1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp (acari oribatida) ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc vườn quốc gia ba bể

63 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần loài của quần xã Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300 thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể .... Chỉ số đa dạng loài H‟ ở các sinh cảnh trảng cỏ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠ M HÀ NỘI 2

ĐỘ CAO 300M THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh thái học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sinh thái học

Người hướng dẫn khoa học

TS Đào Duy Trinh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu

sắc tới TS Đào Duy Trinh, người thầy ngay từ đầu đã định hướng và tận tình

hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ khoa học và tạo điều kiện nghiên cứu củaBan Chủ nhiệm Khoa Sinh – KTNN cùng các cán bộ của bộ môn Động vậthọc của Trường ĐHSP Hà Nội 2 ngôi trường mà tôi đang học và thực hiệnkhóa luận Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn Ban Giám Đốc, cán bộ, nhânviên Vườn Quốc gia Ba Bể đã tạo điều kiện, giúp đỡ, cung cấp thông tin cầnthiết cho tôi trong thời gian nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình của tôi, cùng cácbạn nơi tôi đang học đã tạo điều kiện giúp tôi về thời gian, động viên về tinhthần để tôi vượt qua mọi khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, tất cả các số liệu và những kết quả nghiên cứutrong khóa luận này đều do tôi nghiên cứu, số liệu hoàn toàn trung thực,không trùng lặp với các đề tài khác và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kìnghiên cứu nào Các thông tin đã được trích dẫn trong luận văn là hoàn toànchính xác, được lấy từ các tài liệu có nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của đề tài 3

NỘI DUNG 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Lược sử nghiên cứu 4

1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam 5

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2.1 Địa điểm và thời gian ngiên cứu 8

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 8

2.1.2 Thời gian nghiên cứu và số lượng mẫu 10

2.2 Vật liệu nghiên cứu 10

2.3 Phương pháp nghiên cứu 11

2.3.1 Xác định thành phần loài Oribatida 11

2.3.2 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu 15

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300 thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 18

Trang 6

3.1.1 Thành phần loài của quần xã Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300 thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể 18 3.1.2 Đặc điểm phân bố của các loài Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể 22 3.1.3 Đặc điểm phân bố của các loài Oribatida ở sinh cảnh vườn quanh nhà độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể 24 3.1.4 Đặc điểm phân bố của các loài Oribatida ở sinh cảnh đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể 25

3.2 Cấu trúc quần xã Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ cây bui, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể 27

3.2.1 Biến đổi của cấu trúc quần xã Oribattida theo tầng thẳng đứng 28

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT

6 S Số lượng loài theo tầng phân bố

7 S1 Tổng số lượng loài theo sinh cảnh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số lượng mẫu thu được ở độ cao 300m thu được ở Vườn Quốc

gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 10Bảng 3.1 Thành phần loài và sự phân bố Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ

cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300 thuộc VườnQuốc gia Ba Bể 18Bảng 3.2 Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatid theo sinh cảnh

trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác ở độ cao 300mthuộc Vườn Quốc gia Ba Bể 27Bảng 3.3 Những loài ưu thế trong sinh cảnh trảng cỏ cây bụi độ cao

300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể (đ/v: %) 32Bảng 3.4 Những loài ưu thế trong sinh cảnh vườn quanh nhà độ cao

300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể (đ/v: %) 33Bảng 3.5 Những loài ưu thế trong sinh cảnh đất canh tác độ cao 300m

thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể (đ/v: %) 34

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ khu vực lấy mẫu 8Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007) 12Hình 2.3 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan Oribatida bậc cao 13Hình 3.1 Số lượng loài theo tầng phân bố ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi,

vườn quanh nhà, đât canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc

gia Ba Bể 28Hình 3.2 Chỉ số đa dạng loài H‟ ở các sinh cảnh trảng cỏ cây bụi,

vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc

gia Ba Bể 30Hình 3.3 Chỉ số đồng đều J‟ ở các sinh cảnh trảng cỏ cây bụi,

vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc

gia Ba bể 31Hình 3.4 Cấu trúc ưu thế của Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi

độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể 35Hình 3.5 Cấu trúc ưu thế của Oribatida ở sinh cảnh vườn quanh nhà

độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể 36Hình 3.6 Cấu trúc ưu thế của Oribatida ở sinh cảnh đất canh tác

độ cao 300m thuộc VQG Ba Bể 36

Trang 10

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 11

Vườn Quốc gia Ba Bể là một khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặcdụng, khu du lịch sinh thái của Việt Nam, nằm trên địa phận tỉnh Bắc Kạn,với trung tâm là hồ Ba Bể Vườn Quốc gia Ba Bể là một di sản thiên nhiênquý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loài thực vật

và 299 loài động vật có xương sống Nhiều loài động vật quý vẫn còn lưu giữ,bảo tồn….Vườn Quốc gia Ba Bể là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng vớiphong cảnh kỳ thú và sự đa dạng sinh học Đã có nhiều nghiên cứu về độngvật ở đây như: chim, thú, bò sát,…[22] nhưng về thành phần và cấu trúcOribatida vẫn còn rất ít Ngoài tự nhiên chúng sống chủ yếu trong môi trườngđất và các môi trường sống liên quan với hệ sinh thái đất, như thảm lá rừng vàxác vụn thực vật, trên thân cây hay lớp rêu bám trên thân cây, đất treo trêncành cây, trong tán lá cây xanh Đặc biệt nhóm Ve giáp Oribatida (Acari:Oribatida) cơ thể có vỏ cứng, mật độ quần thể lớn, đa dạng về thành phầnloài, đặc điểm phân bố rộng, d thu lượm, d nhận dạng, lại rất nhạy cảm vớinhững biến đổi của môi trường sống [3

Vườn Quốc gia Ba Bể chưa có nhiều công trình nghiên cứu về nhómđộng chân khớp bé, đặc biệt là ở độ cao 300m Gần đây do việc khai thác tàinguyên thiên nhiên, du lịch, nghiên cứu đã tác động không nhỏ đến sinhcảnh ở Vườn Quốc gia Ở các sinh cảnh trang cỏ cây bui, vườn quanh nhà,đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể chưa có công trìnhnghiên cứu nào về nhóm động vật chân khớp bé và vai trò chỉ thị của chúnglàm cơ sở khoa học cho việc quản lý và khai thác bền vững tài nguyên củaVườn Quốc gia

Hiện tại, khu hệ Ve giáp ở Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã có một

số tác giả nghiên cứu Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Vũ QuangMạnh

Trang 12

(2002) về: “Đa dạng quần xã Ve giáp (Acari: Oribatei) vùng đồi núi Đông Bắc

và Bắc Kạn”, Báo cáo Hội nghị Vườn Quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn, 26 –27/9/2002 [1]; Đào Duy Trinh, Nguy n Thị Huyền Trang, Nguy n ThanhTùng, “Cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: Oribatida) ở hệ sinh thái đất rừng tựnhiên độ cao

300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể”[10] Tuy nhiên chưa có công trình nàonghiên cứu đồng bộ về cấu trúc quần xã Ve giáp ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi,vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể

Vì thế với mong muốn bổ sung dẫn liệu mới và mở rộng sự hiểu biết đầy

đủ về Ve giáp Việt Nam vì những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài nghiên

cứu: “Nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: oribatida) ở sinh cảnh

trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể”.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida, liênquan đến yếu tố tự nhiên bao gồm sinh cảnh và chiều sâu thẳng đứng trongsinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộcVườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn làm cở khoa học cho việc đánh giá vai tròchỉ thị của Oribatida trong việc quản lý, khai thác sử dụng bền vững hệ sinhthái đất Việt Nam

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Lập danh sách các loài Oribatida đã biết ở sinh cảnh trảng cỏ câybụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể,tỉnh Bắc Kạn

