Tuy nhiên, khi đối chiếu nhu cầu sử dụng đại từ xưng hô trong giao tiếp hằng ngày với chương trình dạy học Tiếng Việt bậc tiểu học thì việc dạy và khai thác hiệu quả sử dụng “Đại từ xưng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
HOÀNG THỊ BÍCH HẰNG
DẠY ĐẠI TỪ XƯNG HÔ CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM THỊ HÕA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Phạm Thị Hòa đãhướng dẫn tận tình và luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình làmkhóa luận Tôi xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểuhọc và trong Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã dạy dỗ tôi trong suốt 4 năm tôi họctập tại trường Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Tiểuhọc Lê Ngọc Hân (Thành phố Lào Cai), các thầy cô giáo trường Tiểu học HảiNinh (Hải Hậu –Nam Định) đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi hoàn thànhkhóa luận này
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Bích Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là những nghiên cứu của riêng bản thân tôi, chưađược công bố ở bất kì một nơi nào Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm
Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Thị Bích Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu khóa luận 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ 5
1.1.2 Cơ sở tâm lí học 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Nội dung bài học về đại từ xưng hô trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 11
1.2.2 Khảo sát việc dạy và học đại từ xưng hô ở lớp 5 12
1.3 Tiểu kết chương 1 14
CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC 15
2.1 Hệ thống đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc 15
2.1.1 Bảng thống kê đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc -sách giáo khoa tiếng Việt lớp 5 15
2.1.2 Phân loại 20
2.1.3 Nhận xét chung 21
2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng các đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc 22
2.2.1 Hiệu quả sử dụng đại từ xưng hô đúng với chức năng 22
2.2.2 Hiệu quả sử dụng danh từ lâm thời làm đại từ xưng hô 23
Trang 62.3 Tiểu kết chương 2 26
CHƯƠNG 3 HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG VĂN KỂ CHUYỆN 28
3.1 Hướng dẫn học sinh chuyển đổi ngôi kể trong bài văn kể chuyện 28
3.1.1 Các bước chuyển đổi ngôi kể trong bài văn kể chuyện 28
3.1.2 Những điều cần lưu ý khi chuyển đổi ngôi kể 34
3.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng hô trong kiểu bài kể chuyện đã nghe giáo viên kể trên lớp 35
3.2.1 Thống kê các đề bài theo kiểu bài kể chuyện đã nghe giáo viên kể trên lớp ở lớp 5 35
3.2.2 Hướng dẫn học sinh xác định đại từ xưng hô trong câu chuyện giáo viên kể trên lớp 35
3.3 Hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng hô trong kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc theo chủ điểm 38
3.3.1 Thống kê các đề bài theo kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc theo chủ điểm ở lớp 5 38
3.3.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng hô theo các đề bài cụ thể 39
3.4 Hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng hô trong kiểu bài kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia 42
3.4.1 Thống kê các đề bài theo kiểu bài kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia ở lớp 5 42
3.4.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng hô theo các đề bài cụ thể 43
3.5 Tiểu kết chương 3 45
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 8Giao tiếp là nhu cầu cơ bản và rất cần thiết đối với mỗi con người trongcuộc sống hằng ngày Giao tiếp là sự đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
xã hội Đặc biệt trong mối quan hệ giữa người với người thì giao tiếp giúptổng hòa các mối quan hệ xã hội, giúp nhân cách và tâm lí mỗi cá nhân pháttriển bình thường, nhất là phẩm chất đạo đức được hình thành và phát triển vìnhờ giao tiếp mà con người nhận thức được các chuẩn mực đạo đức, thẩm mĩ,pháp luật trong xã hội mình đang sống Ngoài ra, giao tiếp còn giúp thỏa mãncác nhu cầu khác của con người như nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừanhận, nhu cầu được hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng,… Và để giao tiếpđược với mọi người hằng ngày thì người Việt ta sử dụng đại từ xưng hô đểgiao tiếp chiếm số lượng rất lớn
Tuy nhiên, khi đối chiếu nhu cầu sử dụng đại từ xưng hô trong giao tiếp hằng ngày với chương trình dạy học Tiếng Việt bậc tiểu học thì việc dạy và khai thác hiệu quả sử dụng “Đại từ xưng hô” cho học sinh là chưa được chú trọng và có rất ít tài liệu nói riêng về vấn đề dạy chuyên sâu “Đại từ xưng hô”
cho học sinh
Để tìm ra cách thức giúp học sinh lĩnh hội hiệu quả sử dụng đại từ xưng
hô và vận dụng thực hành “Đại từ xưng hô” để giao tiếp hằng ngày thông qua
văn kể chuyện, tôi quyết định chọn đề tài “Dạy đại từ xưng hô cho học sinh lớp 5”.
