Thông qua dạy học mônTiếng Việt, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tự nhiên, conngười và xã hội, về văn hóa, văn học nước nhà, đồng thời được bồi dưỡng vàphát triển về tâm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S VŨ THỊ TUYẾT
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm HàNội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học và các thầy cô giáotrong tổ bộ môn Văn học – Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt đãgiúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em tìmhiểu khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo: Vũ ThịTuyết – người đã hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong quá trình học tập,nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo và các em họcsinh trường Tiểu học Văn Khê A – Mê Linh – Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em.Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện, năng lực và thời gian cònhạn chế nên đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy emrất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của thầy cô và các bạn để đề tàithêm hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Vy Thị Đa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÂN BIỆT PHỤ ÂM ĐẦU TRONG DẠY HỌC CHÍNH TẢ NGHE – VIẾT LỚP 2, 3 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 2, 3 6
1.1.2 Âm tiết tiếng Việt 9
1.1.3 Chính tả và đặc điểm của chính tả tiếng Việt 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Chính tả 20
1.2.2 Nội dung chương trình chính tả lớp 2, 3 21
1.2.3 Các kiểu bài chính tả lớp 2, 3 32
1.2.4 Thực trạng dạy học kiểu bài chính tả nghe - viết 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÂN BIỆT PHỤ ÂM ĐẦU TRONG DẠY HỌC CHÍNH TẢ NGHE - VIẾT LỚP 2, 3 41
2.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3 41
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu của bài học 41
Trang 52.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính tích cực của
người học 41
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 41
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong quá trình dạy học 42
2.2 Một số biện pháp phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả 42
nghe – viết lớp 2, 3 42
2.2.1 Biện pháp rèn luyện phát âm chuẩn 42
2.2.2 Biện pháp giải nghĩa từ 44
2.2.3 Ghi nhớ các mẹo luật chính tả 45
2.2.4 Xây dựng các bài tập chính tả để phân biệt phụ âm đầu cho học sinh lớp 2, 3 49
2.2.5 Trò chơi học tập 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 Mục đích thực nghiệm 62
3.2 Đối tượng thực nghiệm 62
3.3 Thời gian, địa điểm thực nghiệm 62
3.4 Nội dung thực nghiệm 63
3.5 Kết quả thực nghiệm 63
3.6 Giáo án thực nghiệm 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6-Tiếng Việt là môn học trung tâm trong chương trình giáo dục Tiểu học.Bởi lẽ, mục đích dạy học môn Tiếng Việt là dạy cho học sinh có thể sử dụngthành thạo tiếng Việt trong giao tiếp thông qua các kĩ năng nghe, nói, đọc,viết, là “chìa khóa” để học tập các môn học khác Thông qua dạy học mônTiếng Việt, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tự nhiên, conngười và xã hội, về văn hóa, văn học nước nhà, đồng thời được bồi dưỡng vàphát triển về tâm hồn và nhân cách.
Chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học gồm 7 phân môn: Họcvần, Tập viết, Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện,trong đó phân môn Chính tả chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt,giúp học sinh nắm vững các các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng, kĩ xảochính tả, góp phần phát triển các thao tác tư duy, bồi dưỡng lòng yêu chữ viếtcủa tiếng Việt Chính tả còn giúp học sinh rèn luyện một số phẩm chất nhưtính kỉ luật, cẩn thận và óc thẩm mĩ Dạy tốt chính tả cho học sinh là góp phầnrèn luyện một trong bốn kĩ năng của môn Tiếng Việt Phân môn Chính tảđược dạy liên tục từ lớp 1 đến lớp 5, nhưng ở lớp 2 và lớp 3 được chú trọnghơn với ba dạng bài chính tả là tập chép, nghe – viết và nhớ - viết, trong đódạng bài chính tả nghe – viết thể hiện rõ nhất đặc trưng của tiếng Việt, là
Trang 7bước khởi đầu nghe giáo viên đọc bằng lời và viết lại một cách chính xácnhững điều nghe được Đặc biệt, đối với những lớp đầu cấp học, việc dạy chocác em viết đúng chính tả là vô cùng quan trọng, bởi các em có viết đúng thìmới đáp ứng được những yêu cầu cao hơn ở các lớp tiếp theo.
Thực tế dạy học chính tả ở các trường tiểu học trong thời gian gần đâychưa đem lại nhiều kết quả như mong muốn, các giờ dạy còn qua loa, thiếu sựhấp dẫn và chưa thực sự phát triển các kĩ năng tiếng Việt cho học sinh, nhiềuhọc sinh nghe và viết chưa tốt, dẫn đến hiện tượng viết sai phụ âm đầu rất
nhiều, đặc biệt là sự lẫn lộn các phụ âm đầu l/n, ch/tr, r/d/gi, s/x, ng/ngh, g/gh.
Hiện nay, việc giúp học sinh phân biệt phụ âm đầu đã được giáo viên quantâm nhưng chưa đưa ra được các biện pháp khắc phục cụ thể cho học sinh
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Biện pháp giúp
học sinh phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3” để giúp học sinh có thể phân biệt tốt hơn phụ âm đầu trong phân môn
chính tả kiểu nghe viết cho học sinh lớp 2, 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, đã có rất nhiều bài viết, cuốn sách, công trình nghiên cứu vềviệc dạy học phân môn Chính tả, tiêu biểu là:
Năm 1976, Hoàng Phê trong tạp chí ngôn ngữ số 1 đã bàn về “Một số
nguyên tắc giải quyết vấn đề chuẩn hóa chính tả” đề cập đến những quy định
về cách viết chính tả, cách viết hoa và cách phiên âm tiếng nước ngoài
Năm 1997, Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn giáo trình
“Tiếng Việt thực hành A” – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia nghiên cứu về
quy tắc viết hoa và quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài, phân loại lỗi chính tả
và biện pháp khắc phục chung
Trang 8Năm 2000, viết về “Dạy học chính tả ở Tiểu học”, Hoàng Văn Thung
đã nêu ra đặc điểm của ngữ âm và chữ viết liên quan tới chính tả, nguyên tắc
và phương pháp dạy học chính tả, các quy tắc chính tả tiếng Việt
Năm 2006, Hoàng Anh cho ra đời cuốn “Sổ tay chính tả” - Nhà xuất bản
Đại học Sư phạm Trong cuốn sách sách này, tác giả đã chỉ ra những lỗi chính
tả tiêu biểu mà học sinh hay mắc phải và đưa ra các mẹo luật chính tả để khắcphục chúng
Năm 2009, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, Giáo sư Phan Ngọc viết cuốn
“Mẹo chữa lỗi chính tả” - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội và Nhân văn Cuốn
này tác giả đề cập đến nguyên tắc dạy mẹo chính tả, tìm hiểu cấu tạo của âmtiết tiếng Việt và cung cấp một số mẹo phân biệt chính tả, dạng bài tập chínhtả
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của sinh viên Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2 về vấn đề rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinhnhư:
Năm 2014, Hoàng Thị Thúy Hương – TS Lê Thị Lan Anh hướng dẫn
viết khóa luận “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong
phân môn chính tả cho học sinh lớp 3” (khóa luận tốt nghiệp đại học), khóa
luận này tác giả tập trung xây dựng một số bài tập trắc nghiệm khách quan đểgiúp học sinh rèn luyện kĩ năng chính tả thông qua bài tập phân biệt âm đầu,phần vần, dấu thanh, cách viết hoa
Năm 2015, Bùi Thị Anh Đào – Th.S Lê Bá Miên hướng dẫn viết khóa
luận “Tìm hiểu thực trạng chính tả viết hoa của học sinh tiểu học (qua khảo
sát khối lớp 4, 5 trường Tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc)” (khóa luận tốt nghiệp đại học), khóa luận này tác giả đã tìm hiểu thực
trạng chính tả viết hoa của học sinh và đưa ra một số biện pháp sửa lỗi chính
tả viết hoa cho học sinh tiểu học
Trang 9Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu quý báu để giúp họcsinh phân biệt phụ âm đầu, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
đi sâu xem xét một cách có hệ thống về biện pháp giúp học sinh phân biệt phụ
âm đầu trong phân môn Chính tả Kế thừa và phát triển các thành tựu nghiên
cứu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Biện pháp giúp học sinh phân biệt
phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3”.
