Tiếng Việt cũng vì thế mà được con ngườitạo ra rất nhiều từ mới để đáp ứng nhu cầu được diễn đạt và bày tỏ cảm xúc.Nhờ hiện tượng chuyển nghĩa của từ cùng các cách thức định danh như:phư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TRẦN THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG THỦY VÀ ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TRẦN THỊ THÚY
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG THỦY VÀ ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN THẠO
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Đặc điểm định danh các phương tiện giao thông đường thủy vàđường hàng không trong tiếng Việt” là nội dung em chọn để nghiên cứu vàlàm luận văn tốt nghiệp sau bốn năm theo học chương trình đại học ngành Sưphạm Ngữ văn tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này, lời đầutiên em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Thạo thuộcKhoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Thầy đã trực tiếp chỉbảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luậnnày Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2, lãnh đạo và các thầy cô đang công tác tại Khoa, những người
đã trang bị cho em những kiến thức đầu tiên, cơ bản để có thể hoàn thành mộtcách tốt nhất khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi,động viên tôi hoàn thành khóa học Trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Tác giả khóa luận
Trần Thị Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu củariêng tôi, không trùng lặp với bất kỳ khóa luận hay đề tài nghiên cứu khác.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Trần Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của khóa luận 3
6 Bố cục của khóa luận 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH TÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Nghiên cứu về phương tiện giao thông 4
1.1.2 Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt 4
1.2 Phương tiện giao thông, phương tiện giao thông đường thủy và phương tiện giao thông đường hàng không 6
1.2.1 Phương tiện giao thông 6
1.2.2 Phương tiện giao thông đường thủy 6
1.2.3 Phương tiện giao thông đường hàng không 8
1.3 Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ 8
1.3.1 Định danh trong ngôn ngữ 8
1.3.2 Cơ sở định danh trong ngôn ngữ 10
Tiểu kết chương 1 17
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CHẾ ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY TRONG TIẾNG VIỆT 18
2.1 Khái quát các mô hình định danh phương tiện giao thông đường thủy trong tiếng Việt 18
2.2 Các mô hình định danh 24
2.2.1 Mô hình định danh đơn 24
Trang 62.2.2 Mô hình định danh phức hợp 32
2.3 Phân tích trường hợp về cơ chế định danh 33
2.3.1 Cơ chế định danh theo phương thức ẩn dụ 33
2.3.2 Cơ chế định danh theo phương thức hoán dụ 35
2.3.3 Cơ chế định danh theo cả phương thức ẩn dụ và hoán dụ 39
Tiểu kết chương 2 42
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CHẾ ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TRONG TIẾNG VIỆT 43
3.1 Khái quát các mô hình định danh phương tiện giao thông đường hàng không trong tiếng Việt 43
3.2 Các mô hình định danh 47
3.2.1 Các mô hình định danh đơn 47
3.2.2 Mô hình định danh phức hợp 51
3.3 Phân tích trường hợp về cơ chế định danh 53
3.3.1 Cơ chế định danh theo phương thức ẩn dụ 53
3.3.2 Cơ chế định danh theo phương thức hoán dụ 54
3.3.3 Cơ chế định danh theo cả phương thức ẩn dụ và hoán dụ 57
Tiểu kết chương 3 59
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp tên gọi các phương tiện đường thủy theo mô hình
đơn … 18
Bảng 2.2 Tổng hợp tên gọi theo mô hình phức hợp 19
Bảng 2.3 Tổng hợp tên gọi phương tiện giao thông đường thủy 20
Bảng 3.1 Tổng hợp tên gọi theo mô hình định danh đơn 43
Bảng 3.2 Tổng hợp tên gọi theo mô hình định danh phức hợp 43 Bảng 3.3 Tổng hợp tên gọi phương tiện giao thông đường hàng không 44
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngôn ngữ là một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển của xã hộiloài người Với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh chóng, ngôn ngữgiao tiếp ngày càng được mở rộng Tiếng Việt cũng vì thế mà được con ngườitạo ra rất nhiều từ mới để đáp ứng nhu cầu được diễn đạt và bày tỏ cảm xúc.Nhờ hiện tượng chuyển nghĩa của từ cùng các cách thức định danh như:phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ đã tạo ra một kho tàng từ vựngmới nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp của người Việt Tên gọi các phương tiệngiao thông cũng nhờ đó mà được mở rộng và rất đa dạng Giao thông ViệtNam những năm gần đây rất phát triển, đặc biệt là giao thông đường thủy vàđường hàng không Ngoài các phương tiện giao thông cũ thì hàng loạt cácphương tiện giao thông mới ra đời kéo theo nhu cầu gọi tên các sự vật mới
Đa số, trong giao tiếp, chúng ta chỉ biết đến các phương tiện giao thông màkhông hiểu được nguồn gốc và ngữ nghĩa cũng như cách thức gọi tên chúng.Tên gọi các phương tiện giao thông đường thủy và đường hàng không cũngđược định danh theo những cơ chế như những sự vật hiện tượng khác trongtiếng Việt Bài khóa luận này, chúng ta sẽ phần nào hiểu rõ hơn tại sao lại cónhững tên gọi phương tiện giao thông đường thủy và đường hàng không
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Ở khóa luận này, chúng tôi nhằm hướng đến một số mục đích:
- Giúp người đọc thấy được đầy đủ các tên gọi của các phương tiện giaothông đường thủy và đường hàng không
- Giúp người đọc có thể hiểu rõ hơn về nguồn gốc tên gọi và cách thức gọi tên của hai loại phương tiện giao thông trên
- Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy tiếng Việt ở nhà trường phổ thông
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê và phân loại tên gọi của hai loại phương tiện giaothông này
- Vận dụng các kiến thức tiếng Việt như: hiện tượng chuyển nghĩa, cáchthức định danh để giải thích các tên gọi
- Rút ra những kết luận cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu một cách hệ thống về tên gọihai loại phương tiện giao thông: đường thủy và đường hàng không Số lượngkhảo sát sẽ được thống kê, phân loại đầy đủ, rõ ràng và đi vào giải thíchnhững tên gọi tiêu biểu cho từng loại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng rất nhiều nguồn thông tin trên sách báo và mạnginternet để tìm kiếm, thống kê tên gọi các phương tiện giao thông đường thủy
và đường hàng không
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi sử dụngchủ yếu một số phương pháp nghiên cứu sau
4.1 Các phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Phương pháp phân tích thành tố ngữ nghĩa
Đây là phương pháp pháp làm cơ sở để phân tích hiện tượng chuyểnnghĩa và từ nhiều nghĩa Đồng thời nó cũng làm cơ sở để phân tích ý nghĩacủa những tên gọi phương tiện giao thông đường thủy và đường hàng khôngtrong tiếng pháp làm cơ sở để phân tích hiện tượng chuyển nghĩa và từ nhiềunghĩa Đồng thời nó cũng làm cơ sở để phân tích ý nghĩa của những tên gọiphương tiện giao thông đường thủy và đường hàng không trong tiếng Việt
