Nguyễn Đăng Na trong "Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian" introng cuốn “Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”, Nhà xuất bản Giáo dục2003 đã nhận xét: "Chủ nghĩa nhân đạo thù địch với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
PHẠM THANH QUỲNH
NGHỆ THUẬT CHƠI CHỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI, 201 9
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====
PHẠM THANH QUỲNH
NGHỆ THUẬT CHƠI CHỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Văn Thạo
HÀ NỘI, 201 9
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai làm khóa luận, chúng tôi đã nhận được sựgiúp đỡ của thầy cô khoa Ngữ Văn, các thầy cô trong tổ bộ môn Ngôn Ngữ,đặc biệt là TS Nguyễn Văn Thạo, giảng viên trực tiếp hướng dẫn Nhân khóaluận được hoàn thành, chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy cô vàcác bạn
Vì thời gian có hạn và cũng là lần đầu tiên làm quen với việc nghiêncứu khoa học, chắc chắn khóa luận còn nhiều hạn chế Chúng tôi mong nhậnđược sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận được cải thiện hơn
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Phạm Thanh Quỳnh
Trang 4Tôi xin cam đoan:
LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp: Nghệ thuật chơi chữ trong thơ Hồ Xuân
Hương là kết quả nghiên cứu của bản thân, có sự tham khảo và kế thừa ý kiến
của những người đi trước dưới sự giúp đỡ khoa học của giáo viên hướng dẫn.Những phần sử dụng tài liệu tham khảo, các số liệu kết quả trình bày trongkhóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Phạm Thanh Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 3
6 Bố cục của khóa luận 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu 4
1.2 Cơ sở lý thuyết 5
1.2.1 Chơi chữ 5
1.2.2 Khái quát về từ xét về mặt cấu tạo trong tiếng Việt 6
1.2.3 Cụm từ cố định 9
1.2.4 Các quan hệ ngữ nghĩa của từ 11
1.3 Vài nét về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương 16
CHƯƠNG 2 CÁCH CHƠI CHỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG 20
2.1 Dùng từ láy 20
2.2 Dùng thành ngữ, tục ngữ 27
2.2.1 Dùng nguyên trạng 27
2.2.2 Dùng không nguyên trạng 29
2.3 Dùng điển cố, điển tích 31
2.4 Dùng khẩu ngữ 33
2.5 Dùng trường nghĩa và các quan hệ trong trường nghĩa 36
2.5.1 Dùng trường nghĩa 36
Trang 62.5.2 Các quan hệ trong trường nghĩa 37
2.6 Một số cách dùng khác 41
2.6.1 Kết hợp từ bất thường 41
2.6.2 Nói lái 45
2.7 Phân tích trường hợp cách chơi chữ trong một số bài thơ 47
KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta cảm thấy sự độc đáo – thơ bà “là một hiệntượng lạ của nền văn học Việt Nam” Một con người “độc đáo cả về tính cáchlẫn thơ văn", sự độc đáo, khác biệt ấy không có nhà thơ nữ nào sánh bằng.Với cá tính ấy, thơ Hồ Xuân Hương không tĩnh lặng, êm ả nó luôn sống động,góc cạnh Điều đó, tạo nên sự đặc biệt và độc giả yêu mến thơ bà là vì thế.
Nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương nhằm truyền đạt tớihọc sinh cái hay cái đẹp từ sản phẩm ngôn ngữ từ đó giáo dục nhân cách chohọc sinh Muốn làm được điều đó thì người giáo viên phải nắm chắc, sử dụngtốt tiếng Việt, đồng thời hiểu sâu sắc tác phẩm văn chương Ngoài ra việcthực hiện nghiên cứu này còn giúp tôi giảng dạy thơ Hồ Xuân Hương tốt hơntrong công việc giáo dục sau này và từ đó, giúp học sinh cảm nhận một cáchsâu sắc hơn về màu sắc trong thơ của nữ sĩ
Cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu về cách chơi chữ trong thơ
Hồ Xuân Hương Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn “Nghệ thuật chơi chữtrong thơ Hồ Xuân Hương” để nghiên cứu
Trang 82 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nói ở trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau: Tập hợp những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
Thống kê, phân loại đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương.Phân tích, xem xét những chức năng và hiệu quả sử dụng các đặc điểmngôn ngữ thông qua các tác phẩm thơ Hồ Xuân Hương Từ đó, rút ra nhữngnhận định có tính tổng kết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật chơi chữ trong thơ Nômtruyền tụng của Hồ Xuân Hương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Nôm
truyền tụng của Hồ Xuân Hương trong tập thơ: “Hồ Xuân Hương thơ và đời,
do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2016”.
