+ Giáo trình rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt 1996 của hai tác giả ĐàoNgọc và Nguyễn Quang Ninh, Nhà xuất bản giáo dục, đã chỉ ra rằng việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền vớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐỖ NGỌC LƯƠNG
RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4,5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm
ơn thầy giáo Lê Bá Miên- người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ emhoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Chủ nhiệmKhoa Giáo dục Tiểu Học, Thư viện Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2.Emxin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu, các thầy, các cô giáo vàcác em học sinh Trường Tiểu Học Hùng Vương- Thị xã Phúc Yên- Tỉnh VĩnhPhúc trong suốt quá trình em quan sát, tìm hiểu thực tế thực nghiệm khóa luậnnày
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp K40D- GDTH đãtạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoànthành khóa luận
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Đỗ Ngọc Lương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các sốliệu, căn cứ, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực
Đề tài chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nàokhác
Hà Nội, tháng 5 năm 2018Sinh Viên
Đỗ Ngọc Lương
Trang 5MỤC LỤC
M
Ở ĐẦ U 3 1
L í d o c h ọ n đ ề tà i 3
2
L ịch sử v ấn đ ề 4 3
M ụ c đ í ch v à n h i ệm v ụ c a đ ề tài 5 4
Đ ố i t ư ợ n g n gh iên c ứ u 6 5
P hư ơ n g p h áp n gh iên c ứ u 7 6
Cấu t r ú c k hó a luận 7
N
ỘI D U N G 9 C
HƯ Ơ N G 1 : CƠ S Ở L Ý L U Ậ N VÀ TH Ự C T IỄN 9 1
1.Cơ sở lý l u ậ n 9 1
1 .Cơ s ở ng ô n ng ữ 9
1
1 1 L ý t huy ết g i a o t i ếp ng ô n n g ữ 9 1
1 2 .C á c nh ân tố g i a o ti ế p 1 1 1
1 3 .Kể ch u y ện m ộ t hì n h t hứ c g iao t iếp đ ặc b i ệ t 12 1
1 .Cơ s ở t â m lí 19 1
1 1 N hận t hứ c c ả m tí n 19 1
1 2 N hận t hứ c lí t í n h 20 1
2.Cơ sở t hự c t i ễ n 21 1
2 .C hư ơ n g t rì n h kể ch uy ện lớp 4 , 5 21 1
2 1 .C hư ơ n g t rì n h k ể c h u y ện lớp 4 21 1
2 2 C hư ơ n g t rì n h k ể c h u y ện lớp 5 22 1
2 Th ự c t r ạ n g c ủ a d ạ y h ọ c k ể ch u y ện lớp 4 ,5 23 C
HƯ Ơ N G 2 : BIỆN P H Á P RÈ N K Ĩ N Ă N G K Ể C H U Y ỆN TH E O QUAN Đ I Ể M GI A O TI Ế P C H O HỌC SI N H
L ỚP 4 , 5 26 2
1 Ngu y ên t ắc đ ề x u ất c á c b iện p h áp dạy k ể ch uy ện t h eo q u an đ i ể m giao ti ếp cho h ọ c lớp 4 , 5 26 2
1 Đ ả m b ả o m ục t i êu m ô n h ọ c 26 2
1 Đ ả m b ả o p h hợp v ới t rì n h đ ộ c ủ a ọ c si n h 26 2
1 Đ ả m b ả o t í n h h ấp d ẫ n 27 2
2 H ệ t h ố g b i ện p h áp r èn k ĩ n ăn g k ể ch uy ệ n t h e q u an đ i ể m gi a o t iếp c h o h ọ c s i n h lớp 4 ,5 27 2
2 R èn kĩ n ă n g hư ớ n g d ẫ n n gư ời n gh e, g iao t i ếp v ới ngư ời n gh e khi k ể ch u y ện 27 2
2 1 Đ a dạ n g h ó a cách g i ới th i ệu câu c h u y ệ n 28
Trang 62 2 Đ a dạ n g h ó a cách k ết th ú c câu c huy ệ n 29 2
2 Kĩ nă n g n h ận x é t, đá n h g i á 31 2
2 Kĩ nă n g h ư ớ n g dẫn h ọ c si n h kết hợp d i ễ n x u ất v ới đ ồ dùn g t r ự c qu an 37 2
2 1 M ụ c đích c ủ a v i ệc k ết h ợp d i ễn x u ấ t c ủ a n gư ời k ể v ới sử dụn g đ ồ dùn g t r ự c qu an m i n h h
ọ a c o câu ch u yệ đ ể kể c hu y ện hay v à hấp dẫn hơ n 37 2
2 2 M ộ t số b ài t ập sử d ụn g đ ồ dùn g t r ự c qu an m i n h họ a c h o câu ch u y ện gi ú p kể ch uy ện hay
v à hấp dẫn hơ n 39 C
HƯ Ơ N G 3 : TH Ự C N GH IỆM SƯ P HẠ M 43 3
1 M ụ c đ ích th ự c ngh i ệ m 43 3
2.Thời g ian t h ự c n gh iệm 43 3
3 h ạ m v i th ự c ngh i ệm 43 3
4 Đ ố i t ư ợ n g t hự c ngh iệ m 43 3
5 N ộ i d un g t h ự c ngh i ệm 44 3
6 hư ơ n g p h áp t h ự c ngh i ệm 52 3
7 T ổ c hứ c th ự c ngh i ệm 52 3
8 K ết qu ả t hự c n gh iệ m 53 KẾT L U Ậ N 55 TÀI LIỆU T H AM K H Ả O 55
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 8Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Namđộc lập, Bác Hồ đã căn dặn học sinh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp haykhông , dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cườngquốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các em”.Lời dạy của Bác đã khẳng định vai trò của các em đối với tương lai của đất nước
Tiểu học là cấp học nền tảng trong nhà trường phổ thông, đặt cơ sở ban đầucho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, là nền tảng vữngchắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dụcTiểu học hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu về sự phát triển đúng đắn
và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kĩ năng cơ bản để học tiếp trung họchoặc đi vào cuộc sống lao động Nhiều nhà chuyên môn cho rằng bậc Tiểu học làbậc học kĩ năng và bậc Tiểu học nào ở các quốc gia cũng đều như vậy, cũng phảihình thành cho học sinh những kĩ năng cơ bản tối thiểu, đó là kĩ năng sử dụng tiếng
