LỜI CAM ĐOANĐề tài “ Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu” được chúng tôi nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phá
Trang 1LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học
ThS GVC Phan Thị Thạch
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự quantâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo đặc biệt là ThS GVC Phan ThịThạch Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô, người
đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm khóaluận
Qua đây chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường ĐHSP HàNội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa GDTH đã tạo điều kiện giúp đỡ đểkhóa luận của chúng tôi được hoàn thành
Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn hạnchế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Phùng Thị Nguyệt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “ Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thông qua
tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu” được chúng tôi nghiên cứu và
hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu cóliên quan của các tác giả khác, cộng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn,ThS GVC Phan Thị Thạch và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân
Chúng tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứmột công trình nghiên cứu nào
Sinh viên thực hiện
Phùng Thị Nguyệt
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC 8
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 8
THÔNG QUA TÍCH HỢP DẠY HỌC NỘI DUNG LUYỆN TỪ VÀ CÂU 8
1.1.Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu 8
1.1.1.Khái quát về năng lực 8
1.1.1.1 Năng lực là gì? 8
1.1.1.2 Thế nào là năng lực hành động? 9
1.1.1.3 Năng lực cốt lõi của HS tiểu học ở thế kỉ XXI 10
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 13
1.1.2.1 Ngữ pháp là gì? 13
1.1.2.2 Từ loại tiếng Việt 13
1.1.2.3 Câu trong tiếng Việt 17
Trang 61.1.3 Cơ sở tâm lí học 21
1.1.3.1 Năng lực tư duy của HSTH 21
1.1.3.2 Tình cảm, cảm xúc của HSTH 23
1.1.4 Cơ sở giáo dục học 23
1.1.4.1 Mục tiêu dạy học tiếng Việt ở TH 23
1.1.4.2 Phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung, dạy học ngữ pháp nói riêng ở tiểu học 24
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25
1.2.1.Bảng thống kê nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu trong SGK TV4 25
1.2.2 Nhận xét sơ bộ về nội dung chương trình dạy học Luyện từ và câu trong SGK TV4 28
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGỮ PHÁP 34
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA TÍCH HỢP NỘI DUNG 34
DẠY HỌC LUYỆN TỪ VÀ CÂU 34
2.1 Biện pháp bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh ớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu 34
2.1.1 Biện pháp bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho HS lớp 4 thông qua việc tích hợp nội dung dạy học về tiếng và từ trong phân môn Luyện từ và câu 34
2.1.2 Biện pháp bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thông qua việc tích hợp các nội dung dạy học về mở rộng vốn từ theo một chủ đề trong phân môn Luyện từ và câu 37
Trang 72.1.3 Biện pháp rèn luyện kĩ năng nhận diện và tạo lập câu thông qua việc
tích hợp nội dung dạy học về từ loại và câu 46
Tiểu kết chương 2 66
2.2 Giáo án thể nghiệm 53
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 81.Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục nước
ta cũng đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện Nếu như trước đây,giáo dục chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS nhằm giúp người họchình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì ngày nay, điều đó vẫn cònđúng, còn cần nhưng chưa đủ Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộcủa thông tin, truyền thông, giáo dục cần phải giúp người học hình thành một
hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới Hệ thống phẩmchất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh lý củangười học, phù hợp với đặc điểm môn học của từng cấp học, lớp học Theo
đó, sự phát triển phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng
sẽ là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người
Các năng lực hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân đóngmột vai trò quan trọng Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tựnhiên mà phần lớn hình thành và phát triển do giáo dục, rèn luyện Việc bồidưỡng năng lực cốt lõi cho học sinh là rất cần thiết, nó giúp học sinh rènluyện khả năng huy động tập hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thànhcông một loại công việc trong một bối cảnh nhất định Ở tiểu học việc bồidưỡng năng lực ngữ pháp cho HS cũng rất quan trọng
Theo tư tưởng của định hướng đổi mới: “Lấy quan điểm tích hợp làm
nguyên tắc chỉ đạo nội dung chương trình SGK và lựa chọn phương pháp giảng dạy”, việc lựa chọn phương pháp giảng dạy theo quan điểm tích hợp sẽ
tạo ra “sản phẩm con người” năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế chungcủa thế giới, với sự phát triển kiến thức của nhân loại Theo tư tưởng địnhhướng đổi mới đó, việc dạy học Tiếng Việt nói chung, dạy học phân môn
Trang 9Luyện từ và câu nói riêng theo hướng tích hợp là việc làm tất yếu Thực hiệntích hợp các nội dung dạy học Luyện từ và câu cho HS tiểu học, nếu làm tốt
sẽ góp phần đắc lực cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục theo tinh thầnđổi mới
Nhận thức rõ yêu cầu cấp thiết của việc chú trọng bồi dưỡng năng lực,phẩm chất cho HS ở thế kỉ XXI, thông qua việc tích hợp kiến thức tiếng Việt
ở tiểu học, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: Bồi dưỡng năng lực ngữ
pháp cho học sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu.