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Thủ pháp thống kê, phân loại
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa lý luận
Tập hợp những vấn đề lý luận có liên quan đến đặc điểm ngôn ngữ.Củng cố những kiến thức các cách chơi chữ trong tiếng Việt nói chung vàtrong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng như một tài liệutham khảo cho việc học tập, nghiên cứu hay giảng dạy tiếng Việt trong nhàtrường Nghiên cứu còn góp phần khẳng định hiệu quả nghệ thuật của việc sửdụng đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Nôm truyền tụng của nữ sĩ Hồ XuânHương
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm hai chương: Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luậnChương 2 Cách chơi chữ trong thơ Hồ Xuân Hương
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lịch sử nghiên cứu
Trong đời sống của con người, ngôn ngữ có tầm quan trọng đặc biệt,chính vì vậy, nó đã được con người chú ý và nghiên cứu từ lâu Từ thời xaxưa, vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ đã được chú trọng
Lê Hoài Nam trong bài viết "Hồ Xuân Hương" in trong cuốn “Nghĩ vềthơ Hồ Xuân Hương”, Nhà xuất bản Giáo dục (1998) đã nhận xét: "XuânHương có vốn ngôn ngữ rất phong phú, rất chính xác, nhưng đồng thời cũngrất độc đáo Điều đó không phải chỉ chứng tỏ Hồ Xuân Hương nắm vữngngôn ngữ của dân tộc, mà còn biểu hiện cá tính mạnh mẽ của Xuân Hương
Có những tiếng như : hỏm hòm hom, trơ toen hoẻn, chín mõm mòm, đỏ lòmlom, sáng banh, trưa trật phải là người có bản lĩnh vững vàng như XuânHương mới có thể đưa vào văn học, nhất là vào thi ca được Nói chung thìngôn ngữ của Xuân Hương có một sức biểu hiện rất mạnh, bao giờ cũng xúctích, hình ảnh sinh động, nói như ngày xưa thì mỗi một tiếng là đắc một tiếng"[20,tr 172]
Nguyễn Đăng Na trong "Thơ Hồ Xuân Hương với văn học dân gian" introng cuốn “Hồ Xuân Hương về tác gia và tác phẩm”, Nhà xuất bản Giáo dục(2003) đã nhận xét: "Chủ nghĩa nhân đạo thù địch với chủ nghĩa cấm dục tôngiáo, thù địch với thói đạo đức giả đã khiến Xuân Hương đưa những cảmhứng dân gian không được giai cấp thống trị thừa nhận vào thơ chính thức
Đó cũng là nét riêng của Hồ Xuân Hương, bà tiếp tục tiếng cười dân gian mộtcách thành công Tuy nhiên văn học dân gian không phải là nguồn duy nhấttạo nên Hồ Xuân Hương" [19, tr.363]
Đỗ Lai Thúy trong bài viết "Đi tìm phong cách thơ Hồ Xuân Hương" introng cuốn “Hồ Xuân Hương”, Nxb Văn Nghệ TP HCM (1997) đã nhận xét
Trang 11như sau: " Thơ Hồ Xuân Hương có một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngônngữ khác lại Đọc thơ bà hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương phápthống kê, có thể chia ra những nét đặc biệt trong cách sử dụng ngôn từ "[26,tr 90].
Qua các công trình nghiên cứu trên đây, chúng ta thấy việc sử dụngngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương rất được quan tâm nghiên cứu Tuy
nhiên các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát, vì
vậy, trên cơ sở những tiền đề ấy, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài này Hivọng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi được góp thêm một tiếng nói trongviệc khẳng định tài năng và phong cách nghệ thuật của thi sĩ Hồ Xuân Hương
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Chơi chữ
Theo Từ điển tiếng Việt: “Chơi chữ là lợi dụng các hiện tượng đồng âm,
đa nghĩa… trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió,châm biếm, hài hước…) trong lời nói”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Chơi chữ còn gọi là “lộng ngữ”, là
“Một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giốngnhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trongcách hiểu, trong dòng liên tưởng của người đọc, người nghe” Các hình thứccủa lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần
âm, dùng từ đồng nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau…”
Ở cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, chơi chữ là biện pháp sử dụngngôn ngữ độc đáo của dân tộc Việt Người Việt tận dụng triệt để các điều kiện
âm thanh, chữ viết, các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa…để chơi chữ theonhiều kiểu cách nhau Điều đó thể hiện sự thông minh, sáng tạo của người
Trang 12Việt mặt khác cho thấy sự độc đáo của tiếng Việt trong hoạt động hành chức
đa dạng của mình
1.2.2 Khái quát về từ xét về mặt cấu tạo trong tiếng Việt
Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định,bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểucấu tạo nhất định, tất cả ứng với kiểu nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếngViệt và nhỏ nhất để tạo câu”
Cùng với đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm cấu tạo là một thành phần hìnhthức góp phần xác định từ và xác định nghĩa của từ Nhận thức tư cách từ vàđặc điểm cấu tạo của một tổ âm thanh:
- Nhận thức xem tổ hợp âm thanh đó đã đủ tư cách là từ hay chưa, hay
nó chỉ là một yếu tố cấu tạo từ, hay chỉ là một tổ hợp của hai hay ba từ
- Nếu đã là từ thì nó do những yếu tố nào tạo nên và được tạo ra theophương thức nào
Xét về cấu tạo, có thể phân loại từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức.Dựa vào phương thức cấu tạo từ, từ phức được chia thành từ ghép và từ láy
* Từ đơn
Từ đơn là từ được tạo thành từ phương thức từ hóa hình vị Căn cứ vào
số lượng âm tiết trong từ đơn để chia từ đơn thành hai loại Xét về mặt ýnghĩa: mỗi từ đơn mang nghĩa nhất định, riêng rẽ không lập thành một hệthống ngữ nghĩa như từ láy và từ ghép Do vậy, phải nhớ nghĩa của từng từriêng rẽ
Trang 13Đại bộ phận các từ đơn thuần Việt hay từ đã Việt hóa là từ đơn một âmtiết Các từ đơn một âm tiết tuy có số lượng không lớn song nó những đặctrưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt.
