Việc dạy học Tiếng Việttrong nhà trường tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩnăng sử dụng tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trongcác môi trường h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
PHẠM THỊ PHƯƠNG TRANG
DẠY HỌC TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ mônTiếng Việt, Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học, Ban giám hiệu trườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình họctập nghiên cứu
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể thầy cô giáo và các
em học sinh của trường Tiểu học Liên Hà (huyện Đan Phượng - thành phố HàNội) đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình điều tra khảo sát vàthực nghiệm thực tế để hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo - TS Lê Thị Lan Anh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Người thực hiện
Phạm Thị Phương Trang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của
TS Lê Thị Lan Anh và sự cố gắng của bản thân tôi Tôi xin cam đoan đây là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Trong khi nghiên cứu tôi đã kế thừathành quả của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu
Các số liệu, căn cứ, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực Đề tàichưa được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Người thực hiện
Phạm Thị Phương Trang
Trang 4TT : tính từ
VD : ví dụ
YC : yêu cầu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc khóa luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 7
1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học từ loại tiếng Việt cho học sinh lớp 4 7
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 7
1.1.1.1 Khái niệm từ loại 7
1.1.1.2 Sự phân định từ loại tiếng Việt 8
1.1.1.3 Kết quả phân định từ loại tiếng Việt 10
1.1.1.4 Sự chuyển hóa từ loại tiếng Việt 20
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học 23
1.1.2.1.Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học 23
1.1.2.2 Đặc điểm sinh lí học sinh tiểu học 25
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học từ loại tiếng Việt cho học sinh lớp 4 26
1.2.1.Sự cần thiết của việc dạy học từ loại cho học sinh tiểu học 26
1.2.2 Nội dung chương trình dạy học về từ loại tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 27
1.2.3 Thực trạng khả năng phân định và sử dụng từ loại Tiếng Việt của học sinh lớp 4 31
1.2.3.1 Mục đích khảo sát 31
1.2.3.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 31
Trang 61.2.3.3 Cách thức và nội dung khảo sát 31
1.2.3.4 Kết quả khảo sát 32
1.2.3.5 Nhận xét kết quả khảo sát 32
Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 39
2.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp dạy học về từ loại tiếng Việt cho học sinh lớp 4 39
2.2 Các biện pháp nâng cao năng lực hiểu biết về từ loại cho giáo viên và học sinh 40
2.2.1 Nâng cao năng lực hiểu biết về từ loại cho giáo viên tiểu học 40
2.2.2 Biện pháp để học sinh lớp 4 nắm vững ý nghĩa về từ loại 41
2.2.3 Biện pháp để học sinh phân biệt từ loại khi gặp hiện tượng chuyển loại từ 48
2.2.4 Vận dụng sáng tạo quy trình dạy học Luyện từ và câu kiểu bài hình thành khái niệm ở lớp 4 51
2.3 Các biện pháp dạy học thực hành về từ loại cho học sinh lớp 4 54
2.3.1 Rèn kĩ năng sử dụng từ loại cho học sinh lớp 4 thông qua xây dựng hệ thống các dạng bài tập về từ loại 54
2.3.2 Rèn kĩ năng sử dụng từ loại cho học sinh lớp 4 thông qua các trò chơi học tập 62
2.3.3 Rèn kĩ năng sử dụng từ loại cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn 68
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1 Mục đích thực nghiệm 74
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 74
3.3 Nội dung thực nghiệm 74
3.4 Đối tượng thực nghiệm 75
Trang 73.5 Cách tiến hành thực nghiệm 75
3.5.1 Chuẩn bị thực nghiệm 75
3.5.2 Tiến hành dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 75
3.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 76
3.6 Giáo án thực nghiệm 76
3.7 Kết quả thực nghiệm 76
3.8 Đánh giá chung kết quả thực nghiệm 91
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 8cụ, hình thành cho học sinh vốn ngôn ngữ chuẩn Việc dạy học Tiếng Việttrong nhà trường tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩnăng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trongcác môi trường hoạt động của lứa tuổi Qua đó, học sinh rèn luyện các thaotác tư duy Bên cạnh việc cung cấp các kiến thức về tiếng Việt, về tự nhiên,
xã hội, về con người, môn Tiếng Việt còn bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt vàthói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt cho mỗi học sinh
Môn Tiếng Việt được chia thành các phân môn độc lập và có vị tríngang hàng nhau Trong số đó, phân môn Luyện từ và câu chiếm thời lượngkhá lớn Nhiệm vụ của nó là giúp học sinh mở rộng, hệ thống hóa vốn từ vàtrang bị cho học sinh một số hiểu biết về từ và câu Bên cạnh đó, phân mônnày còn rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu trong cả hoạt động nói vàhoạt động viết cho học sinh Để thực hiện nhiệm vụ trên thì các kiến thức về
từ loại trong phân môn Luyện từ và câu góp phần đóng một vai trò rất lớn.Trong chương trình Tiếng Việt ở phổ thông nói chung và chương trình TiếngViệt ở tiểu học nói riêng thì dạy học từ loại là hoạt động không thể thiếu Nếuhọc sinh không có những hiểu biết rõ ràng về từ loại tiếng Việt, các em sẽlúng túng, nhầm lẫn trong các hoạt động sử dụng ngôn ngữ Ngược lại, mộtkhi học sinh nắm vững được các kiến thức về từ loại thì việc các em nói hayviết tiếng Việt sẽ chính xác, chuẩn ngữ pháp và hình thành ở các em năng lựchoạt động ngôn ngữ
Trang 9Từ loại tiếng Việt có thể được chia thành hai nhóm chính là thực từ và
hư từ Thực từ bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ Còn hư từgồm có: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ, thán từ Học sinh tiểu học được tiếpxúc, làm quen với các từ loại ngay từ những lớp đầu cấp nhưng chính thứcđược học về khái niệm từ loại ở lớp 4 Ở lớp 4, học sinh ban đầu được cungcấp các kiến thức về từ loại là danh từ, động từ, tính từ - ba loại từ cơ bảntrong hệ thống từ loại tiếng Việt Chính vì vậy, đây là một mảng kiến thứckhá rộng và tương đối phức tạp Việc nhận diện và phân biệt danh từ, động từ,tính từ nhiều khi không hề đơn giản với học sinh Trong thực tế khi học đến
từ loại này thì nhiều em còn lúng túng và bộc lộ không ít hạn chế, các em hay
bị nhầm lẫn khi xác định ba từ loại này và càng khó khăn hơn trước những từloại có hiện tượng chuyển loại từ Để việc dạy học từ loại đạt hiệu quả thìngười dạy trước hết cần nắm rõ thực trạng đó Câu hỏi đặt ra là làm thế nào đểhọc sinh nắm chắc kiến thức, phân biệt đúng các từ loại Có biết, có hiểu thìcác em mới có khả năng xác định, sử dụng từ loại đúng mục đích và hiệu quảtrong quá trình giao tiếp bằng văn bản nói, văn bản viết Là một giáo viên tiểuhọc trong tương lai, sau này sẽ trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt ở cáctrường tiểu học thì câu hỏi đó là điều khiến tôi trăn trở Không chỉ có ý nghĩathiết thực với công việc giảng dạy của tôi sau này mà đây có thể là nguồn tàiliệu giúp những giáo viên dạy ở các trường tiểu học tham khảo về nội dung,phương pháp dạy học từ loại nhằm bồi dưỡng kiến thức tiếng Việt cho họcsinh
Chính vì những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài Dạy học từ loại
tiếng Việt cho học sinh lớp 4 làm đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt
nghiệp của mình
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề về từ loại tiếng Việt đã được không ít các nhà ngữ pháp học,các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà biên soạn sách giáo khoa cũng nhưnhiều người học tập, nghiên cứu về ngôn ngữ đưa ra tìm hiểu, bàn luận vànghiên cứu từ đầu thế kỉ XX cho đến nay Sau đây chúng tôi xin sơ lược quamột số tài liệu viết về vấn đề này:
Năm 1986, trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt (Từ loại), tác giả Đinh Văn
Đức đã thể hiện các nội dung:
1 Bản chất và đặc trưng của từ loại, tiêu chuẩn phân định từ loại
2 Hệ thống các từ loại tiếng Việt
3 Từ loại là các phạm trù của tư duy
Năm 1999, tác giả Lê Biên trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại đã
quan tâm đến các vấn đề như khái niệm về từ loại, đối tượng, tiêu chí, mụcđích phân định từ loại Tác giả còn tập trung nghiên cứu hệ thống từ loại cơbản, ranh giới giữa các từ loại cơ bản và không cơ bản
Năm 2003, cuốn Tiếng Việt hiện đại (Từ pháp học) của tác giả Nguyễn
Văn Thành đã phân tích khá kĩ về từ loại và phân loại từ loại tiếng Việt thànhcác nhóm nhỏ
Cũng liên quan đến vấn đề phân loại từ loại tiếng Việt, Diệp Quang
Ban trong cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt (2004) đã đưa ra ba tiêu chuẩn để phân
định từ loại tiếng Việt dựa vào ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức
vụ cú pháp của từ Qua đó, tác giả đã chia từ loại tiếng Việt thành hai lớp lớn:thực từ và hư từ Ngoài ra, tác giả đi sâu nghiên cứu ba từ loại thuộc lớp thực
từ là danh từ, động từ, tính từ
Giáo trình Ngữ pháp Tiếng Việt (2007) của nhóm tác giả Bùi Minh
Toán - Nguyễn Thị Lương đã cung cấp khá đầy đủ các kiến thức về ngữ pháp,
Trang 11đặc biệt là về từ loại Đây là cơ sở quan trọng trong việc dạy học từ loại ởTiểu học.
