấu ngoặc

+ Giới thiệu các phần bằng nhau của đơn vị; giới thiệu bước đầu về chữ

số La Mã

Đại lượng và đo đại lượng

+ Bổ sung và lập bảng các đơn vị đo độ dài từ mi- li- mét đến ki- mét;

lô-+ Giới thiệu đơn vị đo diện tích (xăng-ti- mét vuông);

+ Giới thiệu gam Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam.+ Ngày, tháng, năm Thực hành xem lịch

+ Phút, giờ Thực hành xem đồng hồ, chính xác đến phút Tập ướclượng khoảng thời gian trong phạm vi một số phút

+ Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam Tập đổi tiền với các trường hợp đơngiản

Trang 28

Ý Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoài môn học

Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Khôngquan

của Số

( %) Số (%) Số (%) Số (%)giáo lượng lượng lượng lượng

12 46,2 9 34,6 5 19,2 0 0

Giải bài toán

+ Giải các bài toán có đến hai bước tính với các mối quan hệ trực tiếp

và đơn giản

+ Giải các bài toán quy về đơn vị và bài toán có nội dung hình học

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3

1.2.1 Thực trạng của việc tổ chức hoạt động ngoài môn học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3

Để tìm hiểu thực trạng tổ chức các hoạt động ngoài môn học nhằm pháttriển năng lực giải quyết vấn đề Toán học cho học sinh lớp 3, tôi đã tiến hànhđiều tra, tìm hiểu thông qua các thầy, cô giáo tại trường Tiểu học Vân Xuân –Huyện Vĩnh Tường – Tỉnh Vĩnh Phúc theo các nội dung như sau:

Trước tiên, tôi đã điều tra về sự hiểu biết của giáo viên về hoạt độnggiáo dục ngoài môn học (khái niệm, tầm quan trọng), mức độ tổ chức các hoạtđộng ngoài môn học trong dạy học Toán cho học sinh ở Tiểu học Để có đượckết quả chính xác và khách quan, tôi đã trực tiếp và phỏng vấn kết hợp vớiviệc sử dụng phiếu điều tra các giáo viên trong trường Kết quả điều tra đượctổng kết và thể hiện ở bảng sau:

viên

Bảng 1: Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ngoài môn học

Ngày đăng: 07/09/2019, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Vũ Quốc Chung (Chủ biên) (2005), “Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học”, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp dạy học Toán ở Tiểuhọc”
Tác giả: Vũ Quốc Chung (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2005
[2] Phan Tất Đắc, “Dạy học nêu vấn đề”(1977), NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học nêu vấn đề”
Tác giả: Phan Tất Đắc, “Dạy học nêu vấn đề”
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1977
[3] Đỗ Trung Hiệu (Chủ biên) (1995), “Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học”, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểuhọc
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 1995
[4] Đỗ Đình Hoan (Chủ biên) (2011), “Sách giáo khoa Toán 3”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sách giáo khoa Toán 3”
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2011
[5] Trần Bá Hoành, “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình sách giáo khoa”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình sách giáokhoa”
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
[6] Bùi Văn Huệ “Tâm lí học Tiểu học”, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
[7] Nguyễn Thị Kim Thoa, “Dạy học Toán ở Tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học”, (2015) Tạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học Toán ở Tiểu học theo hướng phát triểnnăng lực người học”
[8] PGS.TS. Đỗ Tiến Đạt, “Dạy học môn Toán ở Tiểu học trên cơ sở tổ chức các hoạt động trải nghiệm, khám phá và phát hiện”, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học môn Toán ở Tiểu học trên cơ sở tổ chứccác hoạt động trải nghiệm, khám phá và phát hiện”
[9] Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam”, NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu tập huấn dạy học theo mô hình trườnghọc mới Việt Nam”
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w