* Từ ghép
Từ ghép là từ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc một số hình vị táchbiệt, riêng rẽ và độc lập đối với nhau theo những quy tắc ngữ pháp, ngữ nghĩanhất định
a Từ ghép phân nghĩa: Những từ ghép này chiếm đại bộ phận những từghép trước đây được gọi là từ ghép chính phụ.Từ ghép phân nghĩa là những từghép được cấu tạo từ hai hình vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình
vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành nhữngloại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập đối với nhau và đôc lập với loại lớn
Các từ ghép phân nghĩa gồm những kiểu nhỏ:
- Các từ ghép phân nghĩa một chiều là những từ ghép chỉ có một hình
vị loại lớn
Ví dụ: Xe đạp, xe ô tô, cá chép, cá rô phi,…
- Các từ ghép phân nghĩa hai chiều là những từ ghép mà cả hai hình vịvừa có tính chất hình vị chỉ loại lớn vừa có tính chất phân nghĩa Căn cứ vàomỗi hình vị, các nhà nghiên cứu lập được những hệ thống nhỏ khác nhau
Ví dụ: Nhà văn, nhà báo, nhà làm phim, nhà khoa học, nhà nghiên cứu…
b Từ ghép hợp nghĩa: là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đókhông có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vịphân nghĩa Hai hình vị kết hợp với nhau để tạo nên một từ ghép hợp nghĩa
Trang 14phải cùng thuộc một phạm trù ngữ nghĩa và phải hoặc đồng nghĩa, hoặc tráinghĩa với nhau hoặc cùng chỉ những sự vật, hiện tượng,…
Các từ ghép hợp nghĩa chia thành ba trường hợp:
- Từ ghép hệ nghĩa tổng loại
Ví dụ: ếch nhái, hổ báo, đi lại, giảng dạy,…
- Từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại
Ví dụ: phố phường, chết chóc, viết lách,…
- Từ ghép hợp nghĩa bao gộp
Ví dụ: điện nước, thầy trò, vợ chồng, lắp đặt,…
c Từ ghép biệt lập: các từ ghép biệt lập mặc dù vẫn hình thành trênquan hệ cú pháp chính phụ hay đẳng lập, song tính hệ thống của chúng không
có Mỗi từ là một trường hợp riêng rẽ, không có những hình vị chỉ loại lớnchung với các từ khác, không phải là một loại nhỏ, một loại lớn
* Từ láy
Từ láy là những từ được lặp lại hoàn toàn hay bộ phận hình thức ngữ
âm của hình vị gốc với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biếnthanh (âm vực: cao và thấp; luật bằng trắc)
a Láy toàn bộ
- Láy toàn bộ, thanh điệu giữ nguyên, phụ âm cuối giữ nguyên
Ví dụ: đêm đêm, xinh xinh, xanh xanh,…
- Láy toàn bộ , thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, phụ âm cuối biến đổitheo nguyên tắc:
Ví dụ: đo đỏ, thăm thẳm, tôn tốt,…
Trang 15b Từ láy âm
- Các từ láy âm hình vị cơ sở ở trước gồm nhiều kiểu nhỏ hơn các từláy âm có hình vị cơ sở ở sau
Ví dụ: não nề, gân guốc, hơi hướng, tỉa tót,…
- Các từ láy âm hình vị cơ sở ở sau thường có vần của hình vị láy:
Ví dụ: tấm tức, xôn xao, lung lay,…
Cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại, tồn tại với tư cách mộtđơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ
Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các cụm từ cố định ít hay nhiềuđều có tính thành ngữ Trong các ngữ cố định, có nhiều ngữ có hình thức cấutạo như: “chuột sa chĩnh gạo”, “ đũa mốc chòi mâm son”, “chó ngáp phảiruồi”, “chim sa cá lặn”,
Cụm từ cố định có tính chất chặt, cố định không có nghĩa là chúngkhông biến đổi trong câu văn cụ thể Vì vậy, sự biến đổi của các ngữ cố định
đa dạng hơn, “tự do” hơn các biến thể của từ phức
Cụm từ cố định là một loại phương tiện, một loại biện pháp mà bất cứngôn ngữ nào cũng có nhằm khắc phụ một phần nào đó tính có hạn của các
Trang 16từ, tính không hàm súc, tính cô đọng của các phương tiện lời nói trong sự biểuvật và biểu thái.
Nhờ việc xác định các thành phần trung tâm của các cụm từ tự dotương đương mà chúng ta thấy có những “cụm từ cố định đồng nghĩa với một
từ đã có sẵn trong từ vựng và những ngữ cố định không đồng nghĩa với một
- Chạy long tóc gáy
Cụm từ cố định mà thành phần trung tâm là một từ, nhưng từ trung tâmkhông nằm sẵn trong ngữ phải được suy ra từ các từ trong ngữ thì cũng “đồngnghĩa nhưng không hiển nhiên với một từ có sẵn.”
