TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC====== PHẠM THỊ NHUNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC VẾ TRONG CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 KHÓA LUẬN TỐ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
PHẠM THỊ NHUNG
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC VẾ TRONG CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
T.S HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này với tình cảm chân thành, em xin trân trọngcảm ơn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tập thể giảng viên khoa Giáo dụcTiểu học đã tận tình giảng dạy, động viên khích lệ, giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập nghiên cứu
Đặc biệt, với tất cả tình cảm và tấm lòng của mình, em xin bày tỏ lòng
biết ơn chân thành và sâu sắc đến T.S Hoàng Thị Thanh Huyền – người đã
hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến BGH nhà trường cùng các thầy cô giáo
và các em học sinh lớp 5 trường Tiểu học Khai Quang đã tạo điều kiện giúp
đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Phạm Thị Nhung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập vànghiên cứu ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Tôi xin cam đoan kết quảnghiên cứu của đề tài “Biện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệgiữa các vế trong câu ghép cho học sinh lớp 5” không có sự trùng lặp với bất
kỳ một đề tài nào khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Xuân Hòa, ngày 2 tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Phạm Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Bố cục khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 7
1.1.2 Cơ sở tâm lí học 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Phân bố thời lượng dạy học câu ghép ở tiểu học 17
1.2.2 Quy trình dạy học câu ghép 17
1.2.3 Hình thức làm bài tập rèn luyện 18
1.2.4 Thực trạng của việc dạy học câu ghép ở trường tiểu học 19
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC VẾ TRONG CÂU GHÉP 21
2.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 21
2.1.1 Đảm bảo phù hợp với học sinh tiểu học 21
2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc trưng dạy học câu ghép ở trường tiểu học Error! Bookmark not defined. 2.1.3 Đảm bảo phù hợp với thực tiễn 22
2.1.4 Đảm bảo phù hợp với nguyên tắc thiết kế trò chơi 22
Trang 52.2 Mục đích của việc đề xuất các biện pháp 24
2.3 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 xác định mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép 24
2.3.1 Biện pháp giúp học sinh nắm vững lí thuyết 24
2.3.2 Biện pháp thực hành luyện tập 27
2.3.3 Biện pháp sử dụng trò chơi 35
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 42
3.1 Mục đích thực nghiệm 42
3.2 Địa điểm- thời gian thực nghiệm 42
3.3 Đối tượng thực nghiệm 43
3.4 Nội dung thực nghiệm 43
3.5 Giáo án thực nghiệm 43
3.6 Kết quả thực nghiệm 56
3.6.1 Kết quả học tập 56
3.6.2 Hứng thú học tập của học sinh trong tiết học và trong trò chơi 57
3.6.3 Mức độ chú ý của học sinh 58
3.6.4 Khả năng giải quyết nhiệm vụ học tập của học sinh 58
3.7 Kết luận chung về thực nghiệm 59
PHẦN KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 71 Lí do chọn đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong chương trình Tiếng Việt hiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ
pháp trước đây được tích hợp thành một phân môn có tên gọi là Luyện từ và
câu Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực
hiện chức năng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết
định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở tiểu học Việc dạy Luyện
từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh,
cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh
kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tìnhcảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh có khả năng hiểu các câu nói của
người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe,
nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em
Giao tiếp - hoạt động thường xuyên, cơ bản của con người được thựchiện qua ngôn ngữ cơ bản là câu Câu tiếng Việt là đơn vị cấu trúc lớn nhấttrong tổ chức ngữ pháp Câu là phương tiện giao tiếp quan trọng và hiệu quảnhất Mỗi câu đều có hai mặt hình thức và nội dung Muốn thực hiện tốt quátrình giao tiếp phải thực hiện tốt hai mặt này Một trong những cơ sở để tạocâu, sử dụng câu đúng nghĩa là phải hiểu rõ mối quan hệ ngữ nghĩa của câu.Không hiểu rõ logic ngữ nghĩa sẽ dẫn đến sử dụng câu sai nghĩa, làm mất đi
sự trong sáng của tiếng Việt Trong phạm vi nhỏ hơn là câu ghép, để sử dụngcâu đúng và hiệu quả phải biết được mối quan hệ ngữ nghĩa của câu, cụ thể làmối quan hệ giữa các vế trong câu ghép
Ở Tiểu học, câu ghép được đưa vào chương trình Tiếng Việt lớp 5 Họcsinh đã nắm được sơ lược khái niệm câu ghép, xác định được các vế trong câughép, nắm được các cách nối các vế câu ghép: nối bằng quan hệ từ và nối các
vế không dùng từ nối, nối bằng cặp từ hô ứng Song các em vẫn còn hay
Trang 8nhầm lẫn về mối quan hệ giữa các vế của câu ghép Điều này đã đặt ra yêucầu tìm các biện pháp giúp học sinh xác định mối quan hệ giữa các vế của câughép Từ đó, Học sinh sẽ tiếp nhận và sử dụng đúng, thành thạo câu ghéptrong việc biểu đạt tri thức, tư tưởng, tình cảm của mình bằng chữ viết cũngnhư bằng lời nói trong giao tiếp hàng ngày.