sự quan tâm nghiên cứu về động từ tiếng Việt ở những nội dung cơ bản sau:
- Địa vị của động từ trong hệ thống các loại từ tiếng Việt
- Cấu tạo của động từ tiếng Việt
- Hư từ của động từ tiếng Việt
- Phân loại động từ
- Cách biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp phụ theo động từ tiếng Việt
Trang 10Vẫn đi theo nghiên cứu từ loại của tiếng Việt, Đinh Văn Đức (1986) trong
cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại” lại tập trung vào các nội dung sau:
- Bản chất và đặc trưng các từ loại
- Các tiêu chuẩn phân định từ loại trong tiếng Việt
Ngoài các vấn đề chung, Đinh Văn Đức kế thừa kết quả của các nhà Ngữpháp học để tìm hiểu về 6 từ loại Đó là: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, quan
hệ từ, tình thái từ Đinh Văn Đức đã làm sâu sắc hơn các nghiên cứu về danh
từ, động từ ở chỗ ông đã quan tâm đến chức năng của các từ loại đó trong câu
Trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt”, Diệp Quang Ban (1992) và Nguyễn
Hữu Quỳnh (2001) đã nghiên cứu đầy đủ hệ thống từ loại tiếng Việt với 9 từloại: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, phụ từ, quan hệ từ, thán từ, tìnhthái từ
Những công trình nghiên cứu về từ loại của một số nhà Ngữ pháp học kểtrên đã cung cấp cho người học tiếng Việt lí thuyết cơ bản về từng từ loại củatiếng Việt
Ngoài những công trình nghiên cứu về từ loại, rất nhiều nhà khoa học đãdành sự quan tâm tìm hiểu về câu trong tiếng Việt Trong đó có các công trìnhnhư:
- Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban ( 1992, 1998, 2001, 2008)
- Ngữ pháp tiếng Việt của Hoàng Thung – Lê A (1984)
- Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Hữu Quỳnh (2001), vv…
Trong những giáo trình trên, các tác giả đã chuẩn bị cho người học những
lí thuyết cơ bản về câu trong tiếng Việt như: Khái niệm, đặc điểm cấu tạo ngữpháp của câu nói chung, của từng kiểu câu nói riêng, vv…
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiêp trong cuốn: “Thành phần câu
tiếng Việt” lại xuất phát từ “ Lí thuyết thành phần câu và nhưng vấn đề tồn tại
Trang 11của nó” để tìm hiểu về các thành phần chính và thành phần phụ của câu tiếng
2 quan tâm tìm hiểu như:
- Trần Thị Hồng Yến (2007), Cấu tạo ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ láy
tiếng Việt (khảo sát trên các bài đọc của sách Tiếng Việt lớp 4 và lớp 5).
- Phạm Vũ Sơn (2008), Lỗi ngữ pháp của học sinh tiểu học và biện pháp
khắc phục.
- Nguyễn Thị Phượng (2013), Danh từ trong tiếng Việt và việc bồi dưỡng
vốn hiểu biết danh từ cho học sinh tiểu học.
- Phạm Hoàng Phương Thảo (2013), Động từ trong tiếng Việt và việc bồi
dưỡng vốn hiểu biết động từ cho học sinh tiểu học.
- Phạm Thị Hằng ( 2017), Bồi dương năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp
3 thông qua hệ thống bài tập trong SGK Tiếng Việt.
Từ những khóa luận trên có thể thấy đối tượng và mục đích nghiên cứuđược phản ánh rõ trong tên đề tài mà các sinh viên đã lựa chọn
Việc tổng thuật nội dung nghiên cứu trong các tài liệu từ nguồn đã kể trêncho thấy việc nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề ngữ pháp không phải là vấn
đề mới Tuy nhiên, đề tài khóa luận Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học
sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu mà chúng
tôi lựa chọn không trùng lặp với bất kì đề tài nghiên cứu nào
3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Những biện pháp bồi dưỡng năng
lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện
từ và câu.
4 Mục đích nghiên cứu
4.1.Việc nghiên cứu khóa luận trước hết giúp tác giả khóa luận nắm chắc được lí luận của các phương pháp phát triển năng lực ngữ pháp cho HS, đồng thời xác định được nội dung, biện pháp bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho HS lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu.
4.2.Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn giúp cho bản thân và các bạn sinh viên khoa GDTH có được một tài liệu tham khảo về vấn đề bồi dưỡng năng lục ngữ pháp cho học sinh.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định trong khóa luận mình phải thực hiện những nhiệm vụsau:
5.1 Lựa chọn, sử dụng lý thyết cơ bản để xây dựng cơ sở lí luận cho khóa luận
5.2 Thống kê, phân loại các bài tập liên quan đến việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4
5.3 Sử dụng biện pháp dạy học tích cực để bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thông qua việc tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt
5.4 Thiết kế một số giáo án thể nghiệm kết quả nghiên cứu của khóa luận
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu những biện pháp bồi dưỡng nănglực ngữ pháp cho HS lớp 4 thông qua tích hợp các nội dung dạy học về Luyện
từ và câu
Trang 136.2 Giới hạn phạm vi thống kê ngữ liệu
Ngữ liệu mà chúng tôi tập trung khảo sát, thống kê, phân loại là các bàitập Luyện từ và câu trong SGK TV4 , tập 1, Nxb GD năm 2016 và SGK TV4 ,tập 2, Nxb GD năm 2015
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu Bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học
sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu, chúng tôi
sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi dùng phương pháp này để thống kê, phân loại các bài tập Luyện
từ và câu có liên quan đến việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho HS lớp 4
8 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của khóa luận gồm cácchương sau:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực ngữpháp cho học sinh lớp 4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câuChương 2: Biện pháp bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp 4 thôngqua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGỮ PHÁP CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA TÍCH HỢP DẠY HỌC NỘI DUNG LUYỆN TỪ VÀ CÂU 1.1 Cơ sở lí luận của việc bồi dưỡng năng lực ngữ pháp cho học sinh lớp
