1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho học sinh lớp 5 thông qua phân môn tập làm văn

66 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC=== === VŨ THỊ NGỌC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN KHÓA LUẬN TỐT N

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

=== ===

VŨ THỊ NGỌC

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO HỌC SINH LỚP 5

THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Người hướng dẫn khoa học

ThS GVC Phan Thị Thạch

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sựquan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo đặc biệt là ThS GVC PhanThị Thạch Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô,người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vàlàm khóa luận

Qua đây chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường ĐHSP

Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa GDTH đã tạo điều kiện giúp đỡ đểkhóa luận của chúng tôi được hoàn thành

Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu cònhạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tàinày được hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Ngọc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “ Bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho học sinh lớp

5 thông qua phân môn Tập làm văn” được chúng tôi nghiên cứu và hoàn

thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liênquan của các tác giả khác, cộng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn,ThS.GVC Phan Thị Thạch và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân

Chúng tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứmột công trình nghiên cứu nào

Hà Nội, tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Mục đích nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO HỌC SINH LỚP 5 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 6

1.1.1.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 6

1.1.1.2 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 8

1.1.1.3 Khái quát về văn bản 9

1.1.1.4 Lời nói mạch lạc 14

1.1.2 Khái quát về năng lực 15

1.1.2.1 Khái niệm năng lực 15

1.1.2.2 Năng lực hành động 15

1.1.2.3 Năng lực cốt lõi của học sinh Tiểu học ở thê kỉ XXI 16

1.1.3 Cơ sở tâm lí học 18

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19

Trang 6

1.2.1 Khảo sát nội dung chương trình dạy học Tập làm văn trong sách giáo

khoa Tiếng Việt 5 19

1.2.1.1 Khảo sát vị trí và thời lượng dành cho từng phân môn Tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 19

1.2.2 Thống kê phân loại bài tập Tập làm văn liên quan đến việc bồi dưỡng học sinh lớp 5 năng lực tạo lập lời nói mạch lạc 27

1.2.2.1 Loại bài tập trang bị cho học sinh hiểu biết về loại văn bản cần lập 27 1.2.2.2 Loại bài tập bồi dưỡng cho học sinh năng lực tạo lập văn bản 27

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG CHO HỌC SINH LỚP 5 NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 32

2.1 Biện pháp bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho học sinh lớp 5 thông qua hệ thống bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 32

2.1.1 Biện pháp giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói dạng viết mạch lạc 32

2.1.1.1 Biện pháp trang bị cho học sinh những hiểu biết về văn bản cần tạo lập thông qua việc tìm hiểu VB mẫu 33

2.1.1.2 Biện pháp bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng lập dàn ý cho văn bản cần tạo lập 35

2.1.1.3 Biện pháp bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 kĩ năng viết đoạn văn mạch lạc 37

2.1.2 Biện pháp bồi dưỡng cho HS lớp 5 có năng lực tạo lập lời nói dạng nói mạch lạc 42

2.2 Một số giáo án thể nghiệm 44

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 7

Để đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có đổi mớichương trình giáo dục tiểu học, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến việc bồidưỡng những năng lực cơ bản cho HS thông qua các môn học Trong nộidung chương trình giáo dục của trường tiểu học, Tiếng Việt và Toán là haitrong những môn học chủ đạo Việc dạy học Tiếng Việt thông qua các phânmôn: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kểchuyện không chỉ rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt, cung cấp những kiến thức

cơ bản về tiếng Việt mà còn giúp HS phát triển được những năng lực cốt lõi

để các em trở thành con người Việt Nam toàn diện, có khả năng giải quyếtđược mọi tình huống nảy sinh trong cuộc sống

Tập làm văn là một trong những phân môn quan trọng trong dạy họcmôn Tiếng Việt ở trường tiểu học Tập làm văn nối tiếp một cách tự nhiên cácbài học khác nhau của các phân môn trong Tiếng Việt Nó mang tính chấtthực hành toàn diện, tổng hợp tri thức, năng lực tiếng Việt nhằm giúp HS có

kĩ năng tạo lập lời nói mạch lạc Học sinh biết cách sử dụng tiếng Việt làmcông cụ tư duy, chiếm lĩnh tri thức, giao tiếp trao đổi tư tưởng, tình cảm chínhnhờ kĩ năng này Muốn có một bài văn hoàn chỉnh, HS phải có khả năng phản

Trang 8

ánh nhận thức của bản thân về đối tượng (nội dung giao tiếp), đồng thời các

em phải có vốn hiểu biết đầy đủ về các chuẩn mực của ngôn ngữ (âm thanh,chữ viết, từ, câu, văn bản) và phải có kĩ năng sử dụng linh hoạt,sáng tạo cácchuẩn mực đó nhằm diễn đạt trong sáng, mạch lạc nội dung giao tiếp theo mộtmục đích giao tiếp nhất định

Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi cho nên năng lực giao tiếp, năng lực tư duy,năng lực cảm thụ, khả năng diễn đạt, vốn ngôn ngữ của học sinh tiểu học cóthể còn hạn chế Nhận thức rõ ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của việcdạy Tập làm văn và tầm quan trọng của việc giúp học sinh tiểu học phát triểnnhững năng lực cơ bản trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, chúng tôi

lựa chọn đề tài: “Bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho học sinh

lớp 5 thông qua phân môn Tập làm văn” để nghiên cứu.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến lời nói, lời nói mạch lạc