Ví dụ: Đồng nghĩa với “Quyết liệt”:
- Một sống một chết
- Không đội trời chung
b Những cụm từ cố định mà thành phần trung tâm được suy ra khôngphải là một từ mà là một cụm từ thì không “đồng nghĩa với một từ sẵn có nàocả”
Ví dụ: Dậu đổ bìm leo, còn nước còn tát,
Sự đối chiếu trên cũng góp phần làm rõ những đặc điểm của ngữ cốđịnh về mặt ngữ nghĩa:
- Tính biểu trưng
Trang 17Trường nghĩa có cấu trúc nghĩa như: tính hệ thống, tính tầng bậc, tínhgiao thoa, hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa
- Tính tầng bậc (cấp loại, tôn ti)
- Tính giao thoa
Phân loại trường nghĩa:
- Trường nghĩa biểu vật
Ví dụ: trường nghĩa biểu vật “mắt”
+ Cấu tạo của mắt: mi, mí, lòng đen, con ngươi, giác mạc,…
+ Hình dáng của mắt: tròn, dài, lá răm, mắt lươn, ti hí,…
+ Màu sắc của mắt: đen, nâu, trắng, xanh, huyền,…
Trang 18+ Trạng thái của mắt: tinh, mờ, mù, lòa,…
+ Hoạt động của mắt: mở, nhắm, dương, trợn, nhìn, ngắm,…
- Trường nghĩa biểu niệm
Ví dụ: Trường biểu niệm: (hoạt động của con người) (với lửa) (làm cho
X thay đổi trạng thái), có thể xác lập được các trường nhỏ như:
+ Hoạt động làm chín thức ăn: nấu, nướng, đun, hun, …
+ Hoạt động tạo phát “lửa”: bật, nhen, nhóm, phóng hỏa,
+ Hoạt động giữ (duy trì) “lửa”: gầy, khêu, ủ, vun,…
+ Hoạt động kết thúc “lửa”: dập, tắt, cứu hỏa,…
- Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Ví dụ: trường tuyến tính của “lửa” là tập hợp tất cả những từ có thể kết
hợp ở trước và sau nó để tạo nên các sản phẩm lời nói: bật lửa đốt lá, lửa
cháy hầm hập, nhóm lửa nấu nước,
- Trường nghĩa liên tưởng
Ví dụ: Mặt trời (sáng, hành tinh, lặn, hoàng hôn, ấm, ban ngày, nắng,
vũ trụ, bình minh, buổi sáng,…)
1.2.4.2 Hiện tượng đồng nghĩa
Từ đồng nghĩa thường được hiểu là những từ có lớp nghĩa giống nhauhay gần giống nhau, nhưng quan niệm này thường bị phê phán về nhiều mặt.Thứ nhất, nó không tính tới một cách nghiêm túc hiện tượng nhiều nghĩa củacác từ Ngoài các trường hợp một nghĩa, hầu hết các từ nhiều nghĩa chỉ đồngnghĩa với nhau ở một hay vài nghĩa Thứ hai, do không phân biệt nghĩa biểuvật
Trang 19và nghĩa biểu niệm, định nghĩa này cũng không chỉ rõ được trong các từ đồngnghĩa thì nghĩa nào giống nhau là cơ bản, nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm?
Sự khác nhau về nghĩa biểu niệm bộc lộ đặc điểm rõ ràng trong cáctrường hợp đồng nghĩ lời nói Trong lời nói, các từ có thể hoàn toàn đồng nhất
về nghĩa biểu vật, nhưng trong ngôn ngữ, các từ khác nhau về nghĩa biểuniệm thì sẽ khác nhau về nghĩa biểu vật Ví dụ: Các từ chỉ sự ra đi của mộtcon người như: chết, bỏ mạng, từ trần, hạ thế, hy sinh, mất xác,… là các từđồng nghĩa nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm đồng thời, chúng còn khác
nhau về nghĩa biểu vật Chết từ chỉ chung cho sự hết sống của cả người và động vật Các từ còn lại chỉ dùng cho con người Từ trần từ dùng cho những lớp người có địa vị xã hội Qua đời dùng cho những người lớn tuổi, đúng tuổi,
già Bỏ mạng nói đến cái chết bất ngờ, chết bất đắc kì tử…
Định nghĩa về từ đồng nghĩa còn bị phê phán ở một phương diện nữa
nó chỉ dựa vào một tiêu chuẩn duy nhất là tiêu chuẩn nghĩa Các nhà nghiêncứu chủ trương: từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trongnhững ngôn cảnh giống nhau mà nghĩa chung của ngôn cảnh không thay đổi
về cơ bản Tuy vậy, định nghĩa vẫn không giải quyết được những rắc rối sau:Đầu tiên, có những từ đồng nghĩa thay thế cho nhau được trong ngôn cảnhgiống nhau mà nghĩa của ngôn cảnh không thay đổi Nhưng không phải tất
cả các từ đồng nghĩa đều có thể thay thế cho nhau trong cùng một ngôn cảnh.Thứ hai, có những từ thay thế được cho nhau không thay đổi về cơ bản songchúng không phải những từ đồng nghĩa
Như vậy, có thể tổng kết những nhận xét về từ đồng nghĩa như sau:
- Để xác định từ đồng nghĩa, phải sử dụng cả hai tiêu chí là nghĩa vàngôn cảnh tách rời
Trang 20- Chọn ra được các đơn vị đồng nghĩa trong hệ thống từ vựng của từngngôn ngữ một cách nhất quán.
- Giải thích một cách nhất quán những sự đồng nhất và khác biệt vềnghĩa của các đơn vị đồng nghĩa trong từng nhóm
* Phân loại
Căn cứ vào mức độ đồng nghĩa có thể phân chia như sau:
- Đồng nghĩa tuyệt đối: là những từ đồng nghĩa về nghĩa biểu niệm, ýnghĩa biểu vật, nghĩa biểu thái, chỉ khác nhau ở phạm vi sử dụng, về kết cấu
- Trường hợp biến thanh hay biến âm
- Từ và các ngữ cố định được cấu tạo với từ đó
- Những biến thể từ vựng của từ tạo ra những hiện tượng đồng nghĩabiểu thái
* Đặc điểm của hiện tượng đồng nghĩa trong tiếng Việt
Trang 21Chất lượng của các từ đồng nghĩa được đánh giá ở hai mặt: khu vực từvựng và các nét nghĩa đối lập Có thể nói, hầu như các khu vực từ vựng đều
có hiện tượng đồng nghĩa Hiện tượng đồng nghĩa là bằng chứng rất thuyếtphục về cái giàu, cái đẹp và cái trong sáng của ngôn ngữ Việt Ngôn ngữ sửdụng trong tác phẩm văn học phải thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng
Nó phải chính xác, gợi hình ảnh, có khả năng bộc lộ tình cảm, tâm trạng củacon người Hiện nay, các từ đồng nghĩa mới đang tiếp tục xuất hiện Nó làmcho tiếng Việt phong phú và giàu đẹp hơn
1.2.4.3 Hiện tượng trái nghĩa
Từ trái nghĩa là một “dạng quan hệ giữa các từ trong cùng một trường,cùng tính chất với hiện tượng nhiều nghĩa” Trái nghĩa là hiện tượng xuất hiệnkhi chúng ta phân hóa trường lớn thành các trường nhỏ đối lập và trái ngượcnhau Hiện tượng trái nghĩa là hiện tượng đồng loạt, không chỉ là hiện tượngchỉ giữa hai từ, Hiện tượng trái nghĩa không phải xảy ra đối với toàn bộ ýnghĩa của một từ, mà có tính chất bộ phận, tức là một nghĩa với từ này, mộtnghĩa kia trái nghĩa với từ khác
* Cấu tạo các đơn vị trái nghĩa
- Dùng những từ theo cấu tạo hoàn toàn khác nhau ( giàu – nghèo; cao– thấp, xinh - đẹp)
- Phương thức láy được dùng để tạo ra hàng loạt từ phức trái nghĩa từnhững từ đơn vốn trái nghĩa (may mắn – rủi ro; thẳng thắn – quanh co)
1.2.4.4 Hiện tượng đồng âm
Các đơn vị đồng âm là những đơn vị không có quan hệ đồng nhất vàđối lập về ngữ nghĩa với nhau Cũng giống các hiện tượng nhiều nghĩa, đồngnghĩa và trái nghĩa, hiện tượng đồng âm xuất hiện cả trong hệ thống ngôn ngữ,
Trang 22cả trong lời nói Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt xuất hiện nhiều trongnhững từ một âm tiết.