Năm 2008, trong cuốn Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 4 do tác giả
Nguyễn Minh Thuyết chủ biên trong phần Hỏi - đáp về phân môn Luyện từ
và câu, tác giả có nói về danh từ riêng cụ thể là về tên riêng Việt Nam, tênriêng nước ngoài và cách viết tên riêng Tác giả còn nêu lên sự phân biệt giữađộng từ và tính từ dựa trên ba tiêu chí: ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kếthợp của từ, khả năng làm thành phần câu Ngoài ra ông cũng nói một số nét
về hiện tượng chuyển loại từ đặc biệt với ba loại từ ở lớp 4 là danh từ, động
từ, tính từ với những ví dụ minh họa kèm theo
Giáo trình Tiếng Việt 3 (2010) - Lê A (chủ biên) là một cuốn sách viết
đầy đủ về ngữ pháp tiếng Việt, trong đó có phần nói về từ loại tiếng Việt kháchi tiết Những nội dung này đều nằm trong chương trình tiểu học và có thể
áp dụng vào thực tiễn dạy học
Có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu trên chủ yếu viết về mặt
lí thuyết của từ loại trong tiếng Việt mà chưa đào sâu nghiên cứu về việc dạyhọc từ loại trong nhà trường tiểu học Việc dạy và học từ loại tiếng Việt làmột nhiệm vụ khó khăn và cũng chỉ có một số công trình nghiên cứu Đầu
tiên là phải kể đến cuốn sách Phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học
(2000) của tác giả Lê Phương Nga Cuốn sách chỉ ra những khó khăn mà họcsinh mắc phải khi xác định từ loại và cung cấp một số dạng bài tập từ loại cho
học sinh tiểu học Tiếp đến trong cuốn Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học
(2007), tác giả Chu Thị Thủy An đề cập đến khái niệm từ loại, một số phươngpháp dạy học từ loại ở Tiểu học và đưa ra nhiều dạng bài tập từ loại cùng gợi
ý cụ thể tương ứng Ngoài ra trong các khóa luận tốt nghiệp Đại học và sauĐại học, chúng tôi cũng tìm thấy một số công trình bàn đến việc dạy học từloại ở Tiểu học Tuy nhiên các công trình này mới nói về phương pháp dạy
Trang 12học từ loại nói chung chứ chưa đi vào đối tượng học sinh cụ thể hoặc có đi sâu nhưng cũng chỉ nói về một kĩ năng, khía cạnh của của việc dạy học từloại.
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, tôi tìm
hiểu và thực hiện nghiên cứu đề tài Dạy học từ loại tiếng Việt cho học sinh
lớp 4.
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong tìm ra các biện pháp nhằm nângcao khả năng nắm vững kiến thức từ loại và kĩ năng sử dụng các từ loại nàycho học sinh lớp 4 Nhờ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học từ loạitrong phân môn Luyện từ và câu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các biện pháp dạy học từ loạitiếng Việt cho học sinh lớp 4
- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi chỉ nghiên cứu việc dạy học từ loạitiếng Việt cho học sinh lớp 4 của trường Tiểu học Liên Hà, huyện ĐanPhượng, thành phố Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp thống kê
Trang 13- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luận gồm 3chương :
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học từ loại tiếng Việt
cho học sinh lớp 4
Chương 2 Các biện pháp dạy học từ loại tiếng Việt cho học sinh lớp 4
Chương 3.Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4
1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học từ loại tiếng Việt cho học sinh lớp 4
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1 Khái niệm từ loại
Khái niệm về từ loại đã được nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp bàn luận
và đưa ra Song vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về từ loại cho đếnnay Một số quan niệm của một vài tác giả về từ loại có thể kể đến đó là:
Đinh Văn Đức [6,23] có đề cập rằng: Từ loại là những lớp từ có cùng
bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định.
Lê Biên [4,8] khẳng định rằng: Chỉ sự phân loại từ nào nhằm mục đích
ngữ pháp, theo bản chất ngữ pháp mới được gọi là từ loại.
Diệp Quang Ban [3] cũng cho rằng: Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn
từ trên bình diện ngữ pháp, đó là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm tiêu chuẩn tập hợp
và quy loại.
Lê A [1,22] đã chỉ ra: Từ loại là lớp các từ có sự giống nhau về đặc
điểm ngữ pháp.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ loại, nhưng
nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đều có chung quan điểm: Từ loại là kết
quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp, là lớp từ có sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp.
Trang 151.1.1.2 Sự phân định từ loại tiếng Việt
b Tiêu chí phân loại
Trong tiếng Việt, việc lựa chọn tiêu chí, tiến hành phân tích phân định
từ loại phải xuất phát từ thực tiễn tiếng Việt, xuất phát từ đặc trưng của từtiếng Việt Cụ thể, người ta dựa vào ba tiêu chí sau đây:
b1 Ý nghĩa khái quát của từ
Ý nghĩa khái quát của từ là ý nghĩa phạm trù có tính chất khái quát hóacao, nó là kết quả của quá trình trừu tượng hóa nghĩa của hàng loạt cái cụ thể
Ví dụ: Các từ hoa, quả, nhà, núi, sông có ý nghĩa khái quát là từ chỉ sự vật, các từ chạy, nhảy, ăn, vẽ, ngồi có ý nghĩa khái quát là các từ chỉ hoạt động, các từ đẹp, xấu, chăm chỉ, cao có ý nghĩa khái quát là chỉ tính chất, đặc điểm.