3.2 Nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribattida về đặc điểm phân bố, mật

độ quần thể, độ ưu thế, đa dạng loài (H‟), độ đồng đều (J‟),ở sinh cảnh trảng cỏcây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba

Bể, tỉnh Bắc Kạn

Trang 13

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari),lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata),ngành Chân khớp (Arthropoda), của Giới Động vật (Animalia) ở sinh cảnhtrảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốcgia Ba Bể

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida ở sinhcảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc VườnQuốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn liên quan đến yếu tố tự nhiên, bao gồm:Sinh cảnh và chiều sâu thẳng đứng trong đất (0-10cm và 10-20cm)

5 Đóng góp mới của đề tài

Khóa luận cung cấp số liệu về đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân

bố của Oribatida ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác

độ cao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể

Khóa luận cung cấp dẫn liệu về cấu trúc quần xã Oribatida ở sinh cảnhtrảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300m thuộc Vườn Quốcgia Ba Bể Cấu trúc quần xã Oribatida được cung cấp về các chỉ tiêu như: đặcđiểm phân bố, mật độ quần thể, độ ưu thế, chỉ số đa dạng loài (H‟), chỉ sốđồng đều (J‟) theo sinh cảnh và chiều sâu thẳng đứng trong đất

Khóa luận bổ sung tư liệu về thành phần loài Oribatida, góp phần đánhgiá tài nguyên đa dạng động vật đất của Việt Nam, và khảo sát cấu trúc quần

xã Oribatida như yếu tố chỉ thị sinh học, góp phần dự đoán ảnh hưởng của cácyếu tố tác động đến hệ sinh thái đất nói chung và đến quần xã Oribattida nóiriêng

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Việc nghiên cứu phân tíc sự thay đổi các đặc trưng định lượng củaOribatida (số lượng loài, mật độ, chỉ số đa dạng H‟, chỉ số đồng đều J‟) theodạng sinh cảnh, theo độ sâu đất được áp dụng ở khu Vườn Quốc gia Ba Bểlàm cơ sở khoa học chỉ ra những tác động tích cực cũng như tiêu cực của cácnhân tố môi trường, con người đến hệ sinh vật đất

1.2 Lược sử nghiên cứu

1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới

Một trong những nghiên cứu khoa học đầu tiên về động vật ở đất là nhà

tự nhiên học người Anh, Saclơ Dacuyn Ngay từ năm 1881, cuốn sách “Sự tạomùn nhờ các hoạt động của giun đất” đã được công bố ở Luân Đôn Trongnhững năm cuối của thế kỷ thứ XIX có hàng loạt các công trình nghiên cứu

về giun đất của H Post (1862), Hesen (1882) hay các công trình nghiên cứu

về vai trò phân hủy xác thực vật của nhà khoa học người Đan Mạch P Miller(1879,1884)….[23]

Cho đến những năm đầu thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu đã đồng thời mởrộng nghiên cứu đồng bộ hầu hết các nhóm sinh vật sống trong đất… vànhững năm 50 của thế kỷ 20, bộ môn khoa học sinh học mới ra đời đó là khoahọc sinh thái đất được hình thành như một chuyên ngành riêng Các trung tâmnghiên cứu về sinh vật đất được ra đời ở nhiều nước trên thế giới, công bố cáckhoa học cơ sở về nhiều nhóm động vật đất và sinh thái đất… Cũng trongthời kỳ này các công tác nghiên cứu cơ bản, ứng dụng bước đầu đề xuất từmột số vấn đề liên quan về quản lý phát triển bền vững tài nguyên đa dạngsinh vật đất, hệ sinh thái đất [23]

Trang 15

Khu hệ Oribatida được nghiên cứu từ rất sớm và di n ra ở hầu hết cácnước có nền khoa học phát triển như Đức, Pháp, Ý, Nga,…Mặc dù có rấtnhiều công trình và dẫn liệu về sự đa dạng và phong phú của khu hệ động vậtđất này, tuy nhiên theo Behan- Pelletier et al., 2000 [14] thì số loài thực tếhiện biết chỉ chiếm khoảng ¼ số loài có trong thực tế.