Xuất phát từ những lí do trên, đồng thời nhằm nâng cao hiểu biết củabản thân và giúp cho các thầy cô giáo tiểu học nắm được một số biện phápgiúp học sinh của mình xác định đúng mối quan hệ giữa các vế trong câughép, cũng như niềm say mê hứng thú với môn Tiếng Việt, chúng tôi lựa
chọn vấn đề Biện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệ giữa các vế
trong câu ghép cho học sinh lớp 5 làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về mặt lí luận, chúng tôi đã đi tìm hiểu một số công trình khoa học củacác tác giả nghiên cứu về câu ghép
Tác giả Nguyễn Đức Dân [8] đã đi sâu trình bày mối quan hệ giữa logic
và câu tiếng Việt cũng như hiện tượng câu tiếng Việt được khảo sát dưới góc
độ logic Theo ông, câu ghép là hình thức biểu hiện của phán đoán thức, đểhiểu logic ngữ nghĩa trong câu ghép phải hiểu được đặc trưng của phép suyluận ngôn ngữ
Nhóm tác giả trong Uỷ ban Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nêu một
cách khái quát nhất về đặc điểm ý nghĩa của câu ghép: “Có thể nhận thấy
rằng nòng cốt câu ghép cũng chứa đựng mối quan hệ có thuyết tính Đó chính
là mối quan hệ vế thứ nhất và vế thứ hai Thuyết tính trong câu ghép biểu thị một sự việc liên hệ với thực tế thông qua một suy lý, một quá trình tư duy và thông báo có tính phức hợp” [24]
Tác giả Hoàng Trọng Phiến quan điểm về câu ghép như sau: “Câu ghép
gồm các phần mà mỗi phần được xây dựng theo “công thức” câu đơn tức là
Trang 9có tính vị ngữ Các bộ phận này phải liên kết thành một thể thống nhất tương ứng theo mô hình cú pháp câu ghép…” “Về phương diện ngữ nghĩa, câu ghép biểu thị một nội dung thông báo phức tạp Giữa các bộ phận trong câu ghép có mối quan hệ chặt chẽ về ý nghĩa Ý nghĩa của câu ghép là tích chứ không phải là tổng ý nghĩa các bộ phận câu [18]
Trong công trình của mình, tác giả Đỗ Thị Kim Liên [16, 100] đã đề cậpđến các khái niệm về câu đơn, câu ghép, về việc phân loại câu ghép: câu ghép
có quan hệ từ liên kết, câu ghép không có quan hệ từ liên kết Tác giả NguyễnXuân Khoa [15, 79] đề cập về câu ghép có phần rộng hơn, ngoài định nghĩa
về câu ghép thì tác giả còn đi phân biệt câu đơn và câu ghép, tìm hiểu về câughép đẳng lập, câu ghép chính phụ, câu ghép nhiều tầng
Như vậy, nhìn chung các tác giả chỉ mới đề cập đến vấn đề lý thuyết vềcâu ghép như: khái niệm câu ghép, đặc điểm, các cách phân loại, quan hệ lậpluận giữa các vế trong câu ghép mà chưa nhắc đến việc dạy học câu ghép nhưthế nào?
Theo lịch trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung, câu ghép nóiriêng, vấn đề “mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép” càng được quan tâm
và nghiên cứu sâu rộng
Tác giả Hoàng Trọng Phiến [18, 210] chia câu ghép thành hai loại: câughép qua lại và câu ghép đẳng lập Mỗi loại câu ghép biểu thị những quan hệkhác nhau Câu ghép qua lại có các quan hệ: quan hệ thời gian, quan hệ nhânquả, quan hệ điều kiện, quan hệ nhượng bộ - tăng tiến, quan hệ mục đích,quan hệ so sánh Ở câu ghép đẳng lập, các loại quan hệ được tìm thấy: quan
hệ lựa chọn, quan hệ liên hợp, quan hệ tương phản
Tác giả Diệp Quang Ban [4, 205] thể hiện quan điểm về nội dung cácmối quan hệ giữa các vế câu ghép trong cách phân loại câu ghép Đó là cácloại:
Trang 10- Câu ghép có quan hệ liệt kê.
- Câu ghép có quan hệ nối tiếp
- Câu ghép có quan hệ lựa chọn
- Câu ghép có quan hệ đối chiếu
- Câu ghép có quan hệ nguyên nhân – kết quả
- Câu ghép có quan hệ điều kiện/giả thiết – hệ quả
- Câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến
- Câu ghép có quan hệ mục đích – sự kiện
Tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh [19, 238] cũng nêu các mối quan hệ cụ thểtrong từng loại câu ghép:
- Câu ghép liên hợp: quan hệ tiếp ý hoặc kể sự việc, quan hệ tương hợphoặc tương phản ý nghĩa, quan hệ bổ sung, giải thích, quan hệ loại trừ hay lựachọn
- Câu ghép phụ thuộc biểu thị một số quan hệ: quan hệ nguyên nhân –kết quả, quan hệ điều kiện – kết quả, quan hệ thuận - nghịch (nhượng bộ),quan hệ tương ứng về nghĩa, quan hệ mục đích và quan hệ so sánh
Nhìn lại, vấn đề nội dung mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép đã cómột lịch sử nghiên cứu đáng kể nhưng chưa có nhiều công trình đi tìm hiểu vềcách xác định mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép Trong khóa luận tốtnghiệp đại học, tôi thấy có một số công trình bàn đến vấn đề sử dụng quan hệ
từ trong câu ghép Chẳng hạn như trong khóa luận tốt nghiệp của tác giả
Nguyễn Thị Thái – Đại học Sư phạm Hà Nội 2, nghiên cứu về Luyện kĩ năng
sử dụng quan hệ từ cho học sinh lớp 5 Tuy nhiên đối với các công trình
nghiên cứu đó, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu sâu về quan hệ từ nói chung
và có đề cập tới việc sử dụng quan hệ từ trong câu ghép ở mức độ rất sơ giản
Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu sâu các biện phápgiúp học sinh xác định đúng mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép, nhằm
Trang 11góp phần giúp các thầy cô giáo tiểu học có những bài dạy đạt hiệu quả caohơn.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệ giữacác vế trong câu ghép cho học sinh lớp 5 nhằm giúp học sinh nắm vững cácmối quan hệ giữa các vế trong câu ghép, từ đó góp phần nâng cao khả năng sửdụng câu ghép một cách hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp hàngngày cho học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc hình thành một số biện pháp rèn luyện
kĩ năng xác định mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép cho học sinh lớp 5
- Khảo sát thực trạng dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5
- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệ giữacác vế trong câu ghép cho học sinh lớp 5
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của cácbiện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệ giữa các vế trong câu ghépcho học sinh lớp 5
4 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học luyện kĩ năng xác định mối quan hệ giữa các vếtrong câu ghép cho học sinh lớp 5