Trong một phạm trù ý nghĩa lại có các ý nghĩa khái quát ở mức độ thấphơn Các ý nghĩa khái quát thấp hơn này là tiêu chí để phân chia một từ loạithành các tiểu loại Ví dụ:
Trong phạm trù ý nghĩa sự vật (của danh từ) có thể phân biệt:
+ Nghĩa sự vật đơn thể: là ý nghĩa khái quát chung của những từ gọi tên
các sự vật tồn tại dưới dạng cá thể: bàn, ghế, xe, học sinh, trâu, lợn,…
+ Nghĩa sự vật tổng thể: là ý nghĩa khái quát chung của những từ gọi
tên tổng thể nhiều sự vật cùng loại: bàn ghế, xe cộ, quần áo, máy móc,…
Trang 16Ý nghĩa khái quát là một tiêu chí quan trọng có tác dụng vạch ra thế đốilập giữa các lớp từ và đóng vai trò chi phối những đặc điểm trong hoạt độngngữ pháp của từ.
b2 Khả năng kết hợp của từ
Khả năng kết hợp của từ là sự phân bố các lớp từ trong một đơn vị cấutrúc (lớn hơn từ) trong tiếng Việt Các từ được phân bố cùng một vị trí, trongmột hoàn cảnh giống nhau có thể được tập hợp thành một từ loại, ví dụ như:
+ Danh từ có khả năng kết hợp với các từ các, tất cả, mọi, những,…, các từ chỉ số lượng ở phía trước và các từ này, kia, ấy, nọ, đó,… ở phía sau
(Ví dụ: ngày đó, những bông hoa này, một người…)
+ Động từ có khả năng kết hợp với đã, đang, sẽ, hãy, đừng, chớ ở phía trước xong, rồi,… ở phía sau ( Ví dụ: đừng hỏi, hãy nói, đã đi, làm xong, )
+ Tính từ có khả năng kết hợp với các từ hơi, rất, quá, lắm,…( Ví dụ:
Đặc trưng về khả năng kết hợp của các lớp từ là dấu hiệu chủ yếu vềngữ pháp, có tác dụng quyết định trong việc phân định, quy loại các lớp từtiếng Việt về mặt từ loại
b3 Chức năng ngữ pháp của từ
Trong hoạt động ngôn ngữ, ở cấu trúc câu, trong mỗi phát ngôn, các từthường đảm nhận những chức vụ ngữ pháp cụ thể Tiêu chí này giúp ta xemxét xem một từ nào đó có khả năng giữ chức vụ cú pháp gì ở trong câu Căn
cứ vào tiêu chí này có thể xác định được bản chất từ loại, bởi lẽ các từ có
Trang 17cùng bản chất từ loại thường giữ chức vụ cú pháp giống nhau Chẳng hạnnhững từ có thể đảm nhiệm vai trò các thành phần chính chủ ngữ, vị ngữ(danh từ, động từ, tính từ, đại từ) và các từ chỉ đảm nhiệm được vai trò cácthành phần phụ, đi kèm với danh từ, động từ, tính từ (phụ từ, số từ), hoặc chỉđảm nhiệm vai trò kết nối các thành câu (quan hệ từ) Ngoài ra, còn có những
từ không đảm nhiệm vai trò cấu tạo một phần nào trong cấu trúc ngữ pháp củacâu, mà chỉ thể hiện ý nghĩa tình thái của câu (tình thái từ, trợ từ, thán từ)
1.1.1.3 Kết quả phân định từ loại tiếng Việt
Dựa theo ba tiêu chí trên, các nhà nghiên cứu thường chia từ loại tiếngViệt thành hai nhóm lớn là thực từ và hư từ Theo Lê Biên [4] thì từ loại tiếngViệt có thể phân loại theo sơ đồ sau:
Từ loại tiếng Việt
Thực từ Hư từ
Danh từ (1) Động Từ (2) Tính từ (3) Phụ từ (6) Quan hệ từ (7) Tình thái
Số từ (4) Đại từ (5) Thán từ (9) từ (8)
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt
Ngoài ra, cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng còn có một nhóm từnữa, gọi là nhóm từ trung gian Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận, chúng tôichỉ xét ba lớp lớn trong nhóm thực từ là danh từ, động từ và tính từ
a Danh từ
Danh từ là một trong những từ loại cơ bản của thực từ
- Về mặt ý nghĩa: Danh từ là những từ có ý nghĩa từ vựng khái quát chỉ
sự vật và các khái niệm trừu tượng [13,55]
Trang 18- Về khả năng kết hợp: Danh từ là từ có khả năng kết hợp trực tiếp hoặc
gián tiếp với số từ ở trước (hay những từ chỉ lượng: những, các , mọi , mỗi,
mấy,… hay những đại từ chỉ lượng: bao nhiêu, bấy nhiêu,…) và với từ chỉ
định (này, kia, ấy, đó,…) ở phía sau [10].
- Về chức vụ cú pháp: Danh từ thường làm chủ ngữ trong câu Ngoài
ra, nó có thể làm bổ ngữ trong câu hoặc vị ngữ trong câu, không cần phụ từ.Khi làm vị ngữ, danh từ đứng sau từ “là”
Danh từ là một lớp từ lớn đa dạng về ý nghĩa, khả năng kết hợp, nên cóthể được phân thành nhiều lớp nhỏ theo những tiêu chí khác nhau, cụ thể là:
a1 Danh từ riêng và danh từ chung
Sự phân biệt DT riêng với DT chung dựa vào cách gọi tên của chúng
a) Danh từ riêng là những từ gọi tên của từng người, từng sự vật cụ
thể… Danh từ riêng được viết hoa theo những quy định chung của chữ viếttiếng Việt hiện nay và ít được dùng kèm với số từ Bao gồm:
- Danh từ riêng chỉ người: Trần Quốc Tuấn, Hồ Chí Minh,…
Danh từ riêng chỉ tên người thường đi sau danh từ chỉ chức vụ theo hệthống đồng vị tố Ví dụ: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đại tướng VõNguyên Giáp, Chủ tịch Hồ Chí Minh,…
- Danh từ riêng chỉ sự vật :
+ Danh từ riêng chỉ sự vật là tên gọi của một con vật cụ thể.
Ví dụ: Ông già hỏi trong lúc ngước cổ lên trạm đèn và con Mi Mi tru tréo vang dậy ( Nguyễn Thi)
+ Danh từ riêng chỉ sự vật là tên gọi một đồ vật cụ thể.
Ví dụ: Trong tất cả các tiểu thuyết Đông Tây, có hai quyển tôi mê nhất
là Tam quốc và Đông chu liệt quốc ( Nam Cao)
+ Danh từ riêng chỉ sự vật là tên gọi một tổ chức xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…Ví dụ: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 19+ Danh từ riêng chỉ sự vật là tên địa danh.