Berlese là một trong số những người quan tâm đến Ve giáp ở Châu Âusớm nhất Các công trình nghiên cứu về Acari trước đây của ông có một vị tríđặc biệt và có một vai trò vô cùng quan trọng vì đó đều là những loài mới chokhoa học Năm 1881 đến năm 1923 ông đứng tên một mình, hoặc đồng tácgiả của 73 công trình nghiên cứu về Acari, Microarthropoda, Scorpiones.Trong đó, ông đã mô tả 120 loài Oribatida và đều viết bằng tiếng la tinh rấtngắn gọn chỉ gồm một vài nét gạch đầu dòng [14]

Krivolutsky, 1979 đã nghiên cứu về vai trò chỉ thị của Oribatida vàkhẳng định chúng là nhóm chỉ thị sinh học tốt cho kiểu đất, cho mức độ ônhi m đất bởi phóng xạ [17]

Trong những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu về Oribatida di n

ra mạnh mẽ và có nhiều kết quả của các tác giả được công bố, trong đó mộtchuyên gia Oribatidda người Thụy Sĩ đã tổng hợp và công bố bản danh mụccác loài Oribatida đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh sách gồm 543 loàiOribatida thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Oribatida đã đượcthu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ như: Cu

Ba (225 loài), Antiles (387 loài), Lasser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài),Dominica (21 loài),…(Schatz, 2002) [19] Hiện tại 498 loài còn ở dạng sp,cf…Số lượng loài Oribatida của Trung Mỹ, bao gồm cả Mehico là 987 loài,nếu cộng cả thêm Antiles nữa, con số này là 1238 loài (Schatz, 2002) [19]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam

Ở Việt Nam và Đông Dương trước năm 1945 đã có một số công trìnhnghiên cứu của các tác giả nước ngoài về một số nhóm động vật đất như thân

Trang 16

mềm, gián, bọ hung, bọ nhảy, mối, ruồi… Sau đó, các nghiên cứu về động vậtđất ở Việt Nam được tập trung vào những nhóm ưu thế và có ý nghĩa kinh tế,

y học như muỗi, bọ hung, côn trùng hai cánh, một số nhóm chân khớp bé,giun tròn, giun đất…Trong các nghiên cứu này động vật chưa được khảo sátđầy đủ và đồng bộ bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành riêng.Chúng cũng không được đánh giá như 1 thành phần không thể thiếu trong cấutrúc chu trình dinh dưỡng của các quần xã sinh vật cạn [22]

Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam cònchưa được chuyên sâu và đồng bộ Năm 1960, lần đầu tiên hai tác giả ngườiHungari là balogh J và Mahunka S nghiên cứu và giới thiệu khu hệ, danh

pháp và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp trong công trình “New

oribatids from Viet Nam” Trong đó mô tả 29 loài và 4 giống mới, tiếp theo là

những nghiên cứu của tác giả Tiệp Khắc[13]

Năm 2002, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã đưa ra dẫn liệu bổsung về vai trò, cấu trúc của quần xã Oribatida ở vùng Tam Đảo, tỉnh VĩnhPhúc Có nhận xét cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái đất có liên quan rõrệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem xét, đánh giá nhưmột đặc điểm sinh học, chỉ thị di n thế của rừng Tam Đảo nói riêng và củaViệt Nam nói chung [6]

Năm 2010, các tác giả Đào Duy Trinh, Trịnh Thị Thu, Vũ Quang Mạnh

đã đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và địa động vậtkhu hệ Oribatida ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ Ghi nhận được 103loài thuộc 48 giống, 28 họ, số loài giảm dần theo độ cao và theo thứ tự: rừng

tự nhiên → trảng cỏ cây bụi → rừng nhân tác → đất canh tác → vườn quanhnhà [8]

