1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn kể chuyện ở học sinh lớp 4

59 334 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trường, HS đã luôn luôn vận dụng văn kể chuyện trong mọi mặt sinh hoạt.Văn kể chuyện dạy cho các em nắm được nội dung và phương pháp kể.Luyện cho HS kỹ năng nói và viết những câu chuyện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=== ===

DIỆP THỊ THƠM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM VĂN

KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

TS HOÀNG THỊ THANH HUYỀN

Hà Nội, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tớiTrường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng với các thầy, các cô những người đãtrực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý giá trong thời gianchúng em học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Hoàng Thị Thanh Huyền,người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành bản khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Tiểu học Tiến Thịnh

B – Mê Linh – Hà Nội đã tạo điều kiện trong quá trình tìm hiểu thực tiễn dạyhọc cũng như là gia đình, người thân những người luôn quan tâm, động viên

và nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Diệp Thị Thơm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kì công trình nghiên cứu nào khác Nếu những cam kết trên là khôngđúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Sinh viên

Diệp Thị Thơm

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Cơ sở tâm lí học 6

1.1.1.1 Đặc điểm nhận thức 9

1.1.1.2 Đặc điểm sinh lí 10

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 11

1.1.2.1 Kể chuyện và văn kể chuyện 11

1.1.2.2 Đặc điểm của văn kể chuyện 15

1.1.2.3 Văn kể chuyện trong trường Tiểu học 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Thực trạng dạy học văn kể chuyện ở trường Tiểu học 19

1.2.2 Thực trạng học văn kể chuyện của học sinh 21

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHAP REN LUYỆN KI NANG LAM VAN KỂ CHUYỆN TRONG PHAN MON TẬP LAM VAN CHO 23

HỌC SINH LỚP 4 23

2.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn miêu tả trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 23

2.1.1 Nguyên tắc giao tiếp 23

Trang 6

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với nội dung chương trình 24

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh 24

2.2 Đề xuất biện pháp 25

2.2.1 Cung cấp kiến thức về văn kể chuyện 25

2.2.2 Hướng dẫn học sinh lựa chọn cốt truyện của bài văn kể chuyện 26

2.2.3 Hướng dẫn học sinh lựa chọn nhân vật trong bài văn 30

2.2.4 Hướng dẫn học sinh lựa chọn tình huống, chi tiết trong bài văn 32

2.2.5 Hướng dẫn học sinh lựa chọn ngôi kể, giọng kể 34

2.2.6 Các dạng bài tập bổ trợ rèn kĩ năng làm văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4 36

2.2.6.1 Bài tập xây dựng đoạn văn trong bài văn kể chuyện 36

2.2.6.2 Bài tập sửa lỗi đoạn văn trong bài văn kể chuyện 40

2.2.6.2.1 Sửa lỗi đoạn văn liên kết về nội dung 41

Chương 3: THỰC NGHIỆM KHOA HỌC 44

3.1 Mục đích thực nghiệm 44

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 44

3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 44

3.3 Nội dung thực nghiệm 44

3.4 Phương pháp thực nghiệm 49

3.5 Kết quả thực nghiệm 49

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong hai môn chính

có vai trò rất quan trọng Dạy Tiếng Việt cho HS Tiểu học tạo cho học sinh kỹnăng sử dụng trong học tập và giao tiếp; cung cấp cho HS các hiểu biết vềTiếng Việt, mở mang kiến thức về tự nhiên, xã hội, văn hóa của dân tộc ViệtNam và nước ngoài Trong đó, phân môn Tập Làm Văn có nhiệm vụ rèn chohọc sinh các kỹ năng sản sinh ngôn bản; sử dụng và hoàn thiện một cách tổnghợp các kiến thức và kỹ năng Tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác

đã hoàn thành Đây là phân môn mang tính tích chất tổng hợp, sáng tạo, thựchành, thể hiện đậm dấu ấn cá nhân Đối với học sinh Tiểu học, biết nói đúng,viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó Để nói, viết hay, có cảm xúc và giàu hìnhảnh lại khó hơn nhiều Cái khó ấy chính là cái đích của phân môn Tập LàmVăn đòi hỏi người học cần phải hướng tới Từ đó, các kiến thức, kỹ năngluyện nói sẽ được hoàn thiện và nâng cao, phát huy vốn sống, bồi dưỡng tâmhồn và hình thành nhân cách cho các em

Ở phân môn Tập làm văn thì văn kể chuyện là một trong những phầntrọng tâm của chương trình Tập Làm Văn lớp 4

Văn kể chuyện là thể loại văn nghệ thuật gắn liền với đời sống xã hội, cótác dụng giáo dục đạo đức, tư tưởng tình cảm, kỹ năng sống cho học sinh tiểuhọc Thể loại tập làm văn này vận dụng tổng hợp, ở mức độ cao, vốn tri thức

về cuộc sống, về văn chương và các kỹ năng của người nói, người viết đểthuyết phục nhận thức, tư tưởng, tình cảm, hành động của người nghe, ngườiđọc Trong văn học, các câu chuyện, các cuốn tiểu thuyết, các truyệnngắn…được xây dựng trên nhiều đoạn văn tự sự (kể) Vì thế, văn kể chuyện

là nền tảng của sáng tác văn học và là loại văn thường dùng trong đời sốnghàng ngày Chẳng những sau này đi vào cuộc sống mà ngay khi còn học ở nhà

Trang 8

trường, HS đã luôn luôn vận dụng văn kể chuyện trong mọi mặt sinh hoạt.Văn kể chuyện dạy cho các em nắm được nội dung và phương pháp kể.Luyện cho HS kỹ năng nói và viết những câu chuyện trong đời sống hàngngày gần gũi với các em mà các em được chứng kiến hoặc được nghe kểlại Vì thế, có thể nói văn kể chuyện có vị trí quan trọng trong sáng tác vănchương và chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tập làmvăn bậc Tiểu học.