Ví dụ: đảo Phú Quốc, Hòn Tre, Sa Pa, Hà Nội,…
Danh từ riêng không mang nghĩa, chúng là tên gọi của từng người, tênsách báo, tên miền đất,…Đây là mối quan hệ tương ứng giữa tên gọi và vậtđược gọi tên Yêu cầu của việc đặt tên riêng là phân biệt được từng vật cụ thể.Trong việc xét nghĩa của câu, danh từ riêng thuộc kiểu nghĩa kinh nghiệm
Danh từ riêng có loại thuần Việt và Hán Việt, có loại phiên âm từ tiếngnước ngoài Ví dụ: Ê-đi-xơn, Mạc Tư Khoa, Hi Mã Lạp Sơn,…
b) Danh từ chung chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái
quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thểđược gọi tên Lớp danh từ chung rất lớn, bao gồm tất cả những lớp từ còn lạitrong danh từ Dựa trên sự thể hiện và phân bố ý nghĩa khái quát về sự vật,Diệp Quang Ban [3] đã tách danh từ chung thành danh từ tổng hợp và danh từkhông tổng hợp Dựa vào khả năng kết số đếm ở phía trước, danh từ chung cóthể chia thành danh từ đếm được và danh từ không đếm được
a2 Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp
a) Danh từ tổng hợp: bao gồm các từ có ý nghĩa tổng hợp, hiểu là gộp
thành một khối những sự vật khác nhau nhưng gần gũi với nhau Về cấu tạo,chúng là những từ ghép đẳng lập DT tổng hợp có khả năng kết hợp như sau:
- Không kết hợp trực tiếp với số đếm Ta chỉ nói bàn ghế, xe cộ, chứ không nói một bàn ghế, hai xe cộ,… Khi kết hợp với số đếm cần DT chỉ đơn
vị đi kèm Ví dụ: một bộ quần áo, hai cặp vợ chồng, ba bộ ấm chén,…
- Danh từ chỉ đơn vị đi kèm là các từ chỉ đơn vị tập thể (bọn, đoàn, bộ,
đôi,…) và các phụ từ chỉ tổng thể (tất cả, toàn bộ, toàn thể, cả,…)
b) Danh từ không tổng hợp: là các danh từ biểu thị tập hợp các sự vật,
hiện tượng cùng loại (ý nghĩa tổng loại), gồm các tiểu loại sau:
Trang 20- Danh từ chỉ đơn vị: là danh từ chỉ các đơn vị sự vật Chúng kết hợp
với các số từ Danh từ chỉ đơn vị bao gồm:
+ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: các danh từ này chỉ rõ loại sự vật nên
còn gọi là danh từ chỉ loại hay loại từ: cái, cây, tấm, hòn, sợi, trận, pho,…
Ví dụ: Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? ( Ca dao)
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao ( Tục ngữ )
+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường: là các danh từ được quy ước để đo đếmcác loại nguyên vật liệu Có thể là danh từ đo lường quy ước khoa học như:
mét, cân, mét vuông, mẫu, sào, héc ta, dặm,…hoặc là danh từ đo lường quy
ước dân gian bằng cách gọi tên các vật chứa hay các hành động tạo lượng
dùng làm đơn vị đo đếm như: thùng, bát, thìa, thúng, rổ, mâm, ngụm, hớp,
sải, đốt ngón tay,… Ví dụ: Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
+ Danh từ chỉ các đơn vị tập thể: là tên gọi của từng tập hợp sự vật, mốitập hợp đó làm thành một khối có thể đếm được, chúng thường được kết hợp
với danh từ tổng hợp Các từ đó là: bộ, đàn, bọn, cặp, đôi,…
+ Danh từ chỉ đơn vị thời gian: giây, phút, tháng, năm, buổi, thế kỉ,… + Danh từ chỉ đơn vị sự việc như: lần, chuyến, lượt, hiệp, keo,…
+ Danh từ chỉ đơn vị hành chính nghề nghiệp như: làng, xã, huyện,
tỉnh, tổ, lớp, khối, ngành, môn, ban, tiểu đội, đại đội,…
- Danh từ chỉ vật thể: Các danh từ này chiếm một số lượng lớn Về mặt
Trang 21Về khả năng kết hợp, chúng thường kết hợp với số từ thông qua danh
từ chỉ đơn vị tự nhiên
- Danh từ chỉ chất liệu (chất thể): Các danh từ này chỉ sự tồn tại dưới dạng các chất thuộc cả ba thể: thể rắn, thể lỏng, thể khí như: đá, xăng, đất,
sắt, thép, khói, hơi,…Chúng thường kết hợp với số từ thông qua danh từ chỉ
đơn vị đo lường Chẳng hạn: hai tấn sắt, ba lít xăng, một cân muối,…
Thực tế, một danh từ có thể được dùng khi thì với tư cách danh từ chỉvật thể (một giọt dầu), khi thì với tư cách danh từ chỉ chất liệu (một lít dầu), ởmỗi trường hợp chúng được dùng với một danh từ chỉ đơn vị thích hợp
- Danh từ có ý nghĩa trừu tượng: gồm các danh tử chỉ các vật thể tưởng tượng: bụt, tiên, ma, quỷ, thần, thánh, hay các danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: trí tuệ, lí luận, tư tưởng,…Thông thường, chúng ít kết hợp trực tiếp với
các số từ, nhưng cũng có trường hợp dùng với từ chỉ đơn vị
- Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết: có khả năng kết hợp với một số loại
từ riêng như: cơn bão, cơn mưa, ánh chớp, tia sét, tiếng sấm,…
a3 Danh từ đếm được và danh từ không đếm được
a) Danh từ đếm được là những danh từ có khả năng kết hợp trực tiếp
với số từ số đếm ở phía trước, gồm hai nhóm con:
- Danh từ đếm được tuyệt đối: là các danh từ dễ dàng xuất hiện trựctiếp sau số từ chính xác, gồm có:
+ Danh từ chỉ đơn vị đại lượng quy ước khoa học: lít, mét, mẫu, sào,…
+ Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức xã hội và đơn vị nghề nghiệp:
nước, tỉnh, xã, đoàn, đội, nghề, môn,…
+ Danh từ chỉ đơn vị thời gian: chốc, giây, phút, dạo, khi,…
+ Danh từ chỉ đơn vị không gian: xứ, vùng, miền, chốn, nơi,…
+ Danh từ chỉ lần của sự việc: trận, lần, phen, chuyến,
+ Danh từ chỉ màu sắc, mùi vị, âm thanh: tiếng, màu, mùi,…
Trang 22+ Danh từ chỉ chức vụ : nhà văn, nghệ sĩ, giám đốc,…
+ Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: tài năng, lí lẽ, trí tuệ,…
- Danh từ đếm được không tuyệt đối: là những danh từ vốn không đếmđược, nhưng trong một số trường hợp sử dụng khá quen thuộc chúng có thểxuất hiện trực tiếp sau số từ chính xác
Ví dụ: Làng tôi ở có năm ao tròn, ba giếng cổ.