Năm 2014, Đào Duy Trinh, Hứa Thị Huế, Nông Thị Kiều Hoa, PhạmVăn Ngọc, Trần Văn Vinh, Vũ Quang Mạnh, nghiên cứu sự biến động thànhphần loài thuộc bộ Ve giáp ở KCN Phúc Yên - Vĩnh Phúc và phụ cận đã phát

Trang 17

hiện được 39 loài Ve giáp (Acari: Oribatida), thuộc 18 họ và 29 giống Trong

đó sinh cảnh khu công nghiệp có số lượng loài nhiều nhất 29 loài (chiếm56,9% so với tổng số loài), tiếp theo đến Vườn quanh nhà 12 loài (chiếm23,5% so với tổng số loài) và cuối cùng sinh cảnh ruộng 10 loài (chiếm 19,6%

so với tổng số loài) KCN các chỉ số sinh học lớn nhất so với các sinh cảnhVQN và RCT: N=212; S=29; H‟= 2.508 [11]

Năm 2017, Đào Duy Trinh, Nguy n Thị Huyền Trang, Nguy n ThanhTùng nghiên cứu cấu trúc quần xã ve giáp ở hệ sinh thái đất rừng tự nhiên độcao 300m thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể đã ghi nhận được 59 loài vegiáp(Acari: Oribatida) thuộc 45 giống và 27 họ Số loài Oribatida có sự biếnđộng khá lớn theo tầng phân bố theo thứ tự giảm dần: từ tầng thảm lá có 39loài, đến tầng thảm rêu có 21 loài, tầng đất 0-10cm có 19 loài và ít nhất tầngđất 10-20cm với 16 loài

Mật độ trung bình: ở tầng rêu 28 cá thể/kg, tầng lá 5900 cá thể/m2, tầngđất 10-20cm 2480 cá thể/m2, tầng đất 0-10cm 2960 cá thể/m2

Độ đa dạng loài H‟: đạt giá trị lớn nhất ở tầng đất mặt 0-10cm(H‟=3,035), đến tầng thảm rêu (H‟=2,805), ở tầng thảm lá (H‟=2,761) và thấpnhất ở tầng đất sâu 10-20cm (H‟=2,401)

Độ đồng đều J‟: đạt giá trị khá cao trong sinh cảnh nghiên cứu, lớn nhất

ở tầng đất mặt 0-10 cm (J‟=0,9428), tiếp đến tầng đất 10-20cm (J‟=0,9359), ởtầng thảm rêu (J‟=0,9214) và tầng thảm lá (J‟=0,759)[10]

Như vậy những nghiên cứu về Ve giáp ở Việt Nam đang có hướng pháttriển thu được những thành tựu đáng kể Việc nghiên cứu Ve giáp ở nhiềuvùng miền, nhiều hệ sinh thái khác nhau là cần thiết, đặc biệt là các nghiêncứu tổng hợp cấu trúc quần xã Ve giáp về thành phần loài, mật độ quần thể,

độ đa dạng loài, độ đồng đều quần xã và việc đánh giá vai trò của chúng trong

hệ sinh thái, giúp hiểu biết đầy đủ về tài nguyên đa dạng sinh học Việt Nam,

là cơ sở khoa học cho việc quản lý và khai thác bền vững hệ sinh thái đất

Trang 18

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian ngiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành ở độ cao 300m ở sinh cảnhtràng cỏ cây bụi, vườn quan nhà, đất canh tác tại Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnhBắc Kạn

x x

Hình 2.1 Sơ đồ khu vực lấy mẫu[22]

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

* Vị trí địa lý và địa hình

Vườn có tọa độ là 105°36′55″ kinh đông, 22°24′19″ vĩ Bắc Nó nằm trênđịa bàn 5 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Cao Thương, Quảng Khê, Cao Trĩ thuộchuyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Vườn quốc gia này cách thành phố Bắc Kạn 50

Trang 19

km và Hà Nội 250 km về phía bắc, thuộc địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.VQG Ba Bể ở độ cao 145m so với mặt nước biển, diện tích mặt hồkhoảng 500ha được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều suối ngầm vàhang động [22].

