1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ xét trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học

92 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vìnhững điều thú vị cũng như tầm quan trọng của ba loại câu trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ xét tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc

nhất tới giảng viên TS Đỗ Thị Hiên, người đã truyền cho em tình

yêu ngôn ngữ, đặc biệt tận tình gợi mở, định hướng và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo trong tổ Ngôn Ngữ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Hà Nội, ngày… Tháng … năm 2019

Sinh viên

Đỗ Thị Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới

sự hướng dẫn của cô Đỗ Thị Hiên Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực Những kết luận khoa học của khóa luận chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác.

Hà Nội, ngày… Tháng … năm 2019

Sinh viên

Đỗ Thị Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục của đề tài 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 9

1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu 9

1.1.1 Bình diện kết học 9

1.1.2 Bình diện nghĩa học 9

1.1.3 Bình diện dụng học 10

1.2 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt 11

1.2.1 Câu đặc biệt 11

1.2.2 Câu tỉnh lược 14

1.2.3 Câu tách biệt 18

1.3 Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ 21

1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp 21

1.3.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ 22

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRÊN BÌNH DIỆN KẾT HỌC 26

2.1 Câu đặc biệt trên bình diện kết học 26

2.1.1 Đặc điểm kết học của câu đặc biệt 26

2.1.2 Phân loại câu đặc biệt 26

2.2 Câu tỉnh lược trên bình diện kết học 32

Trang 6

2.2.1 Đặc điểm kết học của câu tỉnh lược 32

2.2.2 Phân loại câu tỉnh lược 33

2.3 Câu tách biệt trên bình diện kết học 37

2.3.1 Đặc điểm kết học của câu tách biệt 37

2.3.2 Phân loại câu tách biệt 37

Chương 3 CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRÊN BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC 42

3.1 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện nghĩa học 42

3.1.1 Câu đặc biệt trên bình diện nghĩa học 42

3.1.2 Câu tỉnh lược trên bình diện nghĩa học 43

3.1.3 Câu tách biệt trên bình diện nghĩa học 45

3.2 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện dụng học 46

3.2.1 Câu đặc biệt trên bình diện dụng học 46

3.2.2 Câu tỉnh lược trên bình diện dụng học 49

3.2.3 Câu tách biệt trên bình diện dụng học 51

3.3 So sánh ba kiểu câu trên ba bình diện 54

3.3.1 Sự giống nhau của ba kiểu câu 54

3.3.2 Sự khác nhau của ba kiểu câu 54

KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 8

Trong lĩnh vực ngôn ngữ, câu là đơn vị ngữ pháp quan trọng của phânmôn cú pháp học, là đơn vị có nội dung trọn vẹn để thực hiện chức năng giaotiếp và là phương tiện tạo lập văn bản Thường cấu trúc câu luôn có hai thànhphần chính đảm nhiệm: chủ ngữ (biểu thị đối tượng) và vị ngữ (biểu thị đặctrưng của đối tượng) Nhưng trên thực tế giao tiếp, nhất là trong các văn bản

mà còn xuất hiện các kiểu câu có cấu trúc “khác thường” Đó chính là câu đặcbiệt (CĐB), câu tỉnh lược (CTL) và câu tách biệt (CTB) và ba kiểu câu này đãđược rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Song vẫn chưa có sự thống nhấttrong cách lí giải Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt chiếm số lượnglớn trong giao tiếp hàng ngày và cả việc tạo văn bản Về lĩnh vực văn chương,các nhà văn, nhà thơ sử dụng những câu này không chỉ có chức năng thôngbáo mà còn dùng chúng như một thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm để tạonên những dấu ấn riêng trong các sáng tác của mình