b) Danh từ không đếm được là những danh từ không kết hợp trực tiếp
với số đếm, khi kết hợp cần có danh từ chỉ đơn vị đi kèm, gồm:
- Danh từ chất thể: đường, muối, sữa, dầu, nước,…
- Danh từ tổng hợp: nhà cửa, ruộng vườn, quần áo, xe cộ,…
Như vậy, căn cứ vào mỗi tiêu chí khác nhau mà sự phân chia danh từcũng có sự khác biệt
b Động từ
Động từ cũng là một trong những từ loại cơ bản của thực từ
- Về mặt ý nghĩa: Động từ là những từ chỉ các hành động, trạng thái,các quan hệ dưới dạng tiến trình có mối quan hệ với chủ thể và diễn ra trongthời gian nào đó
- Về khả năng kết hợp: động từ thường có các phụ từ đi kèm: đã, sẽ,
đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ… Khả năng kết hợp với “ hãy, đừng, chớ”
có tác dụng quy loại động từ vì tính từ và danh từ không có khả năng này.Động từ còn kết hợp với các thực từ (danh từ) nhằm phản ánh các quan hệtrong nội dung vận động trong quá trình
- Về chức vụ cú pháp: động từ có khả năng đảm nhận nhiều chức vụ cúpháp ở trong câu nhưng phổ biến và quan trọng nhất là làm vị ngữ Khi làm vịngữ, nó đứng trực tiếp ngay sau chủ ngữ Nhờ chức năng này mà tạo thànhmột tiêu chuẩn đối lập giữa động từ và danh từ Khi làm chủ ngữ, động từ mất
khả năng kết hợp với các từ: đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, hãy, đừng, chớ,…
Trang 23Động từ được chia thành hai lớp con là động từ không độc lập và động
từ độc lập
b1 Động từ không độc lập
Động từ không độc lập là những động từ có ý nghĩa biểu thị quá trìnhchưa đầy đủ chưa trọn vẹn, chúng chỉ trạng thái vận động ở lúc bắt đầu haykết thúc quá trình, hoặc ý nghĩa quá trình không trực tiếp gắn với hành độnghay trạng thái cụ thể (“trống” nghĩa) Lớp động từ này thường không đứngmột mình khi đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu mà thường đòi hỏi kếthợp với một từ khác hoặc một cụm từ đi sau làm thành tố phụ để khỏi “trống”nghĩa Tuy nhiên tính chất không độc lập của các động từ nhóm này chỉ mangtính tương đối Lớp động từ không độc lập được chia thành các nhóm sau đây:
a) Nhóm động từ tình thái
Động từ tình thái thường biểu thị các ý nghĩa tình thái, đó là:
- Ý nghĩa tình thái về sự cần thiết: nên, cần, phải, cần phải,…
- Chỉ ý nghĩa tình thái về ý chí: định, toan, dám, nỡ,
- Chỉ ý nghĩa tình thái về khả năng: không thể, có thể, chưa thể,
- Chỉ ý nghĩa tình thái nguyện vọng, mong muốn: ước, mong, muốn,
mong muốn, mong ước, ước muốn
- Chỉ ý nghĩa tình thái đánh giá, nhận định: xem, cho, thấy,…
- Chỉ ý nghĩa tình thái tiếp thụ, chịu đựng: được, bị, mắc, phải,
b) Nhóm động từ quan hệ
Động từ trong nhóm này biểu thị các ý nghĩa quan hệ giữa các thực thể,quá trình hay đặc trưng:
- Động từ chỉ quan hệ đồng nhất: là, làm.
- Động từ chỉ quan hệ tồn tại (xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến): có, còn,
biến, mất, sinh (ra),…
- Động từ chỉ quan hệ sở hữu: có, gồm, thuộc, thuộc về, bao gồm,…
Trang 24- Động từ chỉ quan hệ biến hóa: thành, hóa, hóa thành, trở thành,
- Động từ chỉ quan hệ diễn biến thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc,…
- Động từ chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu: giống, khác, như, tựa, y hệt,
- Động từ chỉ quan hệ diễn biến trong không gian: gần, xa,
b2 Động từ độc lập
Động từ độc lập là những từ biểu thị ý nghĩa quá trình (hành động hoặctrạng thái) Động từ độc lập có thể dùng được một mình khi đảm nhiệm cácchức năng ngữ pháp trong câu Loại động từ này có số lượng lớn và gồmnhiều tiểu loại Kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả Lê A [1,33] thì theo ýnghĩa khái quát và khả năng chi phối thành tố phụ, động từ độc lập được chiathành hai nhóm sau:
Nội động từ có các nhóm nhỏ tiêu biểu:
- Nhóm động từ chỉ tư thế: đứng, ngồi, nằm, quỳ,
- Nhóm động từ chỉ sự tự di chuyển: đi, chạy, nhảy, lên, xuống,
- Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lí, sinh lí: băn khoăn, lo sợ,…
- Nhóm chỉ trạng thái tồn tại: có, còn, hết, mất, lặn, tàn, tan tác,
b) Ngoại động từ
- Về ý nghĩa: chỉ những hoạt động có chuyển đến, tác động đến một đốitượng nào đó
- Về khả năng kết hợp với thành tố phụ: các động từ ngoại động thường
đòi hỏi thành tố phụ sau (trực tiếp) chỉ đối tượng tác động Ví dụ: đẩy xe,
đánh giặc, viết thư, đọc truyện,…
Trang 25Căn cứ vào ý nghĩa tiểu phạm trù và khả năng chi phối các thành tố phụsau, có thể chia động từ thành một số nhóm nhỏ:
- Nhóm động từ tác động: chỉ hành động tác động vào đối tượng làm hình thành hay hủy diệt đối tượng, hoặc làm biến đổi đối tượng
Ví dụ: đóng vở, xé giấy, nấu cơm, phá nhà,…
- Nhóm động từ chỉ sự di chuyển đối tượng trong không gian
Ví dụ: kéo thuyền, ném đá, lôi thùng hàng,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động phát nhận Ví dụ: tặng bạn cái nón, trả tiền cho khách hàng, vay tiền của doanh nghiệp, mượn sách của thư viện,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động kết nối các đối tượng: buộc, nối, hòa,
trộn, pha, kết hợp,… Ví dụ: buộc con trâu vào gốc cây, trộn vôi với cát,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động cầu khiến, gây khiến: bắt, nhờ, sai,
khiến, đề nghị, yêu cầu,… Ví dụ: nhờ bạn chép bài, mời khách dùng cơm,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động đánh giá đói tượng: gọi, lấy, coi, bầu,
cử, chọn, Ví dụ: bầu anh Việt làm bí thư, lấy dân làm gốc,…
- Nhóm động từ chỉ hoạt động cảm giác, tri giác, nhận thức, nói năng:
biết, nghĩ, nói, thấy,… Ví dụ: thấy mọi người cười, biết anh ấy nói đúng,…
Ranh giới các tiểu nhóm động từ như vừa nêu cũng chỉ mang tính chất tương đối Trong hoạt động, động từ có thể chuyển tiểu loại, chuyển nhóm Khi đó, ý nghĩa và khả năng chi phối thành tố phụ của động từ cũng thay đổi
Ví dụ: + Anh ta phóng mũi lao xa ba mươi mét ( phóng: ngoại động từ)
+ Chiếc xe phóng đi trong màn đêm ( phóng: nội động tử)
c Tính từ
Tính từ cũng là một trong những từ loại cơ bản của thực từ
- Về mặt ý nghĩa: tính từ là những thực từ gọi tên tính chất, đặc trưngcủa sự vật, thực thể hoặc của vận động, quá trình, hoạt động
Trang 26- Về khả năng kết hợp: Giống như động từ, tính từ có khả năng kết hợpvới các loại phụ từ Tính từ dễ kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ hơn và hầunhư không kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh Khả năng đó có thể coi làkhả năng làm thành tố chính của cụm tính từ Ví dụ: “ Quyển sách này hay
quá!” tính từ hay hoàn toàn có thể kết hợp với phụ từ quá để chỉ mức độ.
