TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC=====0O0===== DƯƠNG NGỌC LINH NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN TỪ GHÉP VÀ TỪ LÁY CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====0O0=====
DƯƠNG NGỌC LINH
NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN TỪ GHÉP
VÀ TỪ LÁY CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG
QUA CÁC BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
=====0O0=====
DƯƠNG NGỌC LINH
NÂNG CAO KHẢ NĂNG NHẬN DIỆN TỪ GHÉP
VÀ TỪ LÁY CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA CÁC BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn khoa học ThS Vũ Thị Tuyết
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn của mình tới Ban giám hiệu, các thầy giáo, côgiáo và các em học sinh ở trường tiểu học Hòa Sơn- Hiệp Hòa, Bắc Giang đãtạo điều kiện trong suốt quá trình chúng em quan sát, tìm hiểu thực tế và thựcnghiệm khóa luận này
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo
Vũ Thị Tuyết - cô là người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, động viên vàgiúp đỡ chúng em hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân, bạn bè đã luôn bêncạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoànthành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Dương Ngọc Linh
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Đặc điểm học sinh Tiểu học 6
1.1.2 Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt 9
1.1.3 Một số vấn đề về từ ghép 10
1.1.4 Một số vấn đề về từ láy 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu 20
1.2.2 Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4 23
1.2.3 Nội dung từ ghép và từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 23
1.2.4 Hệ thống bài tập từ ghép và từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 24
1.2.5 Khả năng nhận diện từ ghép và từ láy của học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Trang 5Chương 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP
4 NHẰM GIÚP HỌC SINH NHẬN DIỆN TỪ GHÉP VÀ TỪ LÁY
33 2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 33
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 33
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 33
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm 34
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 34
2.2 Một số bài tập nâng cao khả năng nhận diện từ láy và từ ghép của học sinh 35
2.2.1 Bài tập nhận diện từ ghép 35
2.2.2 Bài tập nhận diện từ láy 40
2.2.3 Bài tập phân biệt từ láy và từ ghép 44
2.2.4 Một số trường hợp đặc biệt 47
2.3 Một số bài tập giúp học sinh nâng cao khả năng nhận diện từ ghép và từ láy 48
2.4 Khả năng ứng dụng các bài tập nhận diện từ ghép và từ láy cho học sinh lớp 4 52
2.4.1 Ứng dụng trong các tiết dạy tăng cường 52
2.4.2 Ứng dụng trong các hoạt động trải nghiệm sáng tạo 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Mục đích thực nghiệm 55
3.2 Đối tượng thực nghiệm 55
3.3 Thời gian, địa điểm thực nghiệm 56
3.3.1 Thời gian 56
3.3.2 Địa điểm 56
Trang 63.4 Nội dung thực nghiệm 56
3.4.1 Chuẩn bị 56
3.4.2 Tổ chức thực nghiệm 56
3.5 Kết quả thực nghiệm 56
3.6 Giáo án và đề kiểm tra thực nghiệm 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 71 Lí do chọn đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 8Ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi chúng
ta Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người Ngôn ngữ được dùng đểtrao đổi ý kiến; bày tỏ mong muốn, nguyện vọng; thể hiện tình cảm, cảm xúc;truyền tải những kinh nghiệm, hiểu biết… Ngôn ngữ là một chỉnh thể dó cácyếu tố (các đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau) tạo thành Đó là âm vị (đơn vị
bé nhất không có nghĩa nhưng có chức năng phân biệt nghĩa, nhận diện từ);hình vị (đơn vị bé nhất có nghĩa); từ (đơn vị độc lập có chức năng tạo câu);câu (đơn vị thông báo, cấu tạo theo những quy tắc nhất định của ngôn ngữ).Ngay từ khi lọt lòng mẹ, những đứa trẻ đã được nghe những âm thanh làtiếng hát ru, là lời nói yêu thương, những lời dạy bảo của cha, của mẹ, củangười thân Khi lớn lên và bước chân vào trường Tiểu học thì chúng được họcmột cách bài bản hơn Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng chocho học sinh Tiểu học Nhờ môn học này mà trẻ có thể hiểu thế nào là từ ngữ
và cách sử dụng các từ ngữ ra sao Đặc biệt trong môn Tiếng Việt thì phânmôn Luyện từ và câu giúp cho học sinh biết cách phân loại các từ ngữ, mởrộng vốn từ, nhận diện từ, cũng như giúp trẻ biết cách sử dụng những từ ngữ
đó trong hoàn cảnh nào, với mục đích gì Học sinh sẽ được học về từ đơn,
từ phức, danh từ, động từ, phó từ, chỉ từ, số từ,… Và trong số đó, ta không thểkhông đề cập tới việc dạy học từ ghép và từ láy
Từ ghép và từ láy là hai trong các phương thức cấu tạo từ Đã có rấtnhiều những ý kiến tranh luận khác nhau về khái niệm cũng như cách nhậndiện, phân loại chúng Học sinh ngay từ lớp 1 đã được làm quen với rất nhiềunhững từ ghép và từ láy trong tất cả các phân môn Nhưng nó chỉ thực sựđược học một cách chính thức khi học sinh bước vào lớp 4
Như chúng ta biết, để nhận diện đâu là từ láy, đâu là từ ghép không phảilúc nào cũng đơn giản Và nó càng trở nên phức tạp hơn đối với học sinh Tiểu
Trang 9học- lứa tuổi mà tư duy chỉ mang tính trực quan, cụ thể Nếu chỉ đưa ra cácthuật ngữ khoa học về từ ghép và từ láy thì những cô cậu học trò nhỏ khôngthể nào hiểu hết được Vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách thức khácnhau để giúp cho học sinh có thể nhận diện từ ghép và từ láy một cách tốt hơn.Hiểu được tất cả những lí do trên, chúng tôi đã quyết định tìm hiểu thựctrạng về khả năng nhận diện từ ghép và từ láy của học sinh Tiểu học, từ đóđưa ra các biện pháp giúp học sinh nâng cao khả năng nhận diện từ ghép và từ
láy thông qua đề tài: “Nâng cao khả năng nhận diện từ ghép và từ láy cho
học sinh lớp 4 thông qua các bài tập Luyện từ và câu”.