5 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung xây dựng một sốbiện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệ giữa các vế trong câu ghépcho học sinh lớp 5
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Trang 12+ Địa bàn khảo sát thực trạng: Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng đốivới giáo viên và học sinh trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Địa bàn thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm được tiến hànhtại Trường tiểu học Khai Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: tiến hành tập hợp và nghiên cứu tàiliệu có liên quan đến xác định mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép nhằmtổng quan vấn đề nghiên cứu và xây dựng khung lí thuyết cho đề tài nghiêncứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra, khảo sát: tiến hành khảo sát thực trạng dạy vàhọc câu ghép ở các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm xác lập
cở sở thực tiễn cho đề tài
+ Phương pháp thống kê toán học: tiến hành xử lý các số liệu đã thuthập được nhằm rút ra những kết luận phù hợp
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành dạy thực nghiệm và đốichứng tại trường Tiểu học Khai Quang nhằm kiểm tra tính khả thi của cácbiện pháp đã đề xuất
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được cấu trúc thành 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 xác định mối quan hệgiữa các vế trong câu ghép
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 131.1 Cơ sở lí luận
PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1 Khái niệm câu ghép
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về câu ghép Các định nghĩanày có thể được căn cứ về mặt nội dung của câu ghép, hoặc căn cứ về mốiliên hệ của câu ghép với hiện thực Cũng có tác giả định nghĩa câu ghép dựavào cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo câu ghép Có thể kể ra một sốđịnh nghĩa như sau:
Theo tác giả Lê A, câu ghép được quan niệm như sau:
“Câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ vị nòng cốt trở lên, mỗi kết cấu làmột vế câu, nêu lên một sự việc; các sự việc trong câu ghép có quan hệ nghĩavới nhau, quan hệ nghĩa đó được thể hiện bằng một quan hệ ngữ pháp nàođó.” [1, 90]
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa lại quan niệm rằng:
“Câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ- vị trở lên, có quan hệ ý nghĩa vớinhau và không bao hàm lẫn nhau.” [15, 79]
Theo tác giả Diệp Quang Ban:
“Câu ghép là câu có tổ chức đặc thù gồm hai cụm chủ vị hoặc hai dạngcâu đơn đặc biệt không bao hàm lẫn nhau, có quan hệ ý nghĩa với nhau vàđược biểu thị theo những cách nhất định” [5]
Theo Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5:
Trang 14“Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu ghép thường cócấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan
hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [23, 8]
Từ việc nghiên cứu và tham khảo các khái niệm của các tác giả đưa ra,chúng tôi nhận thấy khái niệm của mỗi tác giả đưa ra đều có những mặt hợp
lý riêng đồng thời chúng tôi cũng đã đưa ra quan điểm về câu ghép của mìnhnhư sau: Câu ghép là câu có từ hai cụm chủ - vị nòng cốt trở lên và chúngkhông bao chứa lẫn nhau Mỗi cụm chủ - vị của câu ghép hay còn gọi là mỗi
vế câu có dạng một câu đơn Mỗi vế của câu ghép diễn đạt một sự việc Các
sự việc trong câu ghép có quan hệ về nghĩa với nhau và được thể hiện bằngmột quan hệ ngữ pháp nào đó
Ví dụ: Mây tan, mưa tạnh, trời sáng dần.
1.1.1.2 Đặc điểm và phân loại câu ghép
a Đặc điểm
- Về mặt ngữ pháp:
+ Câu ghép bao gồm nòng cốt ghép được tạo nên bởi ít nhất hai vế, mỗi
vế là một câu đơn bình thường hoặc câu đơn rút gọn hoặc câu đơn đặc biệt.+ Các vế của câu ghép được nối với nhau bằng các kết từ hoặc bằng dấuphảy, nếu nối bằng dấu phảy thì quan hệ giữa các vế của câu ghép có thể hiểuđược bằng nhiều cách
Ví dụ 1: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
(Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh)
Ví dụ 2: Công nhân phải tăng thời gian làm việc hoặc phải tăng năng
suất lao động để công việc hoàn thành đúng thời hạn.
+ Câu ghép có thành phần phụ nằm ngoài nòng cốt câu hoặc thành phầnphụ trong từng vế
Trang 15- Về mặt ý nghĩa: Ngoài đặc điểm ngữ pháp, câu ghép còn có đặc điểmriêng biệt về ý nghĩa.
+ Quan hệ giữa các vế trong câu ghép phải gần nhau, phải tập trung lại
để biểu thị nội dung, một sự suy lí Nếu giữa các vế không có quan hệ ràngbuộc, gần gũi về nghĩa thì sẽ không tạo thành câu ghép Đặc điểm này chính
là biểu hiện của tính vị ngữ trong câu Tính vị ngữ là mối quan hệ giữa câuvới hiện thực khách quan Đây là điều kiện tiên quyết để tạo câu, là dấu hiệukhác biệt câu với đơn vị không phải câu
Tính vị ngữ trong câu ghép được biểu thị ở quan hệ ý nghĩa giữa các vếcâu Các vế trong một câu ghép phải có sự phù hợp, gần gũi về ý nghĩa, từ đótạo ra được sự phù hợp giữa nội dung câu phản ánh với hiện thực khách quan
(bao gồm hiện thực trong tự nhiên và hiện thực trong tư tưởng) “Ý nghĩa của
câu ghép là tích chứ không phải là tổng ý nghĩa các bộ phận” [18] Nếu các
vế câu không có mối quan hệ logic ngữ nghĩa thì dù đúng về ngữ pháp vẫnkhông được coi là câu đúng Ví dụ:
(1) Vì Minh học tốt nên Minh được giấy khen học sinh giỏi (+)
(2) Vì Minh học kém nên Minh được giấy khen học sinh giỏi (-)
Ví dụ (1) chứa một nội dung thông báo hoàn chỉnh vì giữa vế câu 1 và
vế câu 2 có sự phù hợp về logic ngữ nghĩa
Ví dụ (2) giữa hai vế câu không có sự phù hợp về ý nghĩa: Nguyên nhân
Minh học kém không thể dẫn đến kết luận Minh được giấy khen học sinh giỏi
được Nội dung câu phản ánh không phù hợp với hiện thực khách quan do đó
dù câu có đúng về ngữ pháp thì câu cũng vẫn không được coi là câu đúng.Trong câu ghép, mỗi kết cấu chủ vị thông báo một sự việc, một nộidung hoàn chỉnh Chính vì thế, trong mỗi câu ghép có tối thiểu là hai sự việcđược phản ánh Các sự việc này tạo nên nghĩa miêu tả cho câu Nhờ đặc điểm
Trang 16ý nghĩa này mà nghĩa miêu tả của câu ghép phong phú hơn so với các kiểucâu khác phân theo cấu trúc cú pháp Ví dụ:
(1) Lan đi học.