mẹ đẻ: nghe, nói , đọc, viết Những kĩ năng được hình thành trên cơ sở phát triển tưduy và ngược lại nhờ có kĩ năng cơ bản đó mà học sinh tiếp tục học tập tốt hơn
Mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện Nhà trường tiểu học là cái nôi cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học,
kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, giúp các em hình thành và phát triển nhân cách
Trong trường tiểu học, kể chuyện là một phân môn nhằm phát triển lời nói,khả năng giao tiếp cho học sinh, cung cấp những kiến thức về vốn sống và vănhọc, nêu những tấm gương có tác dụng giáo dục Do vậy, việc rèn kĩ năng kểchuyện cho học sinh là việc làm rất cần thiết
Nghiên cứu về việc rèn kĩ năng kể chuyện ở tiểu học nói chung và việc rèn
kĩ năng kể chuyện lớp 4, 5 nói riêng là một việc làm thiết thực trong dạy học tiếngviệt của giáo viên và học sinh lớp 3 hiện nay, góp phần đổi mới nội dung giảng
Trang 9dạy, phương pháp dạy học ở Tiểu học Xuất phát từ lí do trên nên tôi mạnh dạn
chọn và nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho
học sinh lớp 4,5”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng ở Tiểu học Vì vậy,phân môn kể chuyện được nhiều người quan tâm nghiên cứu Trong số đó, nổi bậtnhất phải kể đến tác giả:
+ Chu Huy với cuốn Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học Nhà xuất bản Giáodục, 2000 Ngoài việc xác định vị trí , nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Kểchuyện, ông còn đề ra phương pháp và kĩ thuật lên lớp với những bài soạn mẫu rất
cụ thể.Cuốn sách giúp chúng tôi nhận thức đúng về phân môn kể chuyện, các biệnpháp hướng dẫn kể chuyện rất phong phú, là cẩm nang cho nhiều giáo viên Songcác biện pháp trình bày trong sách chỉ phù hợp với tiết kể chuyện được dạy theophương pháp cũ (thầy kể trò nghe, ghi nhớ và kể lại), không phù hợp với phươngpháp dạy hiện nay
+ Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học , của bộ giáo dục
và đào tạo Cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết cụ thể về cấu trúc nội dung vàphương pháp dạy học cho từng phân môn trong môn Tiếng Việt trong đó có phânmôn kể chuyện
+ Giáo trình rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (1996) của hai tác giả ĐàoNgọc và Nguyễn Quang Ninh, Nhà xuất bản giáo dục, đã chỉ ra rằng việc rèn luyện
kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ gắn liền với các kĩ năng nghiệp vụ ở Tiểu học như: kĩnăng đọc thầm, kĩ năng đọc diễn cảm, kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết các loại vănhay ở Tiểu học, kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ năng kể chuyện
+Phương pháp dạy học Tiếng Việt hai của hai tác giả Lê Phương Nga vàNguyễn Trí, xuất bản năm 1998 Trong cuốn này hai tác giả đều nêu rất rõ nộidung chương trình, yêu cầu kĩ năng kể chuyện, của từng lớp cũng như quy trình,
Trang 10phương pháp dạy học kể chuyện Đồng thời hai tác giả cũng đánh giá cao ý nghĩa,mục đích của kể chuyện và quan niệm kể chuyện là một kĩ năng, một hoạt độngsáng tạo, một hoạt động lời nói.
+ Cuốn “Một số vấn đề về dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ởTiểu học” xuất bản năm 2009 của tác giảNguyễn Trí đã chú ý đến các vấn đề như:Quan điểm giao tiếp quy định nội dung, phương pháp dạy học, hình thức dạy họcTiếng Việt ở Tiểu học và đặc biệt là quan điểm giao tiếp thể hiện ở phân mônTiếng Việt
+ Hiện nay chương trình Tiểu học mới, phân môn kể chuyện được giảngdạy theo phương pháp mới, ở đó học sinh được chủ động kể chuyện dưới sự hướngdẫn của giáo viên chứ không thụ động nghe, ghi nhớ và kể lại như trước nữa Vớiphương pháp này, giáo viên trở về đúng vị trí chủ đạo của mình và học sinh thực
sự là tự giác, tích cực và tự lực trong học tập Tuy nhiên, phương pháp này chỉđược thực hiện đại trà trong vài năm gần đây, nó còn khá mới mẻ
+ Ngoài ra còn khá nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến một cáchtrực tiếp
Hay dán tiếp về vấn đề này như tạp trí Dạy và học ngày nay số 4/ 2017 vớibài : “Dạy kĩ năng nói Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học”của Phó Giáo Sư – Tiến sĩNguyễn Trí, bài: “ Giáo dục học sinh Tiểu học phát triển ngôn ngữ nói thông quahình thức kể chuyện theo vai”
Như vậy có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề dạy học kể chuyện vàrèn kĩ năng nói cho học sinh trong phân môn kể chuyện, tuy nhiên chưa có nhữngnghiên cứu đi sâu vào vấn đề rèn kĩ năng nói theo quan điểm giao tiếp ở môt khốilớp cụ thể Vì vậy chúng tôi quyết định làm đề tài : “ Rèn kĩ năng kể chuyện theoquan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5.”