2 Lịch sử vấn đề
Có thể chia các công trình nghiên cứu về đại từ theo hai hướng sau:
a, Hướng thứ nhất là hướng nghiên cứu về bản chất và đặc điểm của từ loại đại từ tiếng Việt nói chung và đại từ xưng hô nói riêng.
Trang 9Đây là hướng nghiên cứu của các nhà ngữ pháp như: Lê Biên, Từ loại tiếng Việt (1998), Nxb Giáo dục; Lê A - Hoàng Văn Thung , Giáo trình Tiếng Việt 3 (2012), Nxb Đại học Sư phạm; Diệp Quang Ban, Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (2008), Nxb giáo dục.
Các tác giả đều thống nhất cho rằng:
“Đại từ xưng hô là đại từ thay thế cho danh từ chỉ người trong xưng hô(chỉ người nói, người đối thoại – tức là các vai giao tiếp – còn gọi là đại từnhân xưng, đại từ chỉ ngôi.)
Trong tiếng Việt, đại từ xưng hô phân biệt theo ngôi và theo số, nhưng
về mặt cấu tạo, đại từ không có dạng thức biến hình từ như các ngôn ngữ châu
Âu (Nga, Anh, Pháp) Khi sử dụng đại từ xưng hô vào hoạt động giao tiếp,các đại từ được chọn dùng thường có sắc thải biểu cảm phù hợp với quan hệgiữa người nói – người đối thoại và nghi thức giao tiếp của người Việt
Số lượng đại từ xưng hô chính danh không nhiều Để có đủ đại từ đápứng nhu cầu giao tiếp, tiếng Việt dùng nhiều danh từ để xưng hô như các đại
từ chỉ ngôi trong các vai người nói – người đối thoại cụ thể (xưng hô bằng cácdanh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp hay chỉ quan hệ họ tộc)
Tiếng Việt ít sử dụng các đại từ nhân xưng đích thực trong việc xưng hô(thậm chí dùng chúng bị coi là khiếm nhã), mà thường dùng các danh từ chỉngười có họ hàng (danh từ thân tộc) và cả từ chỉ chức vị để làm từ xưng hô.Đây là hiện tượng gây cản trở lớn cho người nước ngoài học tiếng Việt, thếnhưng đối với người Việt thì cho đến nay vẫn còn là việc cần thiết”
b, Hướng thứ hai – Hướng nghiên cứu về hoạt động dạy đại từ cho học sinh tiểu học
Trong các đề tài nghiên cứu của học viên, sinh viên Trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2 từ trước đến nay thì đa phần là các đề tài nghiên cứu dừng ởvấn đề dạy học từ loại nói chung và đại từ nói riêng Có một số đề tài cũng đã
Trang 10nghiên cứu về dạy đại từ cho học sinh lớp 4,5 được giới hạn ở phạm vi dạyđại từ xưng hô cho học sinh khối lớp 4, 5 nhưng lại nghiên cứu trong mộtphân môn duy nhất đó là kể chuyện Cụ thể:
Khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “Rèn kĩ năng sử dụng Đại từ cho học sinh lớp 5” (2015) của sinh viên Trần Thị Phương Thúy.
Luận văn thạc sĩ với đề tài “Dạy đại từ trong văn kể chuyện cho học sinh lớp 4, 5” (2010) của học viên Lương Thị Duyên.
Điểm các công trình nghiên cứu về đại từ, chúng tôi thấy đề tài “Dạy đại
từ xưng hô cho học sinh lớp 5” mà chúng tôi đã chọn không trùng với hướng
nghiên cứu của công trình nào đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Giúp học sinh nhận biết và biết cách sử dụng đại từ xưng hô trong cácbài học để từ đó nắm vững văn hóa giao tiếp của người Việt thông qua cáchdùng loại từ này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Hệ thống được các vấn đề lí thuyết và tìm hiểu cơ sở thực tiễn của đề tài
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hiệu quả sử dụng của đại từ xưng hôtrong các văn bản tập đọc
- Xây dựng các biện pháp hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ trong văn
kể chuyện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động dạy học đại từ xưng hô chohọc sinh lớp 5
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy học đại từ xưng hô cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học
Lê Ngọc Hân (Lào Cai) và Trường Tiểu học Hải Ninh (Nam Định) được giớihạn ở hai phân môn: hướng dẫn học sinh lĩnh hội hiệu quả sử dụng đại từxưng hô trong các văn bản tập đọc và hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng
hô trong văn kể chuyện
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê phân tích
Phương pháp này được sử dụng để thống kê các đại từ xưng hô, phântích hiệu quả sử dụng của chúng trong văn bản tập đọc Cũng dùng để thống
kê và phân tích cách sử dụng đại từ xưng hô của học sinh lớp 5
6 Kết cấu khóa luận
Khóa luận ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung gồm bachương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