- Về chức vụ cú pháp: tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp Ngoài ra, tính
từ có khả năng đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu: bổ ngữ, địnhngữ, chủ ngữ, trạng ngữ Khi làm vị ngữ, tính từ không cần đến từ “là”
Ví dụ: Ho a h ồ n g // r ấ t đ ẹ p
CN VN(TT)
Dựa theo những tiêu chí khác nhau mà tính từ được chia thành các tiểuloại khác nhau:
a) Căn cứ vào ý nghĩa khái quát: Có thể chia thành hai loại tính từ:
- Những tính từ biểu hiện các đặc điểm về “chất”: Những tính từ nàykhông thể lượng hóa được mà chỉ có thể được sắc thái hóa Đó là các tính từ:
+ Chỉ màu sắc: đỏ, vàng, đen, xanh, xanh lè, xanh biếc, xanh um, + Chỉ mùi vị: cay, đắng, ngọt, bùi, thơm, thơm tho, hôi hám,
+ Chỉ kích thước, hình dạng: lớn, to, nhỏ, bé, dài, ngắn, méo, tròn, + Chỉ tính chất vật lí: cứng, mềm, dẻo, căng, chùng, nhão, nát,
+ Chỉ phẩm chất của sự vật: tốt, đẹp, xấu, xinh, hay, dở, cao thượng, + Chỉ đặc trưng tâm lí - tình cảm: hiền, ác, dữ, nóng nảy, phúc hậu,
+ Chỉ đặc điểm sinh lí: yếu, khỏe, mạnh, ốm yếu, cường tráng,
+ Chỉ đặc điểm trí tuệ: ngu đần, thông minh, mưu trí,ngu ngốc,
+ Chỉ cách thức hoạt động: nhanh, nhanh nhảu, chậm, vững,
- Những tính từ chỉ đặc điểm về “lượng”: Những tính từ này thường có
thể lượng hóa nhờ thành tố phụ chỉ lượng đứng sau Ví dụ: cao mười mét,
rộng hai mươi mẫu, nặng mười hai tấn,
Trang 27b) Căn cứ vào nét nghĩa mức độ và khả năng thể hiện ý nghĩa mức độ nhờ thành tố phụ: Có thể phân biệt thành hai nhóm tính từ:
- Tính từ chỉ đặc điểm, tính chất có các thang độ khác nhau: Các tính từnày có khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ ở trước hoặc ở sau nó
Ví dụ: cực kì dũng mãnh, vô cùng dữ tợn, hấp dẫn cực kì, nhẹ quá,…
- Những tính từ này có thể kết hợp với thành tố phụ khác, có ý nghĩa
miêu tả mức độ Ví dụ: chậm như rùa, đen như than, khỏe như voi, …
- Tính từ chỉ đặc điểm không phân biệt theo các thang độ khác nhau:Các tính từ này không kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ, gồm hai loại:
+ Các tính từ chỉ đặc điểm phân hóa thành hai cực rõ rệt, giữa hai cực
đó không có các thang độ chuyển tiếp Ví dụ: đực / cái, riêng / chung,
+ Các tính từ được cấu tạo theo phương thức ghép, trong đó các hình vị
đi sau vừa sắc thái hóa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặc
điểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện Ví dụ: xanh lè, xanh ngắt, xanh
um, đen kịt, trắng muốt, đỏ au, thơm phức, vàng xuộm, tím ngắt,
1.1.1.4 Sự chuyển hóa từ loại tiếng Việt
a Khái niệm
Sự phân chia các từ loại của tiếng Việt là phân chia những đường ranhgiới chất lượng giữa các từ loại Trong thực tế sử dụng, ranh giới ấy đôi khi
không cố định, các từ loại còn có sự chuyển hóa Chuyển di từ loại - chuyển
loại - là hiện tượng một từ khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của
từ loại khác.
b Một số hiện tượng chuyển loại của từ
b1 Chuyển loại trong nội bộ thực từ
- Chuyển loại giữa danh từ và động từ
Trang 28+ Một số danh từ chỉ công cụ, phương tiện chuyển thành động từ chỉhoạt động Danh từ chỉ khái niệm, danh từ gọi tên sự vật, hiện tượng,… cũng
có khả năng chuyển thành động từ Một số danh từ mà thêm yếu tố “hóa” ởđằng sau sẽ trở thành các động từ Chẳng hạn:
cái cuốc, cái đàn, cái cưa → đang cuốc, đang đàn, đã cưa
ý thức, nhận thức → ý thức được vấn đề, nhận thức được vấn đề
Sự hi sinh của Bác cho đất nước luôn được mọi người trân trọng
→ Bác đã hi sinh cả cuộc đời cho đất nước
công nghiệp, đô thị → công nghiệp hóa, đô thị hóa
+ Một số động từ chuyển loại thành danh từ bằng cách thêm các yếu tố:
sự, cái, cuộc, những,…hoặc từ chỉ đơn vị ở đằng trước và động từ chỉ hành
động: cuộn, bó, nắm… chuyển thành đơn vị chỉ sự vật tương ứng: (một) cuộn, (một) bó, (một) nắm…Những từ chỉ hành động đa tiết: lo ngại, đắn đo, suy
nghĩ,… chuyển thành tên gọi hay khái niệm, sự vật trừu tượng như: (những)
suy nghĩ, (những) đắn đo, (những) lo ngại,…Động từ chỉ hoạt động chính trị
-xã hội: cảnh cáo, bổ nhiệm, đề nghị, kiến nghị,… cũng có khả năng chuyển
thành danh từ: (sự) đăng kí, (sự) bổ nhiệm, (sự) đề nghị, (sự) kiến nghị,…
- Chuyển loại giữa danh từ và tính từ
+ Một số tính từ chỉ tính chất đa tiết thường chuyển thành danh từ chỉ
sự vật trừu tượng bằng cách thêm một số yếu tố: mọi, nỗi, niềm,…vào phía trước như: khó khăn, hạnh phúc, băn khoăn,…thành (mọi) khó khăn, (niềm)
hạnh phúc, (nỗi) băn khoăn…
+ Một số danh từ dùng để gọi tên một sự vật cụ thể nào đó mà thêm cácyếu tố chỉ mức độ sẽ trở thành tính từ Ví dụ: Thủ đô Hà Nội → rất Hà Nội
Nghệ sĩ → rất nghệ sĩSinh viên → rất sinh viên
Trang 29- Chuyển loại giữa động từ và tính từ:
+ Động từ biểu thị hoạt động chuyển thành tính từ biểu thị thuộc tính,
phẩm chất Ví dụ: Anh ấy bỏ chạy → Hàng bán rất chạy.
+ Tính từ chuyển thành động từ
Ví dụ: Bao nhiêu các phép tiên ban
Dạy cho họ Thạch chu toàn tinh thông.
Chu toàn trong câu trên là tính từ chỉ tính đầy đủ, trọn vẹn.
Anh ấy đã chu toàn được mọi việc.
Chu toàn trong câu trên là động tử chỉ hành động làm cho đầy đủ.
- Chuyển loại trong nội bộ từ loại danh từ: Những danh từ chỉ đồ vật
như: chén, bát, thuyền , xe, mâm….chuyển thành danh từ chỉ đơn vị (vật chứa
đựng) như (một) chén (rượu), (một) bát (cơm), (một) thuyền (cá)…
- Chuyển loại giữa danh từ và đại từ: Nhiều danh từ chỉ người trong
quan hệ thân thuộc: ông, bà, cháu, dì… chuyển thành đại từ xưng hô (lâm thời) Nhóm danh từ chỉ chức danh: thủ trưởng, thầy giáo, giám đốc, được
dùng thay cho đại từ nhân xưng ngôi thứ hai
b2 Chuyển loại giữa thực từ và hư từ.