3 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe –viết lớp 2, 3 nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp giúp học sinh phân biệt phụ
âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung xây dựng biện phápphân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
+ Địa bàn khảo sát thực trạng: Đề tài tiến hành khảo sát thực trạng đốivới học sinh trường Tiểu học Văn Khê A – Huyện Mê Linh – Hà Nội
+ Địa bàn thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm được thực hiệntại trường Tiểu học Văn Khê A – Huyện Mê Linh – Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất biện phápgiúp học sinh phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2,3
- Đề xuất biện pháp phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe –viết lớp 2, 3
Trang 10- Thực nghiệm sư phạm.
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
+ Phương pháp khái quát hóa
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp quan sát
- Phương pháp xử lí số liệu
- Phương pháp thực nghiệm
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, đề tài nghiên cứu được cấu trúc thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc phân biệt phụ âmđầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3
- Chương 2: Đề xuất biện pháp phân biệt phụ âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÂN BIỆT PHỤ ÂM ĐẦU TRONG DẠY HỌC CHÍNH TẢ
NGHE – VIẾT LỚP 2, 3
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm của học sinh lớp 2, 3
1.1.1.1 Đặc điểm tư duy
b Chú ý
Chú ý là sự tập trung của hoạt động tâm lí vào một hay một số đối tượngnào đó, nhằm phản ánh chúng một cách đầy đủ và rõ ràng nhất Ở học sinhtiểu học có hai loại chú ý: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định
Ở đầu tiểu học, chú ý không chủ định chiếm ưu thế, học sinh khó tậptrung trong thời gian dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập, chưa có kĩnăng phân phối chú ý, chưa biết hướng vào nội dung cơ bản của bài học, các
từ khó thường viết qua loa Các vấn đề mang tính mới lạ, bất ngờ, rực rỡ khácthường đều cuốn hút sự chú ý của học sinh Chú ý có chủ định còn yếu, khảnăng kiểm soát, điều chỉnh chú ý còn hạn chế Đối với học sinh tiểu học, sựtập trung chú ý liên tục khoảng từ 30 phút đến 35 phút
Trang 12c Trí nhớ
Trí nhớ của học sinh là quá trình ghi lại những tri thức cũng như cáchthức tiến hành hoạt động học và các dạng hoạt động khác, khi cần thiết có thểnhớ lại được
Giai đoạn lớp 2, 3 học sinh ghi nhớ kiến thức bài học thông qua hình ảnhnhanh hơn các kiến thức lí thuyết trong sách vở, khó nhớ các kiến thức mangtính khái quát, trừu tượng Học sinh ghi nhớ một cách máy móc, khó ghi nhớ
ý nghĩa, quá trình ghi nhớ chậm chạp, không đầy đủ và thiếu chính xác Trínhớ có chủ định đang được hình thành và phát triển Vì vậy, các nhà giáo dụccần hướng dẫn các em biết cách khái quát và xác định nội dung trọng tâm củabài cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơngiản, dễ hiểu
e Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh là một quá trình nhận thức nhằm tạo ra nhữngbiểu tượng mới trên cơ sở những biểu tượng đã có Tưởng tượng của học sinhtiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có não bộ pháttriển Ở giai đoạn đầu tiểu học, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền
Trang 13vững và dễ thay đổi Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bịchi phối mạnh mẽ bởi cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiệntượng Vì vậy, giáo viên phải biến các kiến thức khô khan thành những hìnhảnh có cảm xúc, thu hút các em hoạt động nhóm, tập thể để các em có cơ hộiphát triển một cách toàn diện.
f Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của các em phát triển cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng, tuynhiên còn nghèo nàn nên khi bày tỏ ý kiến của bản thân thường lúng túng.Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà học sinh có thể tham gia vào các hoạt độnghọc tập, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông quacác kênh thông tin khác nhau Thông qua khả năng ngôn ngữ, ta có thể đánhgiá được sự phát triển trí tuệ của học sinh
Nói tóm lại, những đặc điểm trên có ảnh hưởng lớn đến viết đúng phụ
âm đầu trong dạy học chính tả nghe – viết lớp 2, 3 Ở lớp 2, 3 các em bắt đầuham hiểu biết, khám phá, để giờ học đạt kết quả cao, giáo viên cần hiểu rõ đặcđiểm nhận thức của học sinh, từ đó có những biện pháp thích hợp nhằm pháthuy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của học sinh
1.1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí
a Đặc điểm tâm lí
Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi, hoạt động chủ đạo là họctập, hoạt động vui chơi chủ yếu là các trò chơi vận động Học sinh bắt đầutham gia lao động tự phục vụ bản thân và lao động tập thể ở trường, lớp nhưtrực nhật, trồng cây, tưới hoa… Ngoài ra, các em còn tham gia vào các hoạtđộng của Đội thiếu niên tiền phong, của cộng đồng dân cư Học sinh giaiđoạn lớp 2, 3 đang hình thành và phát triển cả về tâm lí, sinh lí, xã hội, do đó,các em chưa đủ ý thức, phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội,
Trang 14vì vậy các em luôn luôn cần sự giúp đỡ, bao bọc của thầy cô, gia đình và xãhội.