(2) Bà bảo Lan đi học.
(3) Vì bà bảo Lan đi học nên tôi không đến nhà Lan nữa.
Xét 3 ví dụ trên Câu trong ví dụ (1) là một câu đơn, phản ánh một sự
việc: Lan đi học Ví dụ (2) là một câu phức thành phần vị ngữ, phản ánh hai
sự việc: Lan đi học và bà bảo Lan đi học Ví dụ (3) là một câu ghép chính phụ Trong câu ghép này có ba sự việc được đề cập đến Đó là: Lan đi học,
Bà bảo Lan đi học và Vì bà bảo Lan đi học nên tôi không đến nhà Lan nữa.
Như vậy rõ ràng ý nghĩa của câu ghép phong phú hơn so với câu đơn và câuphức
- Về phương tiện ngôn ngữ cơ bản
Câu ghép có nhiều vế câu, nhưng các vế của câu ghép không tách rờinhau, mà ngược lại chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Quan hệ này đượcbiểu hiện thông qua các phương tiện ngôn ngữ có tác dụng nối kết các vế củacâu ghép với nhau Có một số phương tiện ngôn ngữ nối kết cơ bản như sau :
Nối bằng các quan hệ từ
Nối bằng một quan hệ từ: những quan hệ từ thường được dùng là: và,
rồi, thì, nhưng, hay, hoặc, còn, nếu, vì, …
Ví dụ : Bố tôi là công an còn mẹ tôi là giáo viên.
Nối bằng cặp quan hệ từ : những cặp quan hệ từ thường được dùng là:
Vì… nên…; do… nên…; nhờ… mà…
Trang 17 Nối bằng cặp phó từ : vừa… đã…; chưa… đã…; mới… đã…; vừa…
vừa…; càng… càng…; …
Ví dụ : Mưa càng to, gió thổi càng mạnh.
Nối bằng cặp đại từ : đâu… đấy; nào… ấy; sao… vậy; bao nhiêu… bấy
nhiêu; …
Ví dụ : Chúng tôi đi đến đâu, nó theo sau đến đấy.
Nối bằng phương tiện ngữ điệu và phương thức trật tự
Trong trường hợp này giữa các vế cần có dấu phảy, dấu chấm phảy hoặcdấu hai chấm
Ví dụ:
- Kia là những mái nhà đứng sau lũy tre; đây là mái đình cong cong; kia
nữa là sân phơi.
- Định nghĩa: Câu ghép đẳng lập là câu ghép gồm từ hai vế trở lên trong
đó các vế có giá trị ngang nhau về thông báo, giữa các vế trong câu ghép đẳnglập có dấu phảy hoặc có quan hệ từ
- Đặc điểm:
+ Câu ghép đẳng lập có từ hai vế trở lên và các vế có quan hệ lỏng lẻonên dễ dàng tách thành hai câu đơn
Trang 18+ Các vế trong câu ghép được liên kết với nhau bằng quan hệ từ đẳng lậphoặc bằng dấu phảy.
+ Các vế trong câu ghép đẳng lập phải có quan hệ gần gũi, đồng loại
- Ví dụ: Tôi đi học, nó đi chơi.
Câu ghép chính phụ:
- Định nghĩa: Câu ghép chính phụ là câu ghép gồm hai nòng cốt đơnghép lại, mỗi nòng cốt đơn là một vế của câu ghép, vế này là điều kiện tồn tạicủa vế kia và ngược lại Trong câu ghép chính phụ bao giờ cũng có một vế làtiền đề (vế phụ) và một vế là hệ luận (vế chính)
Ví dụ: Nếu trời nắng thì tôi sẽ đi chơi.
Tôi sẽ đi chơi nếu trời nắng.
+ Giữa các vế của câu ghép chính phụ có cặp từ định chức (kết từ) đểsiết chặt mối quan hệ giữa các vế, các kết từ này không tạo ra được tính chấtphụ thuộc giữa các vế mà chỉ gọi tên mối quan hệ giữa các vế
+ Khi có từ nối giữa các vế thì nội dung của câu ghép được biểu thị rõràng, cụ thể còn khi không có từ nối thì quan hệ giữa các vế mập mờ, có thểhiểu theo nhiều cách
- Ví dụ: V ì Mai bị ốm n ê n Mai phải nghỉ học.
1.1.1.3 Một số mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép
a Câu ghép chính phụ
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ nguyên nhân - kết quả
+ Là câu ghép mà vế phụ nêu nguyên nhân, vế chính nêu kết quả
Trang 19+ Có thể nối các vế bằng:
Một quan hệ từ: vì, bởi vì, nên, cho nên, …
Một cặp quan hệ từ: vì…nên…, bởi vì… cho nên…, tại vì… cho nên…,
do…nên…, do…mà…, nhờ…mà…
+ Ví dụ: V ì chiếc xe bị hỏng n ên tôi đến lớp muộn.
V
ì chiếc xe bị hỏng, tôi đến lớp muộn.
Tôi đến lớp muộn vì chiếc xe bị hỏng.
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ điều kiện, giả thiết - kết quả
+ Là câu ghép mà vế phụ nêu điều kiện, giả thiết còn vế chính nêu kết quả.+ Có thế nối các vế bằng:
Một quan hệ từ: nếu, hễ, giá, thì, …
Một cặp quan hệ từ: nếu… thì…; nếu như…thì…; hễ…thì…; hễ mà…thì…;
giá…thì
+ Ví dụ: Tôi bị phạt nếu tôi đến lớp muộn.
Nêú thế hệ này chịu đau thì thế hệ sau nghe hát.