- Chương 2: Hiệu quả sử dụng đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc
- Chương 3: Hướng dẫn học sinh sử dụng đại từ xưng hô trong văn kểchuyện
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1.1 Đặc trưng của đại từ
Theo Ngữ pháp tiếng Việt (2013), các tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng
Văn Thung, Nxb Giáo dục, đã nói về đặc trưng của đại từ như sau:
Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ Đại từ không trực tiếp biểuthị thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động từ và tính từ Đại từchỉ biểu thị các ý nghĩa đó một cách gián tiếp: chúng mang nội dung phản ánhvốn có của các thực từ được chúng thay thế Khi đại từ thay thế danh từ, thìchúng biểu thị ý nghĩa thực thể của danh từ; khi thay thế cho các động từ (haytính từ), chúng biểu thị ý nghĩa quá trình (hay đặc trưng) của động từ (haytính từ)
Do chức năng thay thế, đại từ chủ yếu có khả năng hoạt động trên trụcđối đoạn (hệ hình) mà rất hạn chế hoạt động trên trục cú đoạn (kết hợp) Đại
từ không chỉ thay thế cho một thực từ (danh từ, động từ, tính từ), mà còn cóthể thay thế cho kết hợp từ (cụm từ), câu, đoạn văn
Đại từ nói chung, có thể đảm nhiệm các chức năng cú pháp của thực từđược thay thế Ngoài ra, đại từ còn được dùng để thay thế và chỉ trỏ vào người
và vật tham gia quá trình giao tiếp (tương ứng với người và vật được biểu thịtrong danh từ)
1.1.1.2 Khái quát về đại từ xưng hô
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (2013), Nxb Giáo dục, Diệp Quang Ban –
Hoàng Văn Thung, đã nói khái quát về đại từ xưng hô như sau:
Trang 13Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các đối tượng tham gia quátrình giao tiếp (được phản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay tổ hợpthực từ tương ứng).
Đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách
chung nhất ở cương vị ngôi trong ý nghĩa của đại từ.
1.1.1.3 Phân loại đại từ xưng hô
a, Các từ chuyên dùng để xưng hô: tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng nó,mày,
b, Các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc được sử dụng lâm thời thành đại
từ xưng hô: anh, chị, em, cô, dì, chú, bác, bố, mẹ, ông, bà, con, cháu,
1.1.1.4 Vai trò của đại từ xưng hô trong giao tiếp
Trong cuốn Tiếng Việt (2007), Lê A (Chủ biên) – Phan Phương Dung –
Vũ Thị Kim Thoa – Đặng Thị Kim Nga – Đỗ Xuân Thảo, Nxb Giáo dục, vaitrò của đại từ xưng hô được hiểu như sau:
Đại từ xưng hô tiếng Việt dùng để đáp ứng nhu cầu biểu thị các sắc tháibiểu cảm của người Việt trong phạm vi xưng hô
Việc dùng các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô làm cho quan hệgiữa những người giao tiếp trở nên gần gũi, thân mật hơn
1.1.2 Cơ sở tâm lí học
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 5
Học sinh lớp 5 có độ tuổi từ 10 - 11 tuổi, có hoạt động học tập là hoạtđộng chủ đạo
Các em vẫn là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗihọc sinh đều tiềm tàng khả năng p h át t r i ể n v ề trí tuệ, lao động, rèn luyện vàhoạt động xã hội Trẻ em ở lứa tuổi này đều là thực thể đang hình thành vàphát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội, các em học sinh đang từngbước gia nhập vào xã hội với rất nhiều mối quan hệ Do vậy, các em học sinh
Trang 14vẫn chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong
xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình,nhà trường và xã hội
Ở lứa tuổi này, các em rất dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới nhưng lạithiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa đượcphát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét Trẻ ghi nhớrất nhanh và quên cũng rất nhanh
Chú ý có chủ định của học sinh lớp 5 đã bền vững hơn so với học sinh ởgiai đoạn đầu tiểu học, tuy nhiên vẫn còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ýchí của các em chưa mạnh Các em có trí nhớ trực quan – hình tượng pháttriển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lô gíc
Trong sự phát triển tư duy ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫncòn thể hiện ở các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) và sau đó chuyển dần sang tínhkhái quát ở các lớp cuối cấp (lớp 4, 5)
Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng thường có nhiềunét tính tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, giàu lòng thương người, lòng vị tha,nhân ái, yêu mến bạn bé
Đối với học sinh tiểu học, nhất là học sinh lớp 5 thì tình cảm có vị trí đặcbiệt quan trọng vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hoạt động củatrẻ Tình cảm tích cực sẽ kích thích các em học sinh nhận thức và là động lực
để thúc đẩy trẻ hoạt động
Việc dạy cho học sinh lứa tuổi này có hiểu biết và sử dụng đại từ xưng
hô một cách linh hoạt, giúp các em giao tiếp có văn hóa ngay từ bậc tiểu học
là rất quan trọng
1.1.2.2 Đặc điểm trí nhớ và liên tưởng, tưởng tượng của học sinh lớp 5
a, Đặc điểm trí nhớ
Trang 15Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất vấn chiếm ưu thế nên ở họcsinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng, trí nhớ trực quan – hìnhtượng vẫn được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lô gíc Các em học sinh lớp 5vẫn có khả năng dễ ghi nhớ và nhớ lại các tài liệu trực quan nhanh hơn, tốthơn các tài liệu bằng lời nói Hay nói một cách khác, trí nhớ của học sinh lớp
5 vẫn mang tính chất hình ảnh cụ thể, trực tiếp
Các em học sinh ghi nhớ vẫn chủ yếu dựa vào việc học thuộc lòng từngcâu, từng chữ trong tài liệu mà không cần sắp xếp, sửa đổi, diễn đạt lại, thậmchí các em không cần hiểu nội dung, ý nghĩa của bài học mà vẫn nhớ được.Các em có khả năng ghi nhớ máy móc rất tốt Do vậy, học sinh rất dễ họcthuộc một bài thơ, đoạn văn, bảng cộng trừ nhân chia trong khoảng thời gianngắn
Đặc biệt, vấn đề tình cảm có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ ghi nhớ và độbền vững của sự ghi nhớ ở học sinh lớp 5 Các em rất dễ nhớ và nhớ rất lâunhững điều làm cho các em xúc động mạnh như ngạc nhiên, thích thú, sợ hãi,
… Đa phần, các em chưa biết sử dụng các biện pháp ghi nhớ như đọc và táihiện, tìm điểm tựa, so sánh, dùng sơ đồ, lập dàn ý, …
Nhìn chung, học sinh lớp 5 đã có trí nhớ phát triển Đây chính là điềukiện giúp giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức về đại từ xưng hô,những hiểu biết về cách dùng nghệ thuật loại từ này của các nhà văn, nhà thơđược thể hiện trong các văn bản tập đọc Từ lĩnh hội, các em sẽ ghi nhớ màvận dụng vào thực tiễn sử dụng các đại từ xưng hô linh hoạt, sinh động
b, Đặc điểm liên tưởng, tưởng tượng
Trí tưởng tượng của học sinh tiểu học cũng như học sinh lớp 5 được hìnhthành và phát triển thông qua các hoạt động học tập và các hoạt động kháccủa các em Trong mỗi giờ học, các em không những phải nhớ, suy nghĩnhững điều mà giáo viên nói, hướng dẫn, kể, giảng giải mà các em còn phải
Trang 16tự hình dung, liên tưởng, tưởng tượng ra những sự vật, sự việc, con người,hiện tượng mà các em chưa được gặp bao giờ.
Trí tưởng tượng của học sinh lớp 5 phát triển theo khuynh hướng tiến dầnđến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sởnhững tri thức tương ứng Ở giai đoạn này, các hình ảnh liên tưởng, tưởng tượngcủa học sinh dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn, chính xác hơn nộidung của các môn học, nội dung của các câu chuyện mà các em đã được nghe,được đọc, được chứng kiến hoặc tham gia Các hình ảnh tưởng tượng không còn
bị đứt đoạn, tản mạn mà hợp nhất với nhau tạo thành một hệ thống
Ở giai đoạn đầu tiểu học, các hình ảnh tưởng tượng của trẻ còn phải dựatrên các phương tiện trực quan như truyện, tranh, … nhưng đến lớp 5, các
hình ảnh tưởng tượng của học sinh được phát triển dựa trên cơ sở đó là ngôn
từ Dựa vào ngôn từ, học sinh liên tưởng, xây dựng được những hình ảnh mới
một cách sáng tạo bằng cách cải tạo, chế biến những ấn tượng cũ sau đó kếthợp chúng lại tạo thành chuỗi những tổ hợp mới mẻ Do đó, những hình ảnhtưởng tượng của học sinh lớp 5 dần trở nên khái quát hơn so với học sinh ởgiai đoạn đầu tiểu học Ví dụ, khi kể về một chuyến đi chơi, học sinh lớp 1 chỉ
dừng lại ở việc mô tả được chuyến đi chơi có thực của các em một cách tỉ mỉ, chính xác thì học sinh lớp 5 đã xây dựng được hình ảnh của một chuyến đi
chơi không chỉ dựa vào một chuyến đi chơi cụ thể nào đó mà còn dựa vào sựđiều chỉnh, tu sửa của nhiều chuyến đi chơi đã có