2 Lịch sử vấn đề
Từ ghép và từ láy là một trong những vấn đề của ngôn ngữ được rấtnhiều các nhà nghiên cứu quan tâm Đã có rất nhiều những cuốn sách, nhữngbài viết, những bài tiểu luận, nghiên cứu về đề tài này Ta có thể điểm quamột vài cuốn sách viết về từ ghép và từ láy như: “Từ vựng ngữ nghĩa tiếngViệt” của Đỗ Hữu Châu, “Dạy học từ ngữ ở Tiểu học” của GS Phan Thiều,
“Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 4” của Nguyễn Minh Thuyết, “Ngữ phápTiếng Việt” của Diệp Quang Ban (chủ biên), “Giáo trình Tiếng Việt” của Lê
bộ (xanh xanh, đo đỏ, vàng vàng,…) Các từ láy bộ phận có thể chia thành từláy âm (xinh xắn, gọn hàng, run rẩy,…) và láy vần (lờ mờ, bỡ ngỡ, luốngcuống…) Tác giả cũng đưa ra hai tiêu chí phân loại từ ghép là căn cứ vào
Trang 10tính chất và đặc trưng về nghĩa của các hình vị gồm từ ghép thực (ví dụ: nhàcửa, trâu bò, xe cộ…), từ ghép hư (ví dụ: để cho, vậy nên, có lẽ…) và căn cứvào mối quan hệ giữa các hình vị và đặc trưng ngữ nghĩa của các từ bao gồm
từ ghép chính phụ (ví dụ: xe đạp, chai nhựa,…); từ ghép đẳng lập (ví dụ: nhàcửa, quần áo,…)
Trong cuốn sách Ngữ pháp Tiếng Việt tác giả Diệp Quang Ban cũng có
cùng quan điểm với tác giả Lê A về cách phân loại từ ghép và từ láy dựa vàohình thức và ngữ nghĩa
Bên cạnh đó cũng có những bài viết in trên báo, những bài tiểu luận,luận án nghiên cứu về từ ghép và từ láy nói chung và từ ghép và từ láy ở Tiểuhọc nói riêng như:
+ Tác giả Hà Quang Năng với bài Khả năng nhận biết và sử dụng từ láy
và từ ghép ở Tiểu học (T/C Ngôn ngữ và đời sống số 10- 2002).
+ Tác giả Lê Phương Nga với bài viết Về khái niệm từ đơn, từ ghép, từ
láy được dạy ở Tiểu học in trên tạp chí Giáo dục Tiểu học số 2-1996.
+ Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương với bài Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Khả năng nhận biết từ láy của học sinh Tiểu học (Khảo sát ở học sinh lớp 5
trường Tiểu học Tiên Sơn B - Mê Linh - Hà Nội),2016
+ Tác giả Khổng Thị Tuyên với bài khóa luận tốt nghiệp Đại học Khả
năng nhận diện từ ghép của học sinh lớp 4 trong nhà trưởng Tiểu học, 2017.
Ngoài ra còn rất nhiều những bài viết của những tác giả khác nhau xoayquanh vấn đề từ ghép và từ láy ở trường Tiểu học Tuy nhiên, tất cả các bàiviết chỉ dừng lại ở việc đưa ra những quan điểm, những cơ sở về từ cũng nhưcách phân loại chúng
Như vậy có thể thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu về các biệnpháp nâng cao khả năng nhận diện từ ghép và từ láy cho học sinh Vì vậy, tôi
thực hiện đề tài: “Nâng cao khả năng nhận diện từ ghép và từ láy cho học
Trang 11sinh lớp 4 thông qua hệ thống bài tập Luyện từ và câu”, với hi vọng được
góp một phần công sức nhỏ bé của mình để nâng cao chất lượng giảng dạy vàtrau dồi kinh nghiệm cho bản thân
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu khả năng nhận diện từghép và từ láy của học sinh tiểu học từ đó đưa ra những biện pháp nâng caokhả năng nhận diện từ ghép và từ láy cho học sinh tiểu học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là khả năng nhận diện từ ghép và từláy của học sinh lớp 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được giới hạn trong chương trình sáchgiáo khoa lớp 4 về từ ghép, từ láy và thực trạng dạy nội dung này ở trườngTiểu học đồng thời khảo sát, thống kê khẳ năng nhận diện từ ghép và từ láycủa học sinh lớp 4 Từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao khả năng nhậndiện từ ghép và từ láy cho học sinh lớp 4
4.2.2 Giới hạn đối tượng khảo sát
Do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát khả năng của các em học sinh lớp 4A, 4B, 4C trường Tiểu học Hòa Sơn- Hiệp Hòa, Bắc Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận cho đề tài
- Khảo sát nội dung chương trình dạy học từ ghép và từ láy của phân mônLuyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 ở trường Tiểu
học
Trang 12- Khảo sát, thống kê khả năng nhận diện từ ghép và từ láy của học sinhlớp 4, từ đó đề xuất các biện pháp dạy và học thích hợp nhằm nâng cao khảnăng nhận diện, phân biệt từ ghép và từ láy cho học sinh lớp 4
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp thực nghiệm
Quá trình nghiên cứu đề tài này, thực hiện tuần tự theo các bước sau:
- Đọc lí thuyết liên quan đến đề tài
- Thống kê tư liệu điều tra được
- Xử lí tư liệu điều tra được bằng các biện pháp: phân tích, phân loại,
so sánh
7.Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận nội dung của khoá luận được chia ra làm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập Luyện từ và câu lớp 4 nhằm giúp học sinh nhận diện từ ghép và từ láy
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm học sinh Tiểu học
1.1.1.1 Đặc điểm tâm - sinh lí
Đời sống tâm lí của con người nói chung, của trẻ em nói riêng luôn có sựphong phú và phức tập Nó bao gồm tất cả từ tri giác, ghi nhớ, chú ý, tư duy,tưởng tượng, tình cảm,… Khi nghiên cứu về chương trình Tiểu học hay ngônNgữ ở Tiểu học không thể không đề cập đến Tâm lí của học sinh Tiểu học.Giai đoạn học sinh Tiểu học là giai đoạn đang phát triển tốt về tư duy lẫn tìnhcảm Ở giai đoạn này có những điều chúng ta cần lưu ý, cụ thể như sau:
a Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, tổng quan, ít đi vào chitiết, cụ thể và đặc biệt không mang tính ổn định Ở giai đoạn đầu Tiểu học(lớp 1, 2, 3) tri giác thường gắn với những hình ảnh thực tế, trực quan; đếncuối cấp (lớp 4, 5) tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, chi tiết hơn Nghĩa là ởgiai đoạn sau trẻ thích quan sát những hình ảnh có màu sắc nổi bật, hấp dẫn,các hoạt động đã có mục đích, phương hướng Đặc biệt tri giác ở thời điểmnày đã mang tính chủ định: biết quan sát kĩ các đồ vật, có những kế hoạch cụthể, biết sắp xếp các công việc cho phù hợp,…
Hiểu được điều này, chúng ta cần phải sử dựng những hình ảnh trựcquan, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và hấp dẫn để kích thích tri giác của học sinh
Và bắt đầu hướng dẫn trẻ thiết lập kế hoạch, mục đích để nâng cao khả năngtri giác có chủ định
b Chú ý
Ở giai đoạn đầu, khả năng chú ý của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,điều khiển chú ý còn hạn chế Lúc này, chú ý không chủ định chiếm ưu thế
Trang 15Nghĩa là trẻ chỉ quan tâm, chú ý tới những hình ảnh Hành động, hoạt độngnổi bật, màu sắc, hấp dẫn, những môn học có nhiều hoạt động hay những tròchơi hoặc cũng có thể là giáo viên xinh đẹp, vui tính,… Sự tập trung chú ý vềmột vật hay một hoạt động của trẻ còn rất yếu, thiếu bền vững chưa thể tậptrung lâu dài và dễ bị phân tán bởi những tác động khác
Vì vậy, giáo viên nên giao cho trẻ những nhiệm vụ đòi hỏi sự chú ý củatrẻ, giới hạn về thời gian Chú ý thay đổi theo từng giai đoạn trong cấp Tiểuhọc, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đế kết quả dạy học và giáo dục trẻ
c Trí nhớ
Ở độ tuổi này hai loại ghi nhớ đều phát triển mạnh Tuy nhiên loại ghinhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn so với loại ghi nhớ từ ngữ- logic.Giai đoạn lớp 1, 2, 3 ghi nhớ máy móc phát triển Các em ghi nhớ hìnhảnh, ghi nhớ bằng cách học thuộc mà không hiểu hết nội dung Nhiều họcsinh chưa biết cách ghi nhớ theo nội dung, có điểm tựa hoặc xây dựng dàn ýghi nhớ
Đến giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ bắt đầu pháttriển mạnh Lúc này, ghi nhớ chủ định đã phát triển Trẻ đã biết ghi nhớ theonội dung, điểm tựa, đã biết cách lập dàn ý ghhi nhớ Tuy nhiên việc ghi nhớ
có chủ đích còn phụ thuộc nhiều vào sự hấp dẫn của tài liệu, sự thu hút củabài giảng, hay sự độc đáo về nội dung,…
Biết được những điều này, giáo viện cần có những giải pháp thích hợp
để giúp học sinh ghi nhớ một cách tốt hơn, đặc biệt hướng cho trẻ vào ghi nhớ
có chủ đích để nội dung ghi nhớ sẽ bền vững hơn
Trang 16Trẻ có thể dựa vào những hình ảnh cũ để tái tạo ra những hình ảnh mới.Tức là trẻ dựa vào những hình ảnh thực tế đã thấy từ trước, được lưu lại trong
bộ nhớ để mô tả hoặc sáng tạo ra những hình ảnh thông qua hoạt động vẽtranh, làm văn, làm thơ,… Đặc biệt ở giai đoạn này, tưởng tượng của các emđược chi phối mạnh mẽ từ cảm xúc, tình cảm, hình ảnh, sự việc, hiện tượng.Qua đó, là một người giáo viên cần phải tìm ra các phương pháp giúphọc sinh phát triển tối đa trí tưởng tượng phong phú này Biến những điều khôkhan của kiến thức trở nên đẹp hơn, dễ ghi nhớ hơn Có thể đặt ra những câuhỏi gợi mở, thu hút các em, tổ chức những hoạt động mang tính trải nghiệm
để các em phát huy tối đa tư duy, tưởng tượng, hay sử dụng các hình ảnh đầycuốn hút và độc đáo,…
1 1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh Tiểu học
Nhờ 6 năm đầu đời mà khi bước vào cấp Tiểu học, hầu như trẻ đều cókhả năng nói thành thạo Khi học lớp 1, trẻ bắt đầu được làm quen với chữviết và các con số Đến lớp 5 thì ngôn ngữ đã trở nên thành thạo hơn và hoànthiện dần về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ việc học tập như vậy màtrẻ có khả năng tự đọc, hiểu, nhận thức được thế giới xung quanh và đặc biệtkhám phá bản thân
Với trẻ, ngôn ngữ có những ảnh hưởng vô cùng lớn Nó giúp quá trìnhnhận thức, cảm giác, tri giác, tư duy, phân tích, tưởng tượng, của trẻ phát triểnmột cách dễ dàng Nhờ ngôn ngữ mà trẻ thể hiện được bản thân Cũng thôngqua ngôn ngữ mà ta cũng có thể đánh giá được trí tuệ của trẻ
Trang 17Với những vai trò hết sức quan trọng như vậy, các nhà giáo dục cụ thể làcác giáo viên cần phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ Bồi dưỡng, nâng caokiến thức cho trẻ, tích cực cho trẻ làm quen với các văn bản, tác phẩm, truyện,báo chí,…hoặc mở mở rộng vốn từ bằng cách tổ chức những hoạt động ngoạikhóa, các cuộc thi viết thư, vẽ tranh, kể chuyện,… Tất cả đều giúp trẻ có vốnngôn ngữ phong phú và đa dạng
Nói tóm lại, sau khi xem xét những đặc điểm tâm, sinh lí của học sinhtiểu học, chúng tôi nhận thấy tư duy logic, ghi nhớ có chủ đích của học sinhlớp 4 có sự phát triển hơn hẳn học sinh lớp 1, 2, 3 do vậy các em có khả năng
và sự thích ứng với các bài tập Tuy nhiên, do những tư duy của các em còn
sơ đẳng, đơn giản nên những hoạt động này cần phải ặp đi lặp lại để hìnhthành kĩ năng làm bài và đạt hiệu quả hơn Trên cơ sở đó, chúng tôi tập trungnâng cao khả năng nhận diện từ ghép và từ láy cho học sinh lớp 4 thông qua
hệ thống bài tập
1.1.2 Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt
Phương thức cấu tạo từ là phương thức mà ngôn ngữ tác động vào hình
vị để tạo ra các từ Từ tiếng Việt sử dụng ba phương thức sau đây: phươngthức từ hóa hình vị, phương thức ghép, phương thức láy
Từ hóa hình vị là phương thức tác động vào bản thân một hình vị, làmcho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ màkhông them bớt gì cả vào hình thức của nó
Ví dụ: xe, áo, bàn, sách, lá,người, mì chính… là những từ hình thành so sự từ hóa các hình vị xe, áo, bàn, sách, lá,người, mì chính…
Hiện nay phương thức này chỉ tác động vào các hình thức ngữ âm môphỏng âm thanh và các yếu tố vay mượn
Ví dụ: Từ cạch vốn mô phỏng tiếng động không vang khi hai vật rắn va chạm vào nhau Nay, thông qua phương thức từ hóa mang ý nghĩa: “bắn súng cối
Trang 18bằng cách thả đạn vào nòng súng” và mang đặc điểm ngữ pháp của các từ: bắn, lao, phóng, phát,… để trở thành một từ Các từ khác như bịch (đấm vào ngực), đốp (đốp vào mặt), đét (đét cho một roi) đều thuộc trường hợp này.
Còn các từ như: ti vi, mì chính, lốp, săm, phanh, căn,… là do sự từ hóa các
yếu tố nước ngoài
Ghép là phương thức tác động vào một hoặc hai hình vị có nghĩa, kếthợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ýnghĩa như một từ)
Ví dụ: Phương thức ghép tác động vào các hình vị xe đạp tạo nên từ xe đạp , tác động vào hình vị máy bay tạo ra từ máy bay,…
Láy là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện mộthình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Các hình vị cơ sở hayhình vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ)
Ví dụ: Phương thức láy tác động vào hình vị xanh tạo nên từ xanh xanh Trong đó, hình vị cơ sở để thực hiện phương thức láy là hình vị xanh.
Ngoài ba phương thức tác động vào hình vị trên, còn có phương thứctạo từ theo lối chuyển nghĩa từ một từ có sẵn
Ví dụ: Từ ốc (vốn chỉ một sinh vật) chuyển nghĩa cho ta từ ốc (đinh ốc), từ
đậu (hành động của một con vật) chuyển nghĩa cho ta từ đậu (tên một loại hạt thực vật).
Vì phương thức chuyển nghĩa không tạo ra từ mới mà chỉ sử dụngnhững từ có sẵn để tạo ra nghĩa mới nên không được đề cập đến ở đây
1.1.3 Một số vấn đề về từ ghép
1.1.3.1 Khái niệm từ ghép
Xoay quanh vấn đề từ ghép, có rất nhiều những quan điểm và đánh giákhác nhau Mỗi tác giả khi nghiên cứu về tư ghép đều đưa ra những ý kiênriêng, từ đó mà dẫn đến nhiều định nnghĩa về từ ghép Trong phạm vi đề tài
Trang 19này, chúng tôi chỉ đưa ra một số quan điểm, định nghĩa của các tác giả được
in trong giáo trình Sư phạm Cụ thể:
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt”
khẳng định: Từ ghép được tạo ra từ phương thức ghép hình vị, do sự kết hợp
của hai hay một số hình vị tách biệt, riêng lẻ, độc lập với nhau.
Tác giả Hồ Lê cho rằng: Từ ghép là một loại ngôn ngữ do nhiều yếu tố
kết hợp lại có tính vững chắc về cấu tạo và tính thành ngữ về ý nghĩa, trong
“Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại”
Sách giáo khoa Tiếng việt lớp 4 hiện hành có định nghĩa về từ ghếp rất
như sau: Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau Đó là từ ghép (trang 39)
Ví dụ: tình thương, thương mến, ông cha,
Như vậy, từ ghép gồm hai hay nhiều những hình vị, trong đó, hình vị nàocũng phải có nghĩa Khi đã ghép hai hình vị với nhau thì nó đã tạo nên một từ
có cấu trúc tương đối chặt chẽ Khi đó, từ ghép cũng là đơn vị nhỏ nhất trựctiếp hình thành nên câu
1.1.3.2 Phân loại từ ghép
Để phân loại từ ghép, ta dựa vào ba đặc điểm sau đây:
- Ý nghĩa của từ mới
- Tính chất của hình vị
- Mối quan hệ ngữ pháp, ngữa nghĩa giũa cacs hình vị tạo thành
Trên cơ sở những tiêu chí này, từ ghép được chia ra làm hai loại: Từghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa) và từ ghép phân nghĩa (từ ghép chính phụ)
1.1.3.2.1 Từ ghép đẳng lập
a Khái niệm
Từ ghép đẳng lập hay còn gọi là từ ghép hợp nghĩa do hai hình vị tạonên, trong đó cả hai hình vị đều có nghĩa tương đương nhau Tức là không cóhình vị nào chỉ loại lớn cũng không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa Các
Trang 20- Quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố là quan hệ bình đẳng.
Ví dụ: Từ quần, áo là danh từ chỉ đồ mặc Khi tách riêng ta được các yếu
tố là quần và áo, hai yếu tố này đều có nghĩa ngang hàng và thuộc từ loại
danh từ
- Ý nghĩa của câu ghép đẳng lập là ý nghĩa tổng hợp, khái quát chỉ đặctrưng (trạng thái, tính chất, hành động, quan hệ) chung
Ví dụ: Từ quần áo chỉ đồ để mặc nói chúng bao gồm cả quần và áo.
- Để tạo nên một từ ghép thì ta phải kết hợp hai hình vị với nhau, nhưnghai hình vị này phải cùng thuộc một phạm trù nghĩa Tức là hai hình vị cùngchỉ sự vật, trạng thái, tình cảm, hiện tương, số lượng,…Cụ thể:
+ Hoặc các thành tố phải đồng nghĩa với nhau:
Có thể một yếu tố thuần Việt, một yếu tố Hán Việt
Ví dụ: bụng dạ, bạn hữu,…
Cả hai yếu tố đều là Hán Việt
Ví dụ: thổ địa, cốt nhục,…
Một yếu tố địa phương, một yếu tố toàn dân
Ví dụ: trông nom, chợ búa,…
Cả hai yếu tố đều là thuần Việt
Ví dụ: xinh đẹp, mong chờ,…
+ Hoặc các thành tố trái nghĩa với nhau
Ví dụ: buồn vui, đen trắng, …
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau
Ví dụ: nhà cửa, đi đứng, quần áo,…
Tuy từ ghép được tạo nên bởi hai thành tố có giá trị ngang nhau nhưngmột số trường hợp có những từ ghép một trong hai thành tố bị mờ nghĩa
Trang 21Ví dụ: Từ đường xá Ở đây xá cũng có nghĩa là đường Tuy nhiên do từ
xá được sử dụng rất lâu trước đó, ít người dùng và đã được thay thể bởi từ đường nên từ xá đã bị mờ nghĩa.
b Phân loại
Căn cứ vào ngữ nghĩa của từ ghép hợp nghĩa mà chia từ ghép hợp nghĩa
ra làm ba loại: từ ghép đẳng lập tổng loại, từ ghép đẳng lập chuyên chỉ loại và
từ ghép đẳng lập gộp nghĩa
b.1 Từ ghép đẳng lập tổng loại
Từ ghép đẳng lập tổng loại là từ ghép có ý nghĩa chỉ cả loại lớn, trong
đó, mỗi hình vị chỉ một loại nhỏ tiêu biểu:
Ví dụ: non sông không phải chỉ núi và sông nói chung mà nó chỉ một quốc gia Yếu tố non (núi) và sông là đặc điểm tiêu biểu về địa hình của mỗi
Ví dụ:
Chợ búa cũng là chợ
Thuyền bè cũng là thuyền
Tìm kiếm cũng là tìm
Trang 22Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa là từ ghép không có ý nghĩ chỉ loại, trái lại
nó biểu thị ý nghĩa chung của cả từ ghép Trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩariêng của từng thành tố Có thể hiểu theo mô hình sau: AB=A+B
Ví dụ:
Trang 23Quần Áo Quần áo
Ví dụ khác:
Hình 1
tàu xe xăng dầu gang thép
xưa nay chạy nhảy tốt đẹp
Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa đã tồn tại thành từng cặp, từng đôi, trở nênquen thuộc, trở thành một hiện tượng, một tập quán xã hội Vì vậy chúng luônđược đi liền với nhau trong các trường hợp
c Trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập
Khi nói về từ ghép đẳng lập, người ta thường đề cập đến khả năng hoán
vị “tự do” của các từ tố trong chúng Tuy nhiên, điều này không xảy ra trongtất cả các trường hợp của từ ghép đẳng lập, mà chỉ xảy ra ở một vài trườnghợp nhất định Cụ thể:
- Từ ghép không có yếu tố Hán - Việt
Trang 24Ví dụ:
Xinh đẹp - đẹp xinh
Áo quần - quần áo
May rủi - rủi may
- Từ ghép đơn nghĩa hay từ ghép có yếu tố bị mờ nhạt, mất nghĩa
- Hoán vị ít xảy ra với các từ ghép đẳng lập đơn nghĩa
- Đặc biệt, khi hoán vị các từ tố trong từ ghép cần chú ý:
+ Không được làm thay đổi ý nghĩa của từ ban đầu
Ví dụ: cơm nước chỉ cái ăn, đồ ăn hàng ngày Nhưng khi hoán vị thì ta được từ nước cơm- chất lỏng màu trắng đục, nổi lên khi gạo được đun sôi.
Lúc này ý nghĩa hoàn toàn thay đổi
+ Không đi ngược với tập quán cổ truyền dân tộc
Ví dụ: Từ anh em chỉ những người có cùng huyết Nhưng khi hoán đổi thì được từ em anh - từ không được chấp nhận Vì từ xưa tới nay từ chỉ quan
hệ thứ bậc sẽ được sắp xếp theo hàng trên trước, hàng dưới sau
1.1.3.2.2 Từ ghép chính phụ
a Khái niệm
Từ ghép chính phụ hay còn gọi là từ ghép phân nghĩa là từ ghép đượctạo nên từ hai hình vị, trong đó có một hình vị mang nghĩa chính, hình vịcòn lại có quan hệ phụ thuộc vào hình vị kia và không có nghĩa (liên quantới từ ghép đó) Hay nói cách khác là từ ghép gồm một hình vị chỉ loại lớn(sự vật, hành động, trạng thái, tính chất) và một hình vị có tác dụng phânhóa loại lớn đó thành những loại nhỏ cùng loại nhưng độc lập với nhau vàđộc lập với loại lớn
Ví dụ: xe máy, quần dài, bút mực,…
Từ ghép chính phụ có những đặc trưng sau đây:
- Quan hệ giữa hai hình vị trong từ ghép chính phụ là quan hệ bất bìnhđẳng Hình vị chính chỉ loại khái quát (sự vật, hành động, trạng thái, tính
Trang 25chất) mang ý nghĩa chung chung Còn hình vị phụ chỉ loại nhỏ, làm rõ, phânloại cho hình vị chính.
b Phân loại
Dựa vào ý nghĩa đó của từ ghép chính phụ - kiểu ý nghĩa không tổng hợp
mà người ta chia ra làm hai loại: từ ghép chính phụ dị biệt và từ ghép chínhphụ sắc thái hóa
b.1 Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép chính phụ mà yếu tố phụ cótác dụng phân chia, phân loại sự vật, hiện tượng, đặc trưng được biểu thị ởyếu tố chính Hay đơn giản từ ghép chính phụ dị biệt có là từ ghép phân loại
có nghĩa chung chung, không hiểu rõ được, khi kết hợp với yếu tố phụ chỉ sắcthái sẽ làm người đọc, người nghe hiểu rõ sắc thái hơn
Ví dụ: Xanh lè, xanh ngắt, xanh xao,…
ra một số ý kiến tiêu biểu về định nghĩa của từ láy như sau:
Trong cuốn Tiếng Việt 2, Lê A cho rằng: “Từ láy là sản phẩm củaphương thức láy- láy lại toàn bộ hay bộ hận hình thức ngữ âm của hình vị gốc(hình vị mang ý nghĩa từ vựng) [1,127]
Trang 26Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ láy là những từ cấu tạo theo phương thứcláy, là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận âm tiết của một hình vị hayđơn vị có nghĩa” [ 4,41].
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 tập 1 có đưa ra khái niệm rất đơn giản
về từ láy như sau: “Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu
và vần) giống nhau Đó là từ láy”
Ví dụ: săn sóc, khéo léo, luôn luôn,…
Tác giả Hoàng Văn Hành có viết: “Từ láy là sự phối ngữ âm giữa cácyếu tố tương ứng của các âm tiết, và có tác dụng biểu trưng hóa.” [8,5]
Mỗi quan điểm, ý kiến đưa ra đều dựa trên những cơ sở khoa học nhấtđịnh Để tìm ra một cách hiểu chung nhất, chúng tôi định nghĩa từ láy nhưsau: Từ láy là những từ gồm hai hay nhiều tiếng, do phương thức láy tạo nên,giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm với nhau và có tác dụng biểu thị một ýnghĩa hoàn chỉnh”
1.1.4.2 Phân loại từ láy
Người ta dựa vào số tiếng trong từ láy để chia từ láy ra làm các loại sau:láy đôi, láy ba, láy tư
a Láy đôi
Như tên gọi thì láy đôi là từ láy gồm hai tiếng Đây là loại từ láy chiếmphần lớn trong kho tàng từ láy Việt Nam Dựa vào mức độ láy trong các từláy đôi mà chia chúng ra thành từ láy bộ phận và từ láy toàn bộ Các từ láy bộphận lại có thể chia ra thành từ láy âm và từ láy vần
a.1 Láy toàn bộ
Láy toàn bộ là sự lặp lại toàn bộ nguyên vẹn hoặc lăp lại có sự biến đổi(về thanh điệu hoặc phụ âm cuối) có tác dụng tạo nghĩa biểu trưng
Ở từ láy toàn bộ, các bộ phận của hình vị gốc được lặp lại y nguyên Tuynhiên số lượng các loại từ láy này không nhiều
Ví dụ: xanh xanh, bừng bừng, khăng khăng, vàng vàng,…
Trang 27Từ láy đôi toàn bộ có sự biến đổi về thanh điệu Để tăng sự nhịp nhàng
về ngữ điệu khi nói người ta biến đổi các từ láy toàn bộ giống nhau nguyênvẹn thành các từ láy toàn bộ có biến đổi về thanh điệu
Ví dụ: đèm đẹp, đo đỏ, nằng nặng,…
Ngoài từ láy có sự biến đổi về thanh điệu, từ láy đôi toàn bộ còn có sựbiến đổi về phụ âm cuối
Ví dụ: đèm đẹp, khang khác, anh ách,…
Sự biến đổi phụ âm cuối này tuân theo một nguyên tắc nhất định: Từ phụ
âm p chuyển sang phụ âm m, từ phụ âm ch chuyển sang phụ âm nh, từ phụ
âm c chuyển sang phụ âm ng, từ phụ âm t chuyển sang phụ âm n
Ta có thể hiểu rõ hơn bằng mô hình sau:
Vị trí
Môi Đầu lưỡi Gốc lưỡi
phát âmPhương thức
Láy bộ phận là những từ láy giữ lại một bộ phận cố định và thực hiệnphương thức láy ở bộ phận còn lại Cũng dựa vào vị trí láy mà chia láy bộphận ra làm hai loại: láy âm, láy vần
- Láy âm: là những từ láy mà tiếng láy lặp lại âm đầu của tiếng gốc.Nghĩa là hai tiếng có sự giống nhau về phụ âm đầu
Ví dụ: xinh xắn, gọn gàng, run rẩy,…
Láy âm gồm hai loại:
+ Láy âm có hình vị gốc đứng trước: vội vàng, khó khăn, hoa hòe,…
Trang 28+ Láy âm có hình vị gốc đứng sau: nhấp nháy, phập phồng, nhấp nhô,…
- Láy vần: là những từ láy mà tiếng láy lặp lại phần vần của tiếng gốc.Nghĩa là hai tiếng có sự giống nhau về vần
Ví dụ: khéo léo, cheo leo, lò dò,….
Các từ láy vần được chia ra thành các nhóm dựa vào sự phối hợp của vần với phụ âm đầu của tiếng gốc để tạo ra tiếng láy Cụ thể:
Phụ âm đầu tiếng gốc Phụ âm đầu tiếng láy Ví dụ
Trang 29Số lượng láy ba không nhiều, chủ yếu là láy ba toàn bộ, một số ít làláy vần.
Ví dụ: sạch sành xanh, khít khìn khịt,…
Trong láy ba có một âm tiết không có khả năng đứng độc lập, có ýnghĩa từ vựng Vì vậy, để tạo nên láy ba thường dựa vào qui tắc biến dổithanh điệu Cụ thể: tiếng thứ hai mang thanh bằng, tiếng thứ hai và tiếng thứ
ba thường có thanh đối lập nhau: khít khìn khịt, tóp tòm tọp, sạch sành sanh,
- Kiểu 2: Lặp lại toàn bộ láy đôi
Ví dụ: bổi hổi bồi hồi, loáng choáng loạng choạng,…
- Kiểu 3: Xen kẽ hai tiếng phần gốc và hai tiếng phần láy
Ví dụ: lăng xăng lít xít, lơ thơ lần thẩn,…
- Kiểu 4: Lặp lại lần lượt từng tiếng của từ láy đôi
Trang 30năng về từ và câu cho học sinh Có thể nói bước vào bậc Tiểu học vấn đề về
từ và câu được đặt lên hàng đầu bởi từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọngtrong hệ thống ngôn ngữ Nó giúp học sinh phát triển về vốn từ, hình thành kĩnăng nói, viết nhờ đó mà bày tỏ được ý kiến, thái độ, tình cảm của bản thân.Trong hệ thống ngôn ngữ, không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quantrọng của từ và câu Từ là đơn vị nhỏ nhất cấu thành nên câu, nó là đơn vịtrung tâm của ngôn ngữ Muốn nắm được ngôn ngữ bắt buộc người nói, ngườiviết phải có một vốn từ nhất định Khi có vốn từ sẽ tự khắc ghép lại thành câu
và thực hiện chức năng giao tiếp Ngoài ra, vốn từ ngữ càng giàu có, càngphong phú thì khả năng nói, viết, giao tiếp càng đa dạng bấy nhiêu Nhữngngười giàu vốn từ họ sẽ thể hiện quan điểm, tình cảm, thái độ, cảm xúc củabản thân một cách đầy đủ, chính xác và tinh tế hơn Nhờ đó mà đạt được mụcđích giao tiếp ở mức cao nhất
Như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu cho học sinh Tiểu học là mộtviệc làm vô cùng cần thiết và quan trọng Dạy học Luyện từ và câu nhằm mởrộng, hệ thống hóa, phong phú vốn từ cho hoc sinh, cung cấp cho học sinhnhững vốn từ cơ bản, những hiểu biết về ngữ pháp, về cấu tạo câu, đoạn Đặcbiệt, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu thể hiện tư tưởng, tình cảm củamình, đồng thời giúp học sinh có thể hiểu lời nói, câu văn, bài viết của ngườikhác Luyện từ và câu giúp cho học sinh biết hệ thống hóa vốn từ, biết đặtcâu, viết đoạn, hướng dẫn học sinh sử dụng các dấu câu, kiểu câu phù hợp vớinhững tình huống giao tiếp thực tế
Ngoài vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, pháttriển ngôn ngữ và phân môn này còn rèn cho học sinh tư duy, giáo dục thẩm
mĩ, phát triển nhân cách và tình yêu tiếng Việt
1.2.1.2 Nhiệm vụ
Trong trường Tiểu học, phân môn Luyện từ và câu có hai nhiệm vụchính Một là làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặtcâu của các em Hai là cung cấp cho học sinh những kiến thức về từ và câu
Trang 31a Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câucủa các em
Nhiệm vụ này là nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu Nó chiếm vai trò chủ đạotrong việc dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học Nhiệm vụ này bao gồm cáccông việc cụ thể sau:
- Dạy nghĩa từ: Giúp cho học sinh nắm vững nghĩa của các từ bao gồmviệc them vào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới củanhững từ đã biết trước đó Từ đó làm cho học sinh nắm được tính nhiều nghĩacũng như sự chuyển nghĩa của từ Khi dạy từ ngữ, người dạy có trách nhiệmhình thành những khả năng phát hiện từ mới trong văn bản để học sinh tiếpcận được với những văn bản mới Để làm được điều này học sinh cần nắmđược một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nét nghĩa mới của từ
cũ, làm rõ sắc thái nghĩa khác nhau của từng từ trong những ngữ cảnh khácnhau
- Hệ thống hóa vốn từ: Nghĩa là người giáo viên cần dạy học sinh biếtcách sắp xếp các từ đã biết theo một hệ thống logic để thuận lợi cho việc ghinhớ Nhờ đó, các em sẽ tích lũy vốn từ một cách nhanh chóng, có khoa học và
có khả năng tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện tốt nhất để các vồn từ
đó đi vào hoạt động giao tiếp thuận lợi Công việc này hình thành ở học sinh
kĩ năng tư duy logic, tư duy có hệ thống Tức là học sinh sẽ đặt từ vào trongcùng một hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm,cùng cấu tạo,
- Tích cực hóa vốn từ: Dạy cho học sinh cách sử dụng từ sao cho hiệuquả nhất Nói cách khác là hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng vốn từ đểnói, viết, trao đổi, giao tiếp để các vốn từ đã tích lũy được hoạt động một cáchtối ưu Tích cực hóa vốn từ chính là dạy cho học sinh biết dùng các từ ngữtrong hoạt động nói năng hàng ngày của chính mình
- Ngoài ra, một điều không thể thiếu khi dạy từ cho học sinh đó là hướngdẫn học sinh đặt câu Vì câu là đơn vị cấu thành nên lời nói giao tiếp Dạy cho
Trang 32học sinh biết cách đặt đâu sao cho đúng, sao cho phù hợp với hoàn cảnh giaotiếp và dạy cho học sinh đặt câu hay chính là cách giúp cho các em đạt đượcmục đích trong giao tiếp.
1.2.2 Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4
Trong chương trình Tiểu học, học sinh đã được tiếp xúc và học phânmôn Luyện từ và câu từ lớp 1, 2, 3 nhưng chỉ dừng lại ở mức sơ đẳng và đượclồng ghép vào các phân môn khác Lên lớp 4, 5 thì Luyện từ và câu mới chínhthức trở thành một phân môn độc lập
Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh vàtrang bị cho các em một số kiến thức về từ và câu Ở lớp 1, 2, 3 chỉ trình bàycác kiến thức sơ đẳng giúp các em làm quen và nhận biết chính thông qua cácbài tập thực hành Lên lớp 4,5, các kiến thức lí thuyết về từ và câu được học
sẽ được tách riêng thành các bài Đó là các nội dung như: từ, cấu tạo từ, cáclớp từ (đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa), từ loại, câu, kiểu câu,thành phần câu, dấu câu, liên kết câu,…
Ở đề tài này, do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ đề câp tới nội dungchương trình lớp 4 Cụ thể chương trình về từ ghép và từ láy trong lớp 4 nhưsau:
1.2.3 Nội dung từ ghép và từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4
Ở lớp 4, học sinh đã bắt đầu làm quen với từ láy, từ ghép trong các bài líthuyết tìm hiểu về tiếng, từ,….Sau đó, các em được học những bài trọn vẹncho hai loại từ này Cụ thể:
Tiết 1: Từ ghép và từ láy [trang 38]
Tiết 2: Luyện tập về từ ghép và từ láy [trang 43]
Cả hai tiết này đều năm trong tuần 4 với chủ điểm: “Măng mọc thẳng”sách Tiếng Việt 4 tập 1
Từ ghép được hình thành thông qua việc tìm các từ phức có các tiếng cónghĩa tạo thành và từ láy là các từ phúc gồm những tiếng có âm đầu hoặc vầngiống nhau tạo thành Cụ thể trong phần nhận xét bài “Từ ghép và từ láy”:
Trang 33- Từ phức nào do các tiếng có nghĩa tạo thành? (truyện cổ, ông cha,
- Trong bài: “Từ ghép và từ láy” (sách Tiếng Việt 4 tập 1)
Bài 1: Hãy sắp xếp các từ phức được in nghiêng trong các câu dưới đây thành
hai loại: Từ ghép và từ láy Biết rằng những tiếng in đậm là tiếng có nghĩa:
a Nhân dân ghi nhớ công ơn Chử Đồng Tử, lập đền thờ ở nhiều nơi bên song Hồng Cũng từ đó hàng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một vùng bờ
bãi song Hồng lại nô nức làm lễ, mở hội để tưởng nhớ ông.
b Dáng tre vươn mộc mạc, màu tren tươi nhũn nhặn Rồi tren lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí
- Trong bài “luyện tập về từ ghép và từ láy” (sách Tiếng Việt 4, tập 1)
Bài 1: So sánh hai từ ghép sau đây:
Bánh trái (chỉ chung các loại bánh)
Trang 34Bánh rán (chỉ loại bánh nặn bằng bột gạo nếp, thường có nhân, rán
chins giòn)
a) Từ ghép nào có nghĩa tổng hợp (bao quát chung)?
b) Từ ghép nào có nghĩa phân loại (chỉ một loại nhỏ thuộc phạm vi nghĩacủa tiếng thứ nhất)?
Bài 2: Viết các từ ghép(được in đậm) trong những câu dưới đây vào ô thích
hợp trong bảng phân loại từ ghép:
a) Từ ngoài vọng vào tiếng chuông xe điện lẫn tiếng chuông xe đạp lanh canh không ngớt, tiếng còi tàu hỏa thét lên, tiếng bánh xe đạp trên đường
ray và tiếng máy bay gầm rít trền bầu trời.
Theo Tô Ngọc Hiến
b) Dưới ô cửa máy bayhieenj ra ruộng đồng, làng xóm, núi non Những
gò đống, bãi bờ với những mảng màu xanh, nâu, vàng, trắng và nhiều hình dạng khác nhau gợi những bức tranh giàu màu sắc.
Theo Trần Lê Văn
Từ ghép có nghĩa tổng hợp M: ruộng đồng
Từ ghép có nghĩa phân loại M: đường ray
Bài 3: Xếp các từ láy trong đoạn văn sau vào nhóm thích hợp:
Trang 35a) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu.
b) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần
Theo Trần Hoài Dương
c) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần
Trang 361.2.5 Khả năng nhận diện từ ghép và từ láy của học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang
1.2.5.1 Mục đích tìm hiểu khả năng nhận diện từ ghép và từ láy
Tiến hành nghiên cứu về từ ghép và từ láy trong trường Tiểu học đặcbiệt là đối với lớp 4, chúng tôi đi tìm hiểu khả năng nhận diện hai loại từ này
ở học sinh với các mục đích sau:
- Tìm hiểu chương trình học tập, tìm hiểu về từ ghép và từ láy ở trường,cách thức giáo viên truyền đạt cho học sinh những kiến thức cơ bản và cáckiến thức cơ lien quan Biết được mục tiêu, phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học từ ghép và từ láy của nhà trường Từ đó, đánh giá được hiệu quả củachương trình hiện hành về mảng từ ghép và từ láy
- Hiểu được đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học Nắm đượcnhững suy nghĩ, tư duy của các em khi được tiếp cận với những khái niệm về
từ ghép và từ láy Đặc biệt, khi tìm hiểu về khả năng nhận diện này để thấyđược mức độ khó - dễ của các bài tập Từ đó có thể đưa ra những bài tập giúpcác em nâng cao hơn nữa khả năng nhận diện hai loại từ này
- Ngoài ra, thông qua việc tìm hiểu này phát hiện ra khả năng tiềm ẩn,những năng khiếu về từ, câu, tiếng Việt của các học sinh trong trường nhằmbồi dưỡng, nâng cao, đào tạo ra những học sinh chất lượng
1.2.5.2 Đối tượng và phạm vi tìm hiểu khả năng nhận diện từ ghép và từ láy ở học sinh lớp 4
Với mục đích đi sâu, nghiên cứu chi tiết, chân thực và hiệu quả nênchúng tôi quyết định lựa chọn đối tượng là học sinh lớp 4 Vì học sinh lớp 4 làlứa tuổi đã phát triển tương đối hoàn thiện về bộ não Nhờ nền móng học tập
về từ ngữ ở lớp 3 mà lên lớp 4 học sinh dễ dàng tiếp cận với những khái niệm
về từ và câu Nhờ đó, việc dạy Luyện từ và câu trở nên dễ dàng và phù hợpnhất Đặc biệt, trong chương trình lớp 4, phân môn Luyện từ và câu có hai bàihọc chính thức về từ láy và từ ghép là bài “Từ ghép và từ láy” và bài “Luyệntập về từ ghép và từ láy”
Trang 37Để đề tài nghiên cứu đạt hiệu quả tốt nhất, chúng tôi lựa chọn trườngTiểu học Hòa Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang làm phạm vi điều tra Đây là mộttrường trung du - miền núi phía Bắc Học sinh có sự phát triển tốt cả về sinh lí
và tâm lí Các em được sống trong một môi trường lành mạnh, một xã hộiphát triển Đặc biệt, học sinh của trường luôn được tiếp cận với chương trìnhhọc mới với đầy đủ các phương tiện hiện đại Ở đây có đội ngũ giáo viên kinhnghiệm, nhiệt huyết, có trình độ chuyên môn tốt Đó là những giáo viên yêunghề, yêu trẻ, không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức để nâng cao việc dạy
và học trong nhà trường Hơn nữa, các cấp lãnh đạo, địa phương rất quan tâmtới tình hình giáo dục Phụ huynh có trình độ, kết hợp và hỗ trợ cho việc họccủa con em mình và của trường Ngôi trường này là ngôi trường chuẩn Quốcgia nhiều năm nên tình hình dạy và học vô cùng phát triển Trường có đầy đủcác phòng học, phòng thư viện, đồ dùng, phòng truyền thống,… có khônggian học tập cũng như hoạt động cho học sinh Tóm lại, đây là một ngôitrường có sự phát triển về môi trường và con người
1.2.5.3 Thực trạng khả năng nhận diện từ ghép và từ láy cho học sinh lớp 4
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát khả năng nhận diện từ láy và từ ghép củahọc sinh trường Tiểu học Hòa Sơn thông qua đề kiểm tra sau đây:
ĐỀ KIỂM TRA Bài tập 1(2 điểm): Gạch 1 gạch dưới từ ghép, 2 gạch dưới từ láy:
Ghi nhớ, lung linh, bài vở, quần áo, bao bọc, xanh xanh, mặt mũi, buôn bán
Bài tập 2 (2 điểm): Sắp xếp các từ ghép: bạn học, gắn bó, bạn đường, xe cộ,
xe đạp, giúp đỡ, đỏ chót, đỏ tía, quần áo, quần sooc
Vào bảng sau:
Trang 38Bài tập 3 (2 điểm):
a) Tạo hai từ ghép có nghĩa phân loại, hai từ ghép có nghĩa tổng hợp từtiếng sau: xe
b) Tạo hai từ láy từ mỗi tiếng sau: lạnh, xanh
Bài tập 4 (2 điểm): Tìm từ láy trong đoạn thơ sau:
Gió nâng tiếng hát chói changLong lanh lưỡi hái liếm ngang chân trờiTay nhè nhẹ chút, người ơi Trôngđôi hạt rụng hạt rơi xót lòng Mảnh
sân trăng lúa chất đầyVàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình
Nắng già hạt gạo thơm ngonBưng lưng cơm trắng nắng còn thơm tho
Theo Tiếng hát mùa gặt- Nguyễn Duy
Bài tập 5 (2 điểm): Các từ sau có phải từ láy không? Vì sao?
ấm áp, ấp úng, êm ả, inh ỏi
Đ
á p án
Bài tập 1 (2 điểm):
Trang 40Chúng tôi đánh giá học sinh dựa trên 3 mức như sau:
- Hoàn thành tốt: đạt trên 8 điểm
- Hoàn thành: đạt từ 5 điểm đến 8 điểm
- Chưa hoàn thành: dưới 5 điểm
Sau khi khảo sát học sinh lớp 4A, 4B, 4C của trường Tiểu học Hòa Sơn,chúng tôi thu được kết quả như sau:
Kết quả khảo sát
Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Số lượng % Số lượng % Số lượng %