b Đặc điểm sinh lí
Hệ thần kinh: Ở lứa tuổi tiểu học, hoạt động phân tích và tổng hợp củacác em còn kém nhạy bén, nhận thức các hiện tượng của xã hội còn mang tínhchủ quan, cảm tính, bị động Các em có khả năng bắt chước một cách máymóc, khả năng phân biệt và tính sáng tạo của các em còn hạn chế, đặc biệt làđối với các lớp đầu cấp học Tư duy của các em chuyển dần từ tư duy cụ thểsang tư duy trừu tượng
Hệ xương: Còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,xương tay đang trong thời kì phát triển nên dễ bị cong vẹo, vì vậy, trong cáchoạt động vui chơi của trẻ cần chú ý, quan tâm hướng các tới các hoạt động
an toàn, lành mạnh
Hệ cơ: đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các tròchơi vận động như: chạy, nhảy, nô đùa,… Vì vậy, giáo viên nên đưa các emvào các trò chơi vận động từ đơn giản đến phức tạp
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm, trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2
kg Khi 6 tuổi, các em nam cao khoảng 106 cm, nặng khoảng 15,7 kg, các em
nữ cao khoảng 104 cm, cân nặng đạt 15,1 kg Tim của trẻ đập nhanh, khoảng
85 – 90 lần/phút, mạch máu tương đối mở rộng, hệ tuần hoàn chưa hoànchỉnh
Nhìn chung, đặc điểm sinh lí của học sinh tiểu học vẫn còn non yếu,đang trên đà phát triển Cơ thể các em đã hoàn chỉnh về mặt cấu trúc nhưngchưa hoàn thiện về mặt chức năng, chức năng của các cơ quan đang pháttriển, đặc biệt là hệ thần kinh và hệ xương Vì vậy, học sinh tiểu học đã có thểtham gia học tập các môn học ở tiểu học
1.1.2 Âm tiết tiếng Việt
Trang 151.1.2.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong ngôn ngữ, là đơn vị cơ
sở để tạo nên chuỗi âm thanh Trong tiếng Việt, một âm tiết bao giờ cũngđược phát ra với một thanh điệu, khi viết được tách rời với âm tiết khác bằngmột khoảng trống Trên chữ viết, mỗi âm tiết ghi thành một chữ và đọc thànhmột tiếng
Ví dụ: Âm tiết “lá” được ghi bởi hai con chữ l – a và thanh sắc.
Âm tiết tiếng Việt là một cơ chế được cấu tạo bằng các bộ phận nhỏ, cónhiều cách mô tả cấu trúc âm tiết tiếng Việt khác nhau: 3 thành phần hay 5thành phần
[Âm đệm] <Âm chính> [Âm cuối]
Ví dụ: Âm tiết “toán” gồm 5 thành phần: âm đầu t, âm đệm o, âm chính
a, âm cuối n, thanh sắc
Các thành phần trong dấu < > là bắt buộc
Các thành phần trong dấu [ ] là không bắt buộc, có thể có hoặc không.Cho đến nay, các nhà Việt ngữ học trên cơ bản đều thống nhất các thành
tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt gồm 5 thành phần và được cấu trúc thành 2 bậc:
Trang 16ÂM TIẾT
Trang 17Bậc I…………Âm đầu Vần Thanh điệu
Bậc II……… Âm đệm
* Âm đầu
đầu
- Vị trí: Âm đầu luôn giữ vị trí thứ nhất trong mô hình cấu tạo âm tiết
- Bản chất: Các âm đầu đều mang tính phụ âm
- Chức năng: Giữ vai trò mở đầu âm tiết, tạo ra âm sắc cho âm tiết lúc
- Số lượng: Hiện nay có 3 giải pháp khác nhau về việc xác định số lượng
Giải pháp 3 : Tiếng Việt có 23 phụ âm đầu bao gồm 22 phụ âm trên vàthêm một phụ âm tắc thanh hầu
* Âm đệm
- Vị trí: Âm đệm giữ vị trí thứ hai trong mô hình cấu tạo âm tiết tiếngViệt
- Bản chất: Âm đệm là một bán nguyên âm có cấu tạo gần giống nguyên
âm /u/ nhưng được phát âm lướt hơn
Trang 18- Chức năng: Làm thay đổi âm sắc của âm tiết lúc mở đầu, nhằm khubiệt âm tiết này với âm tiết khác.
- Số lượng: có 2 âm đệm /-u-/, /zero/ Âm đệm /u/ có hai cách viết:
Viết là o khi kết hợp với nguyên âm rộng và hơi rộng (/a/, /ă/, / /)
- Chức năng: Âm chính là hạt nhân của âm tiết, có chức năng quy định
âm sắc chủ yếu của âm tiết, là âm mang “đường nét” cơ bản của thanh điệu
- Số lượng: Hiện nay có hai giải pháp khác nhau về việc xác định số lượng nguyên âm chính (có liên quan tới số lượng phụ âm cuối)
Giải pháp 1: Tiếng Việt có 16 nguyên âm (14 + , ) khi có 6 phụ âmcuối /m/, /n/, / /, /p/, /t/, /k/
Giải pháp 2: Tiếng Việt có 14 nguyên âm (16 - , ) khi có 8 phụ âmcuối /m/, /n/, / /, /p/, t/, /k/, / /, /c/
* Âm cuối
- Vị trí: Đứng ở vị trí cuối sau trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt
- Bản chất: Âm cuối có thể là phụ âm hoặc bán nguyên âm
- Chức năng: Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết và là cơ sở để phân chia thành các loại hình âm tiết, để nhận ra sự phân bố của thanh điệu
- Số lượng: Âm cuối do 6 phụ âm /m/, /n/, / /, /p/, /t/, /k/ và 2 bán âm/u/, /i/ đảm nhiệm
* Thanh điệu
Trang 19- Thanh điệu là yếu tố siêu đoạn tính có chức năng khu biệt âm tiết vềcao độ.