Ở giai đoạn đầu tiểu học, các chi tiết trong hình ảnh liên tưởng, tưởngtượng của trẻ còn nghèo nàn, tản mạn Đến lớp 5, các hình ảnh này dần trởnên trọn vẹn, khái quát hơn bởi số lượng chi tiết nhiều hơn và sự sắp xếp cáchình ảnh tưởng tượng cũng chặt chẽ hơn
Nếu ở lớp 1, hình ảnh tưởng tượng của các em học sinh thường mờ nhạt,không rõ ràng thì ở lớp 5, các hình ảnh này dần trở nên rõ nét, chính xác hơn
Trang 17Trẻ càng lớn thì các chi tiết thừa trong hình ảnh tưởng tượng càng đượcgiảm đi, nhờ đó các hình ảnh tưởng tượng của trẻ càng được gọt giũa, trở nênmạch lạc và sát thực hơn Điều này được phát triển dựa trên sự tham gia có
chủ định của tư duy và ngôn ngữ vào quá trình liên tưởng, tưởng tượng của
các em
Có thể nói thế giới sự vật, hiện tượng trong liên tưởng, tưởng tượng của trẻ
là thế giới của các nhân vật, bạn bè Ta thường bắt gặp trong các bài văn miêu
tả, kể chuyện, trẻ trò chuyện với cây, với con vật như với người Để câu chuyện
kể giàu tính chân thực, các em phải huy động những hiểu biết về hệ thống đại
từ nhân xưng, lựa chọn những cặp từ xưng hô sao cho phù hợp Vì vậy, việccung cấp cho học sinh kiến thức về loại đại từ này là vô cùng cần thiết
1.1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em độ tuổi 10 - 11
Ngôn ngữ của trẻ em độ tuổi 10 - 11 phát triển mạnh mẽ cả về ngữ âm,ngữ pháp và từ vựng Vốn từ của các em ở lứa tuổi này được tăng lên mộtcách mạnh mẽ, rõ rệt do được học nhiều môn và phạm vi tiếp xúc, giao tiếpđược mở rộng Ngoài ra, khả năng hiểu nghĩa của từ ở các em cũng phát triển:
đi từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát, trìu tượng nghĩacủa từ Tuy nhiên, trẻ vẫn thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thểcủa bài học nào đó Ví dụ, khi giải nghĩa từ “mặc niệm”, trẻ thường gắn vớihình ảnh cụ thể của người đang đứng ở tư thế mặc niệm đó là đứng yên, cúiđầu mà chưa hiểu được ý nghĩa của từ là tưởng nhớ đến người đã khuất Do
đó, việc hiểu nghĩa bóng của từ đối với các em vẫn còn khó khăn
Ở giai đoạn này, các em đã nắm được một số đơn vị ngữ pháp tiếng Việt
cơ bản nhưng do việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nênvẫn mắc nhiều lỗi sai, đặc biệt là khi viết
Hình thức mới của ngôn ngữ - ngôn ngữ viết được hình thành và pháttriển mạnh Tuy nhiên, ở độ tuổi này thì ngôn ngữ viết của trẻ nghèo hơn
Trang 18ngôn ngữ nói Do đó, trẻ rất khó chuyển ngôn ngữ bên trong thành hình thứcviết Hay nói một cách khác, trẻ vẫn chưa thể đặt bản thân mình vào vị trí củangười đọc - người chưa hề biết đến sự kiện mà trẻ đang viết Ngoài ra, do hiểu
từ ngữ chưa chính xác, nắm ngữ pháp chưa chuẩn nên các em dùng từ vẫn cònsai, viết câu chưa đúng, không biết ngắt câu,…
Trong hệ thống đại từ, số lượng các đại từ chuyên dùng không nhiều.Các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc mặc dù chỉ trong những hoàn cảnh giaotiếp nhất định, được sử dụng lâm thời làm đại từ, nhưng hệ thống các từ nàylại làm nên sự phong phú, đa dạng, tinh tế trong văn hóa giao tiếp của ngườiViệt Nắm được đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 5 và phát triển ngôn ngữcho trẻ, giáo viên không thể bỏ qua việc hướng dẫn các em dùng đại từ xưng
hô sao cho chính xác, hiệu quả, văn hóa
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nội dung bài học về đại từ xưng hô trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
1.2.1.1 Nội dung bài học lí thuyết về đại từ xưng hô
- Nội dung bài học lí thuyết “Đại từ xưng hô” - tuần 11- Sgk tiếng Việt 5– tập 1, tr.104, 105 gồm 2 phần:
+ Phần 1: Nhận xét - Sgk tiếng Việt 5, tr.105
Yêu cầu học sinh đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi
+ Phần 2: Ghi nhớ - Sgk tiếng Việt 5, tr.105
Đại từ xưng hô là từ được người nói dùng để tự chỉ mình hay chỉ người khác khi giao tiếp: tôi, chúng tôi; mày, chúng mày; nó, chúng nó,…
Bên cạnh các từ nói trên, người Việt Nam còn dùng nhiều danh từ chỉ người làm đại từ xưng hô để thể hiện rõ thứ bậc, tuổi tác, giới tính: ông, bà, anh, chị, em, cháu, thầy, bạn,…
Trang 19Khi xưng hô, cần chú ý chọn từ cho lịch sự, thể hiện đúng mối quan hệ giữa mình với người nghe và người được nhắc tới.