Hiện tượng chuyển loại từ thực từ sang hư từ và ngược lại thường kèmtheo hiện tượng mờ nghĩa trong thực từ
- Chuyển loại giữa danh từ và quan hệ từ
Ví dụ: Nhờ làm lụng chăm chỉ mà anh có c ủ a ăn, c ủ a để
DT DTMặt trời xanh c ủ a tôi
QHT
Ngoài ra, một số danh từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong, ngoài,…chuyển thành quan hệ từ: ngồi trên ghế, đi dưới bóng dừa, ăn ngoài quán,…
Trang 30- Chuyển loại giữa động từ và quan hệ từ: một số quan hệ từ có nguồn
gốc từ động từ: vào, cho, bằng, để,…
b3 Chuyển loại trong nội bộ hư từ
Một số phụ từ thực hiện chức năng liên kết: rồi, còn,… hay dùng phối hợp hai phụ từ để kiêm chức năng liên kết: vừa… vừa…, mới… đã… , đã…
lại… hoặc dùng phối hợp một quan hệ từ với một phụ từ: vừa mới … nên…
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học
1.1.2.1.Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học là những trẻ có độ tuổi từ 6 -11 tuổi Đây là lứa tuổi
có bước chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo, đặcbiệt là khi bắt đầu vào lớp 1 Học tập là hoạt động rất ý nghĩa và quan trọngđối với sự phát triển tâm lí của các em, đem đến cho trẻ nhiều điều mới lạ màtrước đây trẻ chưa được tiếp cận
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chitiết và không chủ động Các em còn phân biệt những đối tượng còn chưachính xác, có khi còn lẫn lộn Ở các lớp đầu bậc Tiểu học, tri giác của trẻ gắnvới hoạt động thực tiễn Trẻ tri giác đầu tiên sẽ là những sự vật, những dấuhiệu, những đặc điểm nào gây trực tiếp cho các em những xúc cảm Ngoài ra,tri giác và đánh giá thời gian và không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học chú ý có chủ định của các em còn yếu, khảnăng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Các em hay quên lời côgiáo dặn khi cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót từ trong câu Song,khả năng phát triển chú ý có chủ định, bền vững, tập trung của học sinh tiểuhọc là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyệnthường xuyên sự chú ý có chủ định Sự chú ý có chủ định được phát triểncùng với sự phát triển động cơ học tập mang tính chất xã hội cao, cùng với sựtrưởng thành ấy là ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập
Trang 31Trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các
em nhớ và giữ gìn chính xác các sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn nhữngđịnh nghĩa, những lời giải thích dài dòng, khô khan Dưới ảnh hưởng của hoạtđộng học tập, trí nhớ có chủ định, trí nhớ từ ngữ - lôgic xuất hiện, phát triểnnhưng không biệt lập với trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan - hình tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển tronghoạt động học và các hoạt động khác của các em Tưởng tượng của học sinhtiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em chưa đến trường Tuyvậy, tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnhcủa tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về nhữngnăm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Sở dĩ cóđược như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hộiđược những tri thức khoa học do nhà trường đem lại
Tư duy của học sinh tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm Nhà tâm lýhọc nổi tiếng G Piagiê (Thụy Sĩ) cho rằng tư duy của trẻ 7- 10 tuổi về cơ bảncòn ở giai đoạn những thao tác cụ thể, trên cơ ở đó có thể diễn ra quá trình hệthống hóa các thuộc tính, tài liệu trong kinh nghiệm trực quan Nhờ ảnhhưởng của việc học tập mà học sinh tiểu học chuyển dần từ nhận thức các mặtbên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấuhiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Hay nói cách khác, sự phát triển tưduy của các em diễn ra theo con đường từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng,khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Sự khái quáthóa ở lớp 4,5 mạnh mẽ hơn so với các lớp 1,2,3 Tuy nhiên sự khái quát nàyvẫn chỉ dừng lại ở mức độ sơ đẳng
Xem xét những đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học chúng tôi thấy tưduy của trẻ đã thay đổi rất nhiều, cụ thể là học sinh lớp 4,5 có tư duy tốt hơnnhiều so với tư duy của học sinh lớp 1,2,3, chúng được tiến hành có chủ đích
Trang 32Tuy nhiên, tư duy trừu tượng , khả năng lập luận của học sinh lớp 4,5 vẫn còn
ở mức độ đơn giản Chính vì thế mà các hoạt động học tập cần phải được rènluyện thường xuyên để các em hình thành kĩ năng lập luận, kĩ năng làm bàitập Ở đây, vai trò của nội dung và phương pháp dạy học phù hợp là rất quantrọng, đặc biệt trong việc dạy học về từ loại tiếng Việt
1.1.2.2 Đặc điểm sinh lí học sinh tiểu học
Đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học là các quá trình phát triển xảy ratương đối đồng đều Chiều cao mỗi năm tăng khoảng 4-5 cm, khối lượng tăng
từ 2-3 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tươngđối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
Hệ xương có nhiều mô sụn Xương cột sống, xương hông, xương tay,xương chân đang trong thời kì phát triển, cốt hóa nên dễ bị cong vẹo, gãy dập
Sự hình thành bộ xương và hình dạng của từng xương phụ thuộc rất nhiều vào
tư thế, vào cách hoạt động và tập luyện của trẻ Vì thế, trong các hoạt độnghọc tập và vui chơi thì cha mẹ và thầy cô cần quan tâm chú ý hướng các emtới những tư thế học tập đúng đắn, các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
Giai đoạn tiểu học là giai đoạn rất quan trọng đối với sự phát triển của
hệ cơ Lúc này hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thíchnhững trò chơi vận động như chạy, nhảy…Vì vậy mà giáo viên nên đưa các
em tham gia vào những trò chơi vận động có mức độ từ đơn giản đến phứctạp, đồng thời đảm bảo sự an toàn cho trẻ
Giai đoạn tiểu học cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của hệ thầnkinh vì đây là giai đoạn hình thành thói quen, tư duy cho trẻ Hệ thần kinh caocấp đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần
từ trực quan hành động sang tư duy trừu tượng Các em có sự hứng thú vớicác trò chơi trí tuệ, đặc biệt là các lớp cuối cấp tiểu học Do đó, giáo viên nêncuốn hút các em vào những câu hỏi để phát triển tư duy cho các em
Trang 331.2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học từ loại cho học sinh lớp 4
1.2.1 Sự cần thiết của việc dạy học từ loại cho học sinh tiểu học
Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong học tập và giao tiếp cho học sinh
là mục tiêu quan trọng hàng đầu khi dạy tiếng Việt ở Tiểu học
Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng khi học tiếng Việt là việcnắm vững các kiến thức về ngữ pháp Bởi lẽ có nắm vững được các kiến thức
về ngữ pháp, học sinh mới biết cách dùng từ, đặt câu và tạo văn bản nhằmphục vụ trong hoạt động giao tiếp Do đó, việc học tập ngữ pháp hiện nayđược tiến hành một cách chủ động, có kế hoạch Thông qua các hệ thống líthuyết và bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên hướng dẫn học sinh nhậndiện, phân loại các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình
Từ loại cũng thuộc phạm trù ngữ pháp tiếng Việt nên việc dạy học từloại là cần thiết và phải được quan tâm, chú trọng Dạy học từ loại trong phânmôn Luyện từ và câu được tiến hành lần lượt theo quá trình nhận thức của họcsinh, bắt đầu từ việc nhận xét, phân tích các ngữ liệu có sẵn là các từ, các câuhay các đoạn văn từ đó tìm ra đặc điểm, hiện tượng của khái niệm để làm cácbài tập cụ thể Quá trình đó có thể chia thành hai hướng là dạy lí thuyết và dạythực hành từ loại
Luyện từ và câu là một phân môn khó nên giáo viên vẫn còn lúng túngtrong việc tổ chức tiết dạy sao cho đúng yêu cầu của chuyên môn, đúng đặctrưng của phân môn đồng thời lại phải đạt hiệu quả cao Về phía học sinhcũng ít hứng thú với môn học này vì nó còn khá khô khan và cứng nhắc.Muốn biến những điểm khó của môn học thành dễ đối với học sinh thì ngườigiáo viên cần phải đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và phù hợp vớiyêu cầu ngày càng cao của xã hội
Trang 341.2.2 Nội dung chương trình dạy học về từ loại tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4
Phần kiến thức từ loại của học sinh đã được học sinh làm quen từ lớp 2
Ở lớp 2, các em được học về các từ chỉ người, chỉ vật, từ chỉ hoạt động, trạngthái, đặc điểm, tính chất thông qua dạng bài thực hành Đến lớp 3, cũng thôngqua các bài thực hành, các em ôn tập về các từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động,trạng thái, đặc điểm, tính chất và nhận biết một số cách dùng cặp từ nối
Bằng việc làm quen với từ loại như thế, các em có cơ sở để học chínhthức khái niệm về từ loại ở lớp 4,5 Nói như vậy bởi vì phân môn Luyện từ vàcâu ở lớp 4,5 mới có kiểu bài hình thành khái niệm so với các lớp 1,2,3 chỉ cókiểu bài thực hành Do đó, đến lớp 4, các em mới học những định nghĩa,những đặc điểm của từ loại tiếng Việt Cụ thể đối với lớp 4, các em được học
về 3 từ loại cơ bản là danh từ, động từ và tính từ Có thể khái quát nội dungdạy học từ loại ở lớp 4 thông qua bảng sau:
Bảng 1.1 Chương trình dạy học từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4
ở lớp 4 gian
Danh Tuần 5
Tên bài: Danh từ
- Nhận xét: Tìm các từ chỉ sự vật trong đoạn thơ, sắp xếpvào các nhóm thích hợp: từ chỉ người, từ chỉ vật, từ chỉhiện tượng, từ chỉ khái niệm, từ chỉ đơn vị
- Ghi nhớ: Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật,
hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị).