Để hoàn thành bài văn kể chuyện, đối với học sinh lớp 4 thường rất khókhăn Do đặc điểm tâm lí chưa ổn định, hơn nữa các em còn ham chơi, khảnăng tập trung chú ý quan sát chưa tinh tế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưaphát triển tốt… Dẫn đến việc các em không biết viết gì, chưa biết cách hóathân, nhập vai vào nhân vật, thường hay lặp câu đã viết, viết sai hoặc viếtchưa hay nên các em chưa đạt được yêu cầu đề ra

Đối với giáo viên thì đây cũng là một loại bài khó dạy Giáo viên còn thiếulinh hoạt trong vận dụng phương pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ chức cáchoạt động học tập của học sinh Vì vậy, không phải dạy loại văn nào cũng đạtđược hiệu quả như mong muốn và không phải giáo viên nào cũng dạy tốt văn

kể chuyện Việc tìm ra các phương pháp để hướng dẫn học sinh diễn đạt, lựachọn tình tiết, miêu tả ngoại hình và tính cách nhân vật…của giáo viên vẫncòn nhiều hạn chế

Là một giáo viên tiểu học trong tương lai, tôi thấy việc áp dụng các biệnpháp rèn luyện kỹ năng viết văn kể chuyện ở lớp 4 nói riêng là một việc làmcần thiết nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ởTiểu học và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.Xuất phát từ những yêu cầu lý luận thực tiễn ở trên đặt ra vấn đề cầnnghiên cứu, tìm hiểu sâu, cụ thể về áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng

Trang 9

làm văn kể chuyện lớp 4 cho học sinh tiểu học Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài:

“Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn kể chuyện ở học sinh lớp 4”

2 Lịch sử vấn đề

Văn kể chuyện là một phân môn quan trọng của Tập làm văn nên có rấtnhiều cuốn sách đề cập đến vấn đề kể chuyện ở Tiểu học như Phương phápdạy học Tiếng việt của Đặng Kim Nga, Lê Phương Nga (2017), Phương phápdạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội,…

Nổi bất nhất phải kể đến cuốn “Dạy kể chuyện ở Tiểu học” của tác giảChu Huy, NXB Giáo dục, 2017 Trong đó, tác giả đã giúp chúng ta hiểu đúng

về thể loại truyện, hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp kể chuyện songcác biện pháp được trình bày không phù hợp với phương pháp dạy học hiệnnay

Trong cuốn “Hỏi đáp về dạy học Tiếng việt 4”, tác giả Nguyễn MinhThuyết đã nêu được các mức độ rèn kĩ năng làm văn kể chuyện cho học sinhtuy nhiên việc nghiên cứu chỉ chung chung, đại khái chưa đi sâu vào việcnghiên cứu cụ thể từng biện pháp

Với các chương trình cải cách và của bộ SGK và SGV mới, Bộ Giáo dục

và Đào tạo thể hiện sự đổi mới trong dạy học Tiếng việt nói chung và Tập làmvăn nói riêng Việc dạy Tập làm văn theo quan điểm giao tiếp, hướng dẫn họcsinh sử dụng Tiếng việt hiện đại để học tập và giao tiếp trong các môi trườnghoạt động phù hợp với lứa tuổi

Nhìn chung, các cuốn sách trên đã đề cập đến việc giảng dạy phân môn kểchuyện nhưng ít tác giả đề cập sâu đến các biện pháp rèn luyện kĩ năng làmvăn kể chuyện cho học sinh lớp 4 Thực tế đòi hỏi nâng cao yêu cầu chấtlượng dạy và học của giáo viên và học sinh, từ đó phát triển các năng lực cầnthiết cho các em

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn kể chuyện ở lớp 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu và thực nghiệm tại trường Tiểu học Tiến Thịnh B – xã TiếnThịnh, huyện Mê Linh, Hà Nội Đồng thời nghiên cứu nội dung văn kểchuyện trong phân môn Tập làm văn lớp 4

4 Mục đích nghiên cứu

Văn kể chuyện là loại văn có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làmvăn bậc Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng Song chất lượngdạy học của giáo viên và học sinh chưa thực sự hiệu quả, chưa đạt đươc cácyêu cầu đề ra

Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đề xuất được các biệnpháp nhằm nâng cao kết quả thực hành về văn kể chuyện cho học sinh lớp 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy và học văn kể chuyệntrong dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học

- Tìm hiểu thực trạng về việc tổ chức dạy và học văn kể chuyện lớp 4 ởtrường Tiểu học

- Xây dựng các biện pháp rèn luyện các kĩ năng làm văn kể chuyện trongphân môn Tập làm văn lớp 4

- Thực nghiệm khoa học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu làm cơ sở cho lí luận6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Được tiến hành dưới cáchình thức:

Trang 11

+ Dùng phiếu điều tra

+ Đàm thoại, trao đổi trực tiếp giữa giáo viên và học sinh

+ Dự giờ tiết dạy văn ở trường Tiểu học để tìm hiểu các hình thức vàphương pháp dạy học của giáo viên

6.3 Phương pháp toán học

Sử dụng thống kê để xử lí thông tin, tổng hợp số liệu điều tra từ thực tế

để phân tích, làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất biện pháp rèn kỹ năng làmvăn kể chuyện ở học sinh lớp 4

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Từ các biện pháp đã đề xuất tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu họcTiến Thịnh B, xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, tỉnh Hà Nội

6.5 Nhóm phương pháp hỗ trợ

+ Phương pháp quan sát, thực hành kiểm tra, đánh giá,…

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của khóa luậngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 : Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng làm văn kể chuyện trongphân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4

Chương 3: Thực nghiệm khoa học

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

Hiện nay, ở bậc Tiểu học, văn kể chuyện được dạy từ lớp 2 So với vănmiêu tả thì văn kể chuyện khá gần gũi với trẻ em vì các em đã được nghe kểchuyện từ mọi người thân Cùng với các thể loại khác, văn kể chuyện sẽ giúpcho học sinh rèn luyện ngôn ngữ một cách toàn diện Mặt khác, nắm vững vàthực hành tốt về văn kể chuyện sẽ góp phần nâng cao năng lực tư duy, pháthuy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh Trong chương trình tập đọc, cáccâu chuyện kể được đưa vào sách rất giàu tính nhân văn, có tính giáo dục, tính

tư tưởng cao, khả năng truyền cảm xúc mạnh như: Con sẻ; Người mẹ; Người

ăn xin; Người thợ săn và con khỉ…Qua những bài văn mẫu mà em được tiếpxúc trong sách giáo khoa, các em có điều kiện tốt để thưởng thức, phân tíchtác phẩm văn học, từ đó các em sẽ nâng cao nhận thức về tư tưởng, tình cảm