Trong các nhà văn Việt Nam đương đại, Nguyễn Thị Thu Huệ (NTTH)

là một nhà văn “độc đáo và tài hoa” Nhà văn đã cho ra đời nhiều tác phẩm

hay, đặc sắc và gặt hái được rất nhiều thành công khi tuổi đời còn rất trẻ.NTTH nổi lên như một hiện tượng lạ, mới mẻ và hấp dẫn bạn đọc ở chínhtính nữ của mình, với giọng văn lạnh lùng, sắc cạnh nhưng chân thành vàchan chứa nỗi niềm cảm thông cho số phận con người

Điều này góp phần khẳng định tài năng và sức sáng tạo, sức viết củaNTTH trong việc phản ánh và tái hiện rất chân thực hiện thực đời sống trênnhững trang sách của mình Mỗi trang văn của NTTH đầy ắp những cảm xúctrữ tình, đằm thắm sâu lắng với giọng điệu rất đa dạng và những thủ phápnghệ thuật độc đáo, cách kể chuyện khéo léo, thu hút người đọc Tìm hiểutruyện ngắn của NTTH từ góc độ ngôn ngữ đang được rất nhiều nhà nghiên

Trang 9

cứu và phê bình quan tâm, bởi ở góc nhìn ngôn ngữ, NTTH có sự sáng tạotrong cách viết Trong đó, nổi bật là việc nhà văn sử dụng các kiểu câu đặcbiệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong các truyện ngắn của mình Chính vìnhững điều thú vị cũng như tầm quan trọng của ba loại câu trên mà chúng tôi

chọn đề tài: “Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học” để góp phần hiểu rõ hơn phong cách truyện ngắn của nữ nhà văn này.

Đồng thời việc tìm hiểu về các kiểu câu trong truyện ngắn NTTH có ý nghĩagóp thêm tư liệu đi sâu vào giảng dạy, học tập truyện ngắn Việt Nam sau1975

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt

2.1.1 Lịch sử nghiên cứu câu đặc biệt

giả nhấn mạnh đến câu đặc biệt vị từ

- Trong Câu tiếng Việt (2006) Nguyễn Thị Lương cho rằng: “Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ, mà chỉ được tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn

là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường” [13,105]

2.1.1.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học

Trang 10

Đinh Trọng Lạc trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (1994) đã đề cập đến câu đặc biệt với vai trò là một phương tiện tu từ cú pháp

nhằm đem lại màu sắc tu từ mới mẻ cho các văn bản

Trong Phong cách tiếng Việt (1999) câu đặc biệt được tác giả định nghĩa rõ nét hơn: “Câu đơn đặc biệt có cấu tạo là một trung tâm cú pháp chính, có ý nghĩa khái quát, chỉ sự tồn tại biểu hiện của sự vật hoặc sự kiện” Đồng thời, tác giả nhấn mạnh: “Có tác dụng tu từ to lớn là những câu đơn đặc biệt được mở rộng nhờ những định tố hàm chỉ biểu cảm – cảm xúc và được sắp xếp thành một chuỗi đẳng lập” [11, 274]

2.1.2 Lịch sử nghiên cứu câu tỉnh lược

2.1.2.1 Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1997) câu tỉnh lược được Nguyễn Kim Thản gọi là câu rút gọn và kết luận đó là loại câu “Có thể dựa vào hoàn cảnh ngôn ngữ mà điền vào đó thành phần đã bị bớt đi và khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của câu.” [19,610]

Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1989) của Hoàng Trọng Phiến cho rằng câu

tỉnh lược được hiểu là câu vắng chủ ngữ hoặc câu có chủ ngữ zero Tác giả

cho rằng đây là một hiện tượng chủ ngữ được rút gọn trong câu “Về mặt ý nghĩa thì câu có chủ ngữ rút gọn tương ứng với câu có chủ ngữ hiện hữu” Còn vị ngữ thì hiếm bị rút gọn hơn.” [17,115]

2.1.2.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học

Trong Phong cách học tiếng Việt (1999), Đinh Trọng Lạc cho rằng câu tỉnh lược thành phần là một “Kiểu câu mang màu sắc tu từ do được cải biến

từ kiểu câu cơ bản (có kết cấu C – V) theo phương thức rút gọn” [11,273]