- Số lượng: 6 thanh điệu
- Thanh điệu quyết định âm sắc của nguyên âm là âm chính, có giá trịphân biệt nghĩa và nhận diện từ
Như vậy, sự có mặt đầy đủ của các thành phần cấu tạo nên âm tiết tiếngViệt hiện ra ở dạng lí tưởng nhất, đó là âm tiết gồm bốn yếu tố âm đoạn vàmột yếu tố siêu âm đoạn Sự rút gọn đến mức tối đa làm cho các âm tiết tiếngViệt hiện ra ở dạng khuyết, đó là âm tiết chỉ gồm một yếu tố âm đoạn – mộtyếu tố siêu âm đoạn (thanh điệu), không có dạng nào mà âm tiết chỉ gồm mộttrong hai cấu tạo âm đoạn hoặc siêu âm đoạn
1.1.2.2 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt
a Đơn vị âm tiết trong các ngôn ngữ phân tích – âm tiết tính
Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ phân tích – âm tiết tính, hay gọi
là ngôn ngữ có cơ cấu âm tiết Các âm tiết điển hình nhất có cấu trúc âm đoạn
là phụ âm – bán âm hoặc âm vang – nguyên âm – phụ âm hoặc bán âm Ngoài
ra, các ngôn ngữ âm tiết tính thường là ngôn ngữ có thanh điệu Trong ngônngữ âm tiết tính, những hình vị có “kích cỡ” bằng hoặc lớn hơn âm tiết, tức làkhông thể có những hình vị nhỏ hơn âm tiết
Âm tiết là đơn vị thực hiện chức năng hình thành hình vị Trong chuỗi
âm thanh của tiếng Việt, âm tiết là đơn vị ngữ âm có tính độc lập cao, do đóranh giới âm tiết rõ ràng, cố định, bất biến, vì vậy phụ âm đầu và phụ âm cuối
âm tiết không đồng nhất với nhau, không thể chuyển đổi cho nhau như trongcác ngôn ngữ phi âm tiết tính
b Đơn vị âm tiết trong tiếng Việt
* Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất
Trang 20Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong lời nói, mỗiphát ngôn bao giờ cũng được thực hiện bằng sự nối tiếp của các âm tiết.Trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học, âm tiết còn được gọi là tiếng.
Ví dụ: trong phát ngôn: Hôm nay em đi học có năm âm tiết là năm tiếng nối tiếp nhau là Hôm – nay – em – đi – học.
* Âm tiết tiếng Việt là đơn vị ngữ âm mang tính ổn định về hình thứcKhi âm tiết là thành phần của từ hoặc là từ thì mặc dù đặt trong câu vớichức năng ngữ pháp khác nhau thì hình thức âm tiết không bị biến đổi Tính
cố định và không biến hình của âm tiết tiếng Việt khiến cho việc phát âmđược tách bạch và việc nhận diện từ trở nên dễ dàng hơn Người Việt không
sử dụng cách nói nuốt âm và nối âm
* Âm tiết tiếng Việt không thuần túy là đơn vị ngữ âm (đơn vị một mặt) Phần lớn âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa, có âm tiết tương đương với từ,
có âm tiết là thành phần của từ Chính đặc điểm này được phản ánh trong cácthể thơ như: thể thơ lục bát (câu 6 và câu 8 âm tiết đi sóng đôi), thể thơ songthất lục bát (hai câu 7 và một cặp 6 – 8 âm tiết đi sóng cặp) Như vậy, trongtiếng Việt, điểm giao nhau giữa âm vị và hình vị là âm tiết, vì muốn xác địnhmột đơn vị ở một bậc nào đó, phải tìm được sự hoạt động của nó ở đơn vị caohơn bậc trực tiếp
1.1.2.3 Phân loại âm tiết tiếng Việt
Có rất nhiều cách phân loại âm tiết khác nhau dựa vào các tiêu chí khácnhau:
- Tiêu chí 1: Dựa vào âm đầu và âm đệm, chia thành:
+ Âm tiết có âm đầu và âm đệm gọi là âm tiết nặng
Ví dụ: toan, huyền, hoa…
+ Âm tiết có âm đầu và vắng âm đệm gọi là âm tiết nửa nặng
Ví dụ: học, mai, ban…
Trang 21+ Âm tiết vắng âm đầu và có âm đệm gọi là âm tiết nửa nhẹ
Ví dụ: oanh, uyên…
+ Âm tiết vắng âm đầu và vắng âm đệm gọi là âm tiết nhẹ
Ví dụ: anh, ông…
- Tiêu chí 2: Dựa vào âm cuối vần, chia thành:
+ Âm tiết vắng âm cuối vần (kết thúc bằng nguyên âm) gọi là âm tiết
Một ngôn ngữ văn hóa không thể không có chính tả thống nhất, chính tả
có thống nhất thì giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị trở ngại giữa cácđịa phương trong cả nước cũng như giữa các thế hệ với nhau
Trang 22Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bánâm), các thanh, chuẩn viết tên riêng, chuẩn viết phiên âm từ và các thuật ngữvay mượn.
1.1.3.2 Đặc điểm chính tả tiếng Việt
Chính tả tiếng Việt có tính bắt buộc gần như tuyệt đối, đặc điểm này đòihỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả, chữ viết có thể chưa hợp
lí nhưng khi đã là chuẩn thì người viết không được viết khác đi Yêu cầu caonhất của chính tả là cách viết thống nhất cho mọi văn bản, cho mọi người, chomọi địa phương
Vì tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối nên chính tả ít bị thay đổi so vớicác chuẩn mực khác của ngôn ngữ: chuẩn ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… Nóicách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, cố hữu khá rõ
Chuẩn chính tả là kết quả của sự lựa chọn giữa nhiều hình thức chính tảkhác nhau đang cùng tồn tại
Dù có tính ổn định cao nhưng chuẩn chính tả không phải là bất biến,những chuẩn chính tả cũ, lỗi thời không phù hợp sẽ dần được thay thế bởinhững chuẩn chính tả mới, chẳng hạn như, chuẩn chính tả cũ là đày tớ đãđược thay bằng chuẩn chính tả mới: đầy tớ
1.1.3.3 Nguyên tắc xây dựng chính tả tiếng Việt
a Nguyên tắc ngữ âm học
Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, giữa cách đọc và cách viết có sựthống nhất với nhau Theo nguyên tắc này thì cách viết của từ phải thể hiệnđúng âm hưởng của từ, đọc thế nào viết như vậy, một âm vị được ghi lại bằngmột con chữ, chẳng hạn: âm /b/ được biểu thị bằng chữ b
Trong giờ chính tả, học sinh sẽ xác định được cách viết đúng chính tảbằng việc tiếp nhận chính xác các âm thanh của lời nói, nghĩa là cơ chế củaviệc viết đúng dựa trên sự các lập mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết
Trang 23Tuy nhiên có một số trường hợp quan hệ giữa âm và chữa chưa phải là1:1, chẳng hạn như:
Âm /k/ được thể hiện bởi 3 con chữ c, k, q
Âm /z/ được thể hiện bởi 2 con chữa d, gi
Nguyên tắc này chỉ đúng với phát âm chuẩn, còn trên thực tế mỗi ngườithuộc một vùng phương ngữ nhất định và có một số phương ngữ có phát âmlệch chuẩn Vì thế không thể hoàn toàn xây dựng chính tả tiếng Việt theonguyên tắc ngữ âm Ví dụ : Ở huyện Mê Linh – Hà Nội hay nhầm lẫn l/n :
non nước thành lon lước, làm việc thành nàm việc.