để thực hiện tốt các chức năng giáo dục, giáo dưỡng của quy trình đào tạo Vìvậy, đòi hỏi mỗi giáo viên dậy Tiểu học phải đạt được các mục tiêu lớn đã đề

ra cho phân môn giúp hình thành nhân cách cho học sinh

1.1.1 Cơ sở tâm lí học

Trong nhà trường Tiểu học, nhu cầu kể chuyện là nhu cầu tất yếu của lứatuổi học sinh nhỏ Từ tuổi lên 3 bập bẹ tập nói các em đã thích được nghe kểchuyện Đến tuổi mẫu giáo nhu cầu cần nghe kể chuyện lại tăng thêm nhiều

và trẻ cũng dần tập kể chuyện cho bạn bè, cha mẹ, anh chị…nghe Bước vàotuổi học sinh Tiểu học, kể chuyện là một trong những phân môn của Tiếngviệt nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng biểu cảm đặc biệt là đối với cácloại truyện cổ dân gian và truyện về đời sống hằng ngày Vì vậy, từ lớp 1 đếnlớp 5, lớp nào cũng có tiết kể chuyện Tập làm văn lại có bài văn kể chuyện.Luyện tập văn kể chuyện trở thành một yêu cầu đối với học sinh Tiểu học

Trang 13

Tâm lí trẻ em đặc biệt là trẻ em lứa tuổi từ 1 đến 12 tuổi rất thích nghe kểchuyện Chúng thường được ông bà, cha mẹ, thầy cô kể những câu chuyện cổtích có những nhân vật gần gũi với lứa tuổi của chúng Những truyện kể,truyện dân gian là một trong những hình thức nhận thức thế giới của các em,giúp các em chính xác hóa những biểu tượng đã có về thực tế xã hội xungquanh, từng bước cung cấp thêm những khái niệm mới và mở rộng kinhnghiệm sống cho các em Những tác phẩm ấy giúp cho các em xác lập mộtthái độ đối với các hiện tượng của đời sống xung quanh “Truyện cổ tích gắnliền với cái đẹp góp phần phát triển các cảm xúc thẩm mĩ mà thiếu chúngkhông thể có tâm hồn cao thượng, lòng mẫn cảm chân thành trước nỗi bấthạnh, đau đớn và khổ ải của con người Nhờ có truyện cổ tích, trẻ nhận thứcđược thế giới không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng trái tim Và trẻ em khôngphải chỉ có nhận thức mà còn đáp ứng lại sự kiện và hiện tượng của thế giớixung quanh, tỏ thái độ của mình với các điều thiện và ác Truyện cổ tích cungcấp cho trẻ những biểu tượng đầu tiên về chính nghĩa và phi nghĩa Giai đoạnđầu tiên của giáo dục lí tưởng cũng diễn ra nhờ có truyện cổ tích Truyện cổtích là ngọn nguồn phong phú và không gì thay thế được để giáo dục tình yêu

Tổ quốc”

(Chu Huy, Tài liệu đã dẫn, trang 14-15)Puskin từng thổ lộ: “ Buổi tối tôi nghe kể chuyện cổ tích và lấy việc đó bù đắpnhững thiếu sót trong sự giáo dục đáng nguyền rủa của mình Mỗi truyện cổtích ấy mới đẹp làm sao, mỗi truyện là một bài ca”

(Dẫn theo Nguyễn Trí, Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2,NXB ĐHSP, 2004)

Ngoài ra, kể chuyện còn đem đến cho các em nhiều niềm vui, sự thích thú,thư giãn sau những giờ học căng thẳng Những câu chuyện đó khơi gợi ở các

em lòng yêu cái đẹp trong thiên nhiên, xã hội của con người, tạo ra sự gần

Trang 14

gũi, cảm thông, lòng tin cậy giữa các thầy cô và các em Đặc biệt là với các

em còn rụt rè, nhút nhát, do bản thân hoặc do hoàn cảnh sống Khi học tiết kểchuyện, các em sẽ có cơ hội gần gũi, hòa đồng với các bạn, cùng sống với cácnhân vật trong truyện giúp các em tự tin hơn mạnh dạn hơn Các em đượcsống trong thế giới riêng của mình, có thể được nghe, được kể bằng trí tưởngtượng, phong phú và đầy sáng tạo riêng của mình

Nhân cách của học sinh thời kì này đang được hình thành Bởi các em làmột thực thể, chỉnh thể trọn vẹn nhưng chưa định hình mà đó là một thực thểđang phát triển Tâm lí chưa hoàn thiện, các bộ phận trong cơ thể phát triểnchưa đồng đều nên dễ bị ảnh hưởng của GV, người lớn

Chính vì những đặc điểm tâm lí trên, mà kiểu bài kể chuyện đã được đưavào trong phân môn Tâp làm văn nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức

về văn kể chuyện Tuy nhiên, ở giai đoạn học sinh Tiểu học, các em vẫn ngạiviết văn, e dè khi kể chuyện theo cảm nhận của riêng mình Nguyên nhân là

do các cơ quan của cơ thể chưa được phát triển đầy đủ, chữ viết còn chậm,tình trạng vốn từ của học sinh còn ít, khả năng tư duy còn kém, các kỹ năngquan sát, phân tích, tổng hợp còn chưa cao Cho nên, nhu cầu về phương phápluận dạy văn kể chuyện là một nhu cầu cấp bách để nâng cao hơn nữa hiệuquả thực hành văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho học sinh Tiểuhọc

Việc dạy kể chuyện cho các em rất cần sự đầu tư của giáo viên và phảixác định được tầm quan trọng của tiết kể chuyện nói riêng và Tập làm văn nóichung Đồng thời, cần có những biện pháp dạy học tích cực, hình thức dạyhọc phong phú phát huy trí lực của học sinh, nhằm đạt kết quả dạy học caonhất

Trang 15

1.1.1.1 Đặc điểm nhận thức

Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi Từ đứa trẻ mẫu giáo trởthành học sinh phổ thông với bao điều mới mẻ cần khám phá, trẻ có nhiềuthay đổi về tâm lí Sự phát triển nhận thức ở học sinh tiểu học có những bướctiến mới so với lứa tuổi tiểu học Đối với quá trình tri giác, ngay từ khi trẻbước vào trường phổ thông, khả năng tri giác của trẻ khá phát triển Trẻ cókhả năng định hướng tốt đối với hình dáng và màu sắc khác nhau tuy nhiênvẫn còn hạn chế Trong các giờ học, trẻ có thể tiếp nhận các thông tin và tựmình diễn đạt lại các thông tin đó một cách tương đối chính xác Quá trìnhnày được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển ở trẻ