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Trang 12- Qua thống kê , khảo sát để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng cho việc giảng day kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Rèn luyện kĩ năng kể chuyện theoquan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5.”
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, người viết đã sử dụng ba phương pháp nghiêncứu chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu này được vận dụng để phân tích tư liệu, thống kê
và tổng hợp kết quả phân tích
- Phương pháp thống kê và phân loại
Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để thống kê các câu có trong phânmôn chính tả ở sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học và phân loại chúng theo tiêuchí đã định
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Quá trình được tiến hành như sau:
-Bước 1: Đọc tài liệu tham khảo
-Bước 2: Tập hợp xử lí số liệu
-Bước 3: Viết khóa luận
6 Cấu trúc khóa luận
Khóa luận được chia làm 3 phần
-Phần mở đầu
-Phần nội dung
-Phần kết luận
Phần nội dung chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp chohọc sinh lớp 4, 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1.Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1.1.Lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người Cónhiều phương tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là một phương tiện quan trọngnhất, cơ bản nhất
Tác giả Đỗ Hữu Châu: “Giao tiếp là một hoạt động sảy ra khi có một chủthể phát tin, sử dụng một tín hiệu để truyền đến cho một chủ thể nhận tin một nộidung nào đó Giao tiếp là một hoạt động có đích Nội dung cần truyền đạt nhằmcung cấp những thông tin (hiểu biết) cho người nghe hoặc bày tỏ tình cảm củangười nói cho người nghe chia sẻ hoặc tạo lập, duy trì quan hệ của người nói người
nghe” ( Cơ sở ngữ nghĩa học và từ vựng- NXBGD-H2000 trang 32)
Tác giả Lê A , Đỗ Xuân Thảo cũng cho rằng “ khi có ít nhất hai người gặpnhau và bày tỏ với nhau điều gì đấy như nỗi buồn, vui, ý muốn, hành động haynhận xét nào đấy về sự vật xung quanh thì giữa họ diễn ra một hoạt động giao tiếp
( gọi tắt là giao tiếp )” ( Giáo trình Tiếng Việt 1- NXBGD-1997 trang 27)
Như vậy, giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hộivới nhau, dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tương, tình cảm hay trao đổi ý kiến về xãhội, con người, thiên nhiên Mỗi cuộc giao tiếp ít nhất phải có hai người và đềuphải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định
Giao tiếp tồn tại ở hai dạng: Giao tiếp bằng lời (giao tiếp bằng miệng) vàgiao tiếp bằng văn tự (giao tiếp bằng viết)
Vậy tại sao con người phải giao tiếp với nhau? Câu trả lời chỉ có thể tìmthấy trong mục đích hay chức năng của giao tiếp Vai trò mà giao tiếp có thể đảm
Trang 16nhận trong đời sống cộng đồng chính là chức năng của ngôn ngữ Giao tiếp có 4chức năng chính:
Chức năng tạo lập quan hệ: Không chỉ dừng lại ở chức năng trao đổi thôngtin, trong quá trình giao tiếp con người luôn hướng đến việc xây dựng và duy trìcác mối quan hệ tốt đẹp giữa những cá nhân tham gia giao tiếp Đôi khi, mục đíchnày lại là mục đích chính của cuộc giao tiếp.Tuy nhiên, chức năng này bao gồm cảchức năng phá vỡ quan hệ
Chức năng thông tin ( chức năng thông báo): Qua các cuộc giao tiếp người
ta trao đổi các thông tin ( các thông tin thời sự, chính trị, các tri thức khoa học, vănhóa nghệ thuật ) dưới dạng nhận thức, tức là họ đã thực hiện chức năng thông báocủa giao tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người Đây chính là chứcnăng mà chúng ta thường gặp trong giao tiếp
Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp con người có thể tự bộc lộ mình vềtình cảm, sở thích trạng thái sức khỏe, hay nguyện vọng năng khiếu Đối các sựvật, hiện tượng hoặc vấn đề nào đó mà họ quan tâm, tất cả các điều đó đều đượcthể hiện qua lời nói của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động giao tiếp Tuynhiên, trong quá trình giao tiếp, con người có thể tự biểu hiện mình về nhiều mặtmột cách có ý thức và không có ý thức
Chức năng giải trí: Trong cuộc sống có lúc con người phải làm việc.hoặchọc tập vất vả, những lúc như thế con người cần được nghỉ ngơi thư giãn Hoạtđộng giao tiếp với những câu chuyện cười, lời nói đùa dí dỏm sẽ là liều thuốcxua đi mệt mỏi ưu phiền, làm cho con người thấy cuộc sống ý nghĩa hơn và hứngthú hơn với công việc hằng ngày của mình Đặc biệt trong thời đại ngày nay chứcnày quan trọng hơn bao giờ hết
Từ việc tìm hiểu các chức năng giao tiếp ở trên, chúng ta có những cơ sởnhất định để thực hiện thành công những cuộc giao tiếp trong cuộc sống hằngngày Mặt khác, nó còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc dạy học Nắm
Trang 17được những chức năng này sẽ giúp cho GV có cơ sở để đánh giá kết quả của nhữngngôn bản nói và viết mà HS tạo ra trong quá trình học tập, giao tiếp một cách đầy
đủ chính xác hơn và toàn diện hơn