Hiện tượng đồng âm giảm dần khi các hình vị một âm tiết chúng ta tạo
ra các từ phức hai âm tiết trở lên Tạo ra từ phức là cách thức khắc phục hiệntượng đồng âm Từ đồng âm có thể xuất hiện do sự trùng hợp ngẫu nhiên vềngữ âm giữa một số từ Có thể xuất hiện do sự vay mượn , từ vay mượn đồng
âm với những từ đã có trước Những từ đồng âm này nghĩa khác hẳn nhau, rất
dễ phát hiện Điều khó là phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Có những
từ mà nghĩa chuyển biến đến một mức độ nào đấy thì tách thành hai, ba từđồng âm Về lí luận không nên tách hẳn hiện tượng đồng âm ra khỏi hiệntượng nhiều nghĩa
Xét trong hệ thống từ vựng có những mức độ đồng âm:
- Một hình thức ngữ âm, một nghĩa
- Một hình thức ngữ âm, nhiều nghĩa, nhưng hiện tượng nhiều nghĩa baogồm nghĩa biểu vật, biểu niệm và cả nghĩa ngữ pháp Tính đồng loạt khácao
- Một hình thức ngữ âm, nhiều nghĩa, hiện tượng nhiều nghĩa chỉ baogồm nghĩa biểu vật chứ không bao gồm nghĩa ngữ pháp
- Một hình thức ngữ âm, nhiều nghĩa, hiện tượng nhiều nghĩa chỉ baogồm nghĩa biểu vật, tính cùng hướng không rõ ràng
- Một hình thức ngữ âm, nhiều nghĩa nhưng không có tính hàng loạt,không nhận ra cơ chế, tính nhiều nghĩa hoàn toàn cá biệt
1.3 Vài nét về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, bàsống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Xuân Hương được mệnh
Trang 23danh là “ Bà chúa thơ Nôm” và được coi là một trong những nhà thơ xuất sắccủa văn học trung đại Việt Nam.
Thân thế và sự nghiệp Hồ Xuân Hương đến thời điểm hiện tại cònnhiều điều chưa được sáng tỏ Không biết chính xác năm sinh, năm mất của
bà, chỉ biết được bà sống trong thời kì Lê mạt Nguyễn Sơ – một giai đoạn vớinhững biến động lịch sử quan trọng Vào giai đoạn đó, cũng có nhiều nhữngnhà thơ, nhà văn lớn như Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ Theo nhiều tài liệunghiên cứu thì Hồ Xuân Hương là con của Hồ Phi Diễn, quê ở làng QuỳnhĐôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Nữ sĩ Xuân Hương xuất thân trong một gia đình phong kiến đã suy tànnhưng vẫn có thời ấu thơ êm đềm ở Cổ Nguyệt đường ven Hồ Tây – chốnphồn hoa đô thị lúc bấy giờ Bà gặp gỡ nhiều với nhân dân lao động nghèo vàđặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức, bóc lột trong xã hội Xuân Hương
là một người thông minh, có học thức và quan hệ rộng rãi với các nhà văn,nhà thơ lúc bấy giờ Là một phụ nữ tài hoa nhưng trái lại bà có đường tìnhduyên gặp nhiều trắc trở, bất hạnh Lấy chồng muộn, qua hai đời chồng đềulàm lẽ nhưng đều ngắn duyên và không có hạnh phúc
Những tác phẩm của Hồ Xuân Hương không chỉ có giá trị sâu sắc vềmặt nội dung mà còn thể hiện phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo Thơ HồXuân Hương chán chứa tình yêu gia đình, quê hương, đất nước Tuy nhiên,nét đặc sắc nhất làm nên tên tuổi của Hồ Xuân Hương đó là những bài thơviết về những người phụ nữ có số phận bất hạnh, chìm nổi, bấp bênh trong xãhội phong kiến Phải chăng viết về cuộc đời họ cũng chính là viết về cuộc đờinhà thơ Thơ Hồ Xuân Hương là sự kết hợp giữa sự hóm hỉnh sâu cay, nỗiđau cuộc đời và sự ngạo nghễ trong tinh thần Đọc thơ của bà, độc giả cảmnhận được sự táo bạo với nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo và những nét văn
Trang 24hóa dân gian thú vị Các bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt hoặcthất ngôn bát cú với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị.