4 thông qua tích hợp nội dung dạy học Luyện từ và câu
1.1.1.Khái quát về năng lực
1.1.1.1 Năng lực là gì?
a Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực có hai nghĩa sau:
- Năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thựchiện một hoạt động nào đó”
- Năng lực có ý nghĩa chỉ “phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngườikhả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
b Với cách tiếp cận tích hợp các nội dung dạy học, Trần Trọng Thủy và
Nguyễn Công Hoan lại cho rằng: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc
đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”.
c Đặng Thành Hưng quan niệm: “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho
phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.
d Theo tác giả cuốn Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh –Quyển 2, phạm trù năng lực được hiểu theo hiều cách khác nhau và mỗi cáchhiểu có những thuật ngữ tương ứng:
Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi
tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định.
Trang 16Năng lực còn được hiểu là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một
hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động.
[Dẫn theo Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), Dạy học tích hợp phát triển nănglực học sinh, Quyển 2, Nxb ĐHSP Hà Nội 2, tr.7]
- Hành động có hiệu quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điềukiện mới, không quen thuộc
Từ đó có thể đưa ra định nghĩa một định nghĩa về năng lực hành động đó
là: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các
thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…để thực hiện thành công một loai công việc trong một bối cảnh nhất định.
[Dẫn theo Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), Dạy học tích hợp phát triển nănglực học sinh, Quyển 2, Nxb ĐHSP Hà Nội 2, tr.7]
b Năng lực ngữ pháp của học sinh lớp 4 là một loại năng lực hành động
Từ những quan niệm của các nhà khoa học về năng lực và năng lực hànhđộng, theo chúng tôi năng lực ngữ pháp của HS lớp 4 là hoạt động học sinhvận dụng những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có, kết hợp với sự hướng dẫn của
Trang 17GV để có những hiểu biết về ngữ pháp (về quy tắc cấu tạo từ, từ loại, các loạicâu, thành phần ,nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng tronggiao tiếp) Từ những hiểu biết về ngữ pháp, HS vận dụng để làm các bài tậpliên quan Trên cơ sở đó, học sinh nắm được các quy tắc chính tả, dấu câu,nắm chuẩn văn hóa lời nói và vận dụng thành thạo những kiến thức đó tronghọc tập, trong giao tiếp xã hội.Với nhận thức như vậy, chúng tôi xác địnhnăng lực ngữ pháp là một loại năng lực hành động.
1.1.1.3 Năng lực cốt lõi của học sinh tiểu học ở thế kỉ XXI
a Định nghĩa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực cốt lõi:
- Theo các nước có nền kinh tế phát triển (OECD), năng lực cốt lõi bao
gồm: những năng lực nền tảng như năng lực đọc hiểu, năng lực tính toán,
năng lực giải quyết vấn ñề, năng lực giao tiếp…
- Theo tác giả cuốn Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh – Quyển
2 cho rằng: Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Có nhiều hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong các hệ thốngnày thường gồm có:
- Năng lực sống và năng lực nghề nghiệp
- Năng lực học tập và năng lực đổi mới
- Năng lực sử dụng các phương tiện thông tin
b Năng lực cốt lõi của học sinh tiểu học ở thế kỉ XXI
Hệ thống các năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI gồm có:
- Năng lực làm chủ kiến thức các môn học cơ bản ở bậc học phổ thông
- Năng lực tư duy
- Năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp
- Năng lực thẩm mĩ
Trang 18- Năng lực về công nghệ thông tin và truyền thông
Những năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI cần được nhận diện như
là chuẩn đầu ra của quá trình dạy và học Vì thế, ngành GD & ĐT phải pháttriển được các chương trình giáo dục và vận dụng các chiến lược dạy học, cáckiểu tổ chức dạy học phù hợp để nuôi dưỡng, hình thành các năng lực này.Chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp HS hình thành những cơ sởban đầu cho sự hình thành và phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩmchất và năng lực được nêu trong mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông;định hướng vào giá trị gia đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cầnthiết trong học tập và sinh hoạt; có được những kiến thức và kĩ cơ bản nhất đểtiếp tục học trung học cơ sở
Dựa trên mục tiêu GD & ĐT ở tiểu học theo tinh thần đổi mới, chúng tôicho răng năng lực cốt lõi của HS tiểu học bao gồm:
- Năng lực tự học
Đó là năng lực biểu hiện thông qua việc HS xác định đúng đắn mục tiêuhọc tập, biết lập kế hoạch và lựa chọn cách học; biết đánh giá và điều chỉnhcách học, tự giác học tập, rèn luyện để việc học có chất lượng và hiệu quả
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Đó là năng lực được biểu hiện thông qua việc HS làm rõ vấn đề; biết đềxuất, lựa chọn, thực hiện và đánh giá các giải pháp giải quyết vấn đề; biếthình thành và triển khai được các ý tưởng mới; có tư duy độc lập
- Năng lực thẩm mĩ
Đó là năng lực biểu hiện thông qua các hành vi của cá nhân trong việcnhận ra cái đẹp, biết rung cảm trước cái đẹp và có khả năng tạo ra cái đẹp, giữgìn bảo vệ cái đẹp
- Năng lực ngôn ngữ
Trang 19Theo Nguyễn Văn Khang trong Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Khoa học xãhội thì năng lực ngôn ngữ của mỗi cá nhân phản ánh mức độ hiểu biết củamỗi người về tiếng mẹ đẻ Mức độ hiểu biết đó của mỗi người có sự khácnhau do đặc điểm lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh sống, cá tính và khả năngnhận thức của cá nhân.