Trên thế giới, một trong những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ lời nói

đó là Ferdinand de Sanssure Trong cuốn giáo trình Ngôn ngữ học đại cương,

tác giả đã đưa ra sự phân biệt ngôn ngữ với lời nói nhằm cung cấp những líluận cơ bản về bản chất của ngôn ngữ Trong cuốn giáo trình đó, lời nói mạchlạc không phải là đối tượng nghiên cứu của tác giả

Ở Việt Nam, trong cuốn giáo trình Giao tiếp Văn bản Mạch lạc Liên

kết Đoạn văn, Diệp Quang Ban đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết

khái quát về:

- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

- Văn bản Đặc trưng của văn bản

- Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

- Mạch lạc, liên kết trong văn bản

Trang 9

Vì mục tiêu của giáo trình là cung cấp lí luận cơ bản có liên quan đếnhoạt động giao tiếp, cho nên việc phát triển lời nói mạch lạc không nằm trongphạm vi nghiên cứu của công trình khoa học này.

2.2 Những khóa luận của sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học có liên quan đến dạy học Tập làm văn cho học sinh.

- Phạm Thị Huyền, Rèn luyện kĩ năng tạo lập một số văn bản cho họcsinh theo chương trình Tập làm văn của sách giáo khoa Tiếng Việt 3

- Nguyễn Hải Yến, Rèn kĩ năng tạo lập một số văn bản cho học sinh lớp4,5 qua phân môn Tập làm văn

- Nguyễn Thị Linh Chi, Cách liên kết câu trong đoạn văn miêu tả củahọc sinh lớp 4

Các SV trên mặc dù quan tâm đến việc rèn kĩ năng tạo lập một số văn bảntrong chương trình Tập làm văn ở tiểu học, nhưng bồi dưỡng năng lực tạo lậplời nói mạch lạc cho HS không phải là đối tượng nghiên cứu của họ

Thông qua kết quả tổng thuật tình hình nghiên cứu về lời nói, lời nóimạch lạc từ các nguồn tài liệu nói trên, có thể thấy việc nghiên cứu vấn đềnày không hoàn toàn mới, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một tác giả, mộtcông trình nào trùng lập với khóa luận mà chúng tôi đang thực hiện

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Những biện pháp giúp học sinh

lớp 5 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phân môn Tập làm văn.

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm đưa ra các biện pháp bồi dưỡngcho HS lớp 5 năng lực tạo lập lời nói mạch lạc thông qua phân môn Tập làmvăn Qua đó, giúp học sinh tự tin hơn trong học tập, trong giao tiếp để các emhoàn thành nhiệm vụ học tập và tiếp tục học tập ở các cấp học cao hơn

Trang 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Lựa chọn lí thuyết cơ bản để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài khóa luận

5.2 Thống kê nội dung dạy học Tập làm văn trong SGK Tiếng việt 5

5.3 Đề xuất lựa chọn một số biện pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát triển lời nói mạch lạc

5.4 Thiết kế giáo án thể nghiệm kết quả nghiên cứu

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Khóa luận tập trung tìm hiểu những biện pháp dạy học cần vận dụng đểbồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực tạo lập lời nói mạch lạc thông quaphân môn Tập làm văn

6.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi tập trung khảo sátthống kê những bài tập Tập làm văn liên quan đến bồi dưỡng năng lực tạo lậplời nói mạch lạc cho HS trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 5, NXB GD năm2014

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:

7.1 Phương pháp thống kê

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thống kê các bài tập trongphạm vi nghiên cứu, phân loại các bài tập đó dựa vào chức năng giáo dục củachúng

7.2 Phương pháp phân tích

Phương pháp này chúng tôi vận dụng để cụ thể hóa nhằm làm sâu sắcnhững nội dung trình bày có liên quan đến việc bồi dưỡng năng lực tạo lập lời

Trang 11

nói mạch lạc cho HS lớp 5 thông qua phân môn Tập làm văn.

7.3 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được vận dụng khi chúng tôi tái hiện tài liệu thamkhảo hoặc những dạng bài tập Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt lớp 5

7.4 Phương pháp tổng hợp

Chúng tôi vận dụng phương pháp này để rút ra những nhận xét, kết luận

từ kết quả nghiên cứu các biện pháp bồi dưỡng cho HS lớp 5 năng lực tạo lậplời nói mạch lạc thông qua hệ thống bài tập Tập làm văn

7.5 Phương pháp thực nghiệm

Đây là phương pháp chúng tôi vận dụng để xác nhận tính đúng đắn vàtính khả thi của kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của khóa luận gồm cácchương sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Biện pháp bồi dưỡng cho học sinh lớp 5 năng lực tạo lập lời nói mạch lạc thông qua hệ thống bài Tập làm văn

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO HỌC SINH LỚP 5

THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 1.1 Cơ sở lí luận

b) Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Nhân tố giao tiếp là những nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp, ảnhhưởng, chi phối hiệu quả của cuộc giao tiếp đó Mỗi nhân tố giao tiếp đều đểlại dấu ấn của mình trong lời nói – sản phẩm của hoạt động giao tiếp và tácđộng đến việc tổ chức, xây dựng lời nói

- Mục đích giao tiếp

Hoạt động giao tiếp luôn nhằm một mục đích nào đó Mục đích giao tiếp

là điều mà các nhân vật giao tiếp muốn đạt được sau những cuộc gặp gỡ tiếp

Trang 13

Mục đích giao tiếp trả lời cho câu hỏi: Nói (viết) để làm gì?