2.1.3 Lịch sử nghiên cứu câu tách biệt

2.1.3.1 Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp

Trang 11

- Trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (1985), câu tách biệt được

Trần Ngọc Thêm gọi là ngữ trực thuộc Tác giả cho rằng: “Ngữ trực thuộc

là phát ngôn không hoàn chỉnh về cấu trúc” và không phải là những “câu đặc biệt”, hay những trường hợp “ngoại lệ” [20,47]

- Trong Ngữ pháp tiếng Việt (xuất bản lần dầu 1987, tái bản 2013), Diệp

Quang Ban có bàn đến hiện tượng câu tách biệt với tên gọi câu dưới bậc Tác

giả cho rằng:“Về thực chất, câu dưới bậc là một bộ phận của một câu trọn vẹn được tách ra vì những lí do nghệ thuật Câu dưới bậc không tồn tại một cách độc lập, nó chỉ có giá trị nghệ thuật và ý nghĩa hiểu được xét trong mối quan hệ với câu mà tứ đó nó được tách ra.” [1,278]

2.1.3.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt (NXB giáo dục Hà Nội - 1999) tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Tách biệt là biện pháp tu từ đặc trưng của

cú pháp biểu cảm, cụ thể là tách riêng một cách có dụng ý từ cấu trúc cú pháp thống nhất ra một hay nhiều bộ phận biệt lập về mặt ngữ điệu, tách xa nhau bằng một chỗ ngắt (trên chữ viết thì bằng dấu chấm hoặc một dấu tương đương)” [11,263]

Tác giả cũng khẳng định: “Có thể nói, tách biệt xuất hiện khá nhiều trong thơ và đem lại một tác dụng biểu cảm – cảm xúc khá lớn” [11, 264]

Đồng quan điểm nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thái Hòa trong cuốn

Phong cách học tiếng Việt cũng đã nhận xét: “Tách các thành phần câu, nâng các thành phần đó thành những câu, ngữ trực thuộc và câu dưới bậc là một biện pháp tu từ quan trọng” [8,243] Đồng thời, tác giả nhấn mạnh: “Phép tách câu là một biện pháp tu từ học với dụng ý tu từ học rõ rệt, hoặc là miêu

tả nhịp điệu diễn biến của hình tượng, hoặc miêu tả nhịp điệu cảm xúc”.

[8,244]

Trang 12

2.1.3.3 Nghiên cứu câu tách biệt ở góc độ thực hành các kĩ năng đặt câu

- Trong cuốn Tiếng Việt thực hành (xuất bản lần đầu 1996, tái bản 2008), Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Tách câu có nghĩa là tách một bộ phận của câu thành câu riêng biệt” [21,214]

- Trong cuốn Tiếng Việt thực hành (2007) của tác giả Hoàng Kim Ngọc trong phần nói về các cách biến đổi câu, nêu định nghĩa: “Tách câu có nghĩa

là một bộ phận của câu thành một câu độc lập nhằm mục đích làm nổi rõ một thông tin nào đó” [16,162]

Tác giả còn nêu điều kiện để nhận biết biện pháp tu từ tách câu đó là:

“Câu bị tách ra bao giờ cũng phải nằm sau một câu trọn vẹn nào đó”.

[5,163]

2.2 Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học

Người đầu tiên trên thế giới đề xuất ra ba thuật ngữ: kết học, nghĩa học

và dụng học là nhà ngôn ngữ người Mĩ Ch.S Perice nhưng phải đến Ch.WMorri, A.G Smith, ba thuật ngữ này mới được hoàn chỉnh và phổ biến Theo,

A.G Smith “Kết học nghiên cứu những quan hệ hình thức giữa các tín hiệu, nghĩa học nghiên cứu quan hệ tín hiệu với sự vật và dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người dùng” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [4,12]].