- Luyện tập: Tìm các danh từ chỉ khái niệm trong số cácdanh từ được in đậm trong đoạn văn, đặt câu với mộtdanh từ chỉ khái niệm vừa tìm được
từ
Trang 35- Ghi nhớ: Danh từ chung là tên của một loại sự vật.
Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa.
- Luyện tập: Tìm các danh từ chung và danh từ riêngtrong đoạn văn Viết họ tên của 3 bạn trong lớp và giảithích đó là danh từ chung hay danh từ riêng
Danh
từ
Tuần 7
Tên bài: Cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam.
- Nhận xét: Nhận xét cách viết hoa những tên riêng, tênngười, tên địa lý Việt Nam
- Ghi nhớ: Khi viết tên người, tên địa lý Việt Nam, cần
viết hoa chữ cái đầu của mỗi tiếng tạo thành tên đó.
- Luyện tập:Viết tên em và địa chỉ gia đình em.Viết tênmột số xã (phường, thị trấn), huyện (quận, thị xã, thànhphố) của em Viết và tìm trên bản đồ các quận, huyện,các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở tỉnh hoặc thànhphố của em
Tên bài: Luyện tập viết tên người, tên địa lí Việt Nam
Sửa lỗi viết hoa danh từ riêng qua ngữ liệu là bài ca dao
về các địa danh ở Hà Nội Trò chơi du lịch trên bản đồViệt Nam
Tên bài: Cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài
- Nhận xét: Đọc các tên người, tên địa lí nước ngoài
Nhận xét về cấu tạo và cách viết mỗi bộ phận trong tên
28
Trang 36Danh Tuần 8
riêng nước ngoài Nhận xét cách viết tên người, tên địa línước ngoài (ngữ liệu là những tên riêng được phiên âmtheo tiếng Hán)
- Ghi nhớ: Khi viết tên người, tên địa lí nước ngoài, ta
viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó Nếu bộ phận tạo thành tên gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có gạch nối Có một số tên người, tên địa lí nước ngoài viết giống như cách viết tên riêng Việt Nam.
Đó là những tên riêng được phiên âm theo âm Hán Việt.
- Luyện tập: Chữa lỗi viết các tên riêng nước ngoài.Tròchơi du lịch: thi ghép đúng tên nước với tên thủ đô củanước ấy
Tìm từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật
- Ghi nhớ: Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái
của sự vật.
- Luyện tập: Viết tên các hoạt động em thường làm ở nhà,
ở trường và gạch chân dưới động từ trong cụm từ ấy Tìm những động từ có trong đoạn văn
Trò chơi xem kịch câm: nói tên các hoạt động, trạng tháiđược bạn thể hiện bằng cử chỉ, động tác không lời
từ
Tuần
Tên bài: Luyện tập về động từ
Ý nghĩa và cách sử dụng các từ ngữ (phụ từ) hay đứngtrước động từ: đã, sẽ, đang
11
29
Trang 37Tính từ
Tuần11
Tên bài: Tính từ
- Nhận xét: Yêu cầu học sinh tìm các từ chỉ tính tình, tưchất của nhân vật, màu sắc, hình dáng, kích thước và cácđặc điểm của sự vật trong câu chuyện Tìm hiểu ý nghĩacủa tính từ đối với một động từ
- Ghi nhớ: Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc
tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái,…
- Luyện tập: Tìm tính từ trong đoạn văn Đặt câu có sửdụng tính từ
Tuần12
Tên bài: Tính từ ( tiếp theo)
- Nhận xét: So sánh sự khác nhau trong việc miêu tả các
sự vật, các thể hiện ý nghĩa mức độ
- Ghi nhớ: Có một số cách thể hiện mức độ của đặc điểm,
tính chất như sau: tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính
từ đã cho; thêm vào các từ rất, quá, lắm… vào trước hoặc sau tính từ, tạo ra phép so sánh.
- Luyện tập: Bài tập nhận diện từ ngữ biểu thị mức độ củatính từ; tìm những từ ngữ miêu tả mức độ khác nhau củacác tính từ chỉ màu sắc, hình dạng, trạng thái cho trước;đặt câu với mỗi từ tìm được
Ngoài các bài nêu trên, trong chương trình còn có một số bài luyện tập
về từ loại qua các yếu tố ngôn ngữ khác Cụ thể: tuần 17, trong bài Vị ngữtrong câu kể Ai làm gì? học sinh thấy được vai trò làm vị ngữ của ĐT haycụm ĐT Tuần 19, trong bài Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? học sinh thấyđược vai trò làm chủ ngữ của DT và cụm DT Tuần 21, trong bài Vị ngữ trongcâu kể Ai thế nào? học sinh được cung cấp thêm hiểu biết về các chức năng
Trang 38từ loại.
1.2.3.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát
Chúng tôi chọn đối tượng khảo sát là 168 học sinh khối 4 thuộc 5 lớptại trường Tiểu học Liên Hà – huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội
1.2.3.3 Cách thức và nội dung khảo sát
- Cách thức khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh thông quahình thức phát phiếu khảo sát và yêu cầu học sinh hoàn thành Chúng tôi cùngvới giáo viên theo dõi quá trình học sinh làm bài khảo sát
- Nội dung khảo sát: Chúng tôi tiến hành thiết kế 3 phiếu bài tập, mỗiphiếu gồm 3 bài tập ở các mức độ khác nhau về các kiến thức từ loại danh từ,động từ, tính từ (Xin xem phần Phụ lục)
Các phiếu khảo sát chúng tôi chọn được chia thành các loại:
+ Phiếu số 1: Các bài tập nhận diện và phân định danh từ, động từ,tính từ trong hệ thống tổng hợp các loại từ của ngữ liệu cho trước
+ Phiếu số 2: Các bài tập phát huy vốn từ và khả năng vận dụng danh
từ, động từ, tính từ để đặt câu và viết đoạn văn của học sinh
Trang 40Bảng 1.3 Kết quả khảo sát ở phiếu số 2