Về sự phát triển ghi nhớ của học sinh Tiểu học, ban đầu các em áp dụngphương thức ghi nhớ là nhắc đi nhắc lại nhiều lần để ghi nhớ nguyên văn tàiliệu Sau đó, các em được dạy ghi nhớ có chủ định một cách lâu dài Ghi nhớmáy móc dần tiến tới ghi nhớ có ý nghĩa, dựa trên mối quan hệ logic của nộidung Một trong những phương thức dạy các em ghi nhớ đó là dạy các em lậpdàn ý và dựa vào dàn ý để ghi nhớ Mối tương quan của ghi nhớ có ý nghĩa vàghi nhớ máy móc trong quá trình nhận thức của trẻ nhỏ có những điểm khácnhau Ở học sinh lớp 1, hiệu quả của việc ghi nhớ máy móc là cao hơn ghinhớ có ý nghĩa, vì trẻ chua hình thành những biện pháp phân chia tài liệu theonhóm có ý nghĩa Càng lên lớp cao hơn, cùng với sự hình thành những biệnpháp ghi nhớ có ý nghĩa thì ghi nhớ có ý nghĩa trong nhiều trường hợp cóhiệu quả hơn ghi nhớ máy móc Tuy nhiên, cả hai hình thức này đều có vai tròquan trọng đối với lứa tuổi học sinh tiểu học Trong trường hợp trẻ phải họcthuộc lòng những sự kiện, những con số thì bắt buộc trẻ phải áp dụng hìnhthức ghi nhớ máy móc Ở trường hợp khác như lĩnh hội trên cơ sở xử lí tàiliệu một cách logic thì việc áp dụng ghi nhớ ý nghĩa lại là một hình thức ghinhớ bắt buộc

Trang 16

Sự phát triển khả năng tưởng tượng của trẻ được diễn ra theo hai giaiđoạn chủ yếu Giai đoạn đầu những hình ảnh được tái tạo lại bằng những chitiết nghèo nàn, miêu tả 1 cách rõ nét khi trẻ được tri giác bằng hình ảnh cụ thểnhư tranh vẽ hoặc những câu chuyện cụ thể Giai đoạn thứ hai thì khả năngtưởng tượng tăng lên rõ rệt, trẻ có khả năng tái tạo những hình ảnh mà khôngcần có sự cụ thể hóa đặc biệt, nhờ vào trí nhớ hoặc những sơ đồ Chẳng hạn,trẻ có khả năng miêu tả một cách sinh động những câu chuyện mà chúng ta đãđược đọc hoặc được nghe cô giáo kể.

Học sinh tiểu học có khả năng tư duy các đối tượng trực tiếp tác động đếntrẻ, hay nói cách khác, trẻ dựa vào những đối tượng thực hoặc trực tiếp thaythế Sau đó, với vai trò của người lớn và giáo viên, đã giúp trẻ chỉ ra mối liên

hệ giữa các yếu tố riêng lẻ của các tri thức cần lĩnh hội Từ đó, dần dần hìnhthành ở trẻ khả năng khái quát hóa và tổng hợp ở mức độ cao hơn và trên cơ

sở những biểu tượng đã hình thành được ở trước đó

Chú ý không chủ định vẫn phát triển, chú ý có chủ định còn yếu và thiếubền vững và sự phát triển chú ý gắn liền với sự phát triển của hoạt động họctập

Các cơ quan cảm giác: thị giác, thính giác, khướu giác, xúc giác đều pháttriển và trong quá trình hoàn thiện Nhận biết được điều này, chúng ta phảithu hút trẻ bằng các hoạt động mới mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ

so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và

Trang 17

chính xác Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển phong phú hơnđặc biệt là ở học sinh lớp 4, 5 nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệmdày dặn Qua đó, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượngcủa các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh cócảm xúc, đặt ra cho các em các câu hỏi có tính gợi mở, thu hút các em vàohoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trìnhnhận thức lí tính của mình một cách toàn diện.

Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1,bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 4 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo vàbắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữphát triển mà trẻ em có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xungquanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính

và lí tính, nhờ ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tưởng phát triển

dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặtkhác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự pháttriển trí tuệ của trẻ Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên cácnhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằngcách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể

là truyện tranh, truyện cổ tích, sách văn học, báo nhi đồng,… đồng thời cũng

có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể chuyện đọc thơ, viết báo,viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,… Tất cả đều có thể giúp trẻ có được mộtvốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng tạo điều kiện cho học sinh hoàn thiện tốtmột bài văn kể chuyện

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.2.1 Kể chuyện và văn kể chuyện

Trang 18

Theo Phương pháp dạy học Tiếng Việt của Đặng Phương Nga, LêPhương Nga (2007) giải thích:

“Chuyện là tất cả những sự việc diễn ra trong cuộc sống Chuyện có nhiềumức độ Chuyện lớn thì liên quan đến nhiều người và kéo dài theo thời gian.Chuyện nhỏ thì liên quan đến ít người và kéo dài trong thời gian ngắn.Chuyện có thể xảy ra trong mỗi gia đình, xã hội.”

“Nếu chuyện được kể với nhau bằng lời nói miệng thì người ta gọi đó là

kể chuyện Còn nếu được viết lại bằng văn bản chữ thì sản phẩm viết ra đượcgọi là thể loại truyện.”

“ Truyện được gọi là thể loại văn học Nó được truyền, lưu giữ bằng vănbản chữ Truyện có nhiều mức độ khác nhau Truyện ngắn, truyện vừa, truyệndài,…Truyện dùng để đọc.”

“ Câu chuyện là nói đến nội dung cho dù là việc diễn ra trong truyện haytrong chuyện thì đều là câu chuyện.”

Theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 tập 1 định nghĩa như sau: “ Kểchuyện là kể lại một chuỗi sự việc có đầu có cuối, liên quan đến một hay một

số nhân vật Mỗi câu chuyện cần nói lên được một điều có ý nghĩa.”

Kể là một động từ biểu thị hoạt động nói Từ điển Tiếng Việt (do VănTân chủ biên) giải thích kể: nói rõ đầu đuôi và nêu ví dụ kể chuyện cổ tích Khi ở vị trí một thuật ngữ, kể chuyện bao hàm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:

a, Chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình, loạihình kịch) – còn gọi là truyện hay tiểu thuyết

Văn kể chuyện là văn trong truyện hoặc trong tiểu thuyết Do đó, đặcđiểm của văn kể chuyện cũng là đặc điểm của truyện Đặc trưng cơ bản củatruyện là tình tiết, tức là có sự việc đang xảy ra, đang diễn biến, có nhân vậtvới ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách riêng

Trang 19

b, Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng.

Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói Khi cầnthay đổi bằng hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người nghe,người ta cũng xen kẽ phương pháp kể chuyện Với các môn khoa học tựnhiên, kể chuyện được dùng trong phần kể về tiểu sử tác giả, miêu tả quá trìnhphát minh, sáng chế, quá trình phản ứng hóa học…

c, Chỉ tên một loại văn thuật truyện trong môn Tập làm văn

Văn kể chuyện là một loại mà HS phải được luyện tập diễn đạt bằngmiệng hoặc bằng viết thành bài theo những quy tắc nhất định Vì tính chấtphổ biến và ứng dụng rộng rãi của bài văn này nên nó trở thành loại hình cầnđược rèn kĩ năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận

d, Chỉ tên một phân môn được học ở các lớp trong trường Tiểu học

Kể chuyện là một môn học của lớp Tiểu học trường Phổ thông Có ngườihiểu đơn giản kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian, kể chuyện cổ tích Thực

ra không hẳn như vậy, kể chuyện ở đây bao gồm việc kể nhiều loại truyệnkhác nhau, kể cả truyện cổ và truyện hiện đại, nhằm mục đích giáo dục, giáodưỡng, rèn kĩ năng nhiều mặt cho một con người Lâu nay, thuật ngữ “kểchuyện” vẫn được dùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câuchuyện có hình thức hoàn chỉnh, được in trên sách báo

(Xem Chu Huy, Dạy Kể chuyện ở trường Tiểu học, NXB Giáo dục,

2000, trang 11- 12)

Kể chuyện là một hình thức thông tin nhanh gọn, truyền cảm bằng ngônngữ Mặc dù đã có những phương tiện thông tin đại chúng hiện đại như tivi,đài phát thanh, radio cát xét, người ta vẫn thích nghe nói chuyện bằng miệng.Theo định nghĩa rộng, thuật ngữ “kể chuyện” có thể bao hàm toàn bộ ngônngữ nói sinh hoạt hằng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy: “ Tiếng nói

là thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu Chúng ta phải biết quý trọng nó,

Trang 20

giữ gìn nó, phát triển nó.” Nhờ có tiếng nói và lao động mà con người thoáthẳn khỏi đời sống động vật, vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làmchủ thiên nhiên Bầy người nguyên thủy quay quanh đám lửa trại nướng thịtthú rừng, nướng quả hạt thường kể những chuyện săn, bắt, hái, lượm chonhau nghe Đó cũng là khởi đầu của sự tích lũy tri thức khoa học và kểchuyện ở đây mang chức năng thông tin Khi ngôn ngữ ngày càng phát triển,

số lượng từ cơ bản tăng lên, đời sống vật chất và tinh thần ngày một phongphú thì kể chuyện không chỉ dừng lại ở mức độ thông tin nữa mà mang thêmchức năng giải trí, hay cao hơn nữa là chức năng nghệ thuật Nhờ vậy mà khotàng đồ sộ truyện cổ dân gian hết sức giàu có, hết sức đa dạng được truyền lạiđến ngày nay bằng hình thức kể Trải qua 10 thế kỉ Bắc thuộc, dân tộc ViệtNam sở dĩ bảo toàn bản lĩnh và bản sắc dân tộc độc đáo, không bị phong kiếnphương Bắc xâm lược, đồng hóa thôn tính một phần là nhờ ở hung khí nhữngcâu chuyện cổ Chùm truyền thuyết về Âu Cơ, Lạc Long Quân, về HùngVương, về Thánh Gióng, về Sơn Tinh Thủy Tinh, về An Dương Vương, vềbánh chưng bánh giầy, về An Tiêm…đã nhen nhóm niềm tin tất thắng về mộttương lai của cả một dân tộc bị ngoại bang thống trị Cho đến năm 939, vớichiến thắng của Ngô quyền dân tộc ta đã bẻ gẫy cái vòng xiềng xích “quậnhuyện” của bọn phong kiến nhà Hán Ta là là ta, ta là dân tộc Việt Nam khôngthể là ai khác Chùm truyện cổ về háo khí dân tộc chứ không thể là ai khác.Chùm truyện cổ về hào khí dân tộc ấy nhờ vậy mà được bảo tồn và phát triểnmãi mãi bằng hình thức truyền miệng Trong một thời gian lịch sử lâu dài, khi

đã có văn tự để ghi chép, in ấn rồi thì kể chuyện vẫn còn tồn tại và phát triểnsong song với sự phát triển của văn tự

(Chu Huy, Tài liệu đã dẫn, trang 12-13)Như vậy, Chuyện là có sự việc có diễn biến, có nhân vật nhằm nói lênmột điều gì đó Người ta có thể mang chuyện ra để kể Kể chuyện là phương

Trang 21

thức tự sự, một phương thức biểu đạt để kể các chuyện Chúng không chỉđược sử dụng trong đời sống mà còn được sử dụng trong sáng tác văn học.Giá trị một truyện ngắn, truyện dài,… do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó có tài

kể chuyện của nhà văn Dưới góc độ giao tiếp, kể chuyện là một hoạt độnggiao tiếp có người phát, người nhận, nội dung là những sự việc xảy ra trongđời sống hằng ngày và diễn ra trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống

Vậy thế nào là văn kể chuyện?