b Nguyên tắc ngữ nghĩa
Để ghi đúng chính tả, ngoài nguyên tắc ngữ âm học còn dựa vào sự phânbiệt ngữ nghĩa Đây là hình thức dựa vào sự ưu việt nghĩa để chọn hình thứcchính tả
Ví dụ: Trường hợp có hình thức ngữ âm là trung hay chung thì cần phân
biệt được nghĩa của 2 từ này:
Viết là trung khi chỉ vị trí ở giữa (trung điểm, trung tâm), chỉ phẩm chất
(trung thành, trung hiếu)
Viết là chung khi chỉ sự hợp sức (chung sức), chỉ vị trí kết thúc (chung
kết, chung cuộc)
c Nguyên tắc truyền thống lịch sử
Nguyên tắc này xuất phát từ lịch sử ra đời của chữ quốc ngữ, chữ quốcngữ sử dụng bộ chữ cái La tinh, đó là những trường hợp một âm có nhiềucách viết khác nhau, với những trường hợp này ta phải lập thành những côngthức và quy tắc chính tả
Ví dụ:
Âm /k/: Viết là k khi đứng trước nguyên âm e, ê, i
Viết là q khi đứng trước nguyên âm u
Trang 24Viết là c đứng trước các nguyên âm còn lại
1.1.3.4 Nguyên tắc dạy học chính tả tiếng Việt
a Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực
Dạy học chính tả theo khu vực tức là nội dung dạy học phải xuất phát từthực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng địa phương, vùng miền để hìnhthành nội dung giảng dạy, phải xác định được trọng điểm chính tả cần dạycho học sinh ở từng khu vực vì phát âm ở từng địa phương ảnh hưởng đếnchính tả Để thực hiện nguyên tắc này, sách giáo khoa tiếng việt xây dựng hailoại bài tập là bài tập bắt buộc và bài tập tự chọn, loại bài tập bắt buộc phùhợp với học sinh cả nước, loại bài tập tự chọn phù hợp với học sinh từng khuvực Như vậy, trước khi dạy, giáo viên cần tiến hành điều tra cơ bản để nắmđược những lỗi chính tả phổ biến của học sinh để từ đó lựa chọn được nộidung dạy học phù hợp, có thể bỏ lược nội dung giảng dạy không phù hợp ởtrong sách giáo khoa, đồng thời bổ sung những nội dung dạy cần thiết màsách giáo khoa chưa đề cập đến
Đối chiếu với âm, ta thấy cách phát âm của ba vùng phương ngữ đều cónhững chỗ còn sai lệch
Ví dụ:
Đối với phương ngữ Bắc Bộ, trong điểm chính tả là phân biệt phụ âm
đầu: ch/tr, s/x, l/n, r/d/gi và vần ưu/iu, iêu/iu.
Đối với phương ngữ Bắc Trung Bộ, trọng điểm chính tả là phân biệt
thanh hỏi/ngã.
Đối với phương ngữ Nam Bộ, trọng điểm chính tả là phân biệt phụ âm
đầu v/d và chữ ghi âm cuối n/ng, t/c.
b Nguyên tắc dạy chính tả có ý thức và chính tả không có ý thức
Để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng chính tả một cách hiệu quả cần phốihợp hợp lí giữa nguyên tắc dạy chính tả có ý thức và không có ý thức, đây là
Trang 25nguyên tắc cơ bản, chủ đạo trong việc dạy chính tả cho học sinh Phươngpháp có ý thức là phương pháp hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cho học sinhdựa trên cơ sở vận dụng có ý thức các mẹo luật, các quy tắc chính tả nhấtđịnh, từ đó, học sinh luyện tập và từng bước hình thành các kĩ năng chính tả.Muốn vậy, giáo viên phải được trang bị những kiến thức về ngữ âm, từ vựng,ngữ nghĩa có liên quan đến chính tả Việc hình thành kĩ năng chính tả bằngcon đường có ý thức sẽ cho kết quả nhanh chóng và hiệu quả cao.
Phương pháp chính tả không có ý thức là phương pháp hình thành các kĩnăng chính tả dựa trên ghi nhớ một cách máy móc các hình thức, con chữ màkhông cần hiểu quy luật của chúng Phương pháp này cần được sử dụng hợp lí
ở các lớp đầu tiểu học, gắn với những kiểu bài tập như tập viết, tập chép, cáckiểu bài này giúp học sinh nhanh chóng làm quen với hình thức hình thức chữviết của từ Phương pháp này còn phát huy tác dụng khi hướng dẫn học sinhghi nhớ các hiện tượng chính tả mang tính chất võ đoán, không gắn với mộtquy tắc cụ thể nào
c Nguyên tắc phối hợp giữa tính tích cực và tính tiêu cực
Phương pháp tích cực là phương pháp mà giáo viên cung cấp cho họcsinh các quy tắc chính tả, các hình thức chính tả viết đúng để học sinh luyệntập
Phương pháp tiêu cực là phương pháp giáo viên đưa ra các trường hợplỗi chính tả, hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi chính tả, từ đó hướngđến cái đúng Phương pháp này giúp học sinh phát huy óc phân tích, từ đókiểm tra, củng cố được kiến thức về chính tả của học sinh
Trong dạy học chính tả, việc hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả cầntiến hành đồng thời với việc hướng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trongbài viết, trong đó phương pháp tích cực giữ vai trò chủ đạo, phương pháp tiêucực được coi là thứ yếu, mang tính chất bổ trợ cho phương pháp tích cực
Trang 26- Các lỗi chính tả của học sinh:
+ Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng Việt: do khônghiểu rõ cấu trúc nội bộ của âm tiết tiếng Việt nên học sinh thường viết thừa,viết sai Ví dụ: quanh co, khúc khuỷu, ngoằn ngèo,… Để sửa loại lỗi này cầnhiểu được cấu trúc âm tiết tiếng Việt được cấu thành bởi những thành phầnnào, vị trí của từng thành phần trong âm tiết
+ Lỗi chính tả do không nắm vững quy tắc chính tả tiếng việt: Lỗi nàythường gặp ở các phụ âm đầu: tr/ch, s/x, d/gi, ng/ngh,… Để sửa loại lỗi nàycần nắm vững các quy tắc chính tả, nhớ mặt chữ của các từ có phụ âm đầu dễlẫn lộn
+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm địa phương: Do mỗi vùng có cáchphát âm khác nhau nên mỗi địa phương sai một khác, để sửa loại lỗi này họcsinh cần nắm vững chính âm và tập cách phát âm đúng, chuẩn, cũng có thểxây dựng các mẹo luật chính tả để giúp học sinh viết đúng
+ Lỗi chính tả do không hiểu mối quan hệ giữa chữ và nghĩa Ví dụ: Tổquốc => Tổ cuốc,… để sửa loại lỗi này, học sinh cần nắm vững nghĩa củamỗi từ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Chính tả
1.2.1.1 Vị trí của phân môn Chính tả
Phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong chương trình của mônTiếng Việt và các môn học khác, nó giúp học sinh hình thành năng lực, thóiquen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là viết đúng các chuẩn mực tiếng Việt
Do đó, hình thành và phát triển các năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh,góp phần rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản và hình thành nhân cách chohọc sinh
Trang 27Ở giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành
kĩ năng, kĩ xảo chính tả cho học sinh, do đó, mà chính tả được bố trí thànhmột phân môn độc lập trong môn Tiếng Việt có tiết dạy riêng, trong khi đó, ởtrung học cơ sở và trung học phổ thông, chính tả chỉ được dạy xen kẽ qua cácphân môn khác trong môn Tiếng Việt như phân môn Tập làm văn, không tồntại với tư cách là một phân môn độc lập như ở tiểu học Vì vậy, ở cấp Tiểuhọc, chính tả có vị trí vô cùng quan trọng
1.2.1.2 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả
Phân môn Chính tả có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, giúp học sinh nắm vững các quy tắc chính tả và hình thành kĩnăng chính tả Nói cách khác, phân môn Chính tả có nhiệm vụ giúp học sinhhình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả: viết đúng chữ ghi âmđầu, âm chính, âm cuối, viết dấu thanh đúng vị trí, tiến tới viết đẹp, viếtnhanh
Thứ hai, rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, tinh thầntrách nhiệm với công việc, óc thẩm mĩ…; bồi dưỡng cho các em lòng yêu quýtiếng Việt và chữ viết tiếng Việt
Qua việc viết chính tả, giáo viên cũng cho các em hiểu rằng việc viếtđúng, đẹp, rõ ràng một bài chính tả là những biểu hiện của một hành động tíchcực trong việc tôn trọng mình cũng như tôn trọng người khác mỗi khi đặt bútviết bất cứ bài viết nào
1.2.2 Nội dung chương trình chính tả lớp 2, 3
1.2.2.1 Nội dung chương trình chính tả lớp 2
Ở lớp mỗi tuần có 2 tiết chính tả với hai hình thức chính tả là tập chép vànghe – viết
Trang 28Các kĩ năng chính tả cần luyện là tập viết hoa tên người, địa danh ViệtNam, tập viết một số tiếng có vần khó, rèn luyện thói quen sửa lỗi chính tả vàtrình bày bài chính tả đúng quy định, chính tả phương ngữ.
Nội dung chương trình chính tả lớp 2
Em là
học sinh
- Tập chép: Có công mài sắt, có ngày nên kim
Phân biệt c/k Bảng chữ cái
- Nghe – viết: Ngày hôm qua đâu rồi?
Phân biệt l/n, an/ang Bảng chữ cái
- Tập chép: Phần thưởng
Phân biệt s/x, ăn/ăng Bảng chữ cái
- Nghe – viết: Làm việc thật là vui
Phân biệt g/gh Ôn bảng chữ cái
Bạn bè - Tập chép: Bạn của Nai Nhỏ
Phân biệt ng/ngh, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Gọi bạn
Phân biệt ng/ngh, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Tập chép: Bím tóc đuôi sam
Phân biệt iê/yê, r/d/gi, ân/âng
- Nghe – viết: Trên chiếc bè
Phân biệt iê/yê, r/d/gi, ân/âng
Trường học - Tập chép: Chiếc bút mực
Phân biệt ia/ya, l/n, en/eng
- Nghe – viết: Cái trống trường em
Phân biệt i/iê, en/eng, l/n
- Tập chép: Mẩu giấy vụn
Phân biệt ai/ay, s/x, dấu hỏi/dấu ngã
Trang 29Chủ điểm Nội dung
- Nghe – viết: Ngôi trường mới
Phân biệt ai/ay, s/x, dấu hỏi/dấu ngã
Thầy cô - Tập chép: Người thầy cũ
Phân biệt ui/uy, tr/ch, iên/iêng
- Nghe – viết: Cô giáo lớp em
Phân biệt ui/uy, tr/ch, iên/iêng
- Tập chép: Người mẹ hiền
Phân biệt ao/au, r/d/gi, uôn/uông
- Nghe – viết: Bàn tay dịu dàng
Phân biệt ao/au, r/d/gi, uôn/uông
Ông bà - Tập chép: Ngày lễ
Phân biệt c/k, l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Ông và cháu
Phân biệt c/k, l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Tập chép: Bà cháu
Phân biệt g/gh, s/x, ươn/ương
- Nghe – viết: Cây xoài của ông em
Phân biệt g/gh, s/x, ươn/ương
Cha mẹ - Nghe – viết: Sự tích cây vú sữa
Phân biệt ng/ngh, tr/ch, at/ac
- Tập chép: Mẹ
Phân biệt iê/yê/ya, r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
- Tập chép: Bông hoa Niềm Vui
Phân biệt iê/yê, r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Quà của bố
Phân biệt iê/yê, r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
23
Trang 30Chủ điểm Nội dung
Anh em - Nghe – viết: Câu chuyện bó đũa
Phân biệt l/n, i/iê, ăt/ăc
- Tập chép: Chiếc võng kêu
Phân biệt l/n, i/iê, ăt/ăc
- Tập chép: Hai anh em
Phân biệt ai/ay, s/x, ât/âc
- Nghe – viết: Bé Hoa
Phân biệt ai/ay, s/x, ât/âc
Bạn trong
nhà
- Tập chép: Con chó nhà hàng xóm
Phân biệt ui/uy, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Trâu ơi
Phân biệt ao/au, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Tìm ngọc
Phân biệt ui/uy, r/d/gi, et/ec
- Tập chép: Gà “tỉ tê” với gà
Phân biệt ao/au, r/d/gi, et/ec
Bốn mùa - Tập chép: Chuyện bốn mùa
Phân biệt l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Thư Trung thu
Phân biệt l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Gió
Phân việt s/x, iêt/iêc
- Nghe – viết: Mưa bóng mây
Phân việt s/x, iêt/iêc
Chim chóc - Tập chép: Chim sơn ca và bông cúc trắng
Phân biệt tr/ch, uôt/uôc
24
Trang 31Chủ điểm Nội dung
- Nghe – viết: Sân chim
Phân biệt tr/ch, uôt/uôc
- Nghe – viết: Một trí khôn hơn trăm trí khôn
Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Cò và Cuốc
Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
Muông thú - Tập chép: Bác sĩ Sói
Phân biệt l/n, ước/ươt
- Nghe – viết: Ngày hội đua voi ở Tây Nguyên
Phân biệt l/n, ước/ươt
- Nghe – viết: Quả tim khỉ
Phân biệt s/x, uc/ut
- Nghe – viết: Voi nhà
Phân biệt s/x, uc/ut
Sông biển - Tập chép: Sơn Tinh, Thủy Tinh
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Bé nhìn biển
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Tập chép: Vì sao cá không biết nói?