- Nhân vật giao tiếp

Đó là những người tham gia vào cuộc gặp gỡ tiếp xúc bằng ngôn ngữ.Các nhà khoa học chia nhân vật giao tiếp thành: người nói (người viết), ngườinghe (người đọc) Đặc điểm về lứa tuổi, về nghề nghiệp, về giới tính, về trình

độ hiểu biết, về vốn sống, về địa vị xã hội của nhân vật giao tiếp luôn ảnhhưởng và để lại dấu ấn trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong các ngôn bản,văn bản

Nhân vật giao tiếp trả lời cho các câu hỏi: Ai nói?, Ai viết?, Nói với ai?,Viết cho ai?

- Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp là những vấn đề được các nhân vật giao tiếp đề cậptới trong những lần gặp gỡ, tiếp xúc Nó bao gồm những sự kiện, hiện tượng,

sự vật trong thực tế khách quan và cả những tình cảm, tâm trạng của conngười Nội dung giao tiếp trả lời cho các câu hỏi: Nói (viết) về ai? Về cái gì?Việc gì?

Nội dung giao tiếp là một trong những nhân tố đóng vai trò quy định sựlựa chọn, sử dụng ngôn ngữ của người nói (người viết)

- Hoàn cảnh giao tiếp

Hoạt động giao tiếp cũng như mọi hoạt động khác của con người bao giờcũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định Xét ở phạm vi rộng thì hoàn cảnhgiao tiếp bao gồm: hoàn cảnh xã hội (bối cảnh lịch sử, văn hóa, kinh tế củađất nước), hoàn cảnh tự nhiên mà ở đó giao tiếp đang diễn ra Xét ở phạm vihẹp hơn, cụ thể hơn, hoàn cảnh giao tiếp gắn với thời gian, địa điểm cụ thể,gắn với hoạt động giao tiếp cụ thể

Nhân tố hoàn cảnh giao tiếp trả lời cho câu hỏi: Nói (viết) trong hoàn

Trang 14

cảnh nào?

- Phương tiện và cách thức giao tiếp

Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ, là các đơn vị của tiếng Việt.Song tiếng Việt là một hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ khác nhau về cấp

độ và chúng có sự phân biệt nhất định giữa các địa phương, các nghề nghiệpchuyên môn Do đó, tùy từng phạm vi, tùy từng lĩnh vực hoạt động của conngười, các nhân vật giao tiếp cần lựa chọn các nhân tố ngôn ngữ thích hợp đểtạo lời nói

Hoạt động giao tiếp còn có thể được thực hiện theo những cách thứckhác nhau: lời nói hay lời viết Trong văn bản (lời viết) lại khác nhau về thểloại, về cách trình bày nội dung

Nhân tố này trả lời cho câu hỏi: Nói (viết) như thế nào?

Các nhân tố nêu trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt độnggiao tiếp Cũng có thể nói nó là những điều kiện đảm bảo cho một hoạt độnggiao tiếp diễn ra và đạt được hiệu quả mong muốn Khi giao tiếp, chúng tacần phải chú trọng tới tất cả các nhân tố này

1.1.1.2 Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

a) Ngôn ngữ nói

- Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp tự nhiênhằng ngày giữa các cá nhân, trong đó họ có thể thay phiên nhau trong đóngvai trò người nói và người nghe

- Đặc điểm của ngôn ngữ nói

+ Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu Giọng nói có thể cao hay thấp,nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng Trong ngôn ngữ nói,ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin

+ Trong ngôn ngữ nói, ngoài sự kết hợp giữa âm thanh và giọng điệu còn

có phương tiện bổ trợ ngôn ngữ khác như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,

Trang 15

của người nói.

+ Từ ngữ trong ngôn ngữ nói được sử dụng khá đa dạng (có những lớp

từ mang tính khẩu ngữ, có những từ địa phương, các tiếng lóng, các biệt ngữ,các trợ từ, thán từ ) Đôi khi, trong ngôn ngữ nói câu được rút gọn tối giản cókhi chỉ còn một từ nhưng lại có câu nói rườm rà, dài dòng, hoặc có những câulại lặp đi lặp lại

+ Ngôn ngữ nói được hình thành nhanh chóng trong quá trình thực hiệnlời nói, không phải chỉnh sửa hay chuẩn bị lâu dài Vì thế nó có tính tức thời,tính không bền vững

b) Ngôn ngữ viết

Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ được người viết thể hiện bằng chữ viết trongvăn bản, người đọc tiếp nhận bằng thị giác

- Đặc điểm của ngôn ngữ viết:

+ Ngôn ngữ viết được thể hiện qua chữ viết trong văn bản, các chữ viếtđược dùng theo quy tắc chính tả

+ Từ ngữ trong ngôn ngữ viết được lựa chọn kĩ càng

+ Trong ngôn ngữ viết, các câu văn thường chặt chẽ cả về nội dung lẫnhình thức

+ Khác với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết có tính cô đọng và tính bềnvững