[Dẫn theo Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Khoa học
và xã hội, tr.180]
- Năng lực giao tiếp
Đó là năng lực biểu hiện thông qua việc cá nhân biết đặt ra mục đích giaotiếp và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp;nhận ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối tượng tham dự giaotiếp từ đó lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ tạo lời nhằm diễn đạt ý tưởng một cáchmạch lạc, chặt chẽ và thuyết phục
- Năng lực hợp tác
Đó là năng lực biểu hiện thông qua việc cá nhân xác định trách nhiệm, vaitrò của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể; nhận biết được đặc điểm,khả năng của từng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm; hoàn thànhphần việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia sẻ,khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm
- Năng lực tính toán
Đó là năng lực biểu hiện thông qua khả năng sử dụng các phép tính và đolường cơ bản; sử dụng ngôn ngữ toán và sử dụng các công cụ tính toán ở bậc tiểu học
Các năng lực cốt lõi này không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức, kĩ năng
cơ bản mà còn biết vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết cáctình huống trong học tập và cuộc sống
Trang 20- Cơ cấu một từ, cụm từ và câu vốn có đối với một ngôn ngữ
- Ngữ pháp học (viết tắt) là ngữ pháp được thể hiện trong hai bình diện, đó
là từ loại tiếng Việt và câu trong tiếng Việt
b Hai bình diện của ngữ pháp học
Khi tìm hiểu về ngữ pháp tiếng Việt, các nhà khoa học tập trung vào haibình diện chính:
- Tìm hiểu về từ loại tiếng Việt
Đó là bình diện tìm hiểu từ, dựa vào phạm trù, ý nghĩa ngữ pháp, khả năngkết hợp và chức năng ngữ pháp của từ trong cụm từ và câu
- Tìm hiểu về câu trong tiếng Việt
Ở bình diện này, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu về các kiểu câuđược phân loại theo đặc điểm cấu tạo ngữ pháp và theo mục đích nói
1.1.2.2 Từ loại tiếng Việt
a Định nghĩa “từ loại”
Theo tác giả Đinh Văn Đức, Từ loại - đó là những lớp từ của một ngôn
ngữ nhất định, được phân chia theo các ý nghĩa, theo các hình thức ngữ pháp (hình thái hoặc cú pháp) và thực hiện các chức năng cú pháp nhất định Như vậy từ loại là những lớp từ được hình thành không phải theo một tiêu chuẩn
mà là một tập hợp tiêu chuẩn, và do đó, mỗi lớp có một đặc trưng có tính chất tổng hợp.
Trang 21[Dẫn theo Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, tr.16]
b Các từ loại của tiếng Việt
b 1 Danh từ
- Danh từ là những thực từ chỉ sự vật (bao gồm cá thực thể như người,động vật đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội và cáckhái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần)
- Phân loại
Danh từ riêng là những từ gọi tên riêng một người, một vùng đất, mộtđơn vị hành chính hoặc một sự kiện VD: Nguyễn Ái Quốc, Tam Đảo,Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2, sông Hồng, chiến thắng Điện BiênPhủ
Danh từ chung là những từ có ý nghĩa biểu thị tên của một loại sự vật.Danh từ chung bao gồm:
+ Danh từ chỉ thể loại VD: cái, con, chiếc, bức, tấm, đứa, thằng,…+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường VD: tấn, cân, tạ, lít, đoạn,…
+ Danh từ chỉ chất iệu VD: sắt, than, vàng, bạc,đất, nước,thủy tinh,…+ Danh từ chỉ thời gian VD: ngày, tuần, tháng, mùa, sáng, trưa, giờ,…+ Danh từ chỉ phương hướng, vị trí VD: trên, dưới, trong, ngoài, đông, tây, nam,
+ Danh từ chỉ người VD: cha, mẹ, anh, chị, công nhân, bộ đội,…
+ Danh từ chỉ vật VD: bàn, ghế, sách, vở, cam, quýt,…
+ Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: thiên nhiên, xã hội, tinh thần,…
b 2 Động từ
- Động từ là những thực từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động hay trạngthái của sự vật
- Phân loại
Trang 22 Nhóm động từ ngoại hướng VD: ươm, trồng, cày, mua, bán, ăn,
Nhóm động từ nội hướng VD: ngủ, ngồi, nằm bò, nói, cười,
Động từ chỉ sự xuất hiện, tồn tại, tiêu biến VD: có, còn, mất, mọc, xuấthiện,…
Động từ gây khiến VD: khiến, bắt, cản trở, cho phép,…
Nhóm động từ cảm nghĩ, nói năng VD: biết, cảm thấy, hiểu, khen,…