4.1.2 Phương pháp miêu tả
Trang 10Đây là phương pháp làm cơ sở để phân tích hiện tượng chuyển nghĩa và
từ nhiều nghĩa Đồng thời nó cũng làm cơ sở để phân tích ý nghĩa của nhữngtên gọi phương tiện giao thông đường thủy và đường hàng không trong tiếngViệt
Ngoài ra, bên cạnh các phương pháp nghiên cứu kể trên, chúng tôi còn
sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp nghiên cứu trường hợp,phương pháp phân tích ngữ cảnh… để giải quyết các vấn đề của khóa luận
4.2 Thủ pháp nghiên cứu
Trong bài khóa luận này, chúng tôi sử dụng thủ pháp thống kê, phânloại Đây là thủ pháp quan trọng góp phần cho sự thành công của khóa luậnnày Thủ pháp giúp xác định số lượng và tỉ lệ tên gọi các phương tiện giaothông đường thủy và đường hàng không trong tiếng Việt
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận này đã đem đến những kết quả khảo sát mới và chính xác vềcác tên gọi cũng như đặc điểm cơ chế gọi tên của phương tiện giao thôngđường thủy và đường hàng không trong tiếng Việt
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, khóa luậngồm có các chương
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CHẾ ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆNGIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY TRONG TIẾNG VIỆT
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CHẾ ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆNGIAO THÔNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TRONG TIẾNG VIỆT
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH TÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về phương tiện giao thông
Trên mạng Internet có rất nhiều thông tin về các phương tiện giaothông như trang Wikipedia, thể loại phương tiện giao thông đã giới thiệu hàngloạt các phương tiện giao thông với đặc điểm, tính năng cơ bản đầy đủ Trangnày giới thiệu các phương tiện của các ngành giao thông đường bộ, đường sắt,đường thủy, đường hàng không… [11]
Trong bài “ Tổng quan về các phương tiện vận tải thủy”, Lê Hạnh đãkhái quát về một số phương tiện vận tải đường thủy Tác giả cũng phân biệttên gọi và chức năng, mục đích sử dụng của chúng.[12]
Bài viết “Vận tải đường thủy là gì? Các loại giao thông đường thủy.”
đã trả lời cho độc giả những câu hỏi: Vận tải đường thủy là gì? Các loại giaothông đường thủy là gì? Phương tiện vận tải đường thủy là gì? Loại phươngtiện vận tải đường biển phổ biến? [13]
Bài viết của Hoàng Linh đăng trên Zing.vn nói về “Lý dó khiến máybay vẫn là phương tiện an toàn cao” [14]
Các tác giả trên đều đề cập đến về vấn đề giao thông ở nước ta hiệnnay
1.1.2 Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt
Trong công trình nghiên cứu “Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy”, Nguyễn Đức Tồn đã nêu lí thuyết về định danh ngôn ngữ và đặctrưng văn hóa – dân tộc của định danh ngôn ngữ Đồng thời ông cũng tìmhiểu cụ thể đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ qua một số
Trang 12[4] Đây là công trình nghiên cứu theo hướng lí thuyết thuộc lĩnh vực tâm língôn ngữ học tộc người Công trình đó đã thu hút rất nhiều sự quan tâm củacác nhà ngôn ngữ học.
Nguyễn Thúy Khanh có bài viết “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩatên gọi động vật.” [5]
Nguyễn Thúy Hảo có bài viết: “Đặc điểm định danh của tên gọi cácloài chim trong tiếng Hán và tiếng Việt.” [6]
Lê Thị Thanh Huyền có bài viết “Đặc điểm tri nhận của người Việt quatrường từ vựng chim chóc.” [7]
Việc nghiên cứu lý thuyết định danh, nghĩa của từ và các phương thứcchuyển nghĩa của từ đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu Ở ViệtNam, nghiên cứu chuyên sâu và kĩ lưỡng nhất về vấn đề này có Đỗ Hữu Châutrong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” [2] và cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học
từ vựng” [1]
Đỗ Hữu Châu thì lại cho rằng định danh có vai trò quan trọng trongquá trình tư duy của con người Tác giả miêu tả rất cụ thể quá trình địnhdanh trong tiếng Việt Ông cũng giải thích chi tiết về các phương thứcchuyển nghĩa trong tiếng Việt đó là phương thức ẩn dụ và phương thứchoán dụ Không những vậy, tác giả còn chỉ ra và so sánh với một số ngônngữ khác trên thế giới Ông chỉ ra rằng “có nhiều ẩn dụ và hoán dụ có tínhquốc tế, nghĩa là có mặt trong nhiều ngôn ngữ” [2,155] Trong tiếng Việt, ẩn
dụ và hoán dụ xuất hiện rất nhiều và được hình thành bằng các cách thức và
cơ chế khác nhau
Tất cả các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã nêu ở trên đều đã đềcập tới vấn đề định danh Tuy nhiên chưa có nhà nghiên cứu nào tìm hiểu vềđặc điểm định danh các phương tiện giao thông đường thủy và đường hàngkhông trong tiếng Việt
Trang 131.2 Phương tiện giao thông, phương tiện giao thông đường thủy và
phương tiện giao thông đường hàng không.
1.2.1 Phương tiện giao thông
Theo từ điển thì “phương tiện là vật sử dụng để làm một việc, đạt mộtmục đích”, “giao thông là việc đi lại giữa người với người” [3]
Vậy phương tiện giao thông là sử dụng những vật để di chuyển, vậnchuyển hàng hóa từ nơi này sang nơi khác Nhờ có các phương tiện giaothông mà đời sống của con người ngày càng tăng cao Nhu cầu đi lại, vậnchuyển hàng hóa là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hiện đại Phương tiệngiao thông cũng là yếu tố quan trọng giúp con người đi lên một tầm cao mới,giúp rút ngắn thời gian, khoảng cách để có thể qua lại, trao đổi với nhau tất cảnhững gì mà người ta muốn
Phương tiện giao thông ở Việt Nam rất đa dạng Mỗi ngành nghề khácnhau lại có những phương tiện khác nhau Mỗi ngành giao thông vận tải khácnhau lại có những phương tiện khác nhau Mỗi phương tiện ở mỗi ngành lạiphục vụ từng mục đích, chức năng khác nhau Chính vì vậy mà cách đặt tênphương tiện giao thông cũng khác nhau Phải đặt tên chúng khác nhau là bởi
lẽ còn phân biệt với những phương tiện còn lại Cơ sở hạ tầng ngành giaothông ngày càng được mở rộng kéo theo các phương tiện giao thông xuất hiệnrất nhiều về cả chủng loại, chất lượng và mẫu mã
1.2.2 Phương tiện giao thông đường thủy
Giao thông đường thủy ra đời khá sớm trên thế giới nói chung và ở ViệtNam nói riêng Bởi nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc lại có đường bờbiển chạy dài nên giao thông đường thủy cũng rất phát triển Ngày nay, giaothông đường thủy phát triển hiện đại phục vụ cho các nhu cầu của con người
từ vận chuyển hàng hóa đến du lịch, thám hiểm Khác với thời xưa, ngàynay có rất nhiều các phương tiện giao thông đường thủy với nhiều tính năng
Trang 14tham gia giao thông trên mặt nước Có thể kể đến các phương tiện giaothông đường thủy như: tàu, bè, thuyền, phà,… Vậy phương tiện giao thôngđường thủy là gì?