1.1.1.3 Khái quát về văn bản

a Khái niệm văn bản

Với tư cách là một đối tượng nghiên cứu, văn bản được nhiều tác giả đềcập đến, mỗi tác giả có những cách hiểu khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên,

có thể hiểu khái niệm văn bản trong sự toàn diện của nó về cả cấu trúc hìnhthức và nội dung, với những định nghĩa tiêu biểu sau:

“Văn bản là một đơn vị ở trên bậc câu bao gồm nhiều câu mà giới hạn

Trang 16

thấp nhất của nó là hai câu (trường hợp văn bản chỉ có một câu là trường hợp đặc biệt), các câu này liên kết với nhau thành một chỉnh thể có tính hoàn chỉnh về nội dung và kết cấu, đồng thời được bày trí bằng những phương tiện hình thức nhất định.”

(Bùi Minh Toán, Phan Thị Thạch – Giáo trình làm văn, ĐHSP Hà Nội

2, 1990)

“Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định”

(Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga – Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục)

Từ các định nghĩa trên, chúng tôi đúc rút ra một số đặc điểm của vănbản như sau:

- Văn bản là một chỉnh thể thường được tạo ra từ hai câu trở lên Cáccâu liên kết chặt chẽ với nhau

- Văn bản có thể ở dạng nói hoặc dạng viết

- Văn bản cũng có thể dài hoặc ngắn

- Cấu trúc của văn bản bao gồm cả cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nghĩa

- Văn bản bao giờ cũng thể hiện một chủ đề trọn vẹn Chủ đề đó có thểgắn với một đề tài nào đó

Lí thuyết ngôn ngữ học văn bản khẳng định lời nói của chúng ta dùngtrong hoạt động giao tiếp thường không phải một câu mà là một văn bản Vănbản có thể ngắn cũng có thể dài nhưng không thể ngắn hơn một câu Vănbản thường là một chuỗi câu được sắp xếp phù hợp với những nguyên tắc tổchức nhất định Sự sắp xếp một chuỗi câu thành văn bản, theo các nhà nghiêncứu, chính là tính mạch lạc và liên kết Vì vậy để bồi dưỡng học sinh năng lực

Trang 17

tạo lập văn bản đảm bảo tính mạch lạc, chúng ta không thể không xem xétnhững vấn đề này.

b Đặc trưng của văn bản

b.1 Về mặt nội dung

Mỗi văn bản triển khai trọn vẹn một chủ đề Tùy thuộc vào mục đíchgiao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp, chủ đề văn bản được triển khai ở mức độnông, sâu, đơn giản hoặc phức tạp

b.2 Về mặt hình thức

Hình thức của văn bản gồm nhiều yếu tố như thể loại, cấu trúc, phươngthức biểu hiện, cách dùng ngôn ngữ theo phong cách chức năng hoặc theomục đích tu từ

Cấu trúc của văn bản

Cấu trúc của văn bản được hiểu đơn giản là cách tổ chức văn bản Thuộc

về hình thức của văn bản là cấu trúc bên ngoài của nó Cấu trúc này bao gồm

bố cục toàn văn bản và bố cục từng bộ phận, từng phần của văn bản

Phương thức biểu hiện của văn bản

Để tạo lập văn bản, người ta thường sử dụng các phương thức biểu hiệnsau:

- Phương thức tự sự

Tự sự là phương thức kể lại (thuật lại) một sự việc nào đó thông qua các

Trang 18

sự việc, chi tiết tiêu biểu.

- Phương thức miêu tả

Đó là cách người nói, người viết sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh để táihiện sinh động về người, vật hoặc cảnh vật nào đó

- Phương thức thuyết minh

Thuyết minh là phương thức sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác và hấp dẫncủa người nói, người viết nhằm giới thiệu cho người nghe, người đọc một ditích lịch sử, văn hóa, một sản vật hoặc một công trình khoa học nào đó

Phong cách chức năng ngôn ngữ

Phong cách chức năng ngôn ngữ (gọi tắt là phong cách ngôn ngữ) đó lànhững kiểu diễn đạt bằng ngôn ngữ tiêu biểu cho một phạm vi giao tiếp nhằmthực hiện một hoặc một số chức năng nhất định (Tiếng Việt 11, NXB GD,2002)

Ngôn ngữ trong mỗi văn bản thuộc về một phong cách ngôn ngữ nhấtđịnh sẽ có những đặc trưng nhất định

Ví dụ: Ngôn ngữ trong văn bản hành chính có 3 đặc trưng chính Đó làtính khuôn mẫu, tính minh bạch và tính hiệu lực cao Trong khi đó, văn bảnnghệ thuật lại có 3 đặc trưng sau, đó là tính hình tượng, tính hàm súc và tính

cá thể hóa

b.3 Về mặt tính chất

Văn bản có tính hoàn chỉnh, tính mạch lạc và tính liên kết

Trang 19

b.3.1 Tính hoàn chỉnh

 Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản

Tính hoàn chỉnh về nghĩa của văn bản thể hiện ở sự đồng nhất chủ đềcủa nó Chủ đề được hiểu là hạt nhân nghĩa là có nội dung cô đúc và khái quát

của văn bản: “Chủ đề của văn bản hoàn chỉnh hay của văn bản bộ phận được

hiểu như nơi tập trung khái quát toàn bộ nội dung của văn bản”