Nhóm động từ tình thái VD: muốn, toan, định, có thể, nên,…
Tính từ chỉ đặc tính bên trong của sự vật VD: tốt, xấu, bền, dữ, hiền,…
Tính từ miêu tả VD: đầy, vơi, dày, trắng phau, thơm phức,…
Tính từ chỉ màu sắc của sự vật VD: xanh, đỏ, tím, vàng,…
Đại từ nhân xưng VD: tôi, chúng tôi, mày, nó, hắn, họ,…
Đại từ chỉ định VD: này, nọ, kia, ấy, đó,…
Đại từ chỉ không gian (vị trí) thời gian VD: đây, đó, nay, bây giờ,…
Đại từ chỉ trạng thái VD: thế, vậy,…
Đại từ để hỏi VD: ai, gì, nào, đâu, bao giờ, sao, thế nào,…
b5 Số từ
Trang 23+ Phó từ chỉ sự so sánh, tiếp diễn VD: cũng, đều, vẫn, còn, lại, cứ,…+ Phó từ chỉ mức độ VD: rất, quá, lắm, khá, khí, hơi,…
+ Phó từ chỉ tần số VD: thường, hay, năng, thường xuyên, luôn, luônluôn…
b7 Quan hệ từ
- Quan hệ từ là những hư từ chỉ các quan hệ ngữ pháp dùng để nối các từ, các cụm từ, các thành phần câu, các vế câu hoặc các câu
- Phân loại
Quan hệ từ chính phụ VD: của, cho, bằng, do, vì, bởi, tại, để, mà,…
Quan hệ từ đẳng lập.VD: và, với, cùng, hay, hoặc, rồi, còn,
Trang 24b8 Thán từ
- Thán từ là những hư từ dùng để biểu hiện cảm xúc, biểu lộ trực tiếp thái
độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn
- Phân loại
Thán từ dùng để hô gọi: hỡi, ơi,
Thán từ bộc lộ cảm xúc: ồ, ôi, chao ôi, ủa, chà, ơ hay, ô kìa, ơ này, trời
ơi, trời đất ơi, ái chà, eo ôi…
b9 Tình thái từ (trợ từ)
- Tình thái từ là những hư từ chỉ thái độ, tình cảm của người nói đối vớinội dung của câu nói hoặc đối với người cùng tham gia hoạt động giao tiếp
- Phân loại
Tình thái từ nghi vấn VD: à, ư, chứ, chăng, hử, hả, không, phỏng…
Tình thái từ cầu khiến VD: đi, thôi, nào, với,…
Tình thái từ cảm thán VD: thay, sao…
Tình thái từ biểu hiện cảm xúc VD: a, á, ạ, cơ, hử, nhé, đấy…
1.1.2.3 Câu trong tiếng Việt
a Định nghĩa
Theo Nguyễn Hiến Lê “Câu là phạm trù cơ bản của cú pháp Nó là đơn vị
độc lập nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp được cấu tạo từ
từ và ngữ theo quy luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ, là phương tiện cơ bản để hình thành, thể hiện và thông báo ý nghĩ, cảm xúc về thực tại
và mối quan hệ của chúng với người nói”.
[Dẫn theo Nguyễn Như Ý (chủ biên), (1996), Từ điển giải thích thuật ngữngôn ngữ học, Nxb GD, tr.32]
Định nghĩa về câu của Diệp Quang Ban rất cụ thể, ngắn gọn nhưng mang
tính khái quát cao: “Câu là đơn vị nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp
(bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương
Trang 25đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.”
[Dẫn theo Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp tiếng Việt tập 2, Nxb GD,tr.107]
b Một số kiểu câu được phân chia theo cấu tạo ngữ pháp
b1 Câu đơn
Câu đơn hai thành phần
Là câu trong thành phần của mình không có các mệnh đề phụ mà chỉ
Trang 26VD: - Trường bạn được nghỉ tết bao lâu?
- Hai tuần (Đây là câu rút gọn CN và VN)
Câu đơn đặc biệt
Theo chúng tôi, câu đơn đặc biệt có thể hiểu như sau:
Câu đơn đặc biệt là câu được cấu tạo bằng một từ hoặc một cụm từ, không phân định được đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ, nhưng vẫn chuyển tải một nội dung thông báo trọn vẹn.
VD: Mưa Gió Não nùng.
b2 Câu ghép
Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế của câu ghép thường có cấu tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác.
[Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2015), SGK TV5, tập 2, tr.8]Câu ghép có thể được phân loại thành:
Câu ghép đẳng lập
Đó là câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp khái quát giữa các vế câu
là quan hệ bình đẳng, không vế nào phụ thuộc vào vế nào
[Dẫn theo, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1992), Ngữ pháp tiếngViệt tập 2, Nxb GD, tr.62]
VD: Sau một lúc, gió dịu dần, mưa tạnh hẳn.
Trang 27Một số kiểu câu ghép thường gặp
+ Câu ghép nguyên nhân – hệ quả
VD: Vì trời mưa, nên tôi không đi học.
+ Câu ghép điều kiện (giả thiết) – kết quả
VD: Nếu tôi giao tiếp giỏi, thì tôi sẽ làm tốt công việc của mình.
+ Câu ghép nhượng bộ tăng tiến
VD: Mặc dù mẹ tôi đã khuyên Lan rất nhiều, nhưng nó vẫn không nghe.