Phương tiện giao thông đường thủy là loại phương tiện dùng để dichuyển trên mặt nước Các phương tiện giao thông đường thủy cũng đượcchia làm hai loại lớn: phương tiện giao thông đường thủy nội địa và phươngtiện giao thông đường biển
Phương tiện giao thông đường thủy nội địa là những phương tiện giaothông hoạt động trên sông, ngòi, kênh, rạch, hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven
bờ biển, ra đảo, nối các đảo được tổ chức quản lí và khai thác giao thôngvận tải thuộc nội thủy ở nước ta Hay nói cách khác, phương tiện thủy nộiđịa là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động
cơ, chuyên hoạt động trên đường thủy nội địa
Phương tiện giao thông đường biển là những phương tiện giao thônghoạt động trên biển chủ yếu là chuyên chở hàng hóa và phục vụ du lịch.Thường thì các phương tiện hoạt động trên biển hoạt động với động cơ côngsuất lớn Ngày nay, ngành vận tải biển rất phát triển bởi có rất nhiềuphương tiện giao thông đường biển ra đời với công nghệ chế tạo kĩ thuậtcao, máy móc rất hiện đại
Cũng chính từ nhu cầu tham gia giao thông và vận chuyển hàng hóa màcác phương tiện giao thông đường thủy xuất hiện đa dạng kéo theo việc đặt
và gọi tên cho chúng cũng phát sinh Bài khóa luận này, chúng tôi sẽ tậptrung việc khảo sát và thống kê, đồng thời phân tích cơ chế gọi tên cácphương tiện giao thông đường thủy trong tiếng Việt để có thể hiểu rõ hơn vềcác tên gọi mà chúng ta thường dùng
Trang 151.2.3 Phương tiện giao thông đường hàng không
Phương tiện giao thông đường hàng không là những phương tiệngồm máy bay, máy móc, khí cụ do con người chế tạo ra có thể bay đượctrong khí quyển
Dù là loại phương tiện giao thông ra đời khá muộn nhưng các phươngtiện giao thông đường hàng không đã mở ra một kỉ nguyên mới cho cuộc sốngcon người Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại từ nơi này sang nơi khác mộtcách nhanh chóng, thuận tiện mà còn là phương tiện giúp con người vậnchuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế giữa các nơi trên thế giới Hàng loạt những
“chiến binh trên không” ra đời với những đặc điểm và mục đích sử dụng khácnhau Từ đó các tên gọi của chúng cũng khác nhau để phân biệt Vậy tên gọicủa chúng được đặt bằng cách nào thì trong bài khóa luận này chúng ta sẽcùng đi tìm hiểu
1.3 Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ
1.3.1 Định danh trong ngôn ngữ
Con người luôn luôn có xu hướng và nhu cầu muốn được gọi tên các sựvật, hiện tượng xung quanh mình hay nói cách khác là sử dụng cách địnhdanh đối với tất cả những thứ trong thế giới khách quan Cách con người địnhdanh sự vật hiện tượng không chỉ là nhu cầu được gọi tên sự vật, hiện tượng
mà còn thể hiện khả năng tư duy trong đời sống xã hội Hiện nay, nghiên cứu
về định danh phát triển vô cùng mạnh mẽ theo hướng đa liên ngành để có mộtcái nhìn tổng thể và rõ ràng nhất về nó
Thuật ngữ định danh được rất nhiều nhà nghiên cứu hiểu khác nhau.Theo G.V.Cosanski, ông quan niệm định danh là “sự cố định (hay gắn) chomột kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm (significant) phản ánh cácđặc trưng của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệcủa các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các
Trang 16Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” của Nguyễn Như Ý địnhnghĩa: “Định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng đểgọi tên, chia tách thành các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hìnhthành khái niệm tương ứng trong hình thức từ, tổ hợp từ, thành ngữ và câu.”[8,89]
Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” của Viện ngôn ngữ học Liên
Xô năm 1990, định danh là “việc tổ chức các đơn vị ngôn ngữ mang chứcnăng định danh, có nghĩa là phục vụ cho việc gọi tên và phân chia các khúcđoạn hiện thực và sự hình thành của những khái niệm tương ứng trong hìnhthức từ, tổ hợp từ, thành ngữ và câu.” [10]
Nguồn gốc của từ “định danh” là từ tiếng La tinh, nghĩa là “tên gọi”.Định danh được hiểu đơn giản là một chức năng gọi tên sự vật, hiện tượngcủa đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, đó là từ Nó biểu thị kết quả của quá trìnhgọi tên, là chức năng của đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ Nó gọi tên những đốitượng, thuộc tính hoặc những hoạt động cụ thể như: ghế, đi, thấp, cao…; gọitên những hiện tượng trừu tượng không có hình dạng, thuộc tính hay hoạtđộng cụ thể nhưng có tính khách quan như: đã, sẽ, đang…; và cũng có thể gọitên những hoạt động đặc biệt có tính chủ quan như: ừ, nhỉ, nhé Định danhđược coi là một tiêu chí để xác định từ “Tên gọi đã làm cho sự vật, hiệntượng trở nên “cá tính” trong tư duy của con người Vì thế, một sự vật hiệntượng thực sự trở thành một sự vật, hiện tượng được nhận thức, được tư duykhi nó được định danh Và cũng chính các tên gọi làm cho tư duy trở nên rànhmạch, sáng sủa” [1, 99] Do đó, đơn vị định danh không chỉ có từ mà còn cócụm từ (ngữ) hoặc câu, tuy nhiên đối tượng định danh của các đơn vị này làkhác nhau Nếu như chức năng của từ là để định danh sự vật, hiện tượng thìchức năng của câu luôn tồn tại ở dạng tiềm ẩn và câu thì có chức năng địnhdanh một ngữ cảnh
Trang 17Định danh hay gọi tên sự vật cũng cần phải có một số yêu cầu nhấtđịnh: Thứ nhất, đó phải là tên gọi khái quát, trừu tượng, mất đi khả năng gợiđến những đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng vì nó làsản phầm của tư duy trừu tượng Về mặt ngữ nghĩa, tên gọi đó phải tách hẳnvới những dấu vết của giai đoạn cảm tính Thứ hai, tên gọi đó phải là tên gọi