Do kiến tạo địa chất, sự bồi đắp của các con sông, suối đã tạo cho Ba Bểnhững bồn địa, những thung lũng lòng máng, lòng chảo, đất đai khá màu mỡthích hợp với việc trồng lúa, ngô, các loại rau, đậu, cây công nghiệp (mía,bông) và cây ăn quả (cam, quýt, chuối, hồng) [22]

2.1.1.2 Đặc điểm dân sinh và sản xuất kinh tế

* Đặc điểm dân sinh

VQG Ba Bể nằm trong diện tích của 5 xã có nhiều dân tộc sinh sống chủyếu là dân tộc Tày và dân tộc Nùng

Sự phân bố giữa các xã không đồng đều, phần lớn tập trung dọc các trụcđường giao thông [22]

Trang 20

2.1.2 Thời gian nghiên cứu và số lượng mẫu

Chúng tôi tiến hành khảo sát và điều tra cấu trúc quần xã Ve giáp từtháng 6 năm 2015 Chúng tôi tiến hành lấy mẫu vào 30/06/2015 với số lượng

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộp chữnhật cỡ (5x5x10) cm Túi nilong dựng mẫu, bút dạ không xóa, sổ ghi chép,dụng cụ đào đất … Máy xác định tọa độ địa lý GPS là thiết bị thu và sử lý tínhiệu từ các vệ tinh địa tĩnh để xác định tọa độ địa lý của bất kì địa điểm nàotrên trái đất [4]

Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Hệ thống lọc mẫu đất (râylọc, ph u lọc,…) Dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản: đĩa petri,lam kính, lamen, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông ; Kính lúp OlympusSZ40; Kính hiển vi; Labomed Seme Plan Achro Lp:40x/0,65 5121040 Hoáchất sử dụng : Glixerol, Formaldehyt, Cồn 900 [5] [3]

Trang 21

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Xác định thành phần loài Oribatida

* Thu mẫu đất

Ở Vườn Quốc gia Ba Bể chúng tôi tiến hành thu mẫu đất đối với cácsinh cảnh trảng cỏ cây bụi,, vườn quanh nhà và đất canh tác(ở các sinh cảnhnày không có tầng rêu và thảm lá) Mẫu đất được lấy ở độ sâu 0-10cm và 10-20cm với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x10cm3, mẫu đất được lấy theo ôtiêu chuẩn với diện tích mỗi ô là 1m2, mỗi ô tiêu chuẩn lấy 5 mẫu gồm 4 góc

và một mẫu ở giao điểm của 2 đường chéo

* Tách lọc mẫu Oribatida theo phương pháp ph u lọc “Berlese –Tullgren”

Dụng cụ dùng trong phương pháp này gồm có ph u thủy tinh và rây lọc

Ph u thủy tinh có đường kính miệng là 18cm, đường kính vòi là 1,5cm Bộ

ph u được đặt trong giá gỗ, vòi ph u gắn với ống nghiệm chứa dung dịchformon 4%, bên trong có nhãn ghi thời gian đặt mẫu, địa điểm, tầng đất….Rây lọc hình trụ đặt trên ph u, thành của rây lọc là vành kim loại, đườngkính

15cm, cao 4cm, lưới lọc bằng sợi nilon, kích thước mắt lưới (1,0 x 1,0)mm [5]

Sử dụng phương pháp truyền thống trong nghiên cứu khu hệ và sinh tháiđộng vật đất ở thực địa và trong phòng thí nghiệm theo Krivolutsky [15]

Các mẫu đất sau khi thu ở thực địa về, sẽ tiếp tục tiến hành tách động vậtchân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp ph u lọc “Berlese- Tullgren”, dựatheo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất, trong thờigian 7 ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm

Để xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vật thuđược nhờ ph u “Berlese- Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩapetri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫuOribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung

Trang 22

dịch định hình là formaldehyt 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghiđầy đủ ngày thu mẫu, địa điểm Toàn bộ tiêu bản định loại và các mẫu vậtđược bảo quản tại phòng động vật, khoa Sinh – KTNN, Đại học sư phạm HàNội 2.