+ Câu ghép mục đích sự kiện: đây là câu ghép mà vế phụ nêu mụcđích còn vế chính miêu tả sự thực có liên quan đến mục đích nêu ở
c Một số kiểu câu được phân chia theo mục đích nói
Câu trần thuật (câu kể, câu tường thuật, câu trình bày)
- Câu trần thuật là câu có chức năng diễn giải, diễn đạt niềm tin củangười nói, được dùng để kể, mô tả một vật, việc, hiện tượng, để xácđịnh, xác nhận, dùng trong quá trình suy nghĩ
[Dẫn theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1992), Ngữ pháp tiếngViệt tập 2, Nxb GD tr.112]
VD: Ngày mai, tôi đi học.
Câu nghi vấn
- Câu nghi vấn là câu có chức năng hỏi, tức là người nói muốn người nghe cung cấp cho mình điều mà mình chưa biết hoặc còn hoài nghi
Trang 28[Dẫn theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1992), Ngữ pháp tiếngViệt tập 2, Nxb GD, tr.113]
VD: Chị mua sách gì?
Câu cầu khiến
- Câu cầu khiến (còn gọi là câu mệnh lệnh) có chức năng điều khiển,tức là người nói muốn người nghe thực hiện việc được nêu lên trongcâu (nội dung lệnh) trong tương lai Phạm vi bao quát của sự điều khiểnkhá rộng, kể từ việc ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, cho đến khuyên dăn,khuyên nhủ, cho đến cầu xin, van nài vv…
[Dẫn theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1992), Ngữ pháp tiếngViệt tập 2, Nxb GD,tr.114]
VD: Em hát một bài đi!
Câu cảm thán
- Câu cảm thán là câu có chức năng diễn đạt một mức độ nhất định củacảm xúc, tâm trạng khác thường, thái độ, cách đánh giá của người nóiđối với vật, việc, hiện tượng được nêu ra trong câu với tư cách lànguyên nhân của sự cảm thán
[Dẫn theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1992), Ngữ pháp tiếngViệt tập 2, Nxb GD, tr.114]
VD: Ôi dào! Cậu quên nó đi!
1.1.3 Cơ sở tâm lí học
Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 – 11 tuổi Khi vào lớp 1, các em rất bỡngỡ với các hoạt động học tập vốn quy củ của nhà trường Nhưng tâm lí đó sẽdần được xóa bỏ qua các năm học từ lớp 2 đến lớp 5 Nhìn một cách tổng thể,chúng ta có thể chỉ ra những đặc điểm tâm lí của HS bậc học này ở cácphương diện:
1.1.3.1 Năng lực tư duy của học sinh tiểu học
Trang 29Tư duy được hiểu là hoạt động nhận thức và phản ánh nhận thức của conngười về hiện thực khách quan Qúa trình tư duy của con người trải qua haigiai đoạn là: tư duy cảm tính (tư duy bằng trực quan sinh động) và tư duy lýtính (tư duy trừu tượng bằng khái niệm, phán đoán, suy luận)
Tư duy của HSTH chuyển dần từ tư duy cảm tính sang tư duy lí tính.Trong quá trình học tập, tư duy của HS thay đổi rất nhiều Ở các lớp cuối bậctiểu học, khả năng phân tích và tổng hợp của các em dần dần được phát triển.Biểu tượng là hình thức tư duy cao hơn tri giác, đó là cách nhận thức tiếp cậnvới tư duy trừu tượng Việc tri giác của HSTH có đặc điểm riêng
a Khả năng tri giác của HSTH
Hoạt động tri giác của HSTH mang tính đại thể Khi tri giác các emthường thâu tóm đối tượng về cái toàn thể, trong đó các đặc điểm của sự vậtđược nhận thức từ hình thức bên ngoài Tình cảm, hứng thú của trẻ thườnggắn với nhận thức cảm tính của các em về đối tượng Quá trình tri giác nhưvậy chỉ dừng lại ở việc nhận biết chung chứ không đi sâu vào đối tượng
Ở các lớp đầu tiểu học (lớp 1, 2, 3), tri giác của các em thường gắn vớihành động, với hoạt động trực quan của trẻ Đối với các em, tri giác sự vật cónghĩa là phải trực tiếp nhìn, nghe, ngửi, sờ mó… sự vật đó và những gì phùhợp với nhu cầu, những gì tham gia trực tiếp vào cuộc sống và hoạt động củatrẻ và những gì giáo viên chỉ dẫn cụ thể thì mới được các em tri giác
Ở các lớp cuối tiểu học (lớp 4, 5), HS đã biết tìm ra những đặc điểm thuộchình thức bên ngoài của sự vật và mối liên hệ giữa chúng Kết quả tri giác củacác em là cơ sở để các em nhận thức hiện thực khách quan bằng biểu tượng,khái niệm,…
b Khả năng liên tưởng, tưởng tượng của học sinh tiểu học
Liên tưởng và tưởng tượng là hoạt động có mối quan hệ mật thiết, trong
đó, liên tưởng đóng vai trò là hạt nhân
Trang 30Để tri giác nhằm nhận thức một số đặc điểm thuộc hình thức bên ngoài cảmột sự vật, để phân biệt sự vật này với sự vật khác trong hiện thực kháchquan, HSTH buộc phải liên tưởng.