Tính hoàn chỉnh về cấu trúc của văn bản

Các câu, các đoạn trong văn bản quan hệ chặt chẽ với nhau không phảichỉ do sự thống nhất chủ đề mà còn bằng những tín hiệu đa dạng bên ngoài.Những tín hiệu này chỉ ra rằng chúng là những bộ phận của một chỉnh thể vàhợp lại tạo nên một cấu trúc hoàn chỉnh Một số tín hiệu được sử dụng trongquá trình xây dựng văn bản nhằm tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa các bộ phậntrong một chỉnh thể Chúng thường được nhận biết cụ thể như sau:

- Tín hiệu hình thức: Văn bản phải được trình bày một cách khoa học, dễnhận biết các chương, các phần, các mục

- Tín hiệu nội dung: Mối quan hệ nội dung giữa các câu, các đoạn, cácphần quyết định tính chất của văn bản Mối quan hệ giữa phía trái, phái phảicủa một câu, phía trên phía dưới của một đoạn, giữa các phần trong văn bảnnhất thiết phải được chú trọng xây dựng theo một trình tự hợp lý để có mộtnội dung hoàn chỉnh, một chủ đề thống nhất

b.3.2 Tính mạch lạc và tính liên kết

Văn bản là một chỉnh thể mà câu là những phần tử của nó Chính cấutrúc văn bản sẽ chỉ ra vị trí của mỗi câu với mối quan hệ, liên hệ của nó trongvăn bản Những mối quan hệ và liên hệ ấy tạo ra tính liên kết và mạch lạc Vìvậy, tính liên kết và mạch lạc chính là những đặc điểm quan trọng của vănbản Liên kết được biểu hiện bởi các mối quan hệ thuộc hình thức, bề mặt củavăn bản Còn những hiện tượng thuộc về quan hệ của tầng nghĩa ngầm bên

Trang 20

dưới và những yếu tố có liên quan đến ngữ cảnh tình huống thì gọi là mạchlạc Mạch lạc đảm bảo tính thống nhất của đề tài, chủ đề trong văn bản Nógiúp chúng ta nhận ra được rằng các câu có “mắc vào nhau” làm thành mạchvăn trôi chảy, gãy gọn.

b4 Về mặt chức năng

Theo giáo sư Bùi Minh Toán “Văn bản vừa là phương tiện giao tiếp

vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp”.

Diệp Quang Ban (2000) cho rằng văn bản có đích hay chủ định củangười tạo ra văn bản để thực hiện một hành động nào đó nhằm tác động đếnngười nghe, người đọc Như vậy, chức năng của văn bản gắn trực tiếp vớichức năng giao tiếp và chức năng là công cụ để con người tư duy Đó là haichức năng cơ bản của ngôn ngữ trong hoạt động sử dụng

Những cơ sở lí luận về văn bản là căn cứ để chúng ta có thể tìm ranhững biện pháp bồi dưỡng cho HS lớp 5 năng lực tạo lập lời nói mạch lạcthông qua hệ thống bài tập Tập làm văn

1.1.1.4 Lời nói mạch lạc

a Khái niệm

Trong cuốn “Giáo trình phương pháp phát triển lời nói trẻ em”, ĐinhHồng Thái đã dẫn định nghĩa của Tiến sĩ ngôn ngữ học Xôkhin – tác giả củanhiều cuốn sách giáo khoa, phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em Ông

đã định nghĩa đơn giản như sau:

Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác định, được thực hiện một cách logic, tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tính biểu cảm.

b Tiêu chí xác định lời nói mạch lạc của học sinh lớp 5

Để xác định lời nói mạch lạc của học sinh lớp 5, chúng ta cần dựa trêncác tiêu chí cơ bản sau:

Trang 21

- Nội dung của lời nói phải được thể hiện rõ ràng, trọn vẹn

- Các phương tiện trong lời nói phải được sử dụng chính xác và được sắpxếp theo một trình tự hợp lí Chúng liên kết chặt chẽ với nhau nhằm thực hiệntốt chức năng của văn bản

1.1.2 Khái quát về năng lực

1.1.2.1 Khái niệm năng lực

a Theo Từ điển Tiếng Việt

- Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thựchiện một hoạt động nào đó Năng lực cũng có thể được hiểu là khả năng huyđộng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng để thực hiện thành công một loại côngviệc trong một bối cảnh nhất định

b Theo các tác giả cuốn “Dạy học tích hợp phát triển năng lực cho học

sinh” (quyển 2): Năng lực có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau và mỗi cách

đều có những thuật ngữ tương ứng

Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định Chẳng hạn,

khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh thường được đánh giá bằng cáctrắc nghiệm trí tuệ

Năng lực cũng có thể được hiểu là khả năng thực hiện một nhiệm vụ/một hành động cụ thể liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sởhiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động

1.1.2.2 Năng lực hành động

a Khái niệm năng lực hành động

Từ định nghĩa năng lực, có thể đưa ra một định nghĩa về năng lực hànhđộng, đó là:

“khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện thành công

Trang 22

một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.”