có thể phân biệt được đối tượng này với đối tượng kia trong cùng một loạihay phân biệt các loại nhỏ trong một loại lớn Sự phân biệt này cũng phải rõràng, có nghĩa là khi đã có tên gọi thì sự vật loại nhỏ cũng trở thành riêng rẽ
và độc lập với nhau “Tên gọi làm cho sự vật sống độc lập trong tư duy”[1,190] Nói cách khác, khi định danh nói chung cần phải lựa chọn những đặctrưng nổi bật, có giá trị khu biệt cao Tuy nhiên, một số trường hợp có sự vậthiện tượng không có đặc trưng và nổi bật nhưng vẫn có giá trị cao trong địnhdanh có thể khu biệt được với sự vật, hiện tượng khác
Định danh có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con người.Việc con người định danh được sự vật hiện tượng chứng tỏ sự nhận thức và tưduy về thế giới là một quá trình Khi đã định danh được sự vật hiện tượng,con người đã có thể chiếm lĩnh được nó trong toàn bộ nhận thức của mình vàchỉ có con người mới đặt tên được cho sự vật hiện tượng khách quan mà thôi.Việc định danh còn giúp chúng ta hiểu hơn và hệ thống hơn được về ngônngữ của chính dân tộc mình Đồng thời, qua cách định danh, mỗi dân tộc lạihình thành cho mình một vốn văn hóa, lịch sử và tư duy độc đáo khác nhau.Chính vì thế mà qua lớp ngôn ngữ trong cách định danh, con người có thể lưugiữ được nếp nghĩ, nếp sống và văn hóa… của dân tộc mình
1.3.2 Cơ sở định danh trong ngôn ngữ
1.3.2.1 Định danh theo phương thức ẩn dụ
Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật Avốn là tên gọi của x (tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn
Trang 18và y giống nhau Trong trường hợp này, x và y không có liên hệ khách quan,chúng thuộc những phạm trù khác hoàn toàn nhau Sự chuyển tên gọi diễn ratùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giốngnhau giữa chúng [2,155-156]
Xét trong mối quan hệ giữa sự vật chính và sự vật nhận tên gọi ẩn dụ
mà có ẩn dụ cụ thể - cụ thể, cụ thể - trừu tượng Cụ thể ở đây là những sự vậtcảm nhận được bằng giác quan, còn trừu tượng là những sự vật không thểcảm nhận được bằng giác quan Trường hợp ẩn dụ cụ thể - cụ thể như: chântay (bộ phận cơ thể người) với chân bàn, chân ghế, chân núi, chân tường…
Ẩn dụ cụ thể - trừu tượng như: khối kiến thức, đập tan luận điệu xảo trá, nắmđược nội dung cốt lõi…
Một số cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ thường thấy:
- Dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật mà ta có ẩn dụhình thức Ví dụ như: chân, mặt, mũi… là những từ chỉ bộ phận con ngườinhưng lại để gọi các sự vật có hình thức tương đồng như: chân tường, chânnúi, mặt bàn, mũi thuyền…
- Dựa trên sự giống nhau về vị trí giữa các sự vật mà có ẩn dụ vị trí Ví
dụ như: ruột bút, lòng sông, ngọn núi… không phải vì những sự vật này cóhình dáng giống như sự vật chính mà là vì chúng có vị trí tương quan với các
sự vật khác: so với vỏ bút, con sông, chân núi)
- Dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động,hiện tượng mà ta có ẩn dụ cách thức Vận dụng cách thức nắm, cắt một sự vậthiện tượng cụ thể nào đó mà ta chuyển nó thành các ẩn dụ “nắm bắt tìnhhình”, “cắt hộ khẩu”
- Dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật mà ta cũng cócác trường hợp ẩn dụ như: từ “bến” trong “bến sông, bến đò” giống với “bến
xe, bến tàu” về chức năng đầu mối giao thông chứ không giống về vị trí hayhình dáng
Trang 19- Dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật đối với con người,
ta có ẩn dụ kết quả Đặc biệt đó là loại ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giácthuộc giác quan này để gọi tên những cảm giác của các giác quan khác haynhững cảm giác trí tuệ, tình cảm Ví dụ như những từ “chua, ngọt, mặn,cay…” là những từ được cảm nhận bằng vị giác nhưng lại được dùng để gọitên những cảm giác khác như: nói ngọt, giọng chua loét, nhìn mặn mà…
Sự phân loại các ẩn dụ trên không phải bao giờ cũng đồng nhất, táchbạch Có khi trong một trường hợp ẩn dụ thì không phải chỉ một mà có một sốnét nghĩa cùng tác động Nắm được cơ chế các nét nghĩa là điều quan trọng vàcần thiết để hiểu sâu sắc ý nghĩa của từ
1.3.2.2 Định danh theo phương thức hoán dụ
Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật Avốn là tên gọi của x (x là nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức hoán dụ làlấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế Mối liên
hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức củacon người Do vậy, các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ.[2,155-156]
Các cơ chế của phương thức hoán dụ:
- Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận – toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu vật
x và y; x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận Trong cơ chế nàyđược phân tách ra làm các dạng nhỏ như sau:
Thứ nhất, lấy tên gọi của bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể Ví dụ nhưcác từ: chân, tay, miệng… được dùng để gọi cho toàn bộ cơ thể, cho mộtngười: có chân trong đội tuyển, một tay sát thủ, mấy miệng ăn…
Thứ hai, lấy tên gọi của tiếng kêu, của đặc điểm hình dáng để gọi tên con vật Ví dụ như: tú hú, tắc kè, con mèo… có tiếng kêu giống như tên gọicủa chúng
Thứ ba, lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ để gọi đơn vị thời gian Ví
dụ như gọi: xuân, hạ, thu, đông là dùng để chỉ một năm
Trang 20Thứ tư, lấy tên gọi của một số nhỏ để chỉ một số lớn, không đếm hết;hoặc lấy tên gọi của một số cụ thể để chỉ một số không xác định Ví dụnhư: trăm năm bia đá thì mòn, nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa… đều
là một số lớn, nhiều hơn chúng gấp bội
Tiếng Việt thường có cách nói phổ biến là lấy tên gọi của loại lớn đểchỉ sự vật cá thể loại nhỏ Như ví dụ sau: “Bố mua cho con chiếc xe mớiđấy” thì người con sẽ lập tức hiểu mình được mua chiếc “xe đạp”