Liên tưởng là một hoạt động trong đó trẻ từ đối tượng này nghĩ đến mộtđối tượng khác dựa vào sự tương đồng hoặc tương phản của đối tượng
Tưởng tượng là một hoạt động trong đó con người dựa vào liên tưởng để
có biểu tượng và từ biểu tượng đã có nghĩ ra một biểu tượng mới
Nghiên cứu khả năng tưởng tượng của HSTH, các nhà tâm lý chia tưởngtượng thành hai loại: tượng tượng sáng tạo và tưởng tượng tái tạo
HS các lớp 1, 2, 3 thường tưởng tượng tái tạo trong khi các HS lớp 4, 5 đãthực hiện tưởng tượng sáng tạo
1.1.3.2 Tình cảm, cảm xúc của học sinh tiểu học
Theo tâm lý học, mỗi biểu hiện của tình cảm đều gắn với động cơ hoạtđộng của con người Tình cảm không tự nhiên có, mà nó thường bộc lộ trongmột điều kiện cụ thể, có tính xác định Từ những hoàn cảnh “có vấn đề”, cảmxúc của HS được hình thành
Đối với HSTH, tình cảm và cảm xúc được hình thành từ những cái gầngũi, thân thuộc với các em Một đặc điểm nổi bật trong đời sống tình cảm cuảHSTH đó là sự yêu thích cái mới, cái ngộ nghĩnh, rung động trước cái đẹp.Chính tình cảm, cảm xúc dã góp phần không nhỏ vào việc giúp HSTH liêntưởng, tưởng tượng sáng tạo để có những biểu tượng mới đẹp hơn, khái quát hơn những biểu tượng đã có
1.1.4 Cơ sở giáo dục học
1.1.4.1 Mục tiêu dạy học tiếng Việt ở tiêu học
Mỗi việc cụ thể cần đặt ra mục tiêu và con đường để đi đến mục tiêu MônTiếng Việt không nằm ngoài quỹ đạo đó Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểuhọc là:
Trang 31- Hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứatuổi Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho HS các thaotác tư duy.
- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xãhội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa cho HS
1.1.4.2 Phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung, dạy học ngữ pháp nói riêng ở tiểu học
Để giúp HSTH bồi dưỡng những năng lực cơ bản theo tinh thần đổi mớigiáo dục, người GV cần phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau.Trong số các phương pháp dạy học tiếng Việt, các nhà khoa học thường chútrọng vào ba phương pháp sau: luyện theo mẫu, phân tích ngôn ngữ gắn vớihoàn cảnh sử dụng và dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
a, Luyện theo mẫu
Để hình thành và phát triển cho HSTH, GV có thể sử dụng phương phápcho HS luyện theo mẫu Các đơn vị ngữ pháp được dùng làm mẫu là nhữngđơn vị đạt chuẩn mực (về từ loại, về câu) Khi tiếp cận với các mẫu như vậy,các em nhận thức được đó là những đơn vị được chấp nhận là đúng Và các
em học theo những cái đúng đó và sử dụng chúng trong những hoàn cảnhtương tự
b, Phân tích ngôn ngữ gắn với hoàn cảnh sử dụng
Vì tiếng Việt thuộc ngôn ngữ không biến đổi hình thái trong hoạt động sửdụng, cho nên việc xác định vai trò, chức năng và ý nghĩa ngữ pháp của cácphương tiện ngôn ngữ phải gắn với hoàn cảnh sử dụng cụ thể
Trang 32VD 1 : Việt Nam quê hương tôi rất đẹp.
VD 2 : Những chiếc nón lá rất Việt Nam được các bạn Tây yêu thích.
Xuất hiện trong hai hoàn cảnh sử dụng khác nhau, từ “Việt Nam” trong hai
VD trên mang ý nghĩa ngữ pháp và chức năng ngữ pháp khác nhau Ở VD1,Việt Nam là một danh từ riêng, nó đóng vai trò là CN trong câu Ở VD2, ViệtNam là một tính từ, làm VN trong cụm C – V có chức năng làm CN nòng cốtcủa câu
Do đặc thù của tiếng Việt như vậy, cho nên việc vận dụng phân tích ngônngữ trong hoàn cảnh sử dụng là phương pháp không thể thiếu trong dạy họcLuyện từ và câu
c, Dạy tiếng Việt nói chung, dạy học ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm giaotiếp
Đây là một phương pháp dạy học tiếng Việt theo tinh thần đổi mới nhằmgiúp HS bồi dưỡng năng lực ngữ pháp, năng lực tư duy và năng lực giao tiếp
Để đạt được mục đích dạy học đã đặt ra, các giờ Luyện từ và câu rất chú trọngtính chất thực hành giao tiếp HS được làm quen với các ngữ liệu gắn vớinhững tình huống nói năng tiêu biểu, từ đó có khả năng tạo lập lời nói chuẩncũng như có khả năng lĩnh hội lời nói đúng, lời nói hay
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Ở đây, trước hết chúng tôi khảo sát nội dung dạy học phân môn Luyện từ
và câu trong SGK TV4, tập 1, Nxb GD (2016) và SGK TV4, tập 2, Nxb GD(2015)
1.2.1.Bảng thống kê nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu trong
Trang 33CHỦ ĐIỂM TUẦN TÊN BÀI
1 Thương người như
thể thương thân
1 Cấu tạo của tiếng
Luyện tập về cấu tạo của tiếng
2 Mở rộng vốn từ: Nhân hậu – Đoàn kết
7 Cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam
Luyện tập viết tên người, tên địa lí ViệtNam
8 Cách viết tên người, tên địa lí nước
ngoàiDấu ngoặc kép
Trang 34Câu hỏi và dấu chấm hỏi
5 Tiếng sáo diều
14 Luyện tập về câu hỏi
Dùng câu hỏi vào mục đích khác
Trang 3531 Thêm trạng ngữ cho câu.
Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu
10.Tình yêu cuộc
sống
32 Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu
Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân chocâu
33 Mở rộng vốn từ: Lạc quan – Yêu đời
Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu
34 Mở rộng vốn từ: Lạc quan – Yêu đời
Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu
1.2.2 Nhận xét sơ bộ về nội dung chương trình dạy học Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4
a, Phân môn Luyện từ và câu là một trong năm phân môn Tiếng Việt dànhcho HS lớp 4 Phân môn này được thực hiện trong 31 tuần (trừ tuần 10 – ôntập giữa học kì I, tuần 18 – ôn tập cuối học kì I, tuần 28 – ôn tập giữa học kì
II, tuần 35 – ôn tập cuối học kì II) Nội dung dạy học Luyện từ và câu đượcthực hiện 2 tiết/ tuần, chiếm tỉ lệ 62 tiết/ 248 tiết tương đương với 25%
b, Việc dạy học Luyện từ và câu cho HS lớp 4 tập trung vào những nộidung chính sau đây:
- Đặc điểm cấu tạo của tiếng (2 tiết/ 62 tiết tương đương với 3,2%)
Trang 36- Các kiểu từ được phân chia theo đặc điểm cấu tạo (từ đơn/ từ phức, từláy/ từ ghép) (3 tiết/ 62 tiết tương đương với 4,8 %)
- Mở rộng vốn từ theo 10 chủ đề ( 19 tiết/ 62 tiết tương đương với 30,7%)
- Từ loại: danh từ, tính từ, động từ (9 tiết/ 62 tiết tương đương với 14,5%)
- Ngữ pháp câu chiếm tỉ lệ 29 tiết/ 62 tiết, tương đương với 46,8%) Việc dạy học về ngữ pháp cho HS lớp 4 được triển khai ở các nội dung sau:
+ Các kiểu câu kể, hai thành phần chính (CN, VN) của các câu kể: Ai làmgì? Ai thế nào? Ai là gì? (12 tiết/ 62 tiết tương đương với 19,4%)
+ Câu hỏi, dùng câu hỏi với mục đích khác, giữ phép lịch sự khi dùng câuhỏi (4 tiết/ 62 tiết tương đương với 6,4%)
+ Câu khiến, cách đặt câu khiến (3 tiết/ 62 tiết tương đương với 4,8%)
+ Câu cảm (1 tiết/ 62 tiết tương đương với 1,6%)
+ Thêm trạng ngữ cho câu (6 tiết/ 62 tiết tương đương với 9,8%)
+ Dấu câu (dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu chấm hỏi (được học trongbài Câu hỏi và dấu chấm hỏi), dấu gạch ngang) (3 tiết/ 62 tiết tương đươngvới 4,8%)
c, Việc dạy học các nội dung của phân môn Luyện từ và câu chủ yếu theohướng thực hành thông qua hệ thống bài tập Các bài tập của phân môn này
có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Chẳng hạn: các tiết dạy học về tiếnggiúp cho HS nhận thức đó là đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt Đơn vị này là
cơ sở để HS phân biệt từ đơn với từ phức, từ láy với từ từ ghép,…Các tiết dạyhọc về từ (các kiểu từ theo đặc điểm cấu tạo, mở rộng từ theo chủ đề) khôngnhững trang bị cho HS hiểu biết về từ, để làm giàu vốn từ cho HS mà cònhướng đến việc củng cố hiểu biết cho học sinh về từ loại, về câu, giúp các embiết chọn từ thích hợp để tạo câu đúng
VD 1: Trong giờ Luyện từ và câu tuần 2, SGK triển khai nội dung chính củabài “Mở rộng vốn từ: Nhân hậu – Đoàn kết” bằng 4 bài tập sau:
Trang 37a, Trong những từ nào, tiếng nhân có nghĩa là “người”?
b, Trong những từ nào, tiếng nhân có nghĩa là “lòng thương người”?
3 Đặt câu với một từ ở bài tập 2.
4 Các tục ngữ dưới đây khuyên ta điều gì, chê điều gì?
a, Ở hiền gặp lành
b, Trâu buộc ghét trâu ăn
c, Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
(SGK TV4, tập môt, tr.17)
Ở VD1, các bài tập trên có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu bài tập 1thực hiện chức năng giúp HS mở rộng vốn từ theo chủ đề, thì bài tập 2 lại cóchức năng giúp HS nhận thức muốn mở rộng vốn từ cũng như muốn sử dụng
từ đúng cần phải hiểu chính xác nghĩa của nó Bài tập 3 của VD1 yêu cầu HSvận dụng kết quả của bài tập 1, chọn từ thích hợp của bài tập 2 để tạo câuđúng về ngữ pháp, mạch lạc về nội dung thông báo Còn với bài tập 4, HS
Trang 381 Xếp các từ có tiếng chí sau đây vào hai nhóm trong bảng: chí phải, ý chí, chí lí, chí thân, chí khí, chí tình, chí hướng, chí công, quyết chí.
2 Dòng nào dưới đây ghi đúng nghĩa của từ nghị lực?