1.1.1.2.Các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là các yếu tố cùng có mặt và tham gia đồng thời vào mộthoạt động giao tiếp nào đấy,chúng có ảnh hưởng trực tiếp hay để lại những dấu ấntrong hoạt động giao tiếp đó Vậy thì có những nhân tố nào tham gia vào hoạt độnggiao tiếp Người ta thường nhắc đến các nhân tố sau đây đã tham gia và ảnh hưởngtrực tiếp vào các cuộc giao tiếp
*Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp Nhân vậtgiao tiếp có thể được chia làm hai nhân vật đó là người nói và người nghe.Có rấtnhiều yếu tố ảnh hưởng đến hai loại nhân vật này và ảnh hưởng trực tiếp đến kếtquả giao tiếp như: trình độ và nghệ thuật nói năng của người nói, mức độ quan hệgiữa người nói và người nghe
*Hiện thực được nói đến
Hiện thực được nói tới chính là những sự vật, những hiện tượng hay những
sự kiện diễn ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội xung quanh con người.Hiện thực được nói tới đã cấu thành nội dung của các cuộc giao tiếp và tạo nên đềtài hay là chủ đề của các cuộc nói chuyện Tùy theo đề tài, chủ đề của các cuộc nóichuyện mà cả hai bên lựa chọn các nội dung chi tiết hay các phương tiện ngôn ngữ
để giao tiếp
*Hoàn cảnh giao tiếp
Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể Hoàn cảnh giaotiếp được chia làm hai loại:
+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng là tổng thể những đặc điểm và điều kiện tự nhiên,
xã hội, lịch sử
Trang 18+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp còn gọi là tình huống giao tiếp, bao gồm các yếu
tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khỏe
*Ngôn ngữ sử dụng
Ngôn ngữ là công cụ để hai bên tiến hành giao tiếp Trong văn bản haytrong văn chương, nhà văn giao tiếp với bạn đọc, ngoài bằng phương tiện ngônngữ còn giao tiếp bằng hình tượng nhân vật, bằng hình ảnh hay bằng các biệnpháp tu từ
Ngôn bản nói là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ thể hiện ra bằng âm thanh,bằng lời nói miệng khi giao tiếp
Ngôn bản viết là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ thể hiện bằng con chữ trongsản phẩm viết
1.1.1.3.Kể chuyện một hình thức giao tiếp đặc biệt
a)Khái niệm kể chuyện
Kể chuyện là một phương thức sinh hoạt đời sống mà từ lâu nó đã trở thànhmột phương thức của hoạt động nghệ thuật, đặc biệt là văn học
Kể là một động từ biểu thị hành động nói Theo từ điển Tiếng Việt giảithích, kể là nói rõ đầu đuôi và nêu ví dụ: kể chuyện cổ tích, kể chuyện truyềnthuyết Khi ở vị trí một thuật ngữ, kể chuyện bao hàm, bao gồm bốn phạm trùngũ nghĩa sau:
1- Chỉ loại hình tự sự trong văn học ( phân biệt với các loại hình trữ tình,loại hình kịch- còn gọi là truyện hoặc tiểu thuyết
Trang 192- Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng
3- Chỉ tên một phân môn được học ở các lớp trong trương Tiểu Học
4- Chỉ tên một loại hình văn nghệ thuật chuyện trong môn Tập làm văn
Ở phạm trù ngữ nghĩa
+Văn kể chuyện là văn trong truyện hoặc trong tiểu thuyết Do đó, đặcđiểm của văn kể chuyện cũng là đặc điểm của truyện Đặc trưng cơ bản củachuyện là có sự việc đang sảy ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâmtrạng tính cách riêng
+Kể chuyện là một phương pháp trực quan sinh động bằng lời nói Khi cầnthay đổi hình thức diễn giảng nhằm thu hút sự chú ý của người nghe, người tacũng xen kẽ phương pháp kể chuyện Với các môn khoa học tự nhiên, kể chuyệnthường dùng trong phần kể về tiểu sử tác giả, miêu tả quá trình phát minh, sángchế, quá trình phản ứng khoa học
+Văn kể chuyện là một loại văn mà HS phải luyện tập diễn đạt bằng miệnghoặc bằng viết thành bài theo những quy tắc nhất định Vì tính chất phổ biến vàứng dụng rộng rãi của loại văn này nếu nó trở thành loại hình cần được rèn kĩnăng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận
+Kể chuyện là một môn học của các lớp Tiểu học trường phổ thông Cóngười hiểu đơn giản kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian, kể chuyện cổ tích.Thực ra không hẳn như vậy, kể chuyện ở đây bao gồm việc kể nhiều loại truyệnkhác nhau, kể cả chuyện cổ tích và truyện hiện đại, nhằm mục đích giáo dục,giáo dưỡng, rèn kĩ năng nhiều mặt của một con người
Sở dĩ có thể xác định “kể chuyện” là một thuật ngữ vì nó có một kết cấu âmtiết ổn định, một phạm trù ngữ nghĩa nhất định Lâu nay thuật ngữ “kể chuyện” vẫndùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu chuyện có hình thức hoànchỉnh, được in trên sách báo
Trang 20(Xem Chu Huy, Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học NXB GD-2000, trang
b) Đặc điểm thể loại truyện và môn kể chuyện
Đặc điểm của môn kể chuyện
Kể chuyện có vị trí quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ, trước hết hành
Trang 21động kể là một hành động “nói”, đặc biệt trong hoạt động giao tiếp.Kể chuyện vậndụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạo điều kiện để học sinh rènluyện một cách tổng hợp các kĩ nằng tiếng việt như mghe, nói, đọc, viết.