b Năng lực tạo lập lời nói mạch lạc trong Tập làm văn là một loại nănglực hành động

Để tạo lập lời nói mạch lạc trong Tập làm văn HS phải thực hiện mộtloạt hành động như: nhận thức đối tượng, huy động hiểu biết về kiến thức liênquan đến nội dung, lựa chọn tổ chức ngôn ngữ để hiện thực hóa nội dung theodàn ý đã xác định, tạo lời Những hành động đó chỉ thiết thực khi các emđược luyện tập, bồi dưỡng thường xuyên.Trên cơ sở của nhận thức như vậy,năng lực tạo lập lời nói mạch lạ của HS trong tập làm văn cũng là một loạinăng lực hành động

1.1.2.3 Năng lực cốt lõi của học sinh Tiểu học ở thê kỉ XXI

a Khái niệm

Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiếtyếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc Tất cảcác hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và các hoạt động trải nghiệmsáng tạo) với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thànhnăng lực cốt lõi của học sinh

Có nhiều hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong hệ thốngnày thường gồm có:

- Năng lực sống và năng lực nghề nghiệp

- Năng lực học tập và khả năng đổi mới

- Năng lực sử dụng các phương tiện và công nghệ thông tin,

b Năng lực cốt lõi của HSTH ở thế kỉ XXI

Theo dự thảo, chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam, mục

tiêu giáo dục không chỉ chú ý “chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu

của việc hình thành và phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, có được những kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất để tiếp tục học THCS”, mà còn chú ý

Trang 23

yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực theo “định hướng vào giá trị gia đình,

dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập và sinh hoạt”.

Điều này cho thấy, Chương trình giáo dục Tiểu học rất chú trọng đến việcphát triển năng lực chung mà mỗi HS cần phải có cũng như năng lực riêngcủa các em Để đáp ứng mục tiêu này cần định hướng phát triển cho HS cácnăng lực cốt lõi sau:

- Năng lực tự học là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định đúng

đắn mục tiêu học tập; lập kế hoạch và thực hiện cách học; đánh giá, điềuchỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu một cách hiệu quả và có chấtlượng

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là năng lực biểu hiện thông qua

việc phát hiện và làm rõ được vấn đề; đề xuất, lựa chọn, thực hiện và đánh giáđược các giải phát giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển khai đượccác ý tưởng mới; và có tư duy độc lập

- Năng lực thầm mĩ là năng lực biểu hiện thông qua các hành vi nhận ra

cái đẹp; khả năng rung cảm trước cái đẹp ; năng lực tạo ra cái đẹp

- Năng lực giao tiếp là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định mục

đích giao tiếp; kĩ năng thể hiện thái độ giao tiếp; lựa chọn và sử dụng phươngthức giao tiếp dựa trên nền tảng kĩ năng sử dụng tiếng Việt và ngoại ngữ

- Năng lực hợp tác là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định mục

đích và phương thức hợp tác, xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thântrong quá trình hợp tác, gắn với nhu cầu và khả năng của người hợp tác; tổchức và thuyết phục người hợp tác; đánh giá hoạt động hợp tác

- Năng lực tính toán là năng lực biểu hiện thông qua khả năng sử dụng

các phép tính và đo lường cơ bản; sử dụng ngôn ngữ toán; và sử dụng cáccông cụ tính toán

- Năng lực ngôn ngữ : Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng: “con người

Trang 24

sinh ra đã có hiểu biết và tiếng mẹ đẻ” Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có

sự khác nhau do: đặc điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhậnthức, đặc điểm cá tính của mỗi người Khả năng đó phản ánh năng lực ngônngữ của cá nhân

Những năng lực cốt lõi này không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức, kĩnăng cơ bản, mà còn giúp các em vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành

để giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống

1.1.3 Cơ sở tâm lí học

Học sinh Tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi Với học sinh lớp 1, lầnđầu tiên đến trường phổ thông, các em có nhiều bỡ ngỡ khi phải chuyển đổi từhoạt động vui chơi là chính sang môi trường học tập nề nếp Tâm lý đó dầnđược xóa bỏ ở các lớp 2,3,4,5 Nhận xét về đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu

học, N X Leytex đã viết “Tuổi Tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích

lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này – sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín đối với các em (đặc biệt là thầy cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi và ngây thơ đố-i với các đối tượng mà các em được tiếp xúc” (Bùi Văn Huệ, Tâm lý Tiểu học, NXB Giáo dục).

Lứa tuổi này được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu Tiểu học (lớp1,2,3) và giai đoạn cuối Tiểu học (lớp 4,5)

Cùng với sự phát triển về tư duy, đời sống tình cảm của HSTH cũng dầndần phong phú hơn Chúng ta có thể tìm hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi củaHSTH thông qua năng lực tư duy và đời sống tình cảm của các em

Ở giai đoạn cuối tiểu học, tư duy cụ thể của HS vẫn tiếp tục phát triển,

tư duy trừu tượng đang dần hình thành và chiếm ưu thế Khi quan sát, các em

đã biết các dấu hiệu đặc trưng của sự vật, biết phân biệt các sắc thái của chi

Trang 25

tiết để so sánh, tổng hợp; các em có khả năng tri giác sự vật như một chỉnhthể, có mục đích và phương hướng rõ ràng Khi khái quát hóa, HS bắt đầu biếtdựa vào những dấu hiệu bản chất bên trong, những dấu hiệu chung để tìm rakhái niệm, quy luật Các em có thể quan sát một sự vật diễn biến theo nhiềuhình thức, một hiện tượng có nhiều nguyên nhân Đặc biệt HS có khả nănglập luận cho phán đoán của mình.