1.2.1.2 Bài tập về đại từ xưng hô trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5
Không được biên soạn thành một tiết luyện tập thực hành giống như dạybài “Quan hệ từ” mà lồng ghép luôn vào tiết dạy lí thuyết trong bài “Đại từxưng hô” - tuần 11- Sgk tiếng Việt 5 – tập 1, tr.104, 105 Cụ thể, gồm có hai
bài tập trong sách giáo khoa tiếng Việt lớp 5 về đại từ xưng hô (chính là phần 3: luyện tập của bài học).
1.2.2 Khảo sát việc dạy và học đại từ xưng hô ở lớp 5
1.2.2.1 Đối tượng khảo sát
Học sinh khối lớp 5 của hai trường Tiểu học đó là:
- Trường Tiểu học Lê Ngọc Hân – Thành phố Lào Cai
- Trường Tiểu học Hải Ninh – Hải Hậu – Nam Định
Tiết dự giờ thứ hai là tiết dạy kể chuyện tuần 7 - Cây cỏ nước Nam Saukhi giáo viên kể lần 2 kết hợp với chỉ tranh, giáo viên tổ chức cho học sinhđọc yêu cầu 1,2,3 của bài tập và kể chuyện theo các hình thức: kể theo nhóm,
Trang 20kể đoạn và kể toàn bộ truyện Chúng tôi không thấy giáo viên hướng dẫn họcsinh chú ý đến vai kể, ngôi kể Tiết học trôi qua bình thường, không đọng lại
ấn tượng trong học sinh và người dự
1.2.2.4 Thực tiễn năng lực sử dụng đại từ xưng hô của học sinh lớp 5
Chúng tôi đã dự một số giờ dạy kể chuyện cho học sinh lớp 5 tại haiTrường Tiểu học Lê Ngọc Hân (Lào Cai) và Hải Ninh (Nam Định), chúng tôi
có một số nhận xét sau: khi dự giờ tại hai trường Tiểu học này với cùng một
tiết kể chuyện của tuần 25, câu chuyện “Vì muôn dân” thấy có sự chênh lệch
về năng lực sử dụng đại từ xưng hô của học sinh 2 miền Cụ thể:
Y
ê u c ầ u : đóng vai một nhân vật bất kì trong chuyện “Vì muôn dân”
để kể lại câu chuyện đó
Bảng so sánh năng lực sử dụng đại từ xưng hô của học sinh lớp 5 ở hai
Trường Tiểu học trong giờ kể chuyện
Tiêu chí Học sinh Trường Tiểu
nhanh, chính xác được ngôi kể là ngôi thứ 1Lựa chọn từ xưng hô
cho nhân vật nhập vai
Nhân vật Quang Khải
Trang 21Nhân vật vua được gọi
Trang 22Qua đây ta thấy khả năng sử dụng đại từ xưng hô và xác định ngôi kểtrong văn kể chuyện của học sinh lớp 5 ở miền xuôi tốt hơn học sinh miềnngược Tuy nhiên, vốn từ xưng hô mà học sinh sử dụng trong văn kể chuyệncũng như trong giao tiếp là chưa phong phú, còn nghèo nàn, chưa biết cách sửdụng đại từ xưng hô một cách linh hoạt để tăng giá trị biểu cảm cho câuchuyện.