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ nhượng bộ, tăng tiến
Chế Lan Viên
+ Có thể nối các vế bằng một trong các cặp quan hệ từ như: không
những…mà; chẳng những…mà…; không chỉ…mà…
+ Ví dụ: Không những hoa sen đẹp mà nó còn biểu thị cho sự thanh khiết của
tâm hồn Việt Nam.
- Câu ghép biểu thị quan hệ tương phản:
+ Có thể nối các vế bằng:
Một quan hệ từ: tuy, dù, mặc dù, nhưng, …
Một cặp quan hệ từ: tuy…nhưng…; mặc dù…nhưng…; dù…nhưng…
+ Ví dụ: Nó học giỏi nhưng nó rất lười.
Tuy trời mưa lớn nhưng Nam vẫn đi học.
Trang 20- Câu ghép biểu thị mối quan hệ mục đích
+ Có thể nối các vế bằng:
Một quan hệ từ: để, để cho, …
Một cặp quan hệ từ: để(cho)…thì…
+ Ví dụ: Để quân đội ta hoàn thành được nhiệm vụ đó thì các đơn vị bộ đội
phải nâng cao quyết tâm…
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ so sánh
+ Có thể nối các vế bằng quan hệ từ: như, không như, …
+ Ví dụ: Anh yêu em như anh yêu đất nước.
b Câu ghép đẳng lập
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ lựa chọn
+ Có thể nối các vế bằng:
Một quan hệ từ: hay, hoặc, …
Một cặp quan hệ từ: hay… hay…; hoặc…hoặc…
+ Ví dụ: Tôi nấu cơm hay bạn nấu cơm?
Hoặc bạn đi chợ hoặc bạn rửa bát.
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ liệt kê
+ Có thể nối các vế bằng quan hệ từ: và, với, cùng,…
+ Ví dụ: Cô giáo đang đọc từng câu thong thả, rõ ràng và học sinh đang nắn
nót viết bài chính tả vào vở.
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ nối tiếp
+ Có thể nối các vế bằng quan hệ từ: rồi, đoạn, …
+ Ví dụ: Tôi vo gạo nấu cơm rồi tôi rửa rau.
- Câu ghép biểu thị mối quan hệ đối xứng
+ Ví dụ: Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu đời.
- Câu ghép có quan hệ đối chiếu
Tố Hữu
Trang 21- Tưởng tượng
Cùng với đó thì khả năng tưởng tượng của các em cũng đã phát triểnhơn giai đoạn trước nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càngdày dặn Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ
đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ởgiai đoạn cuối tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽtranh… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phốimạnh mẽ bởi xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắnliền liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng củacác em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh cócảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gọi mở, thu hút các em
Trang 22vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quátrình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.
- Chú ý
Cũng ở độ tuổi này trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ýcủa mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗlực về ý chí trong hoạt động học tập Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuấthiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định hướng được khoảng thời giancho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trongkhoảng thời gian quy định
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việchay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian
- Trí nhớ
Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủđịnh đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sứchấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của cácem…
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách kháiquát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quantrọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơngiản, dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm líhứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
- Ý chí
Đến cuối tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớnthành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bềnvững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫnchủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Trang 23Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáodục sự kiên trì, bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗibậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.
Xem xét những đặc điểm tâm lí chúng tôi thấy, tư duy lôgic của họcsinh lớp 5 tốt hơn hẳn so với tư duy của học sinh lớp 1,2,3 do vậy học sinh đã
có sự thích ứng với hệ thống bài tập Tuy nhiên, tư duy lập luận và khả năngtrừu tượng của các em còn ở mức đơn giản vì vậy các hoạt động cần phải lặp
đi lặp lại nhiều lần để các em hình thành thói quen và có kĩ năng, kĩ xảo làmbài Từ đó chúng tôi đã chú ý tới các đặc điểm tâm lí này để xây dựng cácbiện pháp giúp các em xác định đúng mối quan hệ giữa các vế của câu ghép
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Phân bố thời lượng dạy học câu ghép ở tiểu học
Ở Tiểu học câu ghép được dạy trong 8 tiết trong đó:
+ Khái niệm câu ghép: 1 tiết (tuần 19)
+ Cách nối các vế câu ghép: 1 tiết (tuần 19)
+ Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ: 5 tiết (tuần 20, tuần 21, tuần 22,tuần 23)
+ Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng: 1 tiết (tuần 24)
1.2.2 Quy trình dạy học câu ghép
Các bài học về câu ghép thuộc phân môn Luyện từ và câu và đều thuộckiểu bài lí thuyết cho nên cấu tạo của một bài học gồm có ba phần: nhận xét,ghi nhớ, luyện tập
Phần Nhận xét đưa ra ngữ liệu chứa hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên
cứu Đó là những câu thơ, câu nói, bài văn Hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểunhiều lúc được chú ý bằng cách in nghiêng hoặc in đậm Phần Nhận xét cócâu hỏi gợi ý giúp học sinh tìm ra các đặc điểm có tính chất quy luật của hiệntượng được khảo sát Giáo viên phải dẫn dắt, gợi mở để học sinh trả lời các
Trang 24câu hỏi này Trả lời đúng, học sinh sẽ phát hiện ra những tri thức cần phảihọc, những quy tắc cần ghi nhớ.