Trong các thể loại tập làm văn, văn kể chuyện là thể loại văn nghệ thuậtgắn liền với đời sống xã hội, có tác dụng giáo dục đạo đức, tư tưởng tình cảm,

kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học Thể loại tập làm văn này vận dụng tổnghợp, ở mức độ cao, vốn tri thức về cuộc sống, về văn chương và các kĩ năngcủa người nói, người viết để thuyết phục nhận thức, tư tưởng, tình cảm, hànhđộng của người nghe, người đọc

Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng thực hành Tiếng việt” của NguyễnQuang Ninh cho rằng: Văn kể chuyện là loại văn viết ra nhằm trình bàynhững sự việc xảy ra trong đời sống xã hội, sự đánh giá đó không chỉ dừng lại

ở một sự việc đơn lẻ nào mà là sự phản ánh và đánh giá có bắt đầu có kếtthúc

Tóm lại, ta có thể hiểu khái niệm văn kể chuyện như sau:

Văn kể chuyện là loại văn mà học sinh hay được luyện tập diễn đạt bằngmiệng hoặc viết thành bài theo quy tắc nhất định nhằm thuật lại cho ngườiđọc, người nghe diễn biến, hoạt động của một sự vật, sự việc hoặc của chínhbản thân mình và từ câu truyện đó rút ra được nhiều điều bổ ích

1.1.2.2 Đặc điểm của văn kể chuyện

Văn kể chuyện được ở lớp 4 được chia làm những loại chính sau: Kểchuyện đã được nghe, được đọc ngoài giờ học, kể lại câu chuyện được chứngkiến hoặc tham gia, nghe và kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp,…

Trang 22

Văn kể chuyện phải có cốt truyện Đó là một chuỗi sự việc có đầu cócuối làm nòng cốt cho diễn biến của truyện, liên quan đến một hay một sốnhân vật Cốt truyện thường có 3 phần: Mở đầu, diễn biến, kết thúc Qua sựviệc có diễn biến, có nhân vật, người kể nhằm nói lên một điều gì đó Cho nên

kể chuyện thực ra không phải giản đơn là kể một câu chuyện nào đó mà thôngqua câu chuyện, thông qua số phận nhân vật, người kể muốn thể hiện ý nghĩacủa cuộc đời, bài học về con người, về nhân sinh quan, thế giới quan, từ đó,giúp mọi người thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống, sống tốt hơn, đẹp

hơn Do đó, “s v n n n n v t chỉ là phương tiện còn

n u mu n n mới là mục đích của truyện Người ta có thể kể về con

người, sự việc thật, đã xảy ra trên đời, cũng có thể “bịa” ra câu chuyện, “bịa”

ra nhân vật dựa trên kinh nghiệm sống của mình nhưng không thể “bịa” ra ýnghĩa cuộc đời nghĩa cuộc đời phải rất thật, phải thể hiện sâu sắc niềm tin,

lí tưởng, đạo đức thiêng liêng của dân tộc, thời đại

Không thể có cốt truyện mà chỉ bao gồm một sự việc, mà phải có nhiều

sự việc gắn bó với nhau.Trong cuốn Văn m êu tả và kể chuy n, nhà văn Phạm

Hổ viết: “ N ày xư n em n à k k mẹ mất, mớ em ủa cải

ra chia cho nhau,… nếu chuyện Cây khế mà chỉ viết đến đó thì không thể gọi

là truyện được, vì nó chưa có chuyện và chưa có ý nghĩa gì cả Nếu kể tiếp:

N ười anh tham giành h t nhà cửa, của cải và chỉ chia cho em mình một túp

l u con cùng một cây kh thì cũng đã bắt đầu vào chuyện nhưng vẫn chưa có

chuyện Phải có chuyện con chim tới ăn khế, phải có chuyện người em rồingười anh theo chim đi lấy vàng, người anh tham quá bị chết… thì mới gọi cóchuyện, có ý nghĩa…”

Đối với văn kể chuyện nếu chẳng có chuyện ( các sự việc nối tiếp nhau)

để kể thì có lẽ văn bản thuộc thể loại khác, chẳng hạn như miêu tả, nghị luận,thuyết minh, biểu cảm… Ngay cả nhưng câu chuyện ta tưởng “không có

Trang 23

chuyện” bởi chỉ là những mẩu vụn của cuộc sống như “Hai đứa trẻ” củaThạch Lam, “Thanh ! Dạ !” của Nguyễn Công Hoan thì thực chất vẫn cócác sự việc nối tiếp nhau xảy đến nhân vật dù không có “thắt nút”, “mở nút”,

“cao trào” Với học sinh lớp 4, đối tượng của việc dạy văn kể chuyện trongnhà trường Tiểu học, không nên yêu cầu trẻ phải xây dựng được chuỗi sự việcphức tạp, gay cấn mà chỉ cần có những sự việc hợp lí gắn bó với nhau

Vai trò của người kể là phải sử dụng các tình tiết, các sự kiện, đặc điểm tínhcách các nhân vật làm luận cứ để người nghe, người đọc tự đi đến những kếtluận, những bài học về ý nghĩa cuộc đời, nhân tình thế thái, nhân sinh quan,thế giới quan Chuyện được kể theo ngôi, có 2 cách để kể lại lời nói và ýnghĩ của nhân vật đó là kể nguyên văn (dẫn lời trực tiếp) và kể bằng lời củangười kể chuyện (lời dẫn gián tiếp) Trong bài văn kể chuyện, nhiều khi taphải kể lại lời nói và ý nghĩ của nhân vật Lời nói và ý nghĩ cũng nói lên tínhcách nhân vật và ý nghĩa câu chuyện Riêng về ngôi kể, có thể kể theo ngôithứ nhất ( tôi, chúng tôi, em, chúng em ) hoặc kể theo ngôi thứ ba ( lời ngườidẫn chuyện) Ngoài ra, trong nhà trường còn phát triển hình thức chuyển cách

kể chuyện đã cho từ ngôi nọ sang ngôi kia Trong quá trình kể, người ta có thể

kể theo trình tự thời gian, chuyện xảy ra trước kể trước, chuyện xảy ra sau kểsau Ngoài ra còn có cách kể theo trình tự đan xen vào nhau: trước – sau, sau– trước…Lại có chuyện kể theo lối sắp xếp song song: hai việc cùng xảy racùng một lúc ở hai nơi khác nhau

Riêng với thể loại truyện kể đã được chứng kiến hoặc tham gia đòi hỏihọc sinh phải kể lại sự việc có thật, đã xảy ra và kể lại trung thành diễn biếncủa sự việc theo thời gian và không gian hoặc thông qua những chi tiết chọnlọc tiêu biểu Trong quá trình viết đoạn văn kể chuyện, người viết phải làngười trong cuộc ( tức người tham gia) hoặc được dự, được xem nên phải

Trang 24

trung thành với các sự kiện có thật, không được bóp méo dù là một chi tiếtnhỏ.