Mặt khác, trong giờ kể chuyện giáo viên cũng chưa chú ý hướng dẫn họcsinh xác định ngôi kể sao cho đúng với yêu cầu và chưa biết cách hướng dẫnhọc sinh lựa chọn các đại từ xưng hô sao cho hay, sinh động phù hợp với vị trícủa nhân vật và đặc biệt là để thể hiện thái độ, tình cảm, cảm xúc của cácnhân vật trong truyện
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã hệ thống các kiến thức về đại từ nói chung
và đại từ xưng hô nói riêng để làm cơ sở lí luận cho đề tài Chúng tôi cũng hệthống các kiến thức về tâm lí trẻ em, đặc biệt là các kiến thức về đặc điểm trínhớ, liên tưởng tưởng tượng, đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 5 để làm cơ
sở cho việc khảo sát hoạt động dạy học đại từ nhân xưng ở phổ thông cho đốitượng này hiện nay ra sao Các kiến thức lí thuyết và thực tiễn mà chúng tôixây dựng được trong chương 1 sẽ là chỗ dựa vững chắc để chúng tôi xâydựng các biện pháp dạy đại từ xưng hô cho học sinh lớp 5 có hiệu quả hơn
Trang 23CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG CÁC VĂN BẢN TẬP ĐỌC
Để giúp học sinh nhận biết và cảm nhận được nghệ thuật sử dụng đại từxưng hô mà các nhà văn, nhà thơ đã sử dụng, trước hết chúng tôi hệ thống cácđại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc sau đó chỉ ra cho các em thấy cáihay, cái đẹp trong cách dùng các đại từ đó
2.1 Hệ thống đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc
2.1.1 Bảng thống kê đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc - sách giáo khoa tiếng Việt lớp 5
STT Tên văn bản
tập đọc Trang
Sách giáo khoa tiếng Việt lớp 5
Đại từ xưng hô Ngôi 1 Ngôi 2 Ngôi 3
1 Thư gửi các
học sinh 4, 5
Tập 1
Tôi,chúng ta Các em
24,25,
29, 30
Tui, tao, cháu, tôi
Anh, chị,cậu, mầy,
ba, má
Anh, chồng,con, má, vợ,cha con,thằng nhỏ,ông, tía, ba,chị
4 Những con sếu
Cô bé, em,trẻ em
Trang 24ông, nghệ sĩ,vua, bọn
thủy thủ,con người10
Trang 2513 Cái gì quý
Tập 1
Tớ, thầy,ta
Các cậu,mọingười
Ai, bạnHùng, thầygiáo
15 Người gác rừng
tí hon
124,125
Em, công
an huyện
Mày,cháu
Ba em, ba,
bà nội, bàHai, chúcông an, gãtrộm, bọntrộm
16 Trồng rừng
ngập mặn
128,129
Nước ta,
17 Chuỗi ngọc lam
134,135,136
Cháu, tôi
Chú,cháu,ông, cô
Ai, chị cháu,
mẹ, mộtthiếu nữ, cô
bé, em
em
Ai, mẹ em,người, cácbạn
19 Buôn Chư Lênh
Trang 2620 Về ngôi nhà
đang xây
148,149
22 Thầy cúng đi
viện
158,159
Bác sĩ, cụ,
Cụ, cha, họctrò, con
ta, côngdân
Anh, ông
Họ, đồngbào, ôngđốc học,giám quốcPhú Lãng
Sa, người ta
25 Thái sư Trần
Tôi, hạ thần, trẫm
Ngươi, bệhạ
Người ấy,ông, vợ, phunhân, thái sư,anh ta, kẻnày
26 Trí dũng song
Sứ thần,nhà vua,ngươi
Tổ tiên,tướng LiễuThăng, họ,anh hùngthiên cổ, sứthần, ông, ai
Trang 2727 Tiếng rao đêm 30, 31
Tập 2
Tôi
Anh, anhcông an,thương binh
28 Lập làng giữ
Con, tao,mình, bố Ông, con
Đàn bà, trẻcon, thằngNhụ, nhàcon, ông, ai
Môn sinh,thầy, cụgiáo
Chồng nàng,chàng, vịgiáo sĩ, nàng
Trang 2837 Công việc đầu
42 Lớp học trên 153, Ta, tôi, cụ, Con, thầy Cụ, thầy, mẹ
thiếu trẻ con
2.1.2 Phân loại
Dựa vào kết quả thống kê đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc ởsách giáo khoa - Tiếng Việt lớp 5, có thể đưa ra bảng thống kê các đại từxưng hô theo ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3 và bảng thống kê các danh từ làm đại từxưng hô lâm thời
Trang 29Bảng thống kê các đại từ xưng hô theo ngôi 1, ngôi 2, ngôi 3
Đại từ xưng hô
(người nói) (người nghe) (người, vật được
Bảng thống kê các danh từ làm đại từ xưng hô lâm thời
Danh từ lâm thời làm đại từ xưng hô
Danh từ chỉ mối quan hệ họ hàng, Danh từ chỉ chỉ chức vụ, nghề nghiệp,
danh hiệu lâm thời làm đại từruột thịt, tuổi tác lâm thời làm đại từ
Cha, bố, mẹ, con, anh, em, chị, cô, dì,