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa tức là tên gọi của vậtchứa được dùng để chỉ những cái nằm trong nó Hoán dụ theo cơ chế này cótính đồng loạt rất cao Ví dụ như “Cả làng cùng reo hò, cả thành phố nhộnnhịp” thì “cả làng, cả thành phố” bao chứa những người trong làng và thànhphố đó
- Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo từnguyên liệu Ví dụ như: thau, đồng… là những chất liệu kim loại, hợp kimnhưng lại để chỉ đồ vật: cái thau, đồng tiền
- Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng Ví dụnhư khi nói “cây bút hiện thực nhân đạo” cũng có nghĩa là đang nói đến một
“nhà văn” hoặc “một quả bóng vàng” thì tương đương với “một cầu thủ đábóng”
- Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề nghĩa là tên các dụng
cụ được gọi thay thế cho tên các ngành nghề
- Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng Ví dụnhư khi nhắc đến “con tim” là nhắc đến tình cảm, đến “đầu” là nhắc đến “lítrí”…
- Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng vật chất được chứa đựng
Ví dụ như: ba bồ thóc, một tủ sách, một trang trại gà…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tưthế Ở đây, tên gọi các tư thế quan sát được dùng để chỉ các hành vi hoặc
Trang 21trạng thái sinh lí, tâm lí đi kèm với chúng Ví dụ như khi nói: nhắm mắt xuôitay, tắt thở… là nói đến cái chết, ngẩng cao đầu là nói đến sự hiên ngang, bấtkhuất…
- Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác nghĩa là dùng nhữngtiếng động do hoạt động gây ra để gọi tên động tác đó Ví dụ như “bịch” làđấm vào ngực, “bi bô” là trẻ con nói, “đùng đùng đoàng đoàng” là tiếngsấm…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm được tạo ra dohoạt động đó
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ Ở trường hợpnày, tên gọi của hoạt động dùng để gọi tên công cụ Ví dụ như: cuốc – cáicuốc, mài – hòn đá mài, cắt – con dao cắt…
- Hoán dụ dựa vào động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất.Trường hợp này, cả hai từ đều là động từ Ví dụ như: “đóng bàn” là hoạtđộng làm ra cái bàn, “đẽo cày” là hoạt động làm ra cái cày…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa nguyên liệu và hoạt động dùng nguyênliệu đó Ví dụ như “muối dưa”, “thịt gà”…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ sự vật và màu sắc Trong những hoán dụnày, tên gọi của sự vật mang màu sắc được chuyển nghĩa gọi tên các màu sắc
Ví dụ như : màu da cam, da trời, nước biển, rêu, xanh khói…
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật
Ví dụ như: “chất xám” biểu thị cho “năng lực, trí tuệ”, “chất cay” nói đến
“rượu”…
Hoán dụ xuất hiện rất nhiều trong đời sống hằng ngày và là phươngthức chủ yếu trong cách định danh ngôn ngữ của người Việt Vì chúng tathường hay định danh sự vật hiện tượng bằng tên gọi có liên quan với nhautrong thực tế
Trang 221.3.2.3 Định danh theo cả phương thức ẩn dụ và hoán dụ
Trong tiếng Việt, có rất nhiều tên gọi theo cơ chế ẩn dụ và hoán dụ Bàikhóa luận này chúng tôi chỉ trình bày những phương thức ẩn dụ và hoán dụthường gặp Tuy nhiên, do nhu cầu giao tiếp, gọi tên sự vật hiện tượng quálớn mà các từ mới được tạo ra một cách liên tục Ngay trong bản thân một từcũng chứa đựng cả phương thức ẩn dụ lẫn hoán dụ Ví dụ như trường hợp của
từ “màn” trong tiếng Việt, nó có các nghĩa như sau: 1 Là tấm vải rộng dùng
để che chắn; 2 Vải thưa khâu để chống muỗi; 3 Phần của vở kịch, vởtuồng…; 4 Một cảnh đời hài hước (màn xung đột của hai người) Như vậy,trong cách giải thích các nghĩa trên thì nghĩa số 1 là nghĩa vốn có mà conngười gọi tên sự vật, nghĩa số 2, 3 là nghĩa hoán dụ, nghĩa số 4 là nghĩa ẩn dụ
Ẩn dụ và hoán dụ là sự chuyển biến từ ý nghĩa biểu vật này sang ýnghĩa biểu vật khác Hai phương thức này có mặt trong nhiều ngôn ngữ trênthế giới bởi sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng là những sự thật kháchquan, tồn tại trong cuộc sống, ngoài sự chủ quan của con người Tuy nhiêncũng có thể ẩn dụ và hoán dụ không bị chi phối hoàn toàn bởi sự vật và hiệntượng khách quan mà nó chỉ là cơ sở cho ẩn dụ và hoán dụ mà thôi Các từcùng một phạm vi biểu vật thì thường có các nghĩa phụ ẩn dụ hay hoán dụcùng hướng như nhau Hiện tượng chuyển nghĩa (ẩn dụ và hoán dụ) của ngônngữ không phải là những hiện tượng ngẫu nhiên, chỉ bị chi phối bởi quy luậtnhận thức mà trước hết là những hiện tượng ngôn ngữ Chính vì vậy các nghĩachuyển (ẩn dụ và hoán dụ) và nói rộng ra các nghĩa chuyển của từ mới có tínhdân tộc sâu sắc Chúng vừa là kết quả của cách tiếp cận thực tế của dân tộc,vừa là kết quả của những quy luật điều khiển sự tạo nghĩa mới cho từ Mỗiphương thức chuyển nghĩa có những cơ chế chuyển nghĩa riêng rất đa dạng
Trang 23Tuy nhiên, không phải tất cả các hiện tượng chuyển biến ý nghĩa đều cóthể giải thích bằng hai phương thức trên Bởi từ vựng là một hệ thống bị chiphối bởi những quy luật chung và riêng, cho nên ý nghĩa của từ có thể chuyểnbiến do tác động của các quy luật đó Ví dụ, quy luật đồng nghĩa hóa là mộttrong những quy luật chi phối sự biến đổi của từ vựng tiếng Việt Hoặc hiệntượng chuyển nghĩa do sự “cảm nhiễm” nghĩa của ngữ cảnh,…
Trang 24Giao thông là mối quan tâm đặc biệt của xã hội con người và phươngtiện giao thông là bộ phận của nó Ngành giao thông đường thủy và hàngkhông là hai ngành giao thông đã và đang có đà phát triển rất mạnh ở ViệtNam Trong đời sống, chúng ta chỉ quen gọi tên sự vật hiện tượng mà hầu hếtkhông hiểu rõ về những tên gọi đó Bài khóa luận này, chúng tôi sẽ phần nàogiúp bạn đọc hiểu hơn về các tên gọi phương tiện giao thông đường thủy vàđường hàng không.
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ CƠ CHẾ ĐỊNH DANH CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY TRONG TIẾNG VIỆT
2.1 Khái quát các mô hình định danh phương tiện giao thông đường thủy trong tiếng Việt
Ở chương này, chúng tôi thống kê được tất cả 224 tên gọi bao gồm địnhdanh theo mô hình đơn có 17 kiểu, mô hình phức có 8 kiểu Số lượng tên gọiđược chúng tôi thống kê trong các bảng sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp tên gọi các phương tiện đường thủy theo mô hình đơn
Trang 2616 Theo phương thức chế tạo 2 1.0
Bảng 2.2 Tổng hợp tên gọi các phương tiện giao thông đường thủy theo mô hình phức hợp
kích thước
4
+ hoạt động 2 + nguyên liệu
hoạt động + tên riêng + phướng thức chế tạo
Trang 27Bảng 2.3 Tổng hợp tên gọi phương tiện giao thông đường thủy
Trên đây là ba bảng tổng hợp tên gọi các phương tiện giao thông đườngthủy trong tiếng Việt theo các tiêu chí khác nhau Kết quả khảo sát cũng phầnnào giúp chúng ta thấy được sự đa dạng và phát triển của ngành giao thôngđường thủy ở nước ta Đồng thời, chúng ta cũng thấy được cách nhận thức và
tư duy ngôn ngữ, văn hóa và khối óc sáng tạo của người Việt
Đối với mô hình định danh đơn, ta thấy có tất cả là 17 kiểu định danhvới 209 tên gọi các phương tiện giao thông đường thủy trong tiếng Việt
Thứ nhất, ta thấy kiểu định danh theo chức năng là cao nhất chiếm34.1% với 72 tên gọi khác nhau Điều này chứng tỏ một điều, người Việt có
xu hướng gọi tên sự vật hiện tượng bằng cách gọi theo chính chức năng của
sự vật, hiện tượng đó Sự vật, hiện tượng xung quanh con người là những thứ
vô hạn và không ngừng phát triển Chính vì vậy mà việc gọi tên chúng cũngcần được nhận thức, tư duy một cách lô gíc thì mới không bị nhầm lẫn, trùnglặp được Chúng ta rất quan trọng những giá trị hữu hình, trực tiếp để phục vụcho xã hội và chính mình Điều đó đã ăn sâu vào tư tưởng của người Việt,luôn đề cao và ưu tiên những giá trị cơ bản, thiết thực nhất cho cuộc sống.Mỗi sự vật, hiện tượng khi được con người tri nhận, qua quá trình sáng tạo vàtrải nghiệm, con người đã có thể nhận thức được sự vật hiện tượng đó có chứcnăng như thế nào đối với mình Vì thế mà mỗi sự vật hiện tượng đều có chứcnăng riêng cơ bản chính của chúng Con người dựa vào đó để phân biệt, gọitên sự vật hiện tượng cho phù hợp Thế nên, việc lấy ngay chính chức năngcủa chúng để gọi tên cho chúng là một điều đúng đắn và giúp việc nhận biết
Trang 28năng nghĩa là lấy chức năng chính, tiêu biểu nhất của sự vật, hiện tượng đểgọi tên đại diện cho toàn bộ sự vật hiện tượng đó Ví dụ như loại “tàu du lịch”mặc dù có thể có rất nhiều chức năng như: chở hàng, chở người, chở nguyênliệu… nhưng chức năng phục vụ trong tham quan du lịch là chức năng chínhcủa nó Đó là loại tàu được thiết kế và sản xuất với những trang thiết bị phùhợp với việc phục vụ con người di chuyển tới các nơi du lịch, nghỉ dưỡng.Hay như “du thuyền” là một loại thuyền có chức năng chuyên phục vụ conngười đi du ngoạn, du hành ở khắp nơi trên mặt biển Du thuyền được thiết kế
vô cùng xa hoa và sang trọng, phục vụ cho những người giàu có trong xã hội.Việc gọi tên sự vật hiện tượng cũng rất quan trọng Giá trị của sự vật hiệntượng cũng được thể hiện ở cách gọi tên chúng Ví dụ như “ghe hầu” là loạighe có chức năng để hầu hạ cho những người có quyền hành như cai tổng, triphủ, tri huyện thời trước Còn “ghe sai” là loại ghe dùng cho nha sai đi làmnhững việc mà quan trên sai bảo Chính vì thế mà giữa hai loại ghe này có sựkhác nhau về kiểu cách phương tiện “Ghe hầu” được trang trí đẹp mắt, sơnson thiếp vàng hơn so với “ghe sai” Nhìn vào mỗi phương tiện là người ta cóthể đoán được trên ghe là ai, chức tước như thế nào Cách định danh theochức năng giúp con người có thể lựa chọn cho chính mình những phương tiệnphù hợp với bản thân Điều đó có nghĩa là khi muốn tìm một loại phương tiện
có chức năng nào đó, con người chỉ cần gọi tên chức năng đó là có thể dễdàng có được một phương tiện mà không cần phải nhớ rõ ràng, chi tiết về nó
Đó là cách đơn giản nhất, thuận lợi nhất giúp con người giao tiếp, trao đổithông tin với nhau, nhất là trong xã hội hiện đại nhanh chóng mặt như ngàynay
Thứ hai, ta thấy kiểu định danh theo hình dáng có tỉ lệ khá cao 10% với
21 tên gọi Sở dĩ có tỉ lệ khá cao như vậy cũng là do đặc điểm của người Việttrong quá trình tri nhận Khi cảm nhận bất kì một sự vật, hiện tượng nào đóthì đầu tiên chúng ta thường dùng chính giác quan của mình để tri nhận
Trang 29Người Việt cũng có thói quen gọi tên sự vật hiện tượng khi chúng “đập ngayvào mắt” mình Vì thế các phương tiện giao thông cũng được chúng ta trinhận bằng giác quan mà chủ yếu là thị giác Định danh bằng hình dáng làcách định danh dùng thị giác nhìn tổng thể sự vật hiện tượng và đặt tên cho nótheo hình dáng tiêu biểu mà nó thể hiện Hình dáng cũng giúp con người phânbiệt được giá trị của phương tiện đó Ví dụ như khi nói tới “thuyền rồng” lànói tới chiếc thuyền xa hoa, lộng lẫy, sơn son thiếp vàng để chuyên chở vuaquan quyền quý trong xã hội xưa Ngày nay, dùng thuyền rồng để chở nhữngliền anh liền chị hát quan họ trên sông Và hình dáng của các sự vật hiệntượng rất được chú trọng, hay còn gọi là “mẫu mã” Mẫu mã càng đa dạng,càng bắt mắt thì càng đáp ứng được thị hiếu của người dùng.
Thứ ba, nhóm định danh theo phương thức kinh doanh, thương hiệunhãn hiệu, phiên chuyển từ tiếng nước ngoài và phương thức vận hành có tỉ lệtên gọi gần như nhau Một là, định danh theo phương thức kinh doanh có 15tên gọi chiếm 7.2%, điều đó cũng thể hiện ngành giao thông đường thủy nước
ta rất phát triển Người Việt không chỉ chú trọng phát triển các phương tiệntrong nước mà còn liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, thậm chí lànhập khẩu những phương tiện tân tiến để phục vụ cho cuộc sống Hai là, kiểuđịnh danh theo thương hiệu nhãn hiệu gồm 13 tên gọi chiếm 6.3% Kiểu địnhdanh này cũng khá phổ biến không chỉ các phương tiện giao thông đườngthủy mà còn xuất hiện mọi mặt trong lĩnh vực đời sống Có kiểu định danhnày cũng xuất phát từ thói quen, lối sống của người Việt Nam từ xa xưa Đó
là lối sống luôn ghi ơn những thành quả lao động mà người khác sáng tạo ra,đồng thời cũng là dấu ấn để tự khẳng định mình của chủ thể sáng tạo Ngàynay, cách gọi tên theo thương hiệu nhãn hiệu vô cùng được chú trọng, là mộtchiến lược quan trọng trong kinh doanh Ba là, kiểu định danh theo phiênchuyển từ tiếng nước ngoài Nhóm này cũng có 13 tên gọi chiếm 6.3% tổng
số Kiểu gọi tên này tuy không phổ biến nhưng cũng thể hiện sự vay mượn
Trang 30tiếng nước ngoài của Việt Nam để phân biệt các loại phương tiện giao thông.Đồng nghĩa với nó cũng là sự tiến bộ trong nhận thức vì luôn tiếp nhận thêmnhiều phương tiện khác từ nước ngoài Cuối cùng là phương thức vận hànhcũng được dùng để gọi tên các phương tiện Chúng tôi thống kê được 11 têngọi chiếm 5.3% trong kiểu định danh này Kiểu định danh này cũng giúpngười dùng có thể dễ dàng nhận biết và bước đầu biết được cách vận hànhphương tiện Cuối cùng
Còn lại, nhóm định danh dưới 5% là: theo đặc điểm kích thước cấu tạo(4.3%), hoạt động tác động vào vật (4.3%), chất liệu (3.8%), ghép hai tổngloại (3.8%), dùng phương ngữ và địa danh (3.3%), mức độ cũ mới và chấtlượng (3.3%), phạm vi hoạt động (2.9%), trang thiết bị (1.4%), nhận thức tâmlinh (1.4%), phương thức chế tạo (1.0%), môi trường hoạt động (1,0%).Nhóm này có số lượng tên gọi rất ít, không phổ biến bởi những đặc điểm địnhdanh đó của phương tiện không có nhiều, vì thế cũng được con người sử dụng
ít bởi sự bất tiện của nó
Mô hình định danh phức hợp gồm có 8 mô hình, trong đó loại mô hìnhthứ nhất, định danh theo: “Tên tổng loại (PTGTĐT) + chức năng + kíchthước” có số lượng cao nhất nhưng cũng chỉ có 4 tên gọi Loại mô hình nàythường không phổ biến trong cách gọi tên của người Việt nói riêng và conngười nói chung vì nó dài và khó nhớ
Giữa mô hình định danh đơn và mô hình định danh phức hợp, ta thấy
mô hình định danh đơn chiếm ưu thế hơn rất nhiều so với định danh phức.Nếu định danh đơn chiếm 93.3% với 209 tên gọi thì định danh phức hợpchiếm 6.7% với 15 tên gọi, gấp hơn 16 lần Điều đó cũng cho chúng ta thấyđược nhận thức, tư duy và sự sáng tạo lô gíc của người Việt Mô hình địnhdanh đơn là mô hình được sử dụng phổ biến trong thói quen gọi tên cácphương tiện giao thông đường thủy bởi sự ngắn gọn, tiện lợi chỉ gồm có hai
bộ phận: Tên tổng loại (PTGTĐT) với một bộ phận định danh nhất định nào
Trang 31đó Nó chỉ gồm một từ có hai đến ba âm tiết nhưng cũng chứa đựng được đầy
đủ nét đặc trưng tiêu biểu của một loại phương tiện Trong khi đó, mô hìnhđịnh danh phức thì gồm nhiều bộ phận hợp thành Nó không chỉ dài hơn môhình định danh đơn về số lượng từ, âm tiết mà ngay cả đặc trưng cũng cónhiều đặc trưng hơn khiến con người khó nhớ và nhận biết Tuy nhiên, xã hộingày càng phát triển thì kiểu định danh phức hợp sẽ càng được mở rộng Bởikhoa học kĩ thuật phát triển, mỗi ngày con người sẽ tìm ra thứ mới, và để nókhông bị lẫn trong rất rất nhiều tên gọi trước đó thì việc định danh chi tiết cụthể lại càng quan trọng Ví dụ như “tàu” là phương tiện giao thông có thể chởngười, hàng hóa nhưng ngày nay, để chuyên môn hóa một ngành nghề nào đó,người ta đã sản xuất ra rất nhiều loại tàu dùng vào các hoạt động khác nhau
Và vì thế mà có các loại tàu: tàu chở hàng, tàu chở khách, tàu chở nguyên vậtliệu… Một lí do nữa để cho chúng ta thấy mô hình định danh phức hợp cácphương tiện giao thông đường thủy sẽ phát triển là vì khi một phương tiệngiao thông mới ra đời, nhà sản xuất sẽ khoác cho nó một cái tên vỏ bọc thật
sự thu hút và hấp dẫn để có thể khiến cho thị hiếu khách hàng quan tâm,thuận lợi cho quảng cáo sản phẩm Mà tên sản phẩm sẽ là cái tên riêng biệt,không nhầm lẫn và đặc biệt phải có những tính năng thuận lợi cho ngườidùng Như vậy, giữa hàng ngàn sản phẩm, để sản phẩm của mình được nổibật, các nhà sản xuất đều đặt tên cho mình thật độc đáo, mà chỉ có thể têndài một chút mới mang được tính khu biệt cao trong hiện trạng quá nhiềusản phẩm như ngày nay
Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày kết quả nghiên cứu một cách cụ
thể:
2.2 Các mô hình định danh
2.2.1 Mô hình định danh đơn
2.2.1.1 Định danh theo chức năng
* Mô hình: Tên tổng loại hoặc loại (PTGTĐT) + chức năng
Trang 32* Mô hình này có tất cả 72 tên gọi, gồm: tàu chiến, tàu tuần dương, tàu theo dõi, tàu hộ vệ, tàu du lịch, tàu du hành, tàu hải quân, tàu kéo, tàu nghiên cứu, tàu chứa, tàu sân bay, tàu bảo vệ, tàu phá mìn, tàu đổ bộ, tàu quân sự, tàu chỉ huy, tàu quét mìn, tàu chiến tuyến, tàu tuần tiễu, tàu bảo tàng, tàu lai dắt, tàu dịch vụ - hỗ trợ, tàu lắp đặt dây cáp, tàu cho thuê, tàu hàng mã, tàu đánh cá, tàu chở hàng, tàu chở dầu, tàu chở khách, tàu chở nguyên vật liệu, tàu đánh bắt thủy hải sản, tàu tiếp nhiên liệu, tàu vượt đại dương, tàu cứu hỏa, tàu nạo vét lòng sông, tàu chở nước, tàu chở khí tự nhiên, tàu chở chất lỏng, tàu chở khí đốt hóa lỏng, tàu chở hóa chất, tàu chở gỗ, tàu chở hàng đông lạnh, tàu lặn biển, tàu phá băng, tàu chở máy bay,giàn khoan, thuyền chở khách, thuyền hàng mã, thuyền du lịch, du thuyền thể thao, thuyền cho thuê, thuyền đánh cá, bè chở gỗ, xuồng cứu sinh, xuồng cấp cứu, xuồng câu tôm, phao cứu sinh, xe lội nước, mô tô lướt sóng, ghe cào tôm, ghe cá, ghe chài, ghe hàng, ghe cửa, ghe hàng mã, ghe điệu, ghe hầu, ghe sai, ghe quyển, ghe lệ, ghe cho thuê, phà chở khách.
* Ví dụ:
“ Nhóm tấn công tàu sân bay US John C.Stennis đã gia nhập nhóm tàu
sân bay USS Abraham Lincoln ở Địa Trung Hải, tạo cơ hội duy nhất cho hainhóm tấn công hợp tác với các đồng minh và đối tác quan trọng trong khu vựchoạt động của Hạm đội 6 Mỹ", Sputnik News dẫn thông báo của Cơ quan Tintức Hài quân Mỹ cho biết.” [15]
“ Ngày xưa ngự thuyền giống một cái bè lớn mà trên đó là một lâu đàihay cung điện nhỏ Khi di chuyển được các con thuyền nhỏ (gọi là lê thuyền)hay ngựa chiến, buộc dây vào kéo đi Thuyền cung đình loại bé nhất (dànhcho Hoàng hậu) cũng phải cần đến 8 lê thuyền Mỗi đội lê thuyền thường gồm
khoảng 40 tay chèo Đội thuyền ngự đặc biệt của vua có nhiều chiếc, với các
chức năng khác nhau, tiêu biểu nhất là ngự thuyền “Tế Thông”- nơi vua tổchức hội họp và yến tiệc như kiểu một cung điện nổi trên sông Hương.” [16]
Trang 33be, ghe bè, ghe bầu, ghe lườn.
* Ví dụ:
“ Hiện tại trang trí thuyền rồng Quan họ hơi tùy tiện , cứ làm hình
tượng trang trí na ná như hình rồng là được Thuyền để trang trí đa phần làthuyền cải hoán từ các lọai thuyền nhỏ khác nhau Thuyền rồng Quan họ cũngnhư trang phục Quan họ chưa từng được nghiên cứu đến nơi , đến chốn cóchăng cũng chỉ mô phỏng.” [17]
“Rất đông họa sỹ đang có mặt tại xã biển Tam Thanh (Quảng Nam)
tình nguyện tham gia vẽ tranh trên các dụng cụ sinh hoạt, chủ yếu là thúng thuyền Đây là một trong những hoạt động thuộc dự án phát triển du lịch sinh
thái dựa vào cộng đồng tại xã Tam Thanh, TP Tam Kỳ, Quảng Nam.” [18]
2.2.1.3 Định danh theo phương thức kinh doanh
* Mô hình: Tên tổng loại hoặc loại (PTGTĐT) + phương thức kinh doanh
* Mô hình này có tất cả 15 tên gọi, gồm: tàu liên doanh, tàu nhập khẩu, tàu chính hãng, thuyền liên doanh, thuyền nhập khẩu, thuyền chính hãng, xuồng liên doanh, xuồng nhập khẩu, xuồng chính hãng, bè liên doanh, bè nhập khẩu,
bè chính hãng, phà liên doanh, phà nhập khẩu, phà chính hãng.
* Ví dụ:
“Căn cứ quyết định mua, bán, đóng mới tàu biển; hợp đồng mua, bán,đóng mới tàu biển; biên bản giao nhận tàu biển và văn bản xác nhận trạngthái kỹ thuật tàu biển của Cục Đăng kiểm Việt Nam sau khi thực hiện kiểm
Trang 34tra lần đầu đối với tàu biển nhập khẩu, cơ quan hải quan có trách nhiệm làmthủ tục
Trang 35xuất khẩu, nhập khẩu tàu biển Việc kiểm tra thực tế tàu biển xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện tại Việt Nam hoặc các địa điểm khác do Tổng cục
trưởng Tổng cục Hải quan quyết định”.[19]
2.2.1.4 Định danh theo phương thức vận hành
* Mô hình: Tên tổng loại hoặc loại (PTGTĐT) + phương thức vận hành
* Mô hình này có tất cả 11 tên gọi, gồm: cần cẩu nổi, xuồng máy, ghe máy,
đò máy, phà tự hành, mô tô nước, phà không tự hành, tàu buồm, thuyền buồm, xuồng cải tiến, ghe cải tiến.
* Ví dụ:
“ Nhân nói đến những sự nhũng nhiễu trên tàu thủy, người đàn ông
trạc năm mươi tuổi, mặc áo bông đoạn, đeo kinh trắng gọng vàng, trông ra vẻmột ông kí về hưu, nằm hút thuốc phiện trong phòng hạng ba cuả chiếc tàuchạy Hòn Gai, có kể cho tôi câu chuyện như sau.” [20]
2.2.1.5 Phiên chuyển từ tiếng nước ngoài
* Mô hình: Đối với kiểu định danh này không có một mô hình nhất định Nótùy thuộc vào cách gọi tên của người dùng Đôi khi là tên tổng loại đi liền với
từ phiên âm nhưng cũng có khi chỉ có từ phiên âm
* Mô hình này có tất cả 13 tên gọi, gồm:
Trang 3610 Cát-ta-ma-ran
Catamaran-tàu 2 thân (tiếng Anh)
- Sampan (Tiếng Pháp)
* Ví dụ:
“ Nắm bắt nhu cầu hiện tại, Công Ty Đại Thuận đã bước đầu triển khaitrang bị ca nô cao cấp phục vụ khách du lịch đến Nhất Tự Sơn, phương tiện
chính quy đầu tiên chính là ca nô Xuân Đài Bay – một phiên bản của mẫu
VTT-10 – được UNINSHIP hạ thủy ngày 9-7-2018.” [21]
“Sức chở của tàu công-te-nơ thường được thể hiện bằng số TEU có thể
xếp lên tàu (một TEU tương đương với số chỗ của một container tiêu chuẩn
có chiêu dài 20’, rộng 8’, và cao 8’6’’).” [22]
2.2.1.6 Định danh theo thương hiệu, nhãn hiệu
* Mô hình: Tên tổng loại hoặc loại (PTGTĐT) + thương hiệu, nhãn hiệu
* Mô hình này có tất cả 13 tên gọi, gồm: Tàu Sài Gòn, tàu Hạ Long, tàu Bạch Đằng, tàu Huyndai Vinashin, tàu Ba Son, tàu Việt Nam, ghe câu Phú Quốc, ghe cửa Phú Quốc, ghe Cần Thơ, ghe cửa Bà Rịa, ghe lưới rung Phước Hải, ghe Cửa Đại, ghe Cần Đước.
* Ví dụ:
“Xưởng đóng tàu Ba Son nằm trên ngã ba sông, nơi tiếp giáp giữa
sông Sài Gòn với rạch Thị Nghè, được lập ra từ năm 1790, dùng làm nơi đóng
và sửa chữa tàu, là di sản hàng hải lâu đời của Sài Gòn.” [23]
2.2.1.7 Định danh theo đặc điểm kích thước, cấu tạo
* Mô hình: Tên tổng loại hoặc loại (PTGTĐT) + kích thước, cấu tạo