Đặc điểm hình thái phân loại

Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể Oribatida (Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]

 Prosoma là phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và IV.

 Proterosoma là phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước.

Hysterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp

sinh dục (G) và 2 đôi chân sau

 Prodorsum là tấm giáp đầu ngực; Notogaster là tấm giáp lưng.

 Gnathosoma là phần hàm miệng.

 Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II.

Trang 23

 Metapodosoma là phần thân giữa mang đôi chân III và IV.

 Podosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân.

Hình 2.3 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan Oribatida bậc cao

a Mặt lưng, b Mặt bụng, c Mặt bên (từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]

 ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, lm: Lông rostrum; tấm lamella.

 le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus.

 Bothridium: Gốc của lông sensilus.

 Exa và Exp: Lông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothridium.

 tutorium: Tấm ki tin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella.

 cuspis: phần đỉnh của tấm lamela chìa lên bề mặt cơ thể.

Trang 24

prolamela: Phần tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề

mặt cơ thể

 c1, c2, c3, cp, d1, d2, e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps2, ps3: Các lông

notogaster ở ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới miệng; 1a, 1b, 1c, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1, 2, 3 và

4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: Các mấu lồi trong apodemes; ep1,

ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ epimeres của gốc chân; pd1, pd2, pd3, pd4: Các

tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: Các khe cắt lyrifissures.

dục và lông quanh sinh dục

Định loại Oribatida

Mẫu Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong vỏkintin cứng Quá trình làm trong màu có thể di n ra trong một vài ngày hoặclâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính quansát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ bộchúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamel ở bên trái lamkính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõmdưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatidavào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng

và bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang ở kínhhiển vi

Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh; tất cảcác cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch địnhhình bằng formaldehyt 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiếtbằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm đượcđặt chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formaldehyt 4% để bảo quản lâu dài Ghitất cả các tên loài đã được định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm

Trang 25

Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủngloại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh P.,

1992 [12] Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Địnhloại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của tác giả: VũQuang Mạnh, 2007 [3]

Tất cả các mẫu Oribatida sau khi đã phân tích, xử lý và định loại đều đã

được TS Đào Duy Trinh kiểm định.

2.3.2 Phương pháp phân tích và thống kê số liệu

Để phân tích giới hạn phân bố và đánh giá sự hình thành các quần xãsinh vật một cách khách quan, khoa học chúng tôi đã sử dụng một số phươngpháp biểu đồ lưới để đánh giá sự đa dạng loài trong quần xã và tính đồng đều

về sự phong phú cá thể các loài trong quần xã Sử dụng phương pháp thống

kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên nền phần mềm Primer – E, 2001 [20],phần mềm Excell 2003

Số lượng loài

Số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu

ở tất cả các lần thu mẫu (với rêu, MĐTB là cá thể/ 1 kg; với đất là cá thể/ m3;thảm lá là cá thể/ m2 )

Mật độ trung bình

Mật độ trung bình được tính số lượng cá thể trung bình có ở tất cả cáclần thu mẫu của điểm nghiên cứu

Phân tích độ ưu thế (D) tính theo công thức:

Trong đó: na - số lượng cá thể của loài a

N - tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay theo địa điểm

Độ ưu thế được phân ra làm 4 mức sau (tính theo giá trị %)

Trang 26

Rất ưu thế: > 10.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu

Ưu thế: 5 – 9,99% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu

Ưu thế tiềm tàng: 2 – 4,99.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứuKhông ưu thế: < 2.00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu

Cấu trúc ưu thế của một quần xã là tổ hợp các loài ưu thế của chúng sắpxếp theo thứ tự từ cao đến thấp Loài ưu thế được xác định là những loài có

độ ưu thế đạt giá trị chỉ số ưu thế bằng hoặc lớn hơn mức 5% (Eromilovand Chítyakov, 2007) [18]

Phân tích chỉ số đa dạng loài (H’):

Chỉ số (H’) Shannon- Weaner: được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay

số lượng loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của cácloài trong quần xã

Trang 27

i=1 N

Trong đó: s - số lượng loài;

N 

ni - số lượng cá thể của loài thứ i

N - tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu

Giá trị H‟ dao động trong khoảng 0 đến + ∞ Chỉ số đa dạng của quần

xã phụ thuộc vào hai yếu tố là số lượng loài và tính đồng đều về sự phong phúcủa các loài trong quần xã Một khu vực có số lượng loài hoặc số cá thể nhiềuchưa hẳn nơi đó có tính đa dạng cao Chỉ số đa dạng ở khía cạnh nào đó chobiết tính đa dạng của quần xã và là một chỉ tiêu có thể đánh giá được tính đadạng về khu hệ động, thực vật của một khu vực

Trang 28

Phân tích chỉ số đồng đều (J’) – Chỉ số Pielou

J 'ln S H ' Trong đó : H‟ - chỉ số đa dạng loài

S - số loài có trong sinh cảnh

Giá trị J‟ dao động trong khoảng từ 0 đến 1

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở sinh cảnh trảng cỏ cây bụi, vườn quanh nhà, đất canh tác độ cao 300 thuộc Vườn Quốc gia Ba

Đất canh tác

I HYPOCHTHONIIDAE BERLESE, 1910

II PHTHIRACARIDAE PERTY, 1841

III EUPHTHIRACARIDAE JACOT, 1930

III-3 Rhysotritia Maerkel et Meyer, 1959

IV LOHMANNIIDAE BERLESE, 1916

V LIODIDAE GRANDJEAN, 1954

Trang 30

VI CEPHEIDAE BERLESE, 1896

VII-9 Microtegeus Berlese, 1916

VIII EREMOBELBIDAE BALOGH, 1961

VIII-10 Eremobelba Berlese, 1908

IX ZETORCHESTIDAE MICHAEL, 1898

IX-11 Zetochestes Berlese, 1888

XI-13 Furcoppia Balogh et Mahunka, 1966

XII CARABODIDAE C L KOCH, 1837

XII-14 Aokiella Balogh et Mahunka, 1967

XII-15 Austrocarabodes Hammer, 1966

XII-16 Gibbicepheus Balogh, 1958

XIII NIPPOBODIDAE AOKI, 1959

XIII-17 Leobodes Aoki, 1965

XIV TECTOCEPHEIDAE GRANDJEAN, 1954

XIV-18 Tectocepheus Berlese, 1913

Trang 31

XV-21 Fissicepheus Balogh et Mahunka, 1967

XVI EREMELLIDAE BALOGH, 1961

XVI-22 Eremella Berlese, 1913

XVII OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954

XVII-23 Pulchroppia Subias et Balogh, 1989

XVII-25 Arcoppia Hammer, 1977

XVII-26 Pseudoamerioppia Subias, 1989

XVIII LIMNOZETIDAE GRANDJEAN, 1954

XVIII-27 Limnozetes Hull, 1916

XIX CYMBAEREMAEIDAE SELLNICK, 1928

XIX-28 Scapheremaeus Berlese, 1910

XX PARAKALUMMIDAE GRANDJEAN, 1936

XX-29 Neoribates Berlese, 1914

XXI MOCHLOZETIDAE GRANDJEAN, 1960

XX-30 Uracrobates Balogh et Mahunka, 1967

XXII XYLOBATIDAE J BALOGH ET P BALOGH, 1984

XXII-31 Brasilobates Pérez-Inigo et Baggio, 1980

Ngày đăng: 06/09/2019, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w