1.1.2.3 Văn kể chuyện trong trường Tiểu học

Văn kể chuyện có vị trí rất quan trọng trong phân môn Tập làm văn ởTiểu học Từ thuở nhỏ, trẻ em đã sớm học và tập dùng văn để kể chuyện Ởtrường học, văn kể chuyện được dạy từ lớp 2 Qua những câu chuyện này, họcsinh có vốn từ phong phú, đa dạng hơn, hiểu biết và năng lực suy nghĩ của các

em cũng được nâng lên ở một mức cao hơn Ở lớp 4 có 3 dạng bài học kểchuyện: Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp; Kể chuyện đã nghe, đã đọc;

Kể chuyện đã được chứng kiến, tham gia

Kiểu bài nghe – kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp được thựchiện ở tuần thứ nhất trong một chủ điểm 3 tuần học Trong trường hợp này,câu chuyện (có độ dài khoảng trên dưới 500 chữ) được in trong sách giáoviên, trình bày bằng tranh hoặc tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong sáchgiáo khoa Câu chuyện được thầy, cô kể cho học sinh nghe, rồi học sinh kểlại Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng cho học sinh, kiểu bài này còn cómục đích là rèn kĩ năng nghe, ở nhiều bài có thêm điểm tựa để nhớ truyện làtranh minh họa và gợi ý dưới tranh

Kiểu bài Kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện yêu cầuhọc sinh phải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hằng ngày ( nghengười thân hoặc ai đó kể ) để kể lại Kiểu bài này trước đây chỉ có trong giờTập làm văn Bên cạnh mục đích chung là rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh,kiểu bài đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện còn có mục đích kích thích họcsinh ham đọc sách

Khi kể chuyện đã nghe, đã đọc phải kể đúng cốt truyện, trung thành vớicốt truyện, nhân vật, chi tiết nhưng có thể kể bằng lời lẽ, giọng điệu, cách

Trang 25

nhấn mạnh hay lướt qua để kể Sự sáng tạo chỉ ở lời kể, cách kể Khi kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc học sinh còn tập chuyển đổi ngôi kể.

Kiểu bài kể lại câu chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia yêu cầu họcsinh kể những chuyện người thật, việc thật có trong cuộc sống xung quanh màcác em đã biết, đã thấy, cũng có khi chính các em là nhân vật của câu truyệnnhư kể về một tấm gương kiên trì, vượt khó, kể về một lần tham gia dọn vệsinh môi trường, kể về một tấm gương hiếu học Kiểu bài này trước đây chỉ

có trong giờ tập làm văn Các bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham giarất đa dạng vì chúng gắn với các chủ điểm của sách Bên cạnh mục đích rènluyện kĩ năng nói, kiểu bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia còn cómục đích rèn cho học sinh thói quen quan sát, ghi nhớ

So với các câu chuyện ở lớp 2,3 thì các chuyện ở lớp 4,5 có độ dài lớnhơn, phức tạp hơn, nội dung sâu sắc hơn Những câu chuyện này nói vềnhững phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải rèn luyện gắn với các chủđiểm học tập

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng dạy học văn kể chuyện ở trường Tiểu học

Hầu hết giáo viên ở trường tiểu học Tiến Thịnh B trải qua tập huấn vềchương trình mới nên giờ kể chuyện diễn ra có sự sôi nổi, tích cực, tự giáccủa học sinh và giáo viên giữ đúng được vai trò của mình Phần lớn học sinhtham gia kể đều nhớ nội dung câu truyện

Tuy nhiên, trong chương trình cũ, kiểu bài kể chuyện được xây dựngvới những kiểu bài cụ thể và những kĩ năng đặt ra cho từng đề bài cụ thể đó.Trong chương trình mới, kể chuyện lại bắt đầu bằng việc hình thành cho họcsinh một số kiến thức chung về văn kể chuyện, sau đó mới đi vào phần thựchành Điều này khiến cho không ít giáo viên những khó khăn, lúng túng vềphương pháp truyền đạt, về kinh nghiệm giảng dạy… Bên cạnh đó, trong

Trang 26

chương trình còn có nhiều bài khó như: Luyện tập phát triển câu chuyện ở lớp

4, Luyện tập xây dựng đoạn văn trong văn kể chuyện lớp 4,… đã khiến không

ít giáo viên lúng túng khi xử lí các mạch kiến thức cần truyền thụ Tiết dạythường mất rất nhiều thời gian nhưng hiệu quả không cao

Theo điều tra của bộ phận chuyên môn thì có tới 80% giáo viên, khôngyên tâm và lo sợ khi phải dạy một tiết tập làm văn cho người khác dự giờhoặc thao giảng

Nguyên nhân là do mỗi tuần giáo viên chỉ dạy cho học sinh khoảng 2 tiết

về các nội dung nâng cao ở môn Tiếng việt Thời gian đó, giáo viên tập trungluyện chính tả, luyện luyện từ và câu, thời gian dành cho luyện luyện tập làmvăn là rất ít Do đó, chất lượng học tập làm văn không được nâng cao

Trình độ giáo viên không đồng đều, Giáo viên chưa quan tâm đến việcnhắc học sinh chuẩn bị bài ở nhà nên hầu hết trong tiết dạy, học sinh không có

sự chuẩn bị và thụ động

Giáo viên chưa biết áp dụng các hình thức học tập mới do đó chất lượngcủa giờ kể chuyện còn hạn chế Cơ sở vật chất phục vụ cho bài giảng thiếuthốn như bảng phụ, hình ảnh, đoạn phim video clip cần minh họa cho tiết dạycũng khó tùm hoặc tìm được mất rất nhiều công sức

Từ quan điểm biên soạn sách là tích cực hóa hoạt động học tập của họcsinh và phương pháp giảng dạy chủ yếu là coi trọng phần thực hành, qualuyện tập thực hành, học sinh rút ra kiến thức chủ yếu của bài học Phần bàihọc không có định nghĩa, không có quy tắc nên giáo viên còn lúng túng khinâng từ kiến thức cụ thể lên thành kiến thức tổng quát

Nội dung chương trình Tập làm văn ở Tiểu học được biên soạn theo kiểukết hợp giữa văn bản nghệ thuật và văn bản nhật dụng để học sinh học tập vàthực hành Cứ vài tiết học về miêu tả hay kể chuyện thì có một tiết điền vàođơn từ, viết đơn, tranh luận hay thuyết trình…Việc đan xen giữa hai đơn vị

Trang 27

kiến thức có mặt ưu nhưng cũng có mặt hạn chế Nhiều giáo viên chưa xâuchuỗi được kiến thức cho học sinh, học sinh nhớ cái này, quên cái kia là điềuthường thấy trong các bài văn nói và viết.