Phần Ghi nhớ là kết luận được rút ra một cách tự nhiên từ phần Nhận
xét Đó cũng chính là nội dung lí thuyết và các quy tắc sử dụng từ, câu cầncung cấp cho học sinh Học sinh cần ghi nhớ nội dung này Giáo viên có biệnpháp dạy học để học sinh không phải học thuộc lòng mà ghi nhớ trên cơ sởnhững hiểu biết chắc chắn Ngay cả dạy phần này, giáo viên cũng không nên
đi sâu vào giảng giải lí thuyết
Phần Luyện tập là trọng tâm của giờ dạy Phần này giúp học sinh củng
cố và vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những bài tập cụ thể.Các bài tập này có hai nhiệm vụ ứng với hai dạng bài tập: bài tập nhận diện
+ Thêm một vế câu để tạo thành câu ghép
+ Viết một đoạn văn có sử dụng câu ghép
+ Khôi phục lại các quan hệ từ bị lược trong các câu ghép, giải thíchnguyên nhân lược các từ đó
+ Điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ trống trong câu ghép
+ Tạo câu ghép mới từ một câu cho trước
Trang 251.2.4 Thực trạng của việc dạy học câu ghép ở trường tiểu học
Mức độ nắm khái niệm ngữ pháp của học sinh còn thấp Hầu hết các emnắm bài theo kiểu học thuộc lòng nhưng khi làm bài tập vận dụng kiến thứcbài học thì các em còn rất lúng túng và không làm được Nguyên nhân là do:+ Hầu hết giáo viên đều tuân thủ theo đúng các bước lên lớp như sách đãhướng dẫn, thủ thuật giảng dạy chủ yếu dùng lời nói, đặt câu hỏi, giải thíchthuật ngữ… rồi sau đó yêu cầu học sinh đọc lại các quy tắc, khái niệm ở phầnghi nhớ
+ Giờ học đôi khi chỉ tập trung vào một số em khá giỏi, vì vậy giờ họckhông đảm bảo tính tích cực hóa hoạt động và không đúng với tinh thần “lấyngười học làm trung tâm”
+ Ngoài ra còn do một số hạn chế trong tài liệu hướng dẫn giảng dạy đưa
ra chưa toàn diện Trong sách học sinh và sách giáo viên phần bài học đượctrình bày dưới dạng câu hỏi và thực hiện hỏi đáp bằng lời chứ học sinh khôngtrực tiếp làm việc với dữ liệu rèn luyện các thao tác tư duy, phân tích, tổnghợp, khái quát hóa, Vì vậy học sinh không thực sự nắm sâu kiến thức vàlàm sai ở phần luyện tập
Thời gian dành cho thực hành, luyện tập rất hạn hẹp, khó có thể khắc sâukiến thức, kĩ năng sử dụng câu ghép của học sinh
Các giờ dạy về câu ghép còn nhàm chán, chưa gây được hứng thú chohọc sinh Trong nhiều năm qua mặc dù đã đổi mới phương pháp dạy học tiếngViệt, nhưng một số giáo viên vẫn còn nặng tâm lý đây là môn học chính nêntrong quá trình giảng dạy họ rất chú trọng việc truyền thụ kiến thức với mụcđích giúp học sinh học tốt môn này Việc sử dụng trò chơi học tập đối với một
số giáo viên còn là hình thức hoặc có sử dụng trò chơi thì cũng ở mức gượng
ép, miễn cưỡng Mặt khác, còn một số giáo viên khi sử dụng các trò chơi họctập thì chưa chọn lọc kĩ, không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu của
Trang 26bài học nên việc tổ chức trò chơi chưa đạt hiệu quả Thực tế cho thấy vẫn cònmột số đối tượng học sinh thụ động, tự ti, chưa mạnh dạn tham gia vào cáchoạt động học tập.
Trước thực trạng đó, chúng tôi thiết nghĩ cần phải thay đổi một cáchthức dạy học mới sao cho học sinh hứng thú, say mê và tích cực chủ động hơnkhi học Tiếng Việt Qua đó, những kĩ năng giao tiếp của các em sẽ ngày cànghoàn thiện và phát triển
Những điều trình bày trên đây buộc chúng ta phải suy nghĩ, tìm ra cácbiện pháp giúp học sinh học tập tốt về câu ghép nói chung và về việc xác địnhmối quan hệ giữa các vế trong câu ghép nói riêng
Tiểu kết
Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề cơ bản về câu ghépnhư: khái niệm câu ghép, đặc điểm và phân loại, cách nối các vế câu ghép,một số mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép; đồng thời chúng tôi cũng đưa
ra những đặc điểm tâm lí đặc trưng của lứa tuổi học sinh lớp 5 làm cơ sở líluận cho đề tài Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề lí luận, chúng tôicũng đi sâu tìm hiểu thời lượng dạy học câu ghép ở tiểu học, quy trình dạyhọc câu ghép và hình thức làm bài tập rèn luyện, đặc biệt là chúng tôi cũng đikhảo sát thực trạng dạy và học câu ghép ở các trường tiểu học trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc để tìm ra những khó khăn, nhược điểm trong dạy học câughép nhằm có cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu này
Trang 27Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC VẾ TRONG CÂU GHÉP 2.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp
2.1.1 Đảm bảo phù hợp với học sinh tiểu học
Nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên khi vận dụng các biện pháp phải tínhđến sự phù hợp về khả năng, năng lực và trình độ chung của cả lớp và củatừng học sinh Trong dạy học không chỉ dạy đúng, dạy đủ những tri thức khoahọc đã quy định trong chương trình và sách giáo khoa mà khi đưa ra nhữngyêu cầu, những nhiệm vụ phải chú ý đến trình độ của từng học sinh bởi lẽ mỗihọc sinh có khả năng tiếp cận tri thức ở các mức độ khác nhau
Để đảm bảo nguyên tắc này khi xây dựng kế hoạch, chương trình giáoviên cần nắm rõ khả năng nhận thức của học sinh (phải biết trình độ tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm đã có của học sinh) Khi chúng ta đã nắm rõ vềhọc sinh của mình rồi thì việc tổ chức, lên kế hoạch dạy học sẽ dễ dàng hơn.Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ phát huy được năng lực của mỗi cánhân một cách cao nhất, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa cá nhân và tậpthể; góp phần thúc đẩy tính tự giác, tích cực của học sinh trong quá trình họctập Đồng thời kích thích được hứng thú học tập của các em
2.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc trưng dạy học câu ghép ở trường tiểu học
Đảm bảo phù hợp với dạy học câu ghép ở tiểu học là đảm bảo dạy đúng,dạy đủ các kiến thức câu ghép, quy trình dạy học câu ghép theo SGK TiếngViệt lớp 5 đã quy định Các kiến thức mà học sinh nắm được trong bài họcphải đảm bảo phản ánh đúng bản chất trong thực tế Vận dụng các biện phápsao cho sau khi học xong, học sinh sẽ nắm được khái niệm cơ bản về câu
Trang 28ghép, xác định được các vế câu trong từng câu ghép, biết được các cách nốicác vế trong câu ghép và có thể xác định được mối quan hệ giữa các vế màcâu ghép biểu thị.