Nữ sĩ Xuân Hương sinh ra trong giai đoạn nước ta có nhiều biến cố lớntrong lịch sử phong kiến Sử dụng lối nói dân gian, chất liệu dân gian nên thơNôm của bà tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa chất bác học và chất bình dân.Sáng tác thơ văn, Hồ Xuân Hương muốn khẳng định vai trò của người phụ nữtrong xã hội và chống lại chế độ phong kiến suy thoái
Những sáng tác của Hồ Xuân Hương có những đóng góp to lớn nêu lênvấn đề về quyền sống và phẩm hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, nói lêntiếng nói chống lại những hủ tục phong kiến lạc hậu Tiếng nói mạnh mẽ vàđầy cá tính ấy sẽ mãi vang vọng nhờ giá trị lịch sử và nhân văn của nó
Với lối thơ tự nhiên, giản dị, gần gũi với đời sống hằng ngày phù hợpvới quần chúng nhân dân lao động Lời thơ Xuân Hương không cầu kỳ, chauchuốt mà vẫn thướt tha, nhẹ nhàng thổi vào lòng độc giả những cung bậc cảmxúc riêng
Trong ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, bên cạnh tiếng cười vui vẻ, sựlạc quan, thách thức, hơn nữa còn cả tiếng thở dài ngậm ngùi, đau xót về thânphận “bảy nổi ba chìm”, của số kiếp hẩm hiu, bạc bẽo của người phụ nữ trong
xã hội bấy giờ Cái “tục” trong thơ Xuân Hương đôi khi là hai mặt, nó vừaphản ánh hiện thực của cuộc đời vừa cái “tục” theo nghĩa phồn thực
Cấu trúc chung của câu thơ Hồ Xuân Hương là những câu ca dao, tụcngữ được đặt tinh tế nên rất tự nhiên, đồng thời sử dụng nhiều hình thức như:
từ láy, chơi chữ, nói lái, đồng nghĩa, đồng âm… một cách nhuần nhuyễn tạothành một khối chung, thống nhất, mang lại giá trị truyền đạt cao, tạo dấu ấnsâu đậm trong lòng độc giả
Trang 25Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và
cơ sở lý thuyết bao gồm các mục: chơi chữ, khái quát về từ xét về mặt cấu tạotrong tiếng Việt, cụm từ cố định, các quan hệ ngữ nghĩa Các phần được chiathành các mục nhỏ, trình bày những vấn đề lý thuyết về nghệ thuật chơi chữ
Ngoài ra, trong chương 1 chúng tôi cũng trình bày khái quát về thân thế
và sự nghiệp của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Đọc thơ Hồ Xuân Hương đọc giảcảm nhận được tài năng và sự độc đáo Một con người “độc đáo” cả về tínhcách, con người lẫn thơ văn Điều làm nên sự đặc biệt của bà chúa thơ Nômchính là đặc trưng ngôn từ, nghệ thuật chơi chữ đặc sắc trong thơ Hồ XuânHương Thơ Hồ Xuân Hương luôn giữ vị trí đặc biệt trong lòng người đọc,làm rung động, tạo ấn tượng với biết bao thế hệ, một “chất thơ dungdị” dễ hiểu, dễ nhớ và mang đậm chất liệu dân gian
Đây là cơ sở lý luận để chúng tôi triển khai đề tài này
Trang 26CHƯƠNG 2 CÁCH CHƠI CHỮ TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
Nghệ thuật chơi chữ của Hồ Xuân Hương qua thơ rất đa dạng, tuynhiên, trong khuôn khổ của nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào một sốcách chơi chữ như: dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ láy, chuyển nghĩa,chuyển trường nghĩa, đảo trật tự cú pháp, kết hợp từ bất thường, sử dụngthành ngữ, tục ngữ nguyên trạng và không nguyên trạng, dùng khẩu ngữ Sauđây là nội dung chi tiết của từng cách chơi chữ của bà
2.1 Dùng từ láy
Đọc thơ Hồ Xuân Hương, ta thấy ngôn ngữ trong thơ bà giản dị gần vớilời ăn tiếng nói của nhân dân Trong thơ, phần lớn bà dùng ngôn ngữ bìnhdân, rất ít sử dụng ngôn ngữ Hán Việt Thơ bà mang đậm yếu tố thuần Việt,gần với ngôn ngữ quần chúng mộc mạc, chất phác, không khoa trương, bóngbẩy Theo Hoàng Văn Hành: “Từ láy là những từ được cấu tạo bằng cáchnhân đôi tiếng gốc theo những quy tác nhất định, sao cho quan hệ giữa cáctiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giátrị tượng trưng hóa” Sử dụng từ láy được xem như một yếu tố của biện phápchơi chữ Bởi vì, từ láy tạo ra nghĩa sắc thái hóa nghĩa của hình vị gốc.Chính vì thế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu cách sử dụng từ láy của HồXuân Hương để thấy được nét độc đáo trong phong cách thơ của bà
Khảo sát trong phần “Thơ Nôm truyền tụng” ta thấy có đến 161 từ láy
Để thể hiện hình dáng và trạng thái tính chất sự vật, Hồ Xuân Hương chủ yếu
sử dụng phương diện từ láy Đây là các bộ phận từ láy thể hiện được đặc điểm
sự vật, có giá trị biểu cảm cao Từ láy mà Hồ Xuân Hương dùng thường cósắc thái riêng Nó được sử dụng phổ biến trong dân gian nói chung và đi vào
Trang 27trong thơ của Xuân Hương nói riêng Đưa từ láy vào trong thơ làm giảm đitính công thức ước lệ, tăng tính biểu cảm, mang đậm tính dân tộc và góp phầnthể hiện dấu ấn riêng của tác giả Từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương có tácdụng bộc lộ tình cảm, cảm xúc thể hiện, mang đậm cá tính của nữ sĩ Xét ví
dụ trong bài “Đánh đu” chứng minh:
“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng, Người thì lên đánh kẻ ngồi trông, Trai co gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song”.