1.2.2 Thực trạng học văn kể chuyện của học sinh

Việc học tập kiểu bài kể chuyện của học sinh nhìn chung có thuận lợihơn các thể loại văn khác vì các em đã được làm quen với thể loại này mộtcách tự nhiên ngay từ khi còn bé, thông qua các hoạt động vui chơi Tuynhiên các câu chuyện mà các em kể lại thiếu sự sáng tạo, sự hấp dẫn các emchỉ dừng lại ở việc kể đơn giản, hạn chế diễn đạt ngôn ngữ, số lượng học sinh

kể hay còn quá ít Các đề bài đưa vào luyện tập trong chương trình chínhkhóa, do có nhiều sách tham khảo nên các em cứ thế đọc, ghi nhớ và kể lại,thiếu đi phần riêng của mình Có một số lớp, nếu phân loại thì một câuchuyện kể có đến hơn 50% học sinh kể giống nhau về nội dung, nhân vậtthiếu tính cách, thiếu đặc điểm, ngoại hình, thiếu ngôn ngữ…do vốn sống,vốn từ ngữ ít, một số học sinh nhút nhát, học kém chưa tự tn để giao tiếp, traođổi với cô giáo, bạn bè

Phương pháp dạy của giáo viên chưa thực sự hứng thú, kích thích sự tò

mò của học sinh nên tạo cho học sinh cảm giác nhàm chán, nặng nề, chưa cótâm thế để học

Theo thực tế giảng dạy văn kể chuyện cho thấy khả năng viết đoạn văn

kể chuyện của học sinh ở các trường phổ thông rất còn nhiều hạn chế Một số

em có khả năng viết nhưng chưa trình bày đoạn văn kể chuyện một cáchlogic, số còn lại thì còn nhiều lúng túng ở cả khâu lựa chọn ý và lời văn Các

em dường như quá mơ hồ, mờ nhạt với những kiến thức về văn kể chuyện,các em không biết làm thế nào để viết một đoạn văn vừa trọn vẹn về nội dung,vừa hoàn chỉnh về hình thức? Cách viết một đoạn văn kể chuyện theo kết cấunhư thế nào? Cách viết các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài ra sao? Cách

Trang 28

lập dàn ý và chuyển từ một phần của dàn ý thành một đoạn văn kể chuyệnnhư thế nào? Đó chính là những nguyên nhân chủ yếu làm cho những đoạnvăn kể chuyện trở nên nghèo nàn về ý tứ, lỏng lẻo về mặt kết cấu, nội dungtruyện chưa có sự gắn kết chặt chẽ vì trình độ sử dụng các phương tiện liênkết còn nhiều hạn chế, dẫn đến đoạn văn kề chuyện không đạt yêu cầu, làmhạn chế chất lượng dạy học văn kể chuyện ở các trường Tiểu học.

Trang 29

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHAP REN LUYỆN KI NANG LAM VAN

KỂ CHUYỆN TRONG PHAN MON TẬP LAM VAN CHO

HỌC SINH LỚP 4.

2.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn miêu

tả trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4

2.1.1 Nguyên tắc giao tiếp

Dạy học Tập làm văn phải dựa trên nhu cầu giao tiếp được đặt trong tìnhhuống giao tiếp Có rất nhiều tác giả cũng cho là như vậy PGS.TS Lê Anhcho rằng : “Làm văn chính là làm các loại văn bản để giao tiếp Không có nhucầu giao tiếp thì không ai lại nói và viết thành văn bản” khi bàn về lí thuyếtgiao tiếp bằng ngôn ngữ, [3, tr193] Tác giả Nguyễn Quang Ninh cũng chia sẻquan niệm này trong cuốn Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu họctheo hướng giao tiếp PGS.TS Nguyễn Trí khẳng định: “Dạy tiếng việt là dạyhọc sinh sử dụng Tiếng Việt hiện đại để học tập và giao tiếp trong các môitrường hoạt động phù hợp với lứa tuổi

[ 33, tr 81]

Hướng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc đặc trưng của việc dạy họcTập làm văn ở Tiểu học Để hình thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ, họcsinh phải được hoạt động trong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc biệt làmôi trường văn hóa ứng xử Chỉ có trong các môi trường giao tiếp, môitrường “hóa thân – nhập vai” vào các nhân vật học sinh mới hiểu được lời nóicủa người khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo để người khác hiểuđược tư tưởng và tình cảm của các em Bởi lẽ ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽvới văn hóa của một dân tộc Ở mỗi người bản ngữ, kĩ năng nói bao giờ cũngđược hình thành trước nhờ sự giao tiếp tự nhiên Khi đến trường Tiểu học,học sinh có thể nói tương đối tốt Nhà trường cần dạy cho các em kĩ năng nói

Ngày đăng: 07/09/2019, 14:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Huy (2017), Dạy kể chuy n ở Tiểu học, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy kể chuy n ở Tiểu học
Tác giả: Chu Huy
Năm: 2017
2. Nguyễn Minh Thuyết, Hỏ p v dạy học Ti ng vi t 4, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏ p v dạy học Ti ng vi t 4
3. Nguyễn Trí (2004), G o trìn p ươn p p ạy học Ti ng Vi t 2, NxB Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: G o trìn p ươn p p ạy học Ti ng Vi t 2
Tác giả: Nguyễn Trí
Năm: 2004
4. Đặng Phương Nga, Lê Phương Nga (2007), P ươn p p ạy học Ti ng Vi t, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: P ươn p p ạy học Ti ngVi t
Tác giả: Đặng Phương Nga, Lê Phương Nga
Năm: 2007
5. Sách giáo khoa Ti ng Vi t 1, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ti ng Vi t 1
6. Chu Huy (2000), Dạy kể chuy n ở Tiểu học, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Dạy kể chuy n ở Tiểu học
Tác giả: Chu Huy
Năm: 2000
7. Nguyễn Quang Ninh (1996), Một s vấn dạy ngôn bản nói và vi t ở Tiểu họ t eo ướng giao ti p, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một s vấn dạy ngôn bản nói và vi t ở Tiểuhọ t eo ướng giao ti p
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Năm: 1996
8. Văn Tân (1967), Từ ển Ti ng Vi t, NxB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ển Ti ng Vi t
Tác giả: Văn Tân
Năm: 1967
9. Hồ Chí minh , V vấn Giáo dục, NxB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V vấn Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w