Phân biệt r/d, ưc/ưt
- Nghe – viết: Sông Hương
Phân biệt r/d/gi, ưc/ưt
Cây cối - Nghe – viết: Kho báu
Phân biệt ua/uơ, l/n, ên/ênh
- Nghe – viết: Cây dừa
Phân biệt s/x, in/inh Viết hoa tên riêng
25
Trang 32Chủ điểm Nội dung
- Tập chép: Những quả đào
Phân biệt s/x, in/inh
- Nghe – viết: Hoa phượng
Phân biệt s/x, in/inh
Bác Hồ - Nghe – viết: Ai ngoan sẽ được thưởng
Phân biệt tr/ch, êt/êch
- Nghe – viết: Cháu nhớ Bác Hồ
Phân biệt tr/ch, êt/êch
- Nghe – viết: Việt Nam có Bác
Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Cây và hoa bên lăng Bác
Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
Nhân dân - Tập chép: Chuyện quả bầu
Phân biệt l/n, v/d
- Nghe – viết: Tiếng chổi tre
Phân biệt l/n, it/ich
- Nghe – viết: Bóp nát quả cam
Phân biệt s/x, i/iê
- Nghe – viết: Lượm
Phân biệt s/x, i/iê
- Nghe – viết: Người làm đồ chơi
Phân biệt tr/ch, o/ô, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Đàn bê của anh Hồ Giáo
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
1.2.2.2 Nội dung chương trình chính tả lớp 3
26
Trang 33Ở lớp 3 mỗi tuần có 2 tiết chính tả với hai hình thức chính tả là nghe –viết và nhớ - viết
Các kĩ năng chính tả cần luyện là tập viết hoa tên địa lí nước ngoài, tập phát hiện, sửa lỗi chính tả quy tắc và chính tả phương ngữ, chính tả phươngngữ
Nội dung chương trình chính tả lớp 3
Măng non - Tập chép: Cậu bé thông minh
Phân biệt l/n, an/ang Bảng chữ
- Nghe – viết: Chơi chuyền
Phân biệt ao/oao, l/n, an/ang
- Nghe – viết: Ai có lỗi?
Phân biệt uêch/uyu, s/x, ăn/ăng
- Nghe – viết: Cô giáo tí hon
Phân biệt s/x, ăn/ăng
Mái ấm - Nghe – viết: Chiếc áo len
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã Bảng chữ
- Tập chép: Chị em
Phân biệt ăc/oăc, tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Người mẹ
Phân biệt r/d/gi, ân/âng
- Nghe – viết: Ông ngoại
Vần oay Phân biệt r/d/gi, ân/âng
Tới trường - Nghe – viết: Người lính dũng cảm
Phân biệt n/l, en/eng Bảng chữ
- Tập chép: Mùa thu của em
Vần oam Phân biệt l/n, en/eng
27
Trang 34Chủ điểm Nội dung
- Nghe – viết: Bài tập làm văn
Phân biệt eo/oeo, s/x, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Nhớ lại buổi đầu đi học
Phân biệt eo/oeo, s/x, ươn/ương
Cộng đồng - Tập chép: Trận bóng dưới lòng đường
Phân biệt tr/ch, iên/iêng Bảng chữ
- Nghe – viết: Bận
Phân biệt en/oen, tr/ch, iên/iêng
- Nghe – viết: Các em nhỏ và cụ già
Phân biệt r/d/gi, uôn/uông
- Nhớ viết: Tiếng ru
Phân biệt r/d/gi, uôn/uông
Quê hương - Nghe – viết: Quê hương ruột thịt
Phân biệt oai/oay, l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Quê hương
Phân biệt et/oet, l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Tiếng hò trên sông
Phân biệt ong/oong, s/x, ươn/ương
- Nhớ - viết: Vẽ quê hương
Phân biệt s/x, ươn/ương
Bắc – Trung
– Nam
- Nghe – viết: Chiều trên sông Hương
Phân biệt oc/ooc, tr/ch, at/ac
- Nghe – viết: Cảnh đẹp non sông
Phân biệt tr/ch, at/ac
- Nghe – viết: Đêm trăng trên Hồ Tây
Phân biệt it/uyu, d/r/gi, dấu hỏi/dấu ngã
28
Trang 35Chủ điểm Nội dung
- Nghe – viết: Vàm Cỏ Đông
Phân biệt it/uyt, d/r/gi, dấu hỏi/dấu ngã
Anh em - Nghe – viết: Người liên lạc nhỏ
Phân biệt ay/ây, l/n, i/iê
- Nghe – viết: Nhớ Việt Bắc
Phân biệt au/âu, l/n, i/iê
- Nghe – viết: Hũ bạc của người cha
Phân biệt ui/uôi, s/x, ât/âc
- Nghe – viết: Nhà rông ở Tây Nguyên
Phân biệt ưi/ươi, s/x, ât/âc
một nhà
Thành thị và - Nghe – viết: Đôi bạn
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nhớ - viết: Về quê ngoại
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Vầng trăng quê em
Phân biệt r/d/gi, ăt/ăc
- Nghe – viết: Âm thanh thành phố
Phân biệt ui/uôi, d/r/gi, ăt/ăc
nông thôn
Bảo vệ - Nghe – viết: Hai Bà Trưng
Phân biệt l/n, iêt/iêc
- Nghe – viết: Trần Bình Trọng
Phân biệt l/n, iêt/iêc
- Nghe – viết: Ở lại với chiến khu
Phân biệt s/x, uôt/uôc
- Nghe – viết: Trên đường mòn Hồ Chí Minh
Phân biệt s/x, uôc/uôt
Tổ quốc
29
Trang 36Chủ điểm Nội dung
Sáng tạo - Nghe – viết: Ông tổ nghề thêu
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Bàn tay cô giáo
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Ê – đi – xơn
Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Một nhà thông thái
Phân biệt r/d/gi, ươt/ươc
Nghệ thuật - Nghe – viết: Nghe nhạc
Phân biệt l/n, ut/uc
- Nghe – viết: Người sáng tác quốc ca Việt Nam
Phân biệt l/n, ut/uc
- Nghe – viết: Đối đáp với vua
Phân biệt s/x, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Tiếng đàn