Khi nghe thầy cô kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học ở dạnglời nói có âm thanh Khi các em kể chuyện là các em đang tái sinh hoặc sản sinhmột tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói
Vì chuyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyện có được sức mạnh của cảvăn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.Sự hiểu biết về cuộc sống,
về con người, tâm hồn, tình cảm, của các em sẽ nghèo đi biết bao nhiêu nếu khôngcòn môn kể chuyện trong trường học.Vì vai trò của hành động kể và sản phẩmtruyện, phân môn kể chuyện có vị trí quan trọng trong dạy học Tiếng việt
Phân môn kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện củacác em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe-nói , đồng thời phát triển tưduy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàuvốn sống và vớn văn học cho học sinh Phânmôn kể chuyện phát triển kĩ năng cho HS.Giờ kể chuyện rèn cho HS kĩ năng nóitrước đám đông dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật.Đồng thời với nói, các kĩ năng nghe đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triểntrong quá trình kể lại truyện đã nghe, kể lại chuyện đã đọc
Đặc điểm của thể loại truyện bao gồm cốt truyện, nhân vật và lời kể
Kể chuyện đòi hỏi phải có chuyện (cốt truyện) Cốt truyện là một sự việc
có mở đầu có diễn biến có kết cục và nó mang một ý nghĩa nào đó với đời sống
Về mặt ý nghĩa xã hội, những việc trong cốt truyện là những sự việc bao giờ cũng
Trang 22liện quan đến một người, một giai đoạn hay một mối quan hệ nào đó nhưng nó lại
có ý nghĩa cho mọi người, cho xã hội Cốt truyện thường được phân ra từng đoạn
Kể chuyện hay, hấp dẫn phải có các chi tiết, từ các chi tiết ấy cho ta biết điều gìdiễn ra trong cuộc sống và từ đó rút ra ý nghĩa, bài học nhân sinh
Yếu tố thứ hai phải kể đến là nhân vật Nhân vật là linh hồn của truyện nênkhi đặt tên truyện có thể lấy nhân vật như truyện Thạch Sanh, truyện Tấm Cám,truyện Thánh Gióng Nhân vật của chuyện có thể là người, là con vật, là loài vật,
đồ vật nhưng cững như con người, là người mang lốt loài vật Nhân vật có thể cótên hoặc không có tên Nhân vật trong truyện thường được phân theo các tuyếnnhân vật Nhân vật trong truyện còn được phân loại thành nhân vật chức năng,nhân vật tư tưởng Nhân vật trong truyện cổ tích thường là nhân vật chức năng
Đã là truyện thì phải có lời kể Lời kể là hình thức để con người truyền chonhau những kinh nghiệm, những thông tin bằng vốn sống của mình, cùng xúc độnghòa hợp với nhau trong tình cảm chung trong một câu chuyện Lời kể trong truyệnrất quan trọng, lời kể là một phương diện để phản ánh Mặt khác cũng là phươngtiện để biểu lộ thái độ tình cảm sự đánh giá của tác giả với cuộc sống Gắn liền vớingười kể thường có hai vị trí: kể theo ngôi thứ 3 hoặc theo ngôi thứ nhất Câuchuyện hay không hay phụ thuộc nhiều vào cốt truyện hay lời kể đặc biệt là lời kể.Phân biệt đọc truyện, kể chuyện
Trang 23-Đọc truyện phải đọc nguyên văn,
phải trung thành, không có điều kiện
sáng tạo như kể chuyện
Điều quan trọng, người kể phải làm saothể hiện được hết nội dung câu chuyện
đó bằng ngữ điệu, giọng kể làm chongười nghe hiểu được hết nội dung vănbản
Trang 24-Chuyện là sự việc được kể lạibằng lời nói miệng
Kể là lời nói có đầu có đuôi theotrình tự diễn biến sự việc để cho ngườikhác biết
Vậy kể chuyện là lời nói có đầu
có đuôi sự việc cho người khác biếtbằng lời nói miệng
1.1.1.3.3.Đặc điểm giao tiếp trong môn kể chuyện
Như ở trên đã trình bày, kể chuyện là một cuộc giao tiếp đặc biệt giữangười viết và người đọc Kể chuyện theo quan điểm giao tiếp có những đặc điểmriêng về các nhân tố giao tiếp so với các hình thức giao tiếp khác
Đặc điểm giao tiếp của kể chuyện xác định từ phía người kể:
Kể chuyện là thực hiện sự giao tiếp giữa người kể với người nghe, ngườiđọc, người xem Trong đó, người kể, người nghe, người đọc, người xem đóng vaitrò là những nhân vật tham gia giao tiếp Người kể có mục đích dụng ý khi kể câuchuyện, cũng như xác định đối tượng mà mình hướng đến Người kể phải biết xâydựng nội dung phù hợp với mục tiêu
Sử dụng ngôn ngữ làm sao đạt được hiệu quả nhất Thông qua câu chuyện,
dù ít hay nhiều người kể lẫn người đọc, người xem cũng bày tỏ thái độ của mình
Trang 25với câu chuyện Qua đó mà đích tác động của cuộc nói chuyện sẽ được xác địnhhiệu quả hay không.