Tình cảm, cảm xúc rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người,tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm ra chân lý Với

HS tiểu học tình cảm, cảm xúc có mối quan hệ mật thiết với quá trình tư duycủa các em Nhờ có tư duy phát triển, HS tiểu học dần nâng cao hiểu biết củamình về các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, nhờ vậy mà tìnhcảm yêu, ghét của các em không hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên Do đặcđiểm tâm lý lứa tuổi, HS tiểu học thích khám phá những sự vật, hiện tượng cụthể, sinh động Các em yêu thích cái đẹp, cái ngộ nghĩnh Chính tình cảm,cảm xúc có tác động không nhỏ vào việc giúp học sinh liên tưởng, tưởng tượngsáng tạo để có những hình ảnh đẹp, những câu văn hay

Tóm lại, trong quá trình dạy học, đặc biệt là trong dạy học Tập làm văn,

GV cần căn cứ vào đặc điểm tâm lý của HS để có phương pháp giảng dạy phùhợp bồi dưỡng cho các em năng lực tạo lập lời nói mạch lạc

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở những vấn đề lí luận đã nêu ở trên, chúng tôi nghiên cứuthực tiễn dạy học Tập làm văn ở Tiểu học, xem xét chương trình sách giáokhoa, các bài tập thuộc phân môn Tập làm văn của Tiếng Việt

1.2.1 Khảo sát nội dung chương trình dạy học Tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5

1.2.1.1 Khảo sát vị trí và thời lượng dành cho từng phân môn Tiếng Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5

Trang 26

Một năm học của HS tiểu học được tiến hành trong 35 tuần lễ Trong

đó, 31 tuần dành cho việc thực hiện các nội dung dạy học Còn 4 tuần (Tuần

10, Tuần 18, Tuần 28 và Tuần 35) dành để ôn tập giữa và cuối học kì I, II

Ở lớp 5, nội dung dạy học môn Tiếng Việt được triển khai ở 5 phânmôn: Tập đọc, Chỉnh tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn Trình

tự các phân môn được sắp xếp và được phân bổ thời lượng thực hiện trongmột tuần như sau:

- Luyện từ và câu: 2 tiết/ 8 tiết = 25%

- Kể chuyện: 1 tiết/ 8 tiết = 12,5%

- Tập làm văn: 2 tiết/ 8 tiết = 25%

Như vậy, trong 5 phân môn của Tiếng Việt dành cho HS lớp 5 thì Tậplàm văn đứng ở vị trí cuối cùng Nó được triển khai thực hiện sau 4 phân mônkhác Về thời lượng thực hiện, Tập làm văn là một trong ba phân môn đượcdành 25% thời gian dạy học của môn Tiếng Việt Điều đó đã phản ánh phầnnào vai trò quan trọng của phân môn này trong việc thực hiện các mục tiêudạy học Tiếng Việt cho HS lớp 5

1.2.1.2 Khảo sát nội dung chương trình dạy học Tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5

Trang 27

Cấu trúc nội dung chương trình dạy học Tập làm văn trong SGK TiếngViệt 5 được chúng tôi trình bày trong bảng thống kê sau:

Bảng thống kê nội dung chương trình Tập làm văn trong SGK TiếngViệt 5

Số tiết thực hiện

1 Cấu tạo của bài văn tả cảnh Miêu tả 1

Kiểm tra viết (tả cảnh) Miêu tả 1

5 Luyện tập làm báo cáo thống

Trang 28

Số tiết thực hiện

7 Luyện tập tả cảnh (sông nước) Miêu tả 1

Luyện tập tả cảnh (sông nước) Miêu tả 1

12 Cấu tạo của bài văn tả người Miêu tả 1

Luyện tập tả người (quan sát

và lựa chọn chi tiết)

Trang 29

Số tiết thực hiện

15 Luyện tập tả người (tả hoạt

17 Ôn tập về viết đơn VB hành chính 1

Trả bài văn tả người Miêu tả 1

Trả bài văn tả người Miêu tả 1

22 Ôn tập về văn kể chuyện Kể chuyện 1

Kể chuyện (kiểm tra viết) Kể chuyện 1

Trang 30

Số tiết thực hiện

25 Tả đồ vật (kiểm tra viết) Miêu tả 1

Tập viết đoạn đối thoại VB nhật dụng 1

26 Tập viết đoạn đối thoại VB nhật dụng 1

Trả bài văn tả đồ vật Miêu tả 1

Tả cây cối (kiểm tra viết) Miêu tả 1

29 Tậpviết đoạn đối thoại VB nhật dụng 1

Trả bài văn tả cây cối Miêu tả 1

Tả con vật (kiểm tra viết) Miêu tả 1

Tả cảnh (kiểm tra viết) Miêu tả 1

Tả người (kiểm tra viết) Miêu tả 1

Trả bài văn tả người Miêu tả 1

Nội dung chương trình dạy học TLV được triển khai thực hiện trong31/35 tuần lễ của năm học (trừ 4 tuần dành cho ôn tập giữa và cuối học kì I,II)