Thầy giáo, vị giáo sĩ, môn sinh, cụgiáo, chú tiểu, chú công an, thương binh, sứ thần, anh hùng thiên cổ,chú, bác, bầm, cụ, vợ, chồng, ba, ông, tướng, phu nhân, ông đốc học, giám
cô giáo, đám thủy thủ, nghệ sĩ, sĩquan cao cấp, người ngoại quốc,…
2.1.3 Nhận xét chung
Qua bảng thống kê đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc (sách giáokhoa Tiếng Việt lớp 5) ta thấy, đại từ xưng hô xuất hiện rất nhiều trong các
Trang 30văn bản tập đọc Các đại từ chuyên dùng xuất hiện trong các văn bản tập đọcđều là những từ quen thuộc mà ta dùng để giao tiếp trong cuộc sống hằngngày và mang lại giá trị biểu cảm nhất định trong giao tiếp Cái đáng lưu ý là
hệ thống các danh từ lâm thời làm đại từ Chúng tôi thấy xuất hiện một sốdanh từ chỉ chức vụ nghề nghiệp được dùng xưng hô trong hoàn cảnh giaotiếp thời xưa Ví dụ: cụ giáo – môn sinh, sứ thần, phu nhân,
Khi phân tích hiệu quả sử dụng đại từ nhân xưng, chúng tôi sẽ lưu ý họcsinh đặc biệt chú ý đến lớp từ này
2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng các đại từ xưng hô trong các văn bản tập đọc
2.2.1 Hiệu quả sử dụng đại từ xưng hô đúng với chức năng
Đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định, số lượng đại từ trong nhómnày không nhiều Chúng dùng để thay thế và chỉ trỏ đối tượng giao tiếp ở một
ngôi xác định tương ứng với cương vị nói, cương vị nghe và cương vị được nói đến Hay nói một cách khác, chúng chỉ được sử dụng để chỉ ngôi, không
dùng trong chức năng của các loại từ khác Thông qua cách sử dụng đại từ chỉngôi trong giao tiếp mà ta có thể biết được quan hệ (xấu hay tốt, chính thứchay không chính thức, thân mật hay xa lạ) của các vai trong giao tiếp
Cụ thể, thông qua các văn bản tập đọc trong sách giáo khoa tiếng Việtlớp 5 ta thấy rằng:
- Bạn bè với nhau thường dùng “tao”, “tớ”, “chúng mình” để chỉ ngôithứ 1 chứ ít khi dùng “tôi” và người nghe (ngôi thứ 2) thường hô là “mày”,
“bạn”, “các cậu”
V í dụ:
Hùng nói: “Theo tớ, quý nhất là lúa gạo Các cậu có thấy ai không ăn
mà sông được không?”
(Trích bài “Cái gì quý nhất?” – sách Tiếng Việt lớp 5 – tập 1, tr.85)
Trang 31- Khi nói với tất cả mọi người thường dùng “tôi” hoặc “chúng tôi”,
“chúng ta” để xưng hô - chỉ ngôi thứ nhất (người nói)
V í dụ :
“Ngày hôm nay, nhân buổi tựu trường của các em, tôi chỉ biết chúc các
em một năm đầy vui vẻ và đầy kết quả tốt đẹp.”
(Trích bài “Thư gửi các học sinh” – sách Tiếng Việt lớp 5 – tập 1, tr.4)
- Khi đối phương giao tiếp không cần phải giữ lễ hoặc bản thân ngườinói muốn biểu lộ uy quyền, sự tức giận thì thường dùng “tao”, “ta” và ngườinghe thì thường hô là “tụi bay”, “mi” Cách dùng các cặp xưng hô vừa thểhiện được ngôi thứ 1 (người nói) và ngôi thứ 2 (người nghe), vừa thể hiện đượcthái độ giao tiếp
V í dụ:
“Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép như thế, ta còn trách gì nữa!”
(Trích bài “Thái sư Trần Thủ Độ” – sách Tiếng Việt lớp 5 – tập 1, tr.15)
2.2.2 Hiệu quả sử dụng danh từ lâm thời làm đại từ xưng hô
Khi nói chuyện với mọi người trong cuộc sống hằng ngày, tùy từngtrường hợp, tương quan tuổi tác, mối quan hệ bà con, mức độ thân sơ màngười giao tiếp tự xưng bằng những đại từ xưng hô khác nhau Qua cách sửdụng đại từ xưng hô lâm thời người nói muốn thể hiện sắc thái tình cảm khácnhau, thái độ trân trọng, tôn trọng, lịch sự hoặc khinh bỉ với đối phương Điềunày được thể hiện rất rõ nét trong cách dùng đại từ xưng hô lâm thời trongcác văn bản tập đọc ở môn Tiếng Việt lớp 5 cũng như trong các cuộc hộithoại, giao tiếp hằng ngày trong cuộc sống Cụ thể:
- Xưng "con" với ông bà, cha mẹ, những người bà con ngang vai với ông
bà cha mẹ, với thầy cô giáo và với những người già → thể hiện sự tôn trọngvới người lớn tuổi hơn mình