Hồ Xuân Hương miêu tả trò chơi đánh đu rất thú vị và khéo léo Đọc
bài thơ, độc giả cảm nhận Xuân Hương miêu tả rất khéo, khiên ta có thể hìnhdung toàn cảnh và cận cảnh Nào là cách dựng cột đu, cảnh chơi đu, hay cáchchơi đu của người xưa đều được nhà thơ gợi tả chi tiết Nữ sĩ sử dụng các từ
láy đôi ám chỉ như: “khéo khéo”, “khom khom”, “ngửa ngửa”, “phới phới”,
“song song” tạo nên dáng vẻ đăng đối, lặp đi lặp lại, trẻ trung sôi động của
một trò chơi dân gian ngày tết không tốn kém, ai ai cũng có thể chơi được…Không chỉ mang lớp nghĩa tả thực, việc sử dụng hàng loạt các cặp từ láy giúpbài mang những nét nghĩa khác Xưa nay, người ta thường không nhắc đếnlớp nghĩa ấy vì cho là nó là thấp kém, là dung tục Không ai đọc thơ dở nhiềulần, nhưng thơ của Xuân Hương đọc đi đọc lại không chán, thỉnh thoảng đọclại vẫn có sự hứng thú, cảm xúc nguyên vẹn ban đầu Một bài toán, khi có lờigiải sẽ không còn sự hấp dẫn, thơ của Xuân Hương giống như những bài toán,mỗi người có một cách giải riêng, và cứ như thế từ đời này qua đời khác, thơ
Trang 28của bà lại có những nét nghĩa mơi được khơi gợi, tạo sự hứng thú, trí tượngtượng của độc giả
Chơi đu có thể chơi một mình, người nam với người nam hoặc người
nữ với người nữ, không nhất thiết phải chơi đôi nam nữ, nhưng một trai mộtgái chơi mới thực sự dũng cảm, khỏe khoắn Chàng trai nhún chân tạo đà đuthì cô gái đứng đối diện trong tư thế nắm chặt tay, chân duỗi thẳng, đón chờ
độ cao bay bổng Đến nhịp hai, khi độ cao giảm lần này đến lượt cô gái nhún,chàng trai chờ đón Cảnh tượng hiện lên nhịp nhàng, mềm mại, đôi lứa xứngđôi ung dung, nhẹ nhàng Vào ngày xuân, đôi nam nữ bay trên không trung,cùng vui đùa, trò chuyện, đó là một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, tươi đẹp
Thơ Hồ Xuân Hương đọc lên, suy ngẫm, chúng ta thấy nó không chỉmang một nét nghĩa gốc, bao giờ thơ của bà cũng mang nét nghĩa chuyển.Chơi đi có nét nghĩa khác là tính “động giao” Sự chuyển động nhịp nhàngcủa trò chơi cũng là sự chuyển động lên trên, xuống dưới trong cách giao hợpcủa con trai và con gái Nó là sự trao đổi, luân chuyển sự giao hòa nam nữmang nghĩa phồn thực Tả cảnh chơi đu và từng bước chuyển động, gammàu sắc, hòa cùng không khí của mùa xuân mới, hòa quyện cùng trời đất vàlòng người
Bài thơi “Đánh đu” gợi lên những hình tượng đặc sắc, với cách dùng từ
đôi nghĩa như “trồng” (chỉ người chồng) Các từ láy đôi ám chỉ như: “khéo
khéo”, “khom khom”, “ngửa ngửa”, “phới phới”, “song song” tạo cho bài
thơ một nét nghĩa khác Đó chính là “biểu tượng của tính phồn thực” trongthơ Hồ Xuân Hương và trong nền “văn hóa tín ngưỡng của dân gian” Tínhphồn thực có những khoảng thời gian bị chìm khuất nhưng nó luôn tồn tạikhông bao giờ bị mất đi Đó là nguồn cảm hứng bất tận của nền thi ca ViệtNam nói riêng và cả nhân loại nói riêng
Trang 29Tài năng của Xuân Hương là bắt được và tả được những điểm gặp gỡ,nét giống nhau của những sự vật, sự việc, giữa cái thanh và cái tục Thơ củaXuân Hương giảng trong nhà trường, hay trên sách vở, vì những lý do tế nhịngười ta chỉ nói về cái thanh, nhưng để hiểu sâu sắc, để cười, để thấm thì phảihiểu thêm những nét nghĩa chuyển, lớp nghĩa “tục” Tính phồn thực hiện lênkhá rõ nét, đó là tín ngưỡng dân gian của dân tộc Việt Đọc những vần thơnày, ai cũng thấy khát khao của nhân vật trữ tình về một tình yêu thể xác Nhucầu về cuộc sống bản năng là một nhu cầu chân chính về con người Mặc nỗi,
xã hội phong kiến phủ nhận nó, cho nên con người mới có phản ứng lại HồXuân Hương miêu tả chân thực cái thứ bản năng ấy, nhưng khi đọc thơ bà độcgiả lại cảm thấy không hề tục tĩu trái lại rất thú vị và thông minh
Trong những sáng tác của Hồ Xuân Hương nói chung và trong bài thơ
“Đánh đu” nói riêng có một cái gì đó “lạ” nội dung thơ muốn nói đến cái nàyđồng thời lại muốn nói đến một hàm nghĩa khác nói đến chuyện riêng trongbuồng kín của vợ chồng Hai lớp nghĩa trong thơ của bà không phải là tình
cờ mà là một dụng ý nghệ thuật Hồ Xuân Hương là một nhà thơ sắc sảo, tàihoa nhưng ngang trái bà luôn bị chèn ép về mọi phương diện: tinh thần, tìnhcảm, cuộc sống bản năng… điều đó làm cho bà vừa phẫn nộ, vừa khao khátmột điều gì đó cháy bỏng Lễ giáo phong kiến và tập tục hang nghìn đời tróibuộc, dần dần họ quen với sự chịu đựng, nhẫn nhục, không còn dám ý thức vềkhao khát chính đáng ấy Đọc câu thơ trong bài “Đánh đu”:
“Trai co gối hạc khom khom cật Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới, Hai hàng chân ngọc duỗi song song”.
Trang 30độc giả thấy cái khát khao của nhà thơ về một tình yêu vật chất, tình yêu thểxác của con người Nhu cầu sinh lý là nhu cầu tất yếu nhưng xã hội phongkiến không chấp nhận nó, nghệ thuật quyết định chủ yếu không phải ở đề tài,
mà ở những gì nó đem lại Hồ Xuân Hương nói nhiều đến dục vọng thể xác,nhưng cách bà thể hiện lại rất lành mạnh , khỏe khoắn, đưa vào trong thơ mộtcách tự nhiên Tác phẩm của Xuân Hương là nghệ thuật chân chính nênkhông thể so sánh với những sáng tác khiêu dâm
Có thể xem thêm một vài cách dùng từ láy khác của Xuân Hương:
“Cửa hàng con đỏ loét tùm hum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu”
Hay:
“Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ, Sau giận vì duyên để mõm mòm”
( Tự tình II )
Trang 31Hồ Xuân Hương sử dụng từ duyên “mõm mòm” chính là duyên đã giàcủa những người đã quá lứa, lỡ thì Nếu hiểu sâu về cuộc đời của XuânHương, từ “mõm mòm” đã thể hiện những éo le, cay đắng mà nhà thơ từnggánh chịu: tình duyên đứt gánh khi còn trẻ, lấy chồng muộn, chẳng may lấyhai chồng đều làm lẽ và cả hai lần đều trở thành góa bụa Cách dùng từ
“mõm mòm” để chỉ duyên phận vừa thể hiện sự phẫn uất vừa bộc lộ nỗi niềmchua chát của tác giả
Thi sĩ Hồ Xuân Hương rất sáng tạo bà sử dụng từ láy ba trong thơ củamình để tạo nên nhưng ấn tượng riêng, độc đáo và thú vị
“Đàn gảy đâu sinh túng tính tình Sóng dây mà buộc khéo rằng xinh”
Sử dụng láy ba âm tiết, câu thơ của Hồ Xuân Hương mang sức biểu cảm cao.Độc giả cảm nhận thấy tiếng đàn như thêm phần đặc biệt Tiếng đàn “túngtính tình” trong bài “Đàn gảy” gợi âm thanh nhẹ nhàng du dưa, đi vào lòngngười Ở bài “Bà Lang khóc chồng”, Xuân Hương sử dụng từ láy ba “tỉ tì ti”,gợi lên tiếng khó thảm thiết, đau đớn của người phụ nữ bị mất chồng Ngườiphụ nữ trẻ, mất chồng rồi cuộc đời sẽ trôi dạt về đâu
Trang 32Xét trong một ví dụ khác, Hồ Xuân Hương viết:
“Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm, Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.”
(Động Hương tích)
Để diễn tả độ sâu Xuân Hương dùng từ láy ba “hỏm hòm hom” trongbài Động Hương Tích Từ này vừa diễn tả được cái vòm tròn, sâu hun hút,vừa cho thấy cả chiều rộng lẫn chiều cao của hang động Đây là một dạnghình ống nhưng không thuôn đuột mà gãy khúc, lắt léo, lởm chởm, không dễkhám phá Như thế mới kích thích trí tò mò của con người Một từ thôi mà cóthể diễn đạt được các chiều của không gian
Có thể nói Hồ Xuân Hương sử dụng từ láy mang nhiều biểu hiện sắcthái khác nhau chẳng hạn như: biểu hiện âm thanh (Phì phạch, thánh thót,long bong, văng vẳng, tỉ ti, lõm bõm…); biểu hiện màu sắc, hình ảnh (phauphau, om om, leo lẻo, xù xì, dòng dòng, khom khom, tẻo tèo teo, hỏm hòmhom…); biểu hiện hành động, trạng thái, tính chất (xâu xâu, nâng niu, ngóngoáy, mân mó, thích thích, lâng lâng, khéo khéo, xơ xác, hắt heo, bùi ngùi,ngẩn ngơ, rầu rĩ…)
Như vậy, qua những dẫn chứng vừa chứng minh trên đây, chúng tanhận thấy giá trị biểu đạt mà từ láy mang lại là rất lớn Điều đó phần nào thểhiện được nội dung, mục đích, hàm mà tác giả muốn chuyển tải đến ngườiđọc để từ đó người đọc có được cái nhìn bao quát hơn, sâu sắc hơn đối với tácphẩm mà họ được tiếp cận Đọc thơ Hồ Xuân Hương, độc giả luôn cảm thấyđặc biệt vì bà sử dụng nhiều từ láy Lý giả điều này, một phần đó là thứ ngônngữ được sử dụng nhiều trong thơ ca dân tộc, đồng thời từ láy mang lại giá trịbiểu đạt cao Nghĩa của từ láy rất phong phú, lấp lửng, đa nghĩa phù hợp với