Muốn vậy thì cả giáo viên và học sinh đều phải nắm rõ nhiệm vụ củamình trong mỗi tiết học: giáo viên phải nắm vững kiến thức về câu ghép và từ
đó thiết kế được bài giảng phù hợp nhất, đồng thời học sinh cần thực hiệntheo đúng những yêu cầu giáo viên đưa ra trong tiết học, đảm bảo giờ họcmang lại hiệu quả cao nhất
2.1.3 Đảm bảo phù hợp với thực tiễn
Biện pháp đề xuất phải phù hợp với thực tiễn dạy học môn Tiếng Việt
lớp 5 nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 5 nói riêng và có thể áp
dụng vào dạy học môn học này để nâng cao hiệu quả dạy học Để đảm bảomục đích đó, sử dụng các biện pháp rèn luyện kĩ năng xác định mối quan hệgiữa các vế trong câu ghép cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Phù hợp với đặc điểm nội dung, chương trình môn Tiếng Việt
- Phù hợp với đặc điểm, trình độ nhận thức của học sinh tiểu học, đảmbảo tính vừa sức đối với các em
- Phù hợp với năng lực chuyên môn của đông đảo giáo viên tiểu học, cókhả năng triển khai, ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học phân môn
Luyện từ và câu ở Tiểu học.
- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của mônTiếng Việt và điều kiện thực tiễn của trường, của lớp
- Có nhiều khả năng tạo ra hiệu quả dạy học cao
2.1.4 Đảm bảo phù hợp với nguyên tắc thiết kế trò chơi
Cơ sở thiết kế trò chơi: Để thiết kế trò chơi học tập phục vụ cho việcdạy học câu ghép ở tiểu học, chúng tôi căn cứ vào các tiêu chí sau:
+ Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, phương pháp của bài học
Trang 29+ Căn cứ vào logic của quá trình dạy học trên lớp.
+ Căn cứ vào trình độ, năng lực của học sinh
+ Căn cứ vào chương trình dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
+ Căn cứ vào sách giáo khoa Tiếng Việt 5
+ Căn cứ vào điều kiện thực tiễn, cơ sở vật chất của trường, của lớp
- Các nguyên tắc:
+ Nguyên tắc 1: Đảm bảo cho học sinh hiểu rõ về những yêu cầu, nội
dung và cách tổ chức trò chơi Trò chơi phải có tác dụng định hướng đối vớitoàn bộ quá trình dạy học và trò chơi phải đáp ứng những yêu cầu, mục đíchcủa bài học Vì vậy, trước khi chơi giáo viên cần phải giải thích rõ ràng vàđầy đủ những yêu cầu cần đạt, nội dung và cách thức thực hiện trò chơi
+ Nguyên tắc 2: Đảm bảo phải phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng
tạo của học sinh trong quá trình tổ chức trò chơi
Giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức với các mức độ tham gia của họcsinh, trong quá trình tổ chức trò chơi theo các mức độ từ thấp đến cao nhưsau:
+ Giáo viên hướng dẫn, tổ chức trò chơi
+ GV lựa chọn và hướng dẫn trò chơi, học sinh tự tổ chức trò chơi
+ GV chọn trò chơi còn HS tự nghiên cứu và tự tổ chức trò chơi
+ Nguyên tắc 3: Đảm bảo tổ chức trò chơi tự nhiên, không gò ép.
+ Nguyên tắc 4: Đảm bảo luân phiên các trò chơi
Ở học sinh tiểu học, hứng thú và chú ý có chủ định chưa bền vững, do
đó không nên tổ chức một trò chơi quá lâu, quá dài GV cần căn cứ vào yêucầu dạy học và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh mà lựa chọn trò chơi thíchhợp, để có thể luân phiện nhau giúp cho học sinh chuyển hướng chú ý vàhứng thú một cách hợp lí nhằm phục vụ cho những yêu cầu, mục tiêu dạy học
đã đề ra
Trang 30+ Nguyên tắc 5: Đảm bảo trò chơi và tinh thần “thi đua đồng đội”
Trong khi chơi các trò chơi có tính chất đồng đội, giáo viên cần quantâm đến yếu tố “thi đua”, cần có chuẩn và thang đánh giá thành tích của cánhân cũng như thành tích chung của đồng đội
2.2 Mục đích của việc đề xuất các biện pháp
*Về phía học sinh lớp 5: Giúp các em:
- Nắm vững được những lý thuyết có liên quan đến câu ghép, đặc biệt là
có khả năng xác định đúng mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép, biết vậndụng các kiến thức đó để làm bài tập và giao tiếp
- Hệ thống bài tập mà chúng tôi đưa ra sẽ là cơ sở để các em thực hành,
từ đó các em vừa được củng cố kiến thức vừa hoàn thiện các kĩ năng khi làmbài
- Đồng thời việc vận dụng các trò chơi học tập trong giờ học sẽ tạokhông khí lớp học sôi nổi, sinh động, lôi cuốn học sinh vào quá trình học tậpmột cách tự nhiên, giải trừ được căng thẳng và đặc biệt là học sinh sẽ tậptrung chú ý và tiếp thu bài nhanh
*Về phía giáo viên
- Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn
- Có các biện pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy từng đối tượng họcsinh; qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép nói riêng và dạy
học Luyện từ và câu nói chung.
2.3 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 xác định mối quan hệ giữa các
vế trong câu ghép
2.3.1 Biện pháp giúp học sinh nắm vững lí thuyết
Với mạch kiến thức được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm ở mỗi lớp mà
có những yêu cầu khác nhau Tuy nhiên nếu các em nắm chắc các kiến thức
Trang 31về câu đơn ở lớp dưới và về quan hệ từ ở học kì 1 của lớp 5 thì các em sẽ nắmkiến thức về câu ghép dễ dàng hơn.