Sự tác động của người kể đối với người nghe, người xem Trong cuộc giaotiếp giữa người kể và người nghe, người xem thì người kể giữ vai trò chủ động vềnhiều mặt Cụ thể:
-Chủ động xác định lớp độc giả cho mình: tức là chủ động xác định đốitượng mà mình giao tiếp Sự chủ động này tạo cho người kể quyền lựa chọn nộidung,xây dựng nhân vật cho phù hợp với đối tượng của mình Người kể cũng cầnxác định độc giả là người thưởng thức câu chuyện bằng lời hay văn tự Ngoài ra,
kể chuyện là một hình thức giao tiếp đặc biệt nên người kể cũng không nên chủquan cho rằng, chỉ đối tượng mà mình hướng đến mới đọc, xem truyện của mình.Trong thực tế, đối tượng thường thưởng thức truyện không thể nói chính xác, mộtcâu chuyện hay, hấp dẫn viết cho thiếu nhi đôi khi người lớn cũng say mê đọc
-Chủ động xác định mục đích giao tiếp Người kể xác định câu chuyện củamình nhằm mục đích tác động đến tình cảm, thái độ, hành vi của người đọc, ngườixem Đích tác động này có thể tác dụng ngay tức thì nhưng cũng có thể một thờigian sau mới có các tác dụng
+Hệ thống các biện pháp người kể dùng để tác động đến người đọc, ngườinghe, người xem
-Lựa chọn đề tài và chủ đề phù hợp đối tượng; xây dựng cốt truyện hợp lí,hấp dẫn đúng đề tài, chủ đề và thể hiện được mục đích của câu chuyện; xây dựngnhân vật có những đặc điểm tiêu biểu chuyền đạt được thông điệp mà câu chuyệnmuốn gửi gắm Tùy vào mục đích của người viết câu truyện mà cốt truyện có thểxây dựng từ đề tài, chủ đề hay nhân vật
-Lựa chọn các cách mở đầu, kết thúc và dẫn dắt câu chuyện Tùy thuộc vàophong cách và dụng ý của người kể mà câu chuyện sẽ được mở đầu, kết thúc vàphát triển như nào nhằm đạt được hiểu quả cao nhất
Trang 26- Lựa chọn ngôn ngữ: Người kể thường viết câu chuyện bằng ngôn ngữ màmình thông hiểu nhằm đạt được hiểu quả cao nhất Tuy nhiên, tùy theo đối tượng
mà câu chuyện hướng đến mà người kể sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp đặcbiệt là từ ngữ, cách diễn đạt,
*Đặc điểm giao tiếp của kể chuyện xác định từ phía người nghe, người
Trang 27+Vai trò chủ quan của người nghe, người xem trong cuộc giao tiếp vớingười kể chuyện theo quan điểm giao tiếp Người nghe, người đọc, người xemđóng vai trò là đối tượng mà người kể hướng đến Vì vậy, ngoài việc đánh giá câuchuyện ở khía cạnh ý nghĩa, cốt truyện, tình tiết, người đọc, người xem còn cóthể đánh giá tác phẩm ở kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, bút pháp của người kể
+Tác động trở lại của người nghe, người đọc, người xem với người kểtrong kể chuyện theo quan điểm giao tiếp
-Khi cuộc giao tiếp diễn ra, người nhận thường có phản ứng với nội dung
mà người phát đề cập đến Sự phản ứng này có tác động trực tiếp đối với ngườiphát và họ hoặc là thay đổi cách nói, đề tài hoặc là kết thúc để cuộc giao tiếp có thểtiếp tục Cuộc giao tiếp diễn tiến theo chiều hướng xấu hay tốt tùy thuộc vào sựđiều chỉnh ở người phát.Vì vậy, kể chuyện theo quan điểm giao tiếp chủ yếu là sựtác động trực tiếp của người nghe với người kể
-Ngược lại, người nghe có sự tác động trực tiếp đối với người kể: thái độthích thú, hào hứng hay thờ ơ, tỏ ra chán trường không muốn nghe hoặc thậm chíkhông đồng tình với câu chuyện đang được kể của người nghe có ảnh hưởng đến
cử chỉ, giọng điệu, tâm lí của người kể
+Các hình thức tác động gián tiếp của người đọc, người nghe, người xemvới người kể trong kể chuyện theo quan điểm giao tiếp
-Từ phía dư luận đã đọc trước đó hoặc đã biết qua nội dung mà người đọcquyết định mua hay không mua, đọc hay không đọc, xem hay không xem tác phẩm
Trang 28của người kể Như vậy, người kể cần phải biết những thông tin này từ phía ngườinghe, người xem để có sự nhận định khách quan về chính tác phẩm của mình
-Người đọc, người xem có thể lên tiếng phê phán hay ca ngợi sau khi đọccâu chuyện Dù phê phán hay ca ngợi thì đó cũng là những quan điểm cá nhân.Người kể cần nhận ra những góp ý hợp lí và nếu có điều chỉnh thì cũng không làmmất nét riêng, dấu ấn cá nhân của mình trong tác phẩm
Mối quan hệ giao tiếp giữa các nhân vật trong câu chuyện
*Kể chuyện theo quan điểm giao tiếp, xét về phương diện giao tiếp, là hệthống các tình huống giao tiếp giữa các nhân vật mà mình hướng tới mục đích củacâu chuyện Chuyện là sự việc có diễn biến nhằm nói lên một điều gì đó và sự việcbao gồm nhiều tình tiết khác nhau Tình tiết là các sự kiện, các biến cố, các quan
hệ thúc đẩy sự phát triển của các nhân vật và cốt truyện (giáo trình lí luận văn
học-Lê Tiến Dũng) Về phương diện giao tiếp, mỗi tình huống giao tiếp Qua các tìnhhuống giao tiếp mà tính cách, số phận của nhân vật được bộc lộ và cốt truyện đượchình thành Thông qua các tình huống giao tiếp mà người kể dần dần thể hiện mụcđích của câu chuyện Ở mỗi tình huống giao tiếp rời rạc có thể mục đích câuchuyện chưa được bộc lộ nhưng nếu liên kết các tình huống lại thì các tình huốngđều hướng đến mục đích của câu chuyện
*Xây dựng (thể hiện) các tình huống giao tiếp trong câu chuyện
-Các tình huống giao tiếp phải phù hợp với bối cảnh câu chuyện và cầndiễn ra theo trình tự lôgic nội tại của tác phẩm để cùng hướng đến mục đích củacâu chuyện
-Các tình huống giao tiếp phải là những tình huống ngẫu nhiên để tạo được
sự mới lạ, hấp dẫn Trong đó, các nhân vật đối thoại với nhau tự nhiên để bộc lộtính cách, thân phận của mình
1.1.2.Cơ sở tâm lí
1.1.2.1 Nhận thức cảm tính
Trang 29Tri giác mang tính cụ thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định.Ởgiai đoạn lớp 4,5 tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vậthiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, cóphương hướng rõ ràng.Tri giác có chủ định ( trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắpxếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới,mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thíchtrẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
*Chú ý
Chú ý có có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực
về chú ý trong học tập như thuộc lòng một bài thơ, một công thức toán học haymột vài bài hát, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tốthời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào
đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
*Trí nhớ
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ
Trang 30định còn phụ thuộc vào nhiều như mức độ tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫncủa nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của cácem
*Ý chí
Đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động củamình Tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cáchcủa các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Trang 32+Đa số học sinh đều thích học phân môn kể chuyện vì ở tiết kể chuyện nhucầu kể chuyện cho các bạn nghe và nhu cầu được nghe các bạn kể chuyện rất cao.