Trang 31

Ở lớp 5, HS được luyện tập tạo lập các tiểu loại của VB miêu tả đó là:a1 Tả cảnh

Từ tuần 1 đến tuần 11, HS được học kiểu bài tả cảnh Số tiết dành chokiểu bài này là 19 tiết, chiếm tỉ lệ xấp xỉ 30,64% so với tổng số tiết TLV

Trong đó, có một tiết các em được học hình thành kiến thức Cấu tạo của bài

văn tả cảnh, còn lại là 9 tiết luyện tập, 2 tiết ôn tập, 3 tiết làm bài kiểm tra viết

và 3 tiết trả bài

a2 Tả người

Học sinh học kiểu bài tả người từ tuần 12 đến tuần 21 Nội dung dạyhọc về kiểu bài này chiếm tỉ lệ 16 tiết/ 62 tiết TLV  25,80% Trong đó, có

một tiết các em được cung cấp kiến thức mới Cấu tạo của bài văn tả người,

còn lại là 7 tiết luyện tập, 1 tiết ôn tập, 3 tiết làm bài kiểm tra viết và 3 tiết trả

Trang 32

a4 Ôn tập về tả cây cối

Học sinh ôn tập nội dung dạy học này bắt đầu từ tuần 27 Số tiết dànhcho việc ôn tập lại kiến thức thức về miêu tả cây cối là 3 tiết, chiếm tỉ lệ xấp

xỉ 4,84% so với tổng số tiết TLV

a5 Ôn tập về tả con vật

Trong tuần 30 và 32, học sinh được ôn tập về tả con vật Nội dung ôntập kiểu bài này chiếm tỉ lệ 3 tiết/ 62 tiết TLV  4,84% Trong đó có 1 tiết ôntập, 1 tiết kiểm tra viết và 1 tiết trả bài

Nội dung dạy học về làm đơn chiếm tỉ lệ 3 tiết/ 62 tiết  4,84% Trong

đó có 2 tiết luyện tập làm đơn và 1 tiết ôn tập về viết đơn

b2 Làm biên bản

Nội dung dạy học về làm biên bản chiếm tỉ lệ 3 tiết/ 62 tiết  4,84%.Trong đó, học sinh được học 2 tiết về làm biên bản cuộc họp và 1 tiết về làmbiên bản một vụ việc

b3 Lập chương trình hoạt động

Nội dung dạy học về lập chương trình hoạt động chiếm tỉ lệ 3 tiết/ 62

Trang 33

c1 Làm báo cáo thống kê

Nội dung dạy học về làm báo cáo thống kê chiếm tỉ lệ 2 tiết/ 62 tiết TLVkhoảng 3,23%

c2 Luyện tập thuyết trình tranh luận

Học sinh học nội dung này với thời lượng 2 tiết, chiếm 3,23% tổng sốtiết TLV

c3 Tập viết đoạn đối thoại

Nội dung dạy học về tập viết đoạn đối thoại chiếm tỉ lệ 3 tiết/ 62 tiếtTLV  4,84%

1.2.2 Thống kê phân loại bài tập Tập làm văn liên quan đến việc bồi dưỡng học sinh lớp 5 năng lực tạo lập lời nói mạch lạc

Chúng tôi đã khảo sát và thống kê được 85 bài tập TLV trong SGK TV5giúp bồi dưỡng cho HS năng lực tạo lập lời nói mạch lạc Qua những bài tậpnày, giúp học sinh có hiểu biết về các loại văn bản cần tạo lập, từ đó bồidưỡng cho học sinh năng lực tạo lập văn bản Những bài tập đó được phânchia thành những loại sau:

1.2.2.1 Loại bài tập trang bị cho học sinh hiểu biết về loại văn bản cần lập

Đây là dạng bài tập mà học sinh đọc văn bản, tìm hiểu văn bản để cóhiểu biết về từng loại văn bản cần tạo lập Loại bài tập này chiếm tỉ lệ

11/85 bài tập  12,94%

1.2.2.2 Loại bài tập bồi dưỡng cho học sinh năng lực tạo lập văn bản

Ngày đăng: 07/09/2019, 14:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, (2003), Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạn văn, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạnvăn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
2. Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết, (2012), Phương pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy họcTiếng Việt nhìn từ Tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2012
3. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga, (2008), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việtở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2008
4. Hoàng Phê (Chủ biên), (1999), Từ điển Tiếng Việt, NXB GD 5. Sách giáo khoa Ngữ văn 10, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: NXB GD5. Sách giáo khoa Ngữ văn 10
Năm: 1999
7. Trần Thanh Thủy (Chủ biên) - Nguyễn Công Khanh - Nguyễn Văn Minh – Nguyễn Mạnh Hưởng – Bùi Xuân Anh – Lưu Thị Thu Hà, Dạy học tích hợp, phát triển năng lực học sinh, quyển 2, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tíchhợp, phát triển năng lực học sinh, quyển 2
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
8. Nguyễn Trí, (1993), Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1993
9. Nguyễn Trí, (2002), Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
10. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), 1996, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữhọc
Nhà XB: NXB GD
6. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), (2003), Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w