Phân biệt s/x, dấu hỏi/dấu ngã
Lễ hội - Nghe – viết: Hội vật
Phân biệt tr/ch, ưt/ưc
- Nghe – viết: Hội đua voi ở Tây Nguyên
Phân biệt tr/ch,ưt/ưc
- Nghe – viết: Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử
Phân biệt r/d/gi, ên/ênh
- Nghe – viết: Rước đèn ông sao
Phân biệt r/d/gi, ên/ênh
Thể thao - Nghe - viết: Cuộc chạy đua trong rừng
Phân biệt l/n, dấu hỏi/dấu ngã
30
Trang 37Chủ điểm Nội dung
- Nhớ - viết: Cùng vui chơi
Phân biệt l/n, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Buổi học thể dục
Viết tên người nước ngoài Phân biệt s/x, in/inh
- Nghe – viết: Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục
Phân biệt s/x, in/inh
Ngôi nhà
chung
- Nghe – viết: Liên hợp quốc
Phân biệt tr/ch, êt/êch
- Nhớ - viết: Một mái nhà chung
Phân biệt tr/ch, êt/êch
- Nghe – viết: Bác sĩ Y – éc – xanh
Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
- Nhớ - viết: Bài hát trồng cây
Phân biệt r/d/gi, dấu hỏi/dấu ngã
- Nghe – viết: Ngôi nhà chung
- Nghe – viết: Cóc kiện trời
Phân biệt s/x, o/ô Viết tên riêng nước ngoài
- Nghe – viết: Quà của đồng nội
Phân biệt s/x, o/ô
Trang 38Phân biệt tr/ch, dấu hỏi/dấu ngã
Dạng bài chính tả nghe – viết thể hiện rõ nhất đặc trưng của chính tảtiếng Việt: là chính tả ngữ âm, giữa âm và chữ có mối quan hệ mật thiết – đọcthế nào viết thế ấy
Dạng bài chính tả nghe – viết yêu cầu học sinh nghe từng từ, cụm từ, câu
do giáo viên đọc và chép lại một cách chính xác, đúng chính tả những điềunghe được theo đúng tốc độ quy định Muốn viết được các bài chính tả nghe –viết, học sinh phải có năng lực chuyển ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữviết, phải nhớ mặt chữ và các quy tắc chính tả tiếng Việt Bên cạnh đó, muốnviết đúng chính tả học sinh còn phải hiểu nội dung của tiếng, từ và câu haycủa bài viết, bởi chính tả tiếng Việt không chỉ là chính tả ngữ âm mà còn làchính tả ngữ nghĩa Ở dạng bài này, việc đọc mẫu của giáo viên là quan trọngnhất, giáo viên phải đọc chính xác, đúng với chính âm, phù hợp với tốc độviết của học sinh
Trang 39Để các kĩ năng chính tả được hình thành một cách nhanh chóng, văn bảnđược chọn làm bài chính tả phải chứa các hiện tượng chính tả cần dạy, nộidung phù hợp với học sinh từng độ tuổi, có tính thẩm mĩ cao Bài viết chính tả
có thể là trích đoạn của bài tập đọc đã học trước đó, bài tập đọc đã được biênsoạn lại hoặc bài viết ngoài sách giáo khoa để gây hứng thú học tập cho họcsinh
Ở lớp 3, ngoài hai dạng bài chính tả tập chép và nghe – viết, học sinhcòn được học dạng chính tả nhớ - viết Dạng bài chính tả nhớ - viết yêu cầuhọc sinh tái hiện lại hình thức chữ viết, viết lại một văn bản mà các em đã họcthuộc Mục đích của kiểu bài này nhằm kiểm tra năng lực ghi nhớ của họcsinh, được thực hiện ở giai đoạn học sinh đã quen và nhớ hình thức chữ viếtcủa tiếng Việt Đối với dạng bài chính tả này, giáo viên cần bố trí thời gian đểhọc sinh tái hiện lại khi viết bài, phải lưu ý những trường hợp dễ viết sai trongvăn bản Quy trình của dạng bài nhớ viết gồm 2 bước:
Bước 1: Học sinh tái hiện lại hình thức, âm thanh của văn bản
Bước 2: Học sinh chuyển hóa văn bản dưới hình thức âm thanh, văn bản
+ Phân biệt cách viết chính tả các chữ
+ Giải câu đố để tìm từ chứa hiện tượng chính tả cần học
+ Rút ra quy tắc chính tả từ bài tập chính tả đã làm
+ Tập phát hiện và chữa lỗi chính tả
Trang 40Ngoài các dạng bài trên, giáo viên có thể xây dựng thêm các dạng bài
khác
để gây hứng thú học tập cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy chính tả.Mỗi dạng bài tập chính tả âm – vần có tác dụng riêng khác nhau, nhưngmục đích chủ yếu là hướng tới rèn luyện các kĩ năng chính tả cho học sinh,đặc biệt là kĩ năng viết chính tả trong các trường hợp tiếng có vần khó, ít xuấthiện hoặc tiếng chứa âm, vần mà học sinh phương ngữ hay nhầm lẫn
1.2.4 Thực trạng dạy học kiểu bài chính tả nghe - viết
1.2.4.1 Thực trạng dạy học kiểu bài chính tả nghe – viết
Để nắm được thực trạng dạy học chính tả nghe – viết ở các trường tiểuhọc, chúng tôi đã tiến hành quan sát và trao đổi với giáo viên và học sinh khốilớp 2, 3 ở trường Tiểu học Văn Khê A – Mê Linh – Hà Nội
Trường Tiểu học Văn Khê A là một trường đóng trên địa bàn xã VănKhê, huyện Mê Linh, Hà Nội, gồm có 18 lớp/610 học sinh:
* Ưu điểm:
Nhìn chung, giáo viên trường Tiểu học Văn Khê A có chuyên mônnghiệp vụ, năng lực sư phạm rõ ràng, có tinh thần dạy học, chỉ bảo học sinh