* Nhược điểm:
-Trên thực tế giảng dạy giáo viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn:
+SGK đưa ra hệ thống những bài tập kể chuyện theo tranh minh họanhưng trong sách hướng dẫn lại không hướng dẫn cách phân tích tranh
+Khi áp dụng phương pháp vấn đáp để hướng dẫn HS trả lời câu hỏi chokiểu bài kể chuyện theo lời gợi ý,GV lại gặp khó khăn khác như:những câu hỏitrong SGK nhiều khi không phát huy được khả năng nói cho học sinh.Hệ thống câuhỏi gợi ý của một số bài, một câu hỏi thường lặp đi lặp lại gây ra sự đơn điệu nhàmchán đối với học sinh.Ở hầu hết các bài đều sử dụng câu hỏi mang tính tái hiện vànhư vậy thì sẽ không phát huy được khả năng nói của học sinh
Trang 33+Ngoài ra giáo viên còn gặp khó khăn trong việc chia nhóm và tổ chứcphân vai, nhập vai cho học sinh.Những phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải cókhả năng nhất định khi tổ chức cho học sinh hoạt động.Đa số giáo viên vẫn cònlúng túng khi thực hiện.Hơn nữa, ở hình thức này tài liệu hướng dẫn không đưa ranhững gợi ý cụ thể để GV làm công cụ giảng dạy.
+Phần lớn các trường tiểu học đều đi vào dạy theo chương trình mới chứkhông qua giai đoạn thực nghiệm.Vì thế, GV còn gặp nhiều khó khăn và không cócần thiết Để đạt được hiệu quả cao hơn, thì cần chú trọng đến việc rèn luyện kĩ
kinh nghiệm trong việc áp dụng phương pháp dạy mới
-Học sinh cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực hiện những bài tập
+ SGK và sách giáo viên chưa có hướng dẫn chi tiết cho phân môn kể
chuyện để giáo viên làm cơ sở giảng dạy
+Hệ thống bài tập kể chuyện chưa chú ý phát huy năng lực nói cho học
Trang 34+Ngoài ra giáo viên còn gặp khó khăn trong việc chia nhóm và tổ chứcphân vai, nhập vai cho học sinh.Những phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải cókhả năng nhất định khi tổ chức cho học sinh hoạt động.Đa số giáo viên vẫn cònlúng túng khi thực hiện.Hơn nữa, ở hình thức này tài liệu hướng dẫn không đưa ranhững gợi ý cụ thể để GV làm công cụ giảng dạy.
+Phần lớn các trường tiểu học đều đi vào dạy theo chương trình mới chứkhông qua giai đoạn thực nghiệm.Vì thế, GV còn gặp nhiều khó khăn và không có
cần thiết Để đạt được hiệu quả cao hơn, thì cần chú trọng đến việc rèn luyện kĩsinh
+GV chưa có những cơ sở lí luận vững chắc và đồng bộ cho việc học theohướng giao tiếp của chương trình hiện nay
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi thấy việc dạy kểchuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5 qua phân môn kể chuysện là
Trang 35năng giao tiếp cho học sinh.