Nội dung chương trình về câu ghép lớp 5 gồm:
Khái niệm câu ghép
Cách nối các vế câu ghép
Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ
Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng
Từ mạch kiến thức trên của chương trình, chúng tôi cô đọng một số kiếnthức trọng tâm cần lưu ý cho học sinh khi học về câu ghép như sau:
a) Cung cấp cho học sinh khái niệm câu ghép
Theo SGK Tiếng Việt lớp 5: Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại.Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vịngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác [23,8]
Ở đây, GV cần lưu ý HS từ “thường” có nghĩa là thông thường thì các vếcâu ghép có cấu tạo như một câu đơn, tuy nhiên có một số trường hợp, vế củacâu ghép có thể bị lược bỏ bộ phận chủ ngữ hoặc vị ngữ mà ta có thể khôiphục lại được Ví dụ:
Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng.
Đây được coi là một câu ghép bởi nó có cặp từ chỉ quan hệ điều kiện –
kết quả mà từ thì đã bị lược bỏ thay bằng dấu phảy Câu này có hai vế câu, vế
thứ nhất có chủ ngữ bị lược bỏ “Nếu tôi là chim”, vế thứ hai có đủ chủ ngữ
và vị ngữ
b) Cung cấp cho học sinh cách nối các vế câu ghép
Để học sinh nắm được lý thuyết về cách nối các vế trong câu ghép, GV
sẽ tổ chức cho HS phân tích các vật liệu mẫu, cụ thể ở đây là các câu văn,đoạn văn… Cụ thể GV sẽ cho học sinh phân tích cấu tạo của câu ghép để học
Trang 32sinh nắm được các vế câu, chủ ngữ – vị ngữ của từng vế, tìm ra quan hệ từhoặc những dấu câu giữa các vế.
Để giúp HS thực hiện phân tích mẫu được dễ dàng hơn, GV có thể táchcác câu hỏi, nhiệm vụ nêu trong SGK thành những câu hỏi, nhiệm vụ nhỏhơn
Về hình thức tổ chức, tùy từng nhiệm vụ mà GV có thể tổ chức cho họcsinh làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, làm việc cặp đôi, sau đó trình bàykết quả phân tích trước lớp
Từ đó giúp cho HS ghi nhớ:
Có hai cách nối các vế câu trong câu ghép:
cầu HS phân tích cấu tạo của câu ghép: Chẳng những Hồng chăm học mà bạn
ấy còn rất chăm làm GV sẽ đưa ra các câu hỏi nhỏ hơn như:
- Câu ghép này gồm mấy vế câu?
- Xác định chủ ngữ – vị ngữ của từng vế?
- Giữa các vế câu có quan hệ từ nào nối kết?
Từ đó, trong những tiết tiếp theo, GV chỉ cần nêu: Phân tích cấu tạo của câughép sau… là HS sẽ tiến hành phân tích theo các yêu cầu đó
Trang 33Với sự dẫn dắt của giáo viên, sau khi phân tích thành công các ngữ liệu, HScần phải nắm rõ:
- Các vế trong câu ghép có thể được nối với nhau bằng một quan hệ từ hoặcmột cặp quan hệ từ
- Với bốn mối quan hệ giữa hai vế câu ghép là: quan hệ nguyên nhân – kếtquả; quan hệ điều kiện – kết quả, giả thiết – kết quả; quan hệ tương phản;quan hệ tăng tiến thì HS cần:
+ Nắm được những quan hệ từ thường được dùng
+ Nắm được những cặp quan hệ từ thường được dùng
Ngoài ra, để HS khắc sâu kiến thức thì GV có thể sử dụng thêm phươngpháp trực quan Bởi mỗi tranh vẽ thường thể hiện những tình huống giao tiếpnhất định, quan sát tranh, HS sẽ tự đặt mình vào các tình huống đó và chọnlựa hình thức giao tiếp, đặt câu, viết đoạn văn theo tranh Chẳng hạn, khi học
về quan hệ tăng tiến, GV dán hai tranh: Vịnh Hạ Long và Phố cổ Hội An HSquan sát và dựa vào nội dung tranh đặt câu theo yêu cầu (Em hãy quan sáttranh và đặt câu ghép biểu thị quan hệ tăng tiến)
sử dụng các quan hệ từ phù hợp với tâm lí nhận thức của học sinh Chúng tôichia các bài tập nhóm này theo ba nhóm:
+ Nhóm quan hệ từ đơn lẻ
Trang 34+ Nhóm quan hệ từ lưỡng khả (có thể dùng đơn hoặc dùng thành cặp)+ Nhóm quan hệ từ phải dùng thành cặp
Để luyện kĩ năng sử dụng quan hệ từ trong việc xác định mối quan hệgiữa các vế trong câu ghép, giáo viên cần thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Liệt kê các dạng bài tập có chứa quan hệ từ ở dạng đơn lẻ;quan hệ từ lưỡng khả; quan hệ từ phải dùng thành cặp
- Bước 2: Xây dựng hệ thống bài tập và đáp án của bài tập cho từngnhóm
- Bước 3: Yêu cầu học sinh ghi nhớ kiến thức bằng cách nhắc lại cácquan hệ từ ở dạng đơn lẻ; quan hệ từ lưỡng khả; quan hệ từ phải dùng thànhcặp
- Bước 4: Tổ chức cho học sinh làm bài tập
Ở bước này, cần tiến hành thực hiện như sau:
+ Giao nhiệm vụ cho học sinh
+ Khi giao nhiệm vụ cần giúp học sinh hiểu đúng, hiểu đầy đủ nội dungcủa bài tập, cách làm có thể là:
Cho học sinh đọc yêu cầu của bài tập, giải thích yêu cầu của bàitập
Yêu cầu một vài học sinh làm mẫu một phần của bài tập, nếukhông có học sinh nào làm được thì giáo viên sẽ làm mẫu cho cácem
+ Tổ chức nhiều hình thức hoạt động thích hợp để mỗi học sinh đềuđược làm việc như: cá nhân, cặp đôi, nhóm,…
+ Tiến hành chữa bài tập
+ Nhận xét, đánh giá khả năng làm bài của học sinh, tổng kết những kiếnthức có liên quan và rút ra những lưu ý khi làm bài
Cụ thể: