1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện trong chương trình tiếng việt lớp 4, 5

90 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ---ĐINH QUỲNH DƯƠNG MỞ RỘNG VỐN TỪ THÔNG QUA CÁC VĂN BẢN KỂ CHUYỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4, 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

-ĐINH QUỲNH DƯƠNG

MỞ RỘNG VỐN TỪ THÔNG QUA CÁC VĂN BẢN

KỂ CHUYỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG

VIỆT LỚP 4, 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học

ThS VŨ THỊ TUYẾT

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2 đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập tại trường, trang bịcho em kiến thức quý báu cùng kĩ năng nghiệp vụ sư phạm đồng thời tạo mọiđiều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Vũ Thị Tuyết, người đãtận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành khóa luận này

Em trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu và các thầy cô giáo trường Tiểuhọc Kiêu Kỵ, xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiệncho em trong quá trình thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Đinh Quỳnh Dương

Trang 3

NXB nhà xuất bản

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc khóa luận 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MỞ RỘNG VỐN TỪ THÔNG QUA CÁC VĂN BẢN KỂ CHUYỆN 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 4, 5 6

1.1.1.1 Đặc điểm sinh lí 6

1.1.1.2 Đặc điểm tâm lí 7

1.1.1.3 Đặc điểm nhận thức 7

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ 10

1.1.2.1 Khái niệm từ 10

1.1.2.2 Đặc điểm của từ 10

1.1.2.3 Phân loại từ 14

1.1.2.4 Vốn từ 27

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Dạy học mở rộng vốn từ lớp 4, 5 28

1.2.1.1 Nhiệm vụ của dạy mở rộng vốn từ lớp 4, 5 28

1.2.1.2 Nội dung dạy mở rộng vốn từ lớp 4, 5 29

1.2.2 Mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện lớp 4, 5 30

Trang 5

1.2.2.1 Vị trí phân môn Kể chuyện 30

1.2.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện 30

1.2.2.3 Các dạng bài học kể chuyện ở lớp 4, 5 32

1.2.2.4 Mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua các văn bản kể chuyện trong chương trình lớp 4, 5 35

Tiểu kết chương 1 36

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ THÔNG QUA CÁC VĂN BẢN KỂ CHUYỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 4, 5 37

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5 37

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 37

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 37

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo sát nội dung chương trình 38

2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 38

2.2 Đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5 39

2.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng hệ thống bài tập giải nghĩa từ để tích cực hóa hoạt động hiểu nghĩa từ cho học sinh qua giờ Kể chuyện 39

2.2.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 39

2.2.1.2 Ý nghĩa của biện pháp 39

2.2.1.3 Cách thực hiện 42

2.2.2 Biện pháp 2: Mở rộng vốn từ theo quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa 43

2.2.2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 43

2.2.2.2 Ý nghĩa của biện pháp 45

2.2.2.3 Cách thực hiện 45

Trang 6

2.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho học sinh luyện tập sử

dụng từ trong giờ Kể chuyện 45

2.2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 45

2.2.3.2 Ý nghĩa của biện pháp 46

2.2.3.3 Cách thực hiện 49

2.2.4 Biện pháp 4: Sử dụng trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn từ và củng cố vốn từ trong giờ Kể chuyện 52

2.2.4.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 52

2.2.4.2 Ý nghĩa của biện pháp 53

2.2.4.3 Cách thực hiện 54

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích thực nghiệm 61

3.2 Đối tượng thực nghiệm 61

3.3 Nội dung thực nghiệm 61

3.4 Tiến hành thực nghiệm 62

3.4.1 Soạn giáo án 62

3.4.2 Dự giờ các tiết dạy thực nghiệm lớp 4, 5 62

3.4.3 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 63

2.5 Kết quả thực nghiệm 64

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

Trong ngôn ngữ, từ có vai trò đặc biệt quan trọng Từ là đơn vị trungtâm của ngôn ngữ Muốn hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việtthành thạo, học sinh cần có một vốn từ vựng, ngữ liệu phong phú, linh hoạt,tích cực Vì vậy, việc mở rộng vốn từ cho học sinh là cần thiết.

Xác định được tầm quan trọng của từ trong hệ thống ngôn ngữ, chươngtrình Tiếng Việt, cụ thể là khối lớp 4, 5 đã chú trọng dạy từ cho học sinh bằngnhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, việc dạy mở rộng vốn từ còn gặpkhông ít những hạn chế và chưa đạt được kết quả như mong muốn Nguyênnhân là do một số giáo viên ngại đổi mới trong giảng dạy vì mất nhiều thờigian, công sức tìm hiểu và thiết kế giáo án, bài giảng chưa kích thích được tối

đa khả năng của học sinh, học sinh tiếp xúc với vốn từ mới một cách máymóc, khô khan qua các bài tập thực hành Từ đó dẫn đến vốn từ của các emhạn hẹp, chưa hiểu sâu nghĩa của từ, khả năng huy động và sử dụng từ hạn chế

Để tiết học mở rộng vốn từ trở nên hấp dẫn và kích thích tối đa khảnăng của học sinh, việc thay đổi phương pháp giảng dạy là rất cần thiết Mở

Trang 8

rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện là một trong những cách dạyđem lại hiệu quả tích cực Theo cách này, học sinh vừa có thể mở rộng đượcvốn từ, nắm vững nghĩa của từ, nắm vững nội dụng, ý nghĩa câu chuyện vừađược rèn luyện được các kĩ năng ngôn ngữ Nhờ đó, vốn từ của các em ngàycàng phong phú, khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, sinh động và linhhoạt hơn Tuy nhiên, cách dạy này còn khá mới mẻ Để mở rộng vốn từ chohọc sinh lớp 4, 5 thông qua các văn bản kể chuyện, giáo viên cần khéo léo dẫndắt học sinh phát hiện và mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện.Với tâm sinh lí của học sinh Tiểu học, các em rất dễ hứng thú và bị thu hútbởi những cách tiếp cận mới, những câu chuyện gắn với cuộc sống hàng ngày.

Vì vậy nếu khéo léo mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện sẽ tạohiệu quả cao trong học tập

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Mở

rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5” với mong muốn đi sâu nghiên cứu, đề xuất biện pháp mở rộng

vốn từ cho học sinh qua các văn bản kể chuyện và góp phần tích cực vào việcnâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và việcphát triển ngôn ngữ cho học sinh nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ lâu việc mở rộng vốn từ cho học sinh Tiểu học đã được nhiều tácgiả quan tâm nghiên cứu

- Trong tài liệu đào tạo GV- 2007 “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở

Tiểu học” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học, cuốn

sách đã cập nhật những thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK vàphương pháp dạy học theo chương trình mới Cuốn sách đã đưa ra một cáchchi tiết, cụ thể về cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng phânmôn Tiếng Việt

Trang 9

- Trong quyển “Dạy Kể chuyện ở Tiểu học”, tác giả Chu Huy đã chỉ ra

nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kể chuyện là bồi dưỡng tâm hồn, đem lạiniềm vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy chotrẻ Ở đây tác giả xác định rõ qua việc nghe và kể các câu chuyện, trẻ đượctiếp xúc với các hình ảnh nghệ thuật của ngôn từ và tác giả đã sử dụng chínhđiều đó giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển

- Trong các cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” cũng như “Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt lớp 4”, “Hỏi đáp dạy học Tiếng Việt lớp

5”, các tác giả của các công trình này hướng dẫn các cách mở rộng vốn từ

trong phân môn Luyện từ và câu

- Năm 2001, Lê Hữu Tỉnh đã có công trình nghiên cứu về hệ thống bàitập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh Tiểu học Với công trình nghiêncứu này, tác giả chủ yếu đi vào tìm hiểu cơ sở lí luận chung của việc dạy từngữ, phân tích những ưu điểm và hạn chế của chương trình và tài liệu dạy học

từ ngữ ở Tiểu học, đồng thời cũng đưa ra quy trình dạy học các dạng bài,trong đó có quy trình dạy học lí thuyết về từ ngữ cho học sinh lớp 4, 5

- Trong công trình nghiên cứu của ThS Phạm Thị Kim Chung - mã số

142 có đề bài “Dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4, 5” đã nói đến

việc mở rộng vốn từ của học sinh

- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Mai Liên - mã số 17 nghiên cứu

về mở rộng vốn từ của học sinh nhưng chỉ dừng lại ở từ láy với đề tài “Khảo

sát khả năng nhận biết, tích lũy và mở rộng vốn từ của học sinh Tiểu học”.

- Trong cuốn “Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM”, số 6, năm 2015, tác

giả Vũ Thị Ân đã đề cập đến việc mở rộng vốn từ tích hợp với dạy nghĩa của

từ cho học sinh Tiểu học

- Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Vĩnh - mã số 07301

với đề tài “Mở rộng vốn từ trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 3” đã đề

Trang 10

cập đến việc mở rộng vốn từ của học sinh ở phân môn Luyện từ và câu nhưngmới chỉ dừng lại ở đối tượng lớp 3.

Có thể nói, vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh Tiểu học là một vấn đềkhông phải hoàn toàn mới, có rất nhiều tài liệu đã đề cập đến các khía cạchkhác nhau của việc dạy từ cũng như mở rộng vốn từ cho học sinh Tuy nhiên,các tài liệu trên chủ yếu đề cập một cách tổng quát về vấn đề dạy học cácphân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học và vấn đề mở rộng vốn từ cho họcsinh qua một vài phân môn, song chưa có ai đi sâu nghiên cứu vấn đề mởrộng vốn từ cho học sinh thông qua các văn bản kể chuyên Vì vậy, chúng tôi

mạnh dạn xây dựng đề tài “Mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể

chuyện trong chương trình Tiếng Việt 4,5” Kết quả nghiên cứu của các

công trình đi trước sẽ định hướng để chúng tôi hoàn thành khóa luận này

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kểchuyện trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5 nhằm giúp các em có vốn từphong phú, sinh động, giao tiếp tốt và xử lí linh hoạt các tình huống

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyệntrong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động dạy học mở rộng vốn từ thôngqua các văn bản kể chuyện trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5

- Điều tra khảo sát thực trạng được tiến hành tại trường Tiểu học Kiêu

Kỵ, xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các lí thuyết dạy học mở rộng vốn từ

Trang 11

- Điều tra, khảo sát thực trạng việc mở rộng vốn từ trong chương trìnhTiếng Việt lớp 4, 5.

- Đề xuất các biện pháp mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kểchuyện trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh đối chiếu

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận nội dung khóa luận gồm có 3chương:

Chương 1: Cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện

Chương 2: Biện pháp mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyệntrong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MỞ RỘNG VỐN

TỪ THÔNG QUA CÁC VĂN BẢN KỂ CHUYỆN

và thầy cô hay các nhà giáo dục cần phải chú ý quan tâm, hướng các em đếncác hoạt động học tập, vui chơi lành mạnh, an toàn

Hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh mẽ nên các em rất thích cáchoạt động chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên tổ chức chocác em tham gia vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp

và đảm bảo sự an toàn cho trẻ

Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duycủa các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tưduy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vuitrí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào đặc điểm sinh lí này mà các nhà giáodục sử dụng các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

Chiều cao của học sinh Tiểu học mỗi năm tăng thêm khoảng 4 cm,trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng khoảng 2 kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổithì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) và 104 cm (nữ); cân nặng đạt 15,7 kg

Trang 13

(nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao củatrẻ có thể xê dịch khoảng 4 - 5 cm, cân nặng có thể xê dịch 1 - 2 kg.

Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối

mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh

Ở cấp Tiểu học, các em có những sự biến đổi lớn về sinh lí Vì vậy, để

tổ chức các hoạt động học tập cho các em có hiệu quả thì giáo viên phải nắmvững những đặc điểm chung nhất, cơ bản nhất về sinh lí lứa tuổi trẻ để từ đó

tổ chức các trò chơi học tập phù hợp với mục đích dạy học và đặc điểm củahọc sinh

1.1.1.2 Đặc điểm tâm lí

Đối tượng của cấp Tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Học sinh Tiểuhọc là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ em tiềm tàngkhả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạtmột trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm

lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học là thực thể đanghình thành và phát triển cả về mặt sinh lí, tâm lí xã hội Các em đang từngbước gia nhập vào xã hội trong mọi mối quan hệ Do đó, học sinh Tiểu họcchưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xãhội mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhàtrường và xã hội

1.1.1.3 Đặc điểm nhận thức

a) Tri giác

Học sinh cấp Tiểu học tri giác mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết vàmang tính không chủ động Các em khó phân biệt chính xác sự giống nhauhay khác nhau giữa các sự vật Về tri giác độ lớn, các em có khó khăn khiphải quan sát các vật có kích thước lớn hoặc nhỏ Thí dụ, các em cho rằngmặt trăng to bằng cái nồi, con vi trùng nhỏ bằng hạt gạo… Về tri giác thời

Trang 14

gian còn phát triển chậm, các em khó hình dung “ngày xưa”, “thế kỷ”, Hơnnữa, trẻ thường phân biệt được những chi tiết ngẫu nhiên mà người lớn ít chú

ý đến, nhưng chưa nhìn thấy được những chi tiết quan trọng và bản chất Trigiác của học sinh Tiểu học phát triển trong quá trình học tập Sự phát triểnnày diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõràng hơn, có chọn lọc hơn Vì vậy, học sinh các lớp cuối Tiểu học (lớp 4, 5)

đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái củacác chi tiết để đi đến phân tích tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng

b) Trí nhớ

Ở học sinh Tiểu học cả ghi nhớ có chủ định và không có chủ định đềuđang phát triển Học sinh lớp 1, lớp 2 ghi nhớ không chủ định vẫn giữ vai tròquan trọng Các em thường học thuộc bài một cách máy móc, chưa biết sửdụng cách ghi nhớ có điểm tựa, chưa biết phân chia tài liệu, dùng hình vẽ, sơ

đồ để hỗ trợ cho việc ghi nhớ Ở những lớp học này các em thường ghi nhớmột cách máy móc Do vậy, để tránh cho các em không học vẹt, thầy cô giáocần hướng dẫn cho các em biết ghi nhớ có ý nghĩa Ở cuối bậc Tiểu học, họcsinh lớp 4, lớp 5 ghi nhớ có chủ định phát triển mạnh

c) Tưởng tượng

Tưởng tượng của các em học sinh Tiểu học đã phát triển và phong phúhơn nhiều so với trẻ em mẫu giáo Tuy nhiên tưởng tượng của các em vẫn còntản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi,chưa bền vững, càng về những năm cuối của cấp Tiểu học, tưởng tượng củacác em càng gần hiện thực hơn Tưởng tượng được hình thành và phát triểntrong hoạt động học tập và các hoạt động khác của các em Khuynh hướngchủ yếu trong sự phát triển của học sinh Tiểu học được hoàn thiện gắn liềnvới những hình tượng đã được tri giác trước và tạo ra những hình tượng phùhợp với điều mô tả, hình vẽ, sơ đồ… Hình ảnh tưởng tượng của trẻ lúc đầu

Trang 15

còn phải dựa trên những đối tượng cụ thể, hình ảnh tưởng tượng mở nhạt,không rõ ràng, các chi tiết trong hình ảnh tưởng tượng còn nghèo nàn và tảnmạn, về sau nó lại được phát triển trên cơ sở ngôn từ, hình ảnh tưởng tượngngày càng trở nên khái quát, trọn vẹn hơn, ngày càng trở nên phân biệt hơn,chính xác hơn Trẻ càng lớn thì các yếu tố, chi tiết thừa trong hình ảnh cànggiảm và hình ảnh cũng được gọt giũa hơn, tinh giản hơn nên mạnh lạc hơn vàsát thực hơn.

d) Tư duy

Tư duy của học sinh Tiểu học là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sangtính trừu tượng, khái quát Sự vận dụng các thao tác tư duy để hình thành kháiniệm thường trải qua ba mức độ: một là chủ yếu dựa vào các dấu hiệu trựcquan, bề ngoài, dễ thấy hay các dấu hiệu dễ gây cảm xúc, đó là dấu hiệu khôngbản chất; hai là dựa trên dấu hiệu bản chất nhưng là dấu hiệu dễ thấy, song vẫncòn lẫn lộn giữa dấu hiệu bản chất và dấu hiệu không bản chất, các dấu hiệu

đó vẫn gắn với những hình ảnh trực quan, với những biểu tượng cụ thể; ba làcác em biết tách dấu hiệu bản chất khỏi dấu hiệu không bản chất, nhưng phảidựa vào sự vật cụ thể, trực quan Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóađang phát triển nhưng chưa đầy đủ, còn phải dựa vào những sự vật cụ thể,những tài liệu trực quan Các em chưa thể tự mình suy luận một cách logic vàthường dựa vào những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật và hiện tượng

e) Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữpháp và từ vựng Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do được họcnhiều môn và pháp vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từcũng phát triển Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụthể của bài học Khi đi học, trẻ đã nắm được hình thức mới của hoạt độngngôn ngữ đó là ngôn ngữ viết Các em đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp

Trang 16

cơ bản nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết.

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ

1.1.2.1 Khái niệm từ

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ Tuy nhiên, không có địnhnghĩa nào về từ làm cho mọi người thỏa mãn hoàn toàn Tác giả Nguyễn

Thiện Giáp đã định nghĩa từ trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” như sau:

“Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [5, tr.61].

Trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt” tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về từ như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một âm tiết

cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [2, tr.16].

1.1.2.2 Đặc điểm của từ

a) Đặc điểm ngữ âm

Hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt cố định, bất biến ở mọi vị trí, mọiquan hệ và chức năng trong câu Tính cố định, bất biến là điều kiện hết sứcthuận lợi giúp chúng ta nhận diện được từ khá dễ dàng

Ví dụ: Từ “nước” người Việt Nam dễ dàng nhận diện từ “nước” dù nó

xuất hiện ở bất cứ câu nào, ở bất cứ vị trí nào Trong câu nói:

- Nước này của tôi.

- Không có nước thì không có sự sống.

- Tôi uống nước.

Dựa vào hình thức ngữ âm của từ, ta không biết giá trị ngữ pháp củachúng Giá trị ngữ pháp của từ được hiện thực hóa, được bộc lộ trong mốiquan hệ giữa nó với các từ khác đứng trước hoặc đứng sau Trong khi đó từtrong các ngôn từ tổng hợp tính như tiếng Nga chẳng hạn, luôn luôn biến đổihình thức tùy theo chức năng ngữ pháp mà nó đảm nhiệm trong câu

Trang 17

Trong tiếng Việt, có một số từ giữa hình thức ngữ âm của nó và sự vật,hiện tượng mà nó biểu thị có một mối quan hệ nhất định Điều này được biểuhiện rõ nét trong các từ tượng thanh (ví dụ: rì rào, róc rách, rì rầm, lộpbộp…) Có hiện tượng này vì thể chất vật chất của từ trùng hợp với thể chấtvật chất (toàn bộ hay bộ phận) của cái được biểu hiện (âm thanh tự nhiên).

Bên cạnh đó, do tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu, cấu tạo ngữ âmcủa các âm, các vần lại hết sức phong phú Vì vậy, hình thức ngữ âm của từtiếng Việt có khả năng gợi tả, có giá trị biểu hiện rất cao Trong sáng tạo vănchương, các nhà văn, nhà thơ rất có ý thức khai thác đặc điểm này về mặt ngữ

âm của từ tiếng Việt để tạo ra những câu văn, câu thơ mà hình thức ngữ âmcủa từ có tác dụng gợi nghĩa, gợi nội dung rất lớn Ví dụ:

“Đoạn trường thay, lúc phân kì

Vó câu khập khểnh, bánh xe gập ghềnh”

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Ta thấy dường như âm thanh ở đây có một sự tương ứng nào đó vớitình cảm của người trong cuộc Cái sự khó khăn trong phát âm được lặp lại ởhai cặp âm tiết trong dòng thơ thứ hai (khấp khểnh, gập ghềnh) có một sự phùhợp nào đó với cuộc đời đầy gian truân mà nàng Kiều đang bước vào, đangdấn thân

b) Đặc điểm ngữ pháp

Do bị chi phối bởi những đặc điểm về loại hình (loại hình ngôn ngữ)nên đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chủ yếu được biểu hiện ở haiphương diện: thứ nhất, ở khả năng kết hợp; thứ hai, ở khả năng đảm nhiệmcác chức vụ ngữ pháp trong câu, khả năng chi phối các thành tố phụ trongcụm từ… Nói cách khác, đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt không biểu hiệntrong nội bộ từ (như các từ tiếng Nga chẳng hạn) mà biểu hiện chủ yếu ởngoài từ, trong tương quan với các từ khác trong câu

Trang 18

Ví dụ:

Những từ như: máy bay, nhà cửa, sinh viên… có thể kết hợp được (trực

tiếp hoặc gián tiếp) với các từ chỉ số lượng ở vị trí đằng trước và có thể đảmnhiệm chức vụ làm chủ ngữ trong câu

Những từ như: bổ, xẻ, vá… có khả năng mang bổ ngữ danh từ chỉ đối

tượng chịu tác động trực tiếp của các hoạt động do các động từ biểu thị (ví dụ:

bổ củi, xẻ gỗ, vá áo…)

Trong câu “Mặt trời gác núi, chiêng đà thu không” (Nguyễn Du), từ mặt trời đảm nhận chức vụ chủ ngữ Nhưng trong “Thấy anh như thấy mặt

trời” (ca dao) thì từ “mặt trời” làm bổ tố cho động từ “thấy” Còn trong cái

tên cửa hàng “Hiệu đồng hồ mặt trời” thì từ “mặt trời” làm định tố cho “hiệu

Nghĩa ngôn ngữ của từ là thành phần nghĩa do cộng đồng quy ước màthành, trong nghĩa ngôn ngữ của từ, chúng ta có thể phân biệt nghĩa từ vựng

và nghĩa ngữ pháp

Theo Đỗ Hữu Châu nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng đơn vị từvựng (từ hoặc ngữ cố định) Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, các thực từ có

cả nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp

Trang 19

Xem xét về nghĩa từ vựng của từ, tác giả phân lập thành nghĩa biểu vật,nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái Nghĩa biểu vật là loại sự vật được từ gọitên, biểu thị; là phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng Ví dụ: nghĩa biểu vật

của sủa là các loài chó Hươu, nai, bò, mèo, không phải nghĩa biểu vật của

sủa Nghĩa biểu vật của chán nản, hăng hái, giác ngộ là người Động vật, cây

cối, sông biển không phải là nghĩa biểu vật của từ này Nghĩa biểu niệm của

từ là những hiểu biết của con người về những thuộc tính bản chất của sự vật,hiện tượng, trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ Ví dụ:

bàn (đồ dùng), (có mặt phẳng, thường chân), (làm bằng gỗ, đá, sắt, ), (dùng

để đặt các đồ vật, sách vở, thức ăn ); đi (hoạt động dời chỗ từ A đến B),

(bằng chân), (cách thức, tốc độ bình thường), (hai bàn chân không đồng thờinhấc khỏi mặt đất) Nghĩa biều thái phản ánh quan hệ của người sử dụng đốivới hiện thực khách quan mà từ biểu thị với người cùng tham gia hoạt độnggiao tiếp, nói cụ thể hơn, phản ánh tình cảm, xúc cảm, thái độ của người sử

dụng ngôn ngữ Ví dụ: các từ chết, hi sinh, từ trần, bỏ mạng, có cùng nghĩa

biểu vật, nghĩa biểu niệm, những khác nhau về quan hệ chủ quan tồn tại giữangười sử dụng với trạng thái được nói tới

Khác với nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp là nghĩa chung của những từgiống nhau về ý nghĩa phạm trù Các đặc điểm ngữ pháp thường là căn cứkhách quan để xác định các ý nghĩa khác nhau của một hình thức ngữ âm Ví

dụ, nhờ các đặc điểm ngữ pháp khác nhau của âm tiết “đỏ” như:

- Lá cờ rất đỏ.

- Phải ba đỏ xe mới lùi vào ngõ được.

- Trời tối rồi, đỏ đèn lên đi.

Mà chúng ta khẳng định nó có 3 ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất chỉ đặc điểmmàu sắc, ý nghĩa thứ hai chỉ sự vật (lần đèn đỏ bật lên) và ý nghĩa thứ ba chỉhoạt động làm xuất hiện ngọn lửa

Trang 20

Ngoài ý nghĩa ngôn ngữ (ý nghĩa cở sở), trong hoạt động giao tiếp, tùyvào từng hoàn cảnh và mục đích sử dụng, cá nhân có thể sáng tạo ra ý nghĩamới cho từ, dựa vào ý nghĩa cơ sở của nó Loại ý nghĩa này được gọi là ýnghĩa lời nói Đó là loại ý nghĩa có tính chất lâm thời, không bền vững, mang

đậm dấu ấn cá nhân Hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất là: ẩn dụ

và hoán dụ Ẩn dụ là phương thức dùng tên của sự vật này gọi tên cho sự vật khác dựa vào sự giống nhau một đặc điểm nào đấy của chúng Ví dụ, kim là

tên gọi của đồ vật bằng kim loại, dài, nhọn dùng để châm chích hay mắc chỉkhâu vá Trên mặt các loại đồng hồ có bộ phận dài, nhỏ không có chức năngchâm chích hay khâu vá mà có chức năng chỉ giờ giấc, chỉ các độ đo Bộ phận

này cũng được gọi là kim bởi hình dáng dài, nhỏ của nó giống như hình dáng

của đồ vật dùng để khâu vá hoặc châm chích Hoán dụ là phương thức chuyểnnghĩa dùng tên của sự vật này để gọi tên sự vật khác dựa vào quan hệ gần gũi

có tính khách quan của chúng Ví dụ, bạc là tên gọi của một kim loại Người

ta dùng kim loại này để đúc ra vật làm trung gian để mua bán, trao đổi hàng

hóa Trong câu “Đồng bạc trắng hoa xòe” người ta dùng tên gọi của chất liệu

để chỉ vật được làm ra từ chất liệu đó

1.1.2.3 Phân loại từ

a) Phân loại từ theo cấu tạo

Dựa vào đặc điểm cấu tạo từ, người ta phân chia từ tiếng Việt thành: từ

đơn và từ phức.

Từ đơn là từ được tạo ra từ phương thức từ hóa (ví dụ: ăn, mặc, nhà,ngày, tháng…) Người ta dựa vào số lượng âm tiết có trong từ đơn để chia từđơn thành 2 loại: từ đơn đơn âm tiết và từ đơn đa âm tiết Từ đơn đơn âm tiết

là những từ đơn chỉ có một âm tiết (tương ứng một hình vị) Loại từ đơn nàytuy số lượng không lớn nhưng chúng lại mang những đặc trưng chủ yếu của

từ vựng tiếng Việt, dùng để cấu tạo hàng loạt các từ phức (ví dụ: học, đi, ăn,

Trang 21

ngủ, nghỉ, viết, nhìn…) Từ đơn đa âm tiết là những từ có từ hai âm tiết trởlên Đại bộ phận các từ đơn đa âm tiết là từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu(Apatit, axit, café,…) Một số các từ đa âm theo nguyên tắc rút gọn - rung bớtmột số âm tiết, âm tiết còn lại được từ hóa (và sau đó hình vị hóa) thành từđơn một âm tiết Mối quan hệ của các âm tiết thường mang tính ngẫu nhiên(ví dụ: mồ hôi, bồ hóng, bù nhìn, mặc cả…).

Từ phức là những từ được cấu tạo từ 2 âm tiết trở lên (tương ứng với 2hình vị trở lên) Các âm tiết được tổ chức theo một phương thức cấu tạo đểtạo ra một kiểu từ có tính hệ thống (ví dụ: nhà cửa, xe đạp, xinh xắn…) Căn

cứ vào phương thức cấu tạo, người ta chia từ phức thành hai loại là từ ghép và

từ láy

Từ ghép là từ do phương thức ghép tạo ra Phương thức ghép là phươngthức tác động vào hai hay nhiều hình vị có ý nghĩa, kết hợp chúng lại theomột quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định để tạo ra các từ ghép:

Từ ghép hợp nghĩa: người ta ghép hai hình vị có nghĩa chỉ loại theoquan hệ ngữ nghĩa (đồng nghĩa hoặc trái nghĩa) trên cơ sở quan hệ cú phápđẳng lập để tạo ra một từ có ý nghĩa khái quát, tổng hợp (ví dụ: nhà cửa,ruộng nương, làm ăn, vườn tược…) Căn cứ vào ý nghĩa của từ mới, người tachia thành từ ghép phi cá thể, từ phép không phi cá thể Từ ghép hợp nghĩakhông phi cá thể lại chia thành ba loại:

Trang 22

- Từ ghép hợp nghĩa tổng loại là từ mà ý nghĩa chỉ một loại lớn mộtlớp sự vật hoặc phạm trù (ếch nhái, tàu thuyền, cam quýt…).

- Từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại là từ mà ý nghĩa của nó sẽ trùngvới ý nghĩa của một hoặc hai hình vị (đầu óc, răng lợi, đường xá…)

- Từ ghép hợp nghĩa bao gồm là những từ ghép biểu thị những sự vật,hoạt động, tính chất thường đi đôi với nhau trong thực tế khách quan thànhmột thói quen, một tập quán của xã hội (xăng dầu, gang thép, điện máy…)

Từ ghép hợp nghĩa không phi cá thể là những từ mà vừa có khả năngchỉ cá thể vừa chỉ loại (chứng cớ, quy củ, đường lối, phương hướng, xâydựng, biến đổi, tốt đẹp…)

Từ ghép phân nghĩa ghép một hình vị chỉ loại lớn với một hình vị cótác dụng phân hóa loại lớn thành những loại nhỏ, độc lập với loại lớn và độc

lập với nhau (ví dụ: làm duyên, làm mùa; xe đạp, xe máy…) Từ ghép phân

nghĩa gồm 2 loại:

- Loại 1: Các từ ghép phân nghĩa một chiều là những từ ghép chỉ cómột hình vị chỉ loại lớn, gồm 3 loại nhỏ:

+ Một chiều đồng đẳng: có 2 hình vị đều có nghĩa ở trong nhau (cá thu,

cá ngừ, cá chim; chim sâu, chim én, chim câu…)

+ Một chiều sắc thái hóa: từ mới được tạo ra có những sắc thái nghĩakhác nhau so với ý nghĩa hình gốc (đen sì, đen nhánh, đen nháy; xanh om,xanh um, xanh lè…) Ý nghĩa của từ láy sắc thái hóa là miêu tả sự vật có ýnghĩa tột cùng

+ Một chiều dị hóa: nghĩa của hình vị thứ hai khác hẳn nghĩa của hình

vị thứ nhất (xe đạp, xe máy, làm duyên, làm mùa…)

- Loại 2: Các từ ghép phân nghĩa hai chiều, hai hình vị có thể phân hóacho nhau Ví dụ:

Trang 23

+ trưởng + X: chỉ những người đứng đầu tổ chức (trưởng lớp, trưởnglàng, trưởng thôn…).

+ X + viên: chỉ những người đứng trong tổ chức (sinh viên, đảng viên,đoàn viên, hội viên, công đoàn viên…)

+ nhà + X: chỉ những người hoạt động có chuyên môn cao (nhà văn,nhà báo…)

+ X + sĩ: chỉ những người hoạt động trong ngành nghệ thuật có tínhchuyên nghiệp (nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, văn sĩ…)

Từ ghép biệt lập (từ ghép hỗn hợp) là loại từ ghép không thuộc hệthống nào Mỗi từ có một ý nghĩa riêng biệt Việc ghi nhớ từ cũng như ghinhớ từ đơn Người ta căn cứ vào cơ chế định danh để phân loại các từ ghépbiệt lập (ví dụ: cổ gà, chân vịt…) Các từ Hán Việt cũng là từ ghép biệt lập (vídụ: không phận, hải phận, hải lưu, hỏa sa…)

Từ láy là từ do phương thức láy tạo thành, phương thức láy là phươngthức tác động vào một hình vị cơ sở có nghĩa, làm nảy sinh hình vị láy có vỏngữ âm giống hoặc gần giống với hình vị cơ sở Cả hình vị láy và hình vị cơ

sở tạo nên một từ láy (ví dụ: nhỏ  nho nhỏ, nhỏ nhoi; lạnh  lành lạnh;đỏ

 đo đỏ ; ) Từ láy được chia thành hai loại: từ láy toàn bộ, láy bộphận

Từ láy toàn bộ là từ mà toàn bộ âm tiết của hình vị gốc được giữnguyên (ví dụ: xanh xanh, xa xa, ) cần chú ý hai dạng biến thể: láy đôi toàn

bộ có biến thanh và láy toàn bộ có biến thanh, biến vần Nếu hình vị có âmcuối là âm tắc thì khi láy nó sẽ biến thành phụ âm vang mũi và theo nguyêntắc cùng cặp (ví dụ: khác  khang khác; tốt  tôn tốt; đẹp  đèmđẹp; )

Láy bộ phận là láy đôi mà từng bộ phận của hình vị lặp lại Láy bộ

Trang 24

phận gồm hai loại là: láy âm và láy vần Láy âm là láy đôi mà âm đầu đượclặp lại Láy âm được chia làm 2 loại: láy âm có hình vị cơ sở ở trước, hình vịláy ở sau (ví dụ: vồ vập, ngượng ngạo, mập mạp, móm mém, đần độn, tối

Trang 25

tăm, cay cú, học hiếc…); từ láy có hình vị cơ sở đứng sau, hình vị láy đứngtrước (ví dụ: thập thò, vẩn vơ, xôn xao, rục rịch, lung lay, bập bùng…) Láyvần là láy đôi mà vần được lặp lại Láy vần chia làm 2 loại: láy vần có hình vị

cơ sở đứng sau, hình vị láy đứng trước, là loại từ láy có khối lượng lớn (ví dụ:tồng ngồng, tủn ngủn, lờ đờ, càu nhàu, lờ phờ, táy máy…); láy vần có hình vị

cơ sở đứng trước, hình vị láy đứng sau (ví dụ: thiêng liêng, co ro…) Trong số

các vần của hình vị láy có vần iếc có thể đi với tất cả các âm tiết của tiếng Việt, gọi là hiện tượng “iếc hóa”.

Ý nghĩa của từ láy xuất phát từ hình vị cơ sở, do vậy khi xét ý nghĩacủa các từ láy cần phải đối chiếu ý nghĩa của nó với ý nghĩa của hình vị cơ sởtheo cơ chế của từ láy là hòa phối về ngữ nghĩa và ngữ âm giữa hình vị gốc vàhình vị láy Khi láy, phương thức láy này đã làm cho tính chất hay hoạt động

ở trạng thái tĩnh thành trạng thái động, ý nghĩa của từ láy chính là biến dạng ýnghĩa của hình vị gốc

Khi láy, ý nghĩa của từ láy biểu hiện ở 2 dạng: đột biến hóa ý nghĩa của

từ láy so với ý nghĩa của hình vị cơ sở (ví dụ: máu me); sắc thái hóa ý nghĩacủa từ láy là một trong những sắc thái nào đó của ý nghĩa hình vị cơ sở Sắcthái hóa có thể theo hai hướng là phi cá thể hóa hoặc cụ thể hóa ý nghĩa củahình vị cơ sở (ví dụ: máy móc, chim chóc, tiệc tùng…)

b) Phân loại từ theo ý nghĩa

Dựa vào số lượng, thành phần nghĩa được biểu thị trong từ, người taphân chia từ trong hệ thống thành: từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa Từ mộtnghĩa là những từ ứng với một hình thức ngữ âm, là một sự vật, hiện tượnghay là một khái niệm về một sự vật, hiện tượng đó (ví dụ: đất, trời, biển,…)

Từ nhiều nghĩa là những từ mà có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng hoặc cóthể biểu thị nhiều khái niệm về sự vật, hiện tượng Trong mỗi một từ nhiềunghĩa, bao giờ cũng có một nghĩa gốc và các nghĩa phát sinh Xét về mặt lịch

Trang 26

sử, các nghĩa phát sinh của từ bao giờ cũng xuất hiện sau nghĩa gốc, chúng

được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc (ví dụ: từ “cổ” trong “cổ người”

mang nghĩa gốc là chỉ một bộ phận trên cơ thể người nối giữa thân và đầu;

“cổ” trong “cổ chai” mang nghĩ chuyển, do hiểu rộng nghĩa gốc ra mà có, là

phần nối giữa thân chai và miệng chai; “cổ” trong “nút cổ chai” mang nghĩa

chuyển, do phương thức ẩn dụ (rút ra từ điểm tương đồng) từ cổ chai mà ra, làđoạn bị thắt lại

Dựa vào mối quan hệ của từ trong trường nghĩa, người ta phân chiathành từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau vềhình thức ngữ âm nhưng có chung ít nhất một nét nghĩa nào đó (ví dụ: ô tô, xeđạp, tàu điện, ) Căn cứ vào mức độ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật, ý nghĩabiểu niệm và ý nghĩa biểu thái - tức là những ý nghĩa thuộc hệ thống ngữnghĩa của từ vựng, có thể phân chia các từ đồng nghĩa thành: từ đồng nghĩatuyệt đối (ví dụ: máy bay  phi cơ, tàu bay; xe lửa  xe hỏa, tàu hỏa,tàu

lửa;…), từ đồng nghĩa sắc thái (ví dụ: các từ rộng, bao la, bát ngát, mênh

mông,… có chung nét nghĩa “ mức độ” song mỗi từ biểu thị một mức nhất

định) Từ đồng nghĩa có giá trị cung cấp cho người sử dụng ngôn ngữ nhữngphương tiện ngôn ngữ để biểu thị các sự vật, hiện tượng trong những biểuhiện phong phú, sinh động, đa dạng của nó trong thực tế khách quan Sự tồntại của các từ đồng nghĩa còn là biểu hiện của sự phát triển, sự phong phú củamột ngôn ngữ Từ trái nghĩa là những từ khác nhau về hình thức ngữ âm, đốilập về ý nghĩa, biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng tương liên vớinhau (ví dụ: dài - ngắn, xấu - tốt, thiện - ác, ) Quan hệ trái nghĩa giúp ta hiểu

sâu thêm nghĩa của từ (ví dụ: muốn hiểu nghĩa từ “cao” ta đối lấp nó với nghĩa từ “thấp”) Nghĩa của từ được hiện thực hóa trong sự so sánh, đối

chiếu, trong các quan hệ trái nghĩa Người ta đã sử dụng phương pháp này để

hướng dẫn học sinh tập giải nghĩa từ (ví dụ: muốn tìm hiểu nghĩa của từ “lạc

Trang 27

quan” giáo viên có thể hướng dẫn học sinh qua từ đối lập “bi quan”, muốn

tìm hiểu nghĩa từ “độc lập” có thể sử dụng từ đối lập với nó là từ “nô lệ”.

Trong các tác phẩm văn chương, người ta sử dụng khá nhiều các cặp tráinghĩa, vì chúng có sức biểu hiện, biểu cảm rất lớn Ví dụ:

“Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”

(Truyện Kiểu, Nguyễn Du)

c) Phân loại từ theo nguồn gốc

Dựa vào nguồn gốc, từ được chia thành hai loại: từ thuần Việt và từ vaymượn

Từ thuần Việt là những từ cơ bản, từ gốc của tiếng Việt Nó ra đời sớm

và được dân tộc ta sử dụng từ thời thượng cổ đến nay Nó là cơ sở của hệthống từ vựng tiếng Việt Từ thuần Việt có số lượng lớn và mang tính dân tộc

sâu sắc Đó là những từ như: cha, mẹ, anh, em, nắng, mưa, hai, ba, bốn,

Quá trình phát triển của lịch sử - xã hội ngôn ngữ, các từ thuần Việt cũng cónhững thay đổi, biến đổi nhất định cả về nghĩa, về cách dùng… Trong tiếngViệt hiện đại, các từ thuần Việt vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng và làm cơ

sở cho sự phát triển của từ vựng tiếng Việt

Từ vay mượn là những từ tiếng Việt mượn của ngôn ngữ khác, nhưng

“cải tạo” lại để có hình thức ngữ âm, có đặc điểm ngữ pháp phù hợp với hệthống ngữ âm và ngữ pháp của tiếng Việt Trong quá trình Việt hóa, khôngchỉ có hình thức ngữ âm thay đổi mà nghĩa của từ cũng thay đổi (cần biết rằnghiện tượng ngôn ngữ này vay mượn từ của ngôn ngữ khác là một hiện tượngmang tính phổ biến Đó là kết quả của sự giao lưu về chính trị, kinh tế, vănhóa, ngôn ngữ… giữa các quốc gia)

Một số ví dụ: tử tế, cường điệu, đài các, (Hán); cà phê, xà phòng,săm, lốp, (Pháp); mít tinh, căng tin, (Anh); bôn sê vích, Xô viết, (Nga)

Trang 28

Có nhiều cách phân loại từ vay mượn, tương ứng với những tiêu chíphân loại, mục đích phân loại khác nhau Căn cứ vào nguồn gốc của những từ

mà tiếng Việt vay mượn, căn cứ vào vị trí, vai trò của những từ vay mượntrong từ vựng tiếng Việt, có thể chia từ vay mượn trong tiếng Việt thành hailoại: từ Hán Việt và từ vay mượn các ngôn từ khác

d) Phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp

Căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp, từ chia thành các loại: danh từ, động từ,tính từ, đại từ, quan hệ từ, phụ từ, số từ, tình thái từ

Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật, bao gồm các thực thể như:người, động vật, đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội vàcác khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần (ví dụ: người, học sinh,công nhân, đồi, núi, công ti, tình yêu…) Danh từ có khả năng kết hợp với các

từ chỉ số, chỉ lượng (những, các…) ở trước và các đại từ chỉ định (này, nọ,kia…) ở sau để tạo nên một cụm từ chính phụ mà nó là trung tâm Ngoài ra có

thể nhận diện danh từ căn cứ vào khả năng kết hợp với từ nghi vấn “nào” ở

phía sau để cấu tạo câu hỏi Những từ không có khả năng đó không phải danh

từ (ví dụ: Người nào?, Vấn đề nào?, ) Danh từ có thể đảm nhiệm vai trò của

thành phần chính và thành phần phụ trong câu Khi làm vị ngữ, danh từ

thường cần có từ “là” ở trước (ví dụ: Mẹ em là giáo viên.) Danh từ gồm:

danh từ riêng (Hà Nội, Hải Dương, Hồ Chí Minh,…) và danh từ chung (nhàcửa, bàn ghế, niềm vui, cái đẹp, tư tưởng, con, cái, chiếc, công nhân, học sinh,

Trang 29

của quá trình không gian, trong thời gian và trong hiện thực Động từ còn kếthợp với các thực từ (danh từ) nhằm phản ánh các quan hệ trong nội dung vậnđộng trong quá trình Các khả năng kết hợp trên đây làm thành những tiêuchuẩn phân loại các lớp con trong nội bộ động từ Khả năng kết hợp với

“hãy”, “đừng”, “chớ” có tác dụng quy loại động từ (tính từ và danh từ chẳng

hạn, không có khả năng kết hợp với “hãy”, “đừng”, “chớ”) Chức năng tiêu

biểu nhất của động từ là vị ngữ Ngoài ra, động từ có thể làm bổ ngữ, địnhngữ, đôi khi động từ đảm nhiệm chức năng chủ ngữ, vị ngữ Động từ gồm:động từ không độc lập và động từ độc lập Đ ngộ từ không đ cộ l pậ là nh ngữ

đ ngộ từ thư ngờ không đ ngứ m tộ mình đ mả nhi mệ vai trò ngữ pháptrong câu, mà phải cùng v iớ m t ộ từ khác ho c ặ m tộ cụm t điừ sau làmthành t pố h ụ Ví dụ:

+ Cậu phải học tập chăm chỉ hơn

+ Cô Tấm biến thành con chim vàng anh

Động từ độc lập là những động từ có thể dùng được một mình khi đảmnhiệm các chức năng ngữ pháp trong câu Loại động từ này có số lượng lớn

và gồm nhiều tiểu loại Theo ý nghĩa khái quát và khả năng chi phối tố phụ,các động từ này thường được chia thành hai nhóm: nội động từ (đứng, ngồi,

đi, chạy, băn khoăn, hồi hộp, có, còn, hết,…) và ngoại động từ (đẩy xe, đánhgiặc, viết bài, đọc thơ,…)

Trang 30

Tính từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động, trạng thái.Tính từ có khả năng kết hợp với các phụ từ tương tự như động từ Tuy nhiêntính từ ít kết hợp với phụ từ cầu khiến, phần lớn tính từ dễ kết hợp với phụ từchỉ mức độ Giống như động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp Ngoài ra,tính từ còn có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác trong câu: bổ ngữ,định ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ Căn cứ vào ý nghĩa khái quát, có thể phân biệthai loại tính từ: tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất (đỏ, tím, to, nhỏ, đắng,ngọt, cứng, mềm, dẻo, tốt, xấu, hiền, ác,…) và tính từ chỉ đặc điểm về lượng(cao mười hai mét, rộng ba mẫu, nặng ba mươi cân…) Căn cứ vào nét nghĩamức độ và khả năng thể hiện ý nghĩa mức độ nhờ các thành tố phụ, có thểphân biệt hai loại tính từ: tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ (xanh

lè, xanh ngắt, đực, cái,…) và tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ (rất đẹp,

vô cùng thông minh, cực kì hấp dẫn,…)

Đại từ có chức năng để xưng hô, để trỏ hoặc để thay thế (thay thế chocác từ thuộc danh từ, động từ, tính từ, số từ) Khi thay thế cho từ thuộc loại từnào thì đại từ mang đặc điểm ngữ pháp cơ bản của từ loại ấy Căn cứ vàochức năng thay thế, có thể tách biệt đại từ thành các nhóm sau: đại từ thay thếcho danh từ, đại từ thay thế cho động từ, đại từ thay thế cho tính từ, đại từ

thay thế cho số từ Đại từ thay thế cho danh từ: tôi, tao, mày, nó, họ, chúng,

ấy, kia, này, nọ, ai, đâu… Các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp giống như

danh từ (ví dụ: Theo tớ, quý nhất là lúa gạo Các cậu thấy có ai không ăn mà

sống được không?) Đại từ thay thế cho động từ, tính từ: thế, vậy, như thế, như vậy… Các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp giống như động từ, tính từ (ví

dụ: Lúa gạo hay vàng bạc đều rất quý Thời gian cũng thế.) Đại từ thay thế cho số từ: bao nhiêu, bao, bấy, bấy nhiêu, bằng nào, bằng ấy… Các đại từ này

có đặc điểm ngữ pháp như số từ (Nấu năm bơ gạo cho mươi lăm người ăn?

Bấy nhiêu người mà chỉ có bằng ấy gạo thì làm sao đủ cơm ăn!) Căn cứ vào

Trang 31

mục đích sử dụng, có thể tách đại từ thành các tiểu loại sau: đại từ xưng hô(tao, tớ, mày, nó,…), đại từ chỉ định (ấy, này, nọ, đó, đây, nãy, mấy, bây,bấy…), đại từ nghi vấn (ai, cái gì, đâu, bao giờ, sao, nào, bao nhiêu,…).

Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm

từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu với nhau Quan hệ từ khôngthể đảm nhiệm được vai trò thành tố chính lẫn vai trò thành tố phụ trong cụm

từ, chúng cũng không thể đảm nhiệm được chức năng của các thành phần câu.Chúng chỉ thực hiện được chức năng liên kết các từ, các cụm từ hay các câuvới nhau Vì thế chúng còn được gọi là các từ nối, kết từ hoặc từ quan hệ Căn

cứ vào loại quan hệ ngữ pháp mà từ biểu thị có thể phân biệt các quan hệ từthành các nhóm: quan hệ từ biểu thị quan hệ đẳng lập và quan hệ từ biểu thị

quan hệ chính phụ Quan hệ từ đẳng lập (còn được gọi là liên từ) phần lớn là

từ đơn, dùng nối kết các thành phần có quan hệ đẳng lập Theo ý nghĩa vàcách sử dụng, có thể phân biệt các quan hệ từ sau: quan hệ từ đẳng lập chỉquan hệ đồng thời, liệt kê (và, với, cùng,…), quan hệ từ chỉ quan hệ nối tiếp(rồi, đoạn…), quan hệ từ chỉ quan hệ đối chiếu, tương phản (còn, nhưng, chứ,thì,…), quan hệ từ chỉ quan hệ lựa chọn (hay, hoặc) Quan hệ từ chính phụ

(còn được gọi là giới từ) dùng nối kết các thành phần có quan hệ chính phụ.

Căn cứ vào ý nghĩa và cách dùng, có thể chia quan hệ từ chính phụ thành cácnhóm nhỏ sau: quan hệ từ chỉ quan hệ sở hữu (của), quan hệ từ chỉ quan hệmục đích (cho, để, mà, vì…), quan hệ từ chỉ quan hệ nguyên nhân (vì, do, tại,bởi…), Quan hệ từ chỉ quan hệ cách thức, phương tiện (bằng, với…), quan hệ

từ chỉ quan hệ thời gian, không gian (ở, tại, từ, đến, tới,…), quan hệ từ chỉquan hệ phạm vi, phương diện (về, với, đối với,…), quan hệ từ chỉ quan hệ

giải thích, thuyết minh, so sánh: là,bằng như,…

Phụ từ: về mặt ý nghĩa, phụ từ không thực hiện được chức năng gọi tên(định danh), mà chỉ làm dấu hiệu cho một loại ý nghĩa nào đó Phụ từ không

Trang 32

thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của cụm từ, chúng chuyên làm thành tốphụ trong cụm từ để bổ sung cho thành tố chính một ý nghĩa nào đó Vì thếchúng được coi là các từ chứng, làm bộc lộ bản chất ngữ pháp của các từ làm

thành tố chính (ví dụ: những, các, mọi, mỗi, từng được coi là từ chứng của danh từ, hãy, đã (thường) được coi là từ chứng của động từ Căn cứ vào bản

chất ngữ pháp của các thực từ mà phụ từ thường đi kèm, có thể chia phụ từ

thành 2 nhóm: phụ từ chuyên đi kèm danh từ (định từ) (những, các, một là

những hư từ đứng trước danh từ, có hoạt động như quán từ trong một số ngôn

ngữ khác; mọi, mỗi, từng dùng trước danh từ để biểu thị ý nghĩa số lượng và ý nghĩa phân phối có liên quan với số lượng; tất cả, tất thảy, hết thảy, cả…là

những từ chỉ tổng thể) và phụ từ chuyên đi kèm động từ, tính từ (phó từ) (phụ

từ chỉ thời - thể: từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ, sắp,…; phụ từ chỉ ý tiếp diễn, tương tự, đồng thời: cũng, đều, cứ, vẫn, còn,…; phụ từ chỉ ý khẳng định, phủ định: có, không, chưa, chẳng, chả,…; phụ từ chỉ cách thức: ngay, liền, luôn,

mãi,…; phụ từ chỉ ý hoàn thành: xong, rồi, chỉ kết quả: được, mất, xa, chỉ ý tự

lực: lấy, chỉ ý tương hỗ: nhau, chỉ sự phối hợp: cùng, với, chỉ cách thức: ngay,

liền, luôn, mãi, dần,…).

Số từ chỉ số lượng hoặc thứ tự sự vật Số từ ít khả năng kết hợp với

thành tố phụ Các từ thường đi kèm với số từ là: độ, khoảng, chừng, quãng,…

Số từ thường đi kèm và bổ sung ý nghĩa cho danh từ, do vậy chức năng ngữ

pháp thường gặp nhất của số từ là định ngữ (giường một, mâm sáu) Ngoài ra,

số từ cũng có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác (sáu trừ ba bằngba) Theo ý nghĩa và cách dùng, có thể chia số từ thành hai loại: số từ chỉ sốlượng thường đứng trước danh từ được bổ sung ý nghĩa và trả lời cho câu hỏi

bao nhiêu, mấy, có hai loại số từ chỉ số lượng: số từ xác định: một, hai, ba, năm, bảy,… và số từ không xác định: vài, vài ba, hai ba, bảy tám, dăm, mươi, mươi lăm,…; số từ chỉ thứ tự (tầng hai, tầng mười hai, phòng sáu, phòng hai

sáu,…)

Trang 33

Tình thái từ là những từ biểu thị mục đích nói của câu (hỏi, ra lệnh,bộc lộ cảm xúc…) và biểu thị quan hệ giữa người nói với người đối thoại

(cùng vai/ khác vai, lịch sự/ thân mật,…) Các tình thái từ không thể đóng

vai trò thành phần cấu tạo trong cụm từ hay trong câu, chúng chỉ được dùngtrong câu để bày tỏ thái độ, tình cảm Tình thái từ gồm: tình thái từ nghi vấn

(à, ư, hử, hả, chứ, chăng…), tình thái từ cầu khiến (đi, nào, với…), tình thái

từ cảm thán (thay, sao, biết bao,…), tình thái từ biểu thị sắc thái biểu cảm (ạ,nhé, cơ, mà,…)

Ở Tiểu học, học sinh được học 5 loại sau: danh từ, động từ, tính từ,quan hệ từ và đại từ

e) Phân loại từ theo phạm vi sử dụng

Từ toàn dân là những từ toàn dân đều hiểu và sử dụng Nó là vốn từchung cho tất cả những người nói tiếng Việt thuộc các địa phương khác nhautrên toàn lãnh thổ Từ toàn dân là từ vựng cơ bản, quan trọng nhất trong mỗingôn từ Nó làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ trong một quốc gia (ví dụ:mưa, nắng, núi, sông, mặt, mũi, chân, tay, nhà, cửa, cuốc, cày…) Từ toàn dân

là bộ phận nóng cốt, cơ bản của từ ngữ văn học Nó là vốn từ cần thiết nhất đểdiễn đạt tư tưởng, tình cảm trong tiếng Việt Từ toàn dân cũng là cơ sở để cấutạo các từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt Từ toàn dân là lớp từ thể hiệnđầy đủ nhất những đặc trưng, đặc điểm của từ vựng trong tiếng Việt

Nếu từ toàn dân được sử dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ thì từ địaphương chủ yếu được sử dụng trong một phạm vi hẹp, gắn với một hoặc một

số địa phương nào đó Từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nóihàng ngày, ở một địa phương nào đó, chứ không phải là từ vựng của ngônngữ văn học Nếu trong tác phẩm văn chương, tác giả có sử dụng từ địaphương thì chỉ với ý nghĩa làm rõ sắc thái địa phương, gắn với một dụng ýnghệ thuật nhất định nào đó Ví dụ:

Trang 34

1.1.2.4 Vốn từ

“Gan chi, gan rứa, mẹ nờ

Mẹ rằng cứu nước mình chờ chi ai”

(Tố Hữu, Mẹ Suốt)

Vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh (có đủ hình thức âm, chữ vànội dung ngữ pháp) mà mỗi cá nhân tích lũy được trong ký ức của mình Vốn

từ nhiều hay ít, đơn giản hay đa dạng tùy thuộc ở kinh nghiệm sống, ở trình

độ học vấn, ở sự giao tiếp giao lưu văn hóa ngôn ngữ của từng người Mỗimột ngôn ngữ phát triển có một số lượng từ vựng hết sức lớn và phong phú,

có thể lớn tới hàng chục vạn, hàng triệu từ

Từ vựng của ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ khôngđồng nhất và có chất lượng khác nhau Trong vốn từ ngữ của một ngôn ngữnào đó cũng đều có từ mới và từ cũ, những từ phổ biến chung, những từ vănhóa và những từ chuyên môn, từ vay mượn

Vốn từ được tích lũy trong đầu óc con người không phải là một mớ hỗntạp mà được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều đơn vị ngôn ngữ có nét chung

về hình thức hoặc nội dung, khiến con người đứng trước một đơn vị nào đó cóthể dễ dàng nghĩ đến, liên tưởng đến những đơn vị khác cùng hệ thống nhờ đóđược tích lũy nhanh chóng và được sử dụng một cách dễ dàng Số lượng từ củamột ngôn ngữ, một dân tộc rất lớn nhưng vốn từ của từng cá nhân thuộc dântộc đó có thể không nhiều Vốn từ của từng cá nhân có được tùy thuộc vào sựphát triển trí tuệ, nhận thức, văn hóa, kinh nghiệm sống của các cá nhân

Vốn từ được hình thành theo hai con đường: con đường tự nhiên vôthức và con đường có ý thức Làm giàu vốn từ cho học sinh Tiểu học nhằmmục đích hình thành vốn từ cho học sinh theo con đường có ý thức thông quacác hoạt động học tập môn Tiếng Việt và các môn khác ở Tiểu học

Trang 35

Vốn từ của học sinh là toàn bộ các từ và ngữ cố định (thành ngữ, tụcngữ…) mà học sinh có được trong quá trình học tập, giao tiếp trong và ngoàinhà trường.

Trước tuổi đến trường Tiểu học các em đã tích lũy được một số vốn từnhờ giao tiếp trong môi trường gia đình và nhà trường mầm non Nhưngnhững từ các em tích lũy được còn lộn xộn, các em chưa hiểu nghĩa từ chínhxác và sắp xếp chưa hệ thống nên các em thường bối rối và gặp trở ngại trongviệc lựa chọn, trong việc sử dụng từ Khi đến trường Tiểu học, vốn từ của các

em dần được bổ sung và được sắp xếp thành hệ thống trật tự nhất định để các

em sử dụng dễ dàng

Vốn từ được hình thành và tích lũy dần trong quá trình trưởng thànhcủa con người, xét trên bốn phương diện: số lượng, cơ cấu từ loại, khả nănghiểu nghĩa của từ và việc sử dụng tích cực hay thụ động Vốn từ của mộtngười chỉ có thể hình thành khi người đó sử dụng (ngôn ngữ nào đó) giao tiếptrong cuộc sống và học tập Nhờ vậy vốn từ tỉ lệ thuận với mức độ, mật độgiao tiếp của con người Nói cách khác một người sử dụng một ngôn ngữ nào

đó để học tập, giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú Vì vậy, môitrường giao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từvựng của con người

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Dạy học mở rộng vốn từ lớp 4, 5

1.2.1.1 Nhiệm vụ của dạy mở rộng vốn từ lớp 4, 5

Dạy nghĩa từ: làm cho học sinh nắm nghĩa từ, bao gồm việc thêm vàovốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm chocác em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ Dạy từ ngữphải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trongvăn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những

Trang 36

nghĩa từ mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từtrong những ngữ cảnh khác nhau.

Hệ thống hóa vốn từ: dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có

hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy từ được nhanh chóng và tạo ra tínhthường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói đượcthuận lợi Công việc này hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệthống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởng cùng chủ đề, đồngnghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo… tức là kĩ năng liêntưởng để huy động vốn từ

Tích cực hóa vốn từ: dạy học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ năng sửdụng từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từ tích cựcđược học sinh dùng thường xuyên Tích cực hóa vốn từ tức là dạy học sinhbiết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng của mình

1.2.1.2 Nội dung dạy mở rộng vốn từ lớp 4, 5

Nội dung vốn từ cung cấp cho học sinh: chương trình sách giáo khoa đãxác định vốn từ cần cung cấp cho học sinh Đó là những từ thông dụng tốithiểu về thế giới xung quanh như công việc của học sinh ở trường và ở nhà,tình cảm gia đình và vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, những phẩm chất và hoạtđộng của con người,… Những từ ngữ được dạy ở Tiểu học gắn với việc giáodục cho học sinh tình yêu gia đình, nhà trường, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân,yêu lao động,… Chúng làm giàu nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh,giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người, dạy các

em biết yêu và ghét Nội dung chương trình từ ngữ ở Tiểu học phải phù hợpvới yêu cầu phát triển ngôn ngữ của học sinh đồng thời phải đảm bảo nguyêntắc giáo dục trong dạy từ

Trang 37

Lớp 4

Học sinh được thêm khoảng 400 - 550 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ

và một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủ đề: nhân hậu, đoàn kết,trung thực, tự trọng, ước mơ, ý chí nghị lực, trò chơi, đồ chơi, tài năng, sứckhỏe, cái đẹp, dũng cảm, khám phá, phát minh, du lịch, thám hiểm, lạc quan,

Lớp 5

Học sinh học thêm khoảng 600 - 650 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ

và một số yếu tố gốc Hán thông dụng) theo các chủ đề: Tổ quốc, nhân dân,hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thiên nhiên, bảo vệ môi trường, hạnh phúc, côngdân, trật tự, an ninh, truyền thống, nam và nữ, trẻ em quyền và bổn phận

1.2.2 Mở rộng vốn từ thông qua các văn bản kể chuyện lớp 4, 5

1.2.2.1 Vị trí phân môn Kể chuyện

Kể chuyện vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết về đời sống và tạođiều kiện để học sinh rèn luyện một cách tổng hợp các kĩ năng tiếng Việt như:nghe, nói, đọc trong hoạt động giao tiếp

Khi nghe thầy giáo kể chuyện, học sinh đã tiếp nhận tác phẩm văn học

ở dạng lời nói có âm thanh Khi học sinh kể chuyện là các em đang tái sinhhay sản sinh một tác phẩm nghệ thuật ở dạng lời nói

Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể chuyên có được cả sức mạnhcủa văn học Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ Sự hiểu biết vềcuộc sống, về con người, tâm hồn, tình cảm của các em trở nên phong phúnhờ có phân môn Kể chuyện

Xuất phát từ vai trò của hành động kể và sản phẩm truyện, phân môn

Kể chuyện có vị trí rất quan trọng trong dạy học tiếng Việt

1.2.2.2 Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện

Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kểchuyện ở trẻ em, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng nghe nói, đồng thời

Trang 38

phát triển tư duy và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống và vốn văn học cho học sinh.

Phân môn Kể chuyện phát triển các kĩ năng tiếng Việt cho học sinh.Trước hết, phân môn Kể chuyện phát triển kĩ năng nói cho học sinh Giờ kểchuyện rèn cho học sinh kĩ năng nói trước đám đông dưới dạng độc thoạithành đoạn bài theo phong cách nghệ thuật Đồng thời với nói, các kĩ năngnghe, đọc, kĩ năng ghi chép cũng được phát triển trong quá trình kể lại truyện

đã nghe, kể lại truyện đã đọc

Phân môn Kể chuyện góp phần phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy hìnhtượng và cảm xúc thẩm mĩ ở học sinh Cùng với sự rèn luyện các kĩ năng ngôn

từ, tư duy cũng được phát triển Đặc biệt, sống trong thế giới các nhân vật,thâm nhập vào các tình tiết của truyện, tiếp xúc với nghệ thuật ngôn từ kểchuyện, tư duy hình tượng và cảm xúc thẩm mĩ của học sinh cũng được pháttriển

Phân môn Kể chuyện góp phần tích lũy vốn sống, vốn văn học cho họcsinh Giờ Kể chuyện giúp học sinh tiếp xúc với tác phẩm văn học Ở cấp họcTiểu học, học sinh được nghe và tham gia kể hàng trăm câu chuyện với đủ thểloại Đó là những tác phẩm có giá trị của Việt Nam và thế giới, từ truyện cổtích đến truyện hiện đại Nhờ đó, vốn văn học của học sinh được tích lũy dần.Đây là những hành trang quý giá sẽ theo các em trong suốt cuộc đời mình.Giờ Kể chuyện còn mở rộng tầm hiểu biết, khêu gợi trí tưởng tượng cho các

em Qua từng câu chuyện, thế giới muôn sắc màu mở rộng trước các em Các

em tìm thấy ở trong truyện từ phong tục tập quán đến cảnh sắc thiên nhiên, từnhững thân phận và biết bao hành động nghĩa hiệp của con người trong muônvàn trường hợp khác nhau Truyện kể đã làm tăng vốn hiểu biết về thế giới và

xã hội loài người xưa và nay cho học sinh Truyện kể còn chắp cánh cho trítưởng tượng và ước mơ của học sinh, thúc đẩy sự sáng tạo ở các em

Trang 39

Kiểu bài kể lại chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện yêu cầuhọc sinh phải tự sưu tầm trong sách báo hoặc trong đời sống hàng ngày để kểlại Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói cho học sinh, kiểu bài kể lạicâu chuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện còn có mục đích kích thíchhọc sinh ham đọc sách.

Kiểu bài kể lại câu chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia yêu cầuhọc sinh kể những chuyện người thật, việc thật có trong cuộc sống xungquanh mà các em đã biết, đã thấy, cũng có khi chính các em là nhân vật củacâu chuyện Các bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia rất đa dạng vì

nó gắn với các chủ điểm của sách Bên cạnh mục đích rèn luyện kĩ năng nói,kiểu bài kể chuyện được chứng kiến, tham gia còn có mục đích rèn cho họcsinh thói quen quan sát, ghi nhớ

Nội dung chương trình: 1 tiết/ 1 tuần, cả năm gồm 35 tiết, trong đó có

31 tiết kể chuyện và 4 tiết ôn tập

Lớp 4

1 Thương người như

thể thương thân

1 Sự tích hồ Ba Bể

2 Kể chuyện đã nghe, đã đọc

3 Kể chuyện đã nghe, đã đọc

Trang 40

2 Măng mọc thẳng 4 Một nhà thơ chân chính

9 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

4 Có chí thì nên 11 Bàn chân kì diệu

12 Kể chuyện đã nghe, đã đọc

13 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

5 Tiếng sáo diều 14 Búp bê của ai?

21 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

7 Vẻ đẹp muôn màu 22 Con vịt xấu xí

27 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

9 Khám phá thế giới 29 Đôi cánh của Ngựa Trắng

30 Kể chuyện đã nghe, đã đọc

31 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia

10 Tình yêu cuộc sống 32 Khát vọng sống

33

Ngày đăng: 06/09/2019, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A - Đỗ Xuân Thảo - Lê Hữu Tỉnh, (2011), Giáo trình Tiếng Việt 2, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt 2
Tác giả: Lê A - Đỗ Xuân Thảo - Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2011
2. Lê A - Phan Phương Dung - Đặng Kim Nga, (2012), Giáo trình Tiếng Việt 3, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình TiếngViệt 3
Tác giả: Lê A - Phan Phương Dung - Đặng Kim Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
3. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thũng, (2012), Ngữ pháp tiếng Việt (tập một), Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (tậpmột)
Tác giả: Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
4. Đỗ Hữu Châu, (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đạihọc Quốc gia Hà Nội
Năm: 1981
5. Lê Phương Nga - Đặng Kim Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết, (2008), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) - Đoàn Thiện Thuật - Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
7. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, (1985), NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học vàtrung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
8. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2007), SGK Tiếng Việt 4, tập 1, tập 2, NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 4, tập 1, tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2007
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2007), SGK Tiếng Việt 5, tập 1, tập 2, NXB Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 5, tập 1, tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2007
10. Đoàn Thiện Thuật, (1999), Ngữ âm tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 1999
11. Nguyễn Văn Tu, (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w