Trang 36CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN THEO QUAN
ĐIỂM GIAO TIẾP CHO HỌC SINH LỚP 4,5
2.1.Nguyên tắc đề xuất các biện pháp dạy kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học lớp 4,5
2.1.1.Đảm bảo mục tiêu môn học
Việc đề xuất các biện pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4,5 theoquan điểm giao tiếp phải dựa trên mục tiêu dạy học Tiếng Việt nói chung và dạyhọc kể chuyện nói riêng
Mục tiêu lớn nhất của môn Tiếng Việt là trang bị cho học sinh một phươngtiện giao tiếp bằng Tiếng Việt Chương trình Tiếng Việt hiện hành đang chủchương chuyển từ mục tiêu nhận diện, mô tả, phân loại các đơn vị sang mục tiêu
sử dụng Tiếng Việt như một phương tiện giao tiếp, hình thành và phát triển các kĩnăng Tiếng Việt (nghe, nói , đọc, viết) cho học sinh Các mục tiêu trên đòi hỏi giáoviên phải xây dưng hệ thống biện pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 4,5một cách thiết thực nhằm nâng cao và phát triển các kĩ năng Tiếng Việt cho họcsinh
Bởi vậy, muốn xây dưng hệ thống biện pháp dạy học kể chuyện cho họcsinh lớp 4,5 theo quan điểm giao tiếp ta phải dựa trên chuẩn trình độ kĩ năng cần
có, đó là:
+Phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh
+Củng cố, mở rộng vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình tượng và tư duylôgic, nâng cao khả năng cảm nhận hiện thực đời sống qua nội dung câu chuyện
+Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, tăng hứng thú đọc và kể chuyện cho học sinh,đem lại niềm vui cho các em trong hoạt động học tập môn Tiếng Việt
2.1.2.Đảm bảo phù hợp với trình độ của học sinh
Dạy học Tiếng Việt hiện nay đang có rất nhiều đổi mới về mục tiêu, phươngpháp, hình thức tổ chức dạy học Trong đó, mục tiêu quan trong nhất của dạy học
Trang 37Tiếng Việt là hình thành và phát triển các kĩ năng nghe, nói , đọc, viết cho học sinh
để phục vụ hoạt động học tập và giao tiếp.Vì vậy, dạy học kể chuyện cho học sinhlớp 4,5 không chỉ nhằm cung cấp tri thức mà còn phải hình thành, phát triển khảnăng giao tiếp , nâng cao khả năng sử dụng từ ngữ ,gắn với các kĩ năng kể chuyệntrong giao tiếp cho học sinh Vì thế, việc đề xuất các biện pháp dạy học kể chuyệncho học sinh lớp 4,5 theo quan điểm giao tiếp phải xuất phát từ thực tiễn, từ tínhthiết thực, tính mục tiêu của nội dung dạy học, từ đó góp phần nâng cao hiệu quảdạy học kể chuyện Khi đề xuất các biện pháp, cần chú ý đến vốn từ ngữ, tư duy,kinh nghiệm sống của học sinh để lựa chon cho phù hợp
2.1.3 Đảm bảo tính hấp dẫn
Xuất phát từ đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4,5, muốn học sinh tích cực,hứng thú tham gia vào hoạt động học tập, nội dung học tập phải hấp dẫn, sinhđông, vừa sức với học sinh Đây cũng là yêu cầu cơ bản của nguyên tắc này
Đảm bảo tính hấp dẫn , bài tập trước tiên phải vừa sức, không quá khó cũng
ko quá dễ với học sinh, phù hợp với trình độ của học sinh Nội dung dạy học phảihấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia Ngoài ra, các biện pháp đề xuất phải phongphú, đa dang, tổ chức dưới các hình thức học tập phong phú như : các hoạt độngđóng vai, các hoạt động trò chơi
2.2.Hệ thống biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5
2.2.1.Rèn kĩ năng hướng dẫn người nghe, giao tiếp với người nghe khi kể chuyện
Kể chuyện là người kể đang giao tiếp với người nghe, nhằm chuyển tải nộidung câu chuyện sang cho người nghe Người nghe có quyền đánh giá lời kể cóhay, có hấp dân, có thu hút hay không.Vì vậy, người kể chuyện bao giờ cũng phảixác định rõ ràng kể chuyện cho ai nghe Như vậy thì học sinh sẽ có lối dùng từ,dùng câu văn cho hợp lí.Giáo viên có thể đưa ra ví dụ về người nghe như kể cho bố
Trang 38mẹ, kể cho ông bà, kể cho anh chị nghe khi kể cho họ nghe em sẽ có giọng điệu,
cử chỉ như thế nào.Vì vậy, trước khi kể chuyện và sau khi kể chuyện phải có lờigiới thiệu, lời chào, lời cảm ơn.Ví dụ “chào mọi người,hôm nay tôi xin kể cho mọingười nghe câu chuyện sự tích hồ Ba Bể Sau đây tôi xin “kể” và “ Câu chuyện củatôi đến đây là hết.Cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe”
Khi kể chuyện phải luôn hướng đến người nghe,giao tiếp với người nghe.Đây là kĩ năng rất cần thiết và quan trọng khi kể chuyện vì khi kể chuyện nhằmmục đích rèn kĩ năng nói mà khi nói cần có người nghe
2.2.1.1.Đa dạng hóa cách giới thiệu câu chuyện
Yêu cầu chung
Xét về mặt giao tiếp, khi giới thiệu câu chuyện phải phù hợp với đối tượngvới hoàn cảnh câu chuyện Một câu chuyện có thể có nhiều cách giới thiệu khácnhau, dựa vào kết cấu câu chuyện có thể có các cách giới thiệu sau:
+Giao tiếp với người nghe.Giới thiệu câu chuyện mình sẽ kể và kể theo lờicủa ai.Người kể chuyện phải giao tiếp với người nghe để giới thiệu câu chuyệnmình kể Ví dụ “Chào các bạn,hôm nay tôi xin kể cho các bạn nghe câu chuyện
“Lời ước dưới trăng” theo lời của tác giả Sau đây tôi xin phép được bắt đầu kểchuyện”
+Từ tình tiết giữa chuyện Khi muốn nhấn mạnh hoặc làm nổi bật một tìnhtiết hay một sự kiện nào đó để thu hút những người đang cùng tham gia giao tiếp,
ta có thể lựa chọn một tình tiết giữa chuyện để mở đầu câu chuyện
+Từ một nhận xét hoặc một bài học được rút ra Đây là cách giới thiệu phùhợp với những người có thời gian suy ngẫm về những lời nhận xét hay về một ýnghĩa của một câu chuyện nào đó Một nhận xét để mở đầu câu chuyện có thể lànhận xét, một lời bình về nhân vật, về ý nghĩa hay về điều gì đó mà bạn nhận thấy
Một số dạng bài tập rèn kĩ năng giới thiệu trong kể chuyện để giao tiếp vớingười nghe