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng đã tiếp thu tư tưởng của ngữpháp chức năng để nghiên cứu câu

Trong cuốn Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng (xuất bản lần đầu

1991, tái bản 2004) Cao Xuân Hạo đã phân hóa và đưa ra cấu trúc cơ bản của

câu phải dựa trên quan hệ đề - thuyết

Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 1 (1993) Đỗ Hữu Châu, Bùi

Minh Toán cũng đã phân biệt ba bình diện khác nhau ở đơn vị câu dựa trên líthuyết kí hiệu học của Ch Morris, đó là bình diện nghĩa học, bình diện kếthọc, bình diện dụng học

Trang 13

Trong cuốn Câu tiếng Việt (2009) Nguyễn Thị Lương cũng theo hướng

của ngữ pháp chức năng mà nghiên cứu câu ở ba bình diện: ngữ pháp – ngữnghĩa – ngữ dụng

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là: Làm rõ đặc điểm của ba kiểu câutrong sự so sánh với nhau trên tất cả các phương diện kết học, nghĩa học vàdụng học, đặc biệt là ở phương diện dụng học từ đó thấy giá trị sử dụng củacác kiểu câu đó trong hoạt động hành chức

- Góp phần khẳng định những cống hiến về mặt nghệ thuật của nhà văn

- Cung cấp những tư liệu cần thiết cho việc học tập và giảng dạy mônNgữ văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi triển khai thực hiệnnhững nhiệm vụ nghiên cứu sau:

+ Tổng quan các vấn đề lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu

+ Khảo sát, thống kê phân loại sự xuất hiện, sự hoạt động, phân bố của

ba kiểu câu: câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong phạm vi khóaluận (các tác phẩm trong tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ).+ Thông qua kết quả khảo sát tìm hiểu về đặc điểm, vai trò và hiệu quả

sử dụng của từng kiểu câu trên ba bình diện trong tương quan so sánh ba kiểucâu với nhau

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

“Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:

- Thủ pháp khảo sát và thống kê, phân loại: chúng tôi thống kê các kiểu

loại của từng kiểu câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong “37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” để lấy làm cơ sở phân loại, tìm tỉ lệ khi

khảo sát ở các kiểu câu khác nhau

- Phương pháp miêu tả: Đề tài đi sâu vào miêu tả các kiểu loại của bakiểu câu, để chỉ ra những đặc điểm riêng của mỗi kiểu loại của từng kiểu câu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở kết quả khảo sát, thống

kê, phân loại, khóa luận phân tích từng kiểu loại của ba kiểu câu mà NTTHthể hiện theo những cách thức khác nhau Từ đó, khái quát đặc điểm câu táchbiệt trong truyện ngắn

- Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánhđối chiếu cách viết câu của NTTH với một số tác giả cùng thời để thấy đượcnét riêng, sự sáng tạo mới mẻ của chị trong việc tổ chức câu văn Và dùng đểchỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa ba kiểu câu

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chia làm

ba chương:

Trang 15

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương 2: Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện

kết học

Chương 3: Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện

nghĩa học và dụng học

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu

là tác tử cú pháp như hình thái cách hoặc các chuyển tố, các giới từ, bằng sự phù ứng về số, về ngôi với một danh ngữ nhất định” [6,21]

Nghiên cứu bình diện kết học là phải làm rõ:

- Những cách thức và quy tắc kết hợp các từ ngữ để tạo thành câu

- Đặc điểm và chức năng của các thành phần trong câu

- Mô hình cấu trúc của câu chia theo cấu tạo

Trang 17

nghĩa trong sử dụng ngôn ngữ, tức là phần nghĩa vừa thuộc về nghĩa từ ngữ, vừa thuộc về dụng học.

Thuộc về bình diện nghĩa của câu gồm có nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái

Nguyễn Thị Lương khẳng định: “Bình diện nghĩa của câu nghiên cứu phần nghĩa tường minh: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái” [13,23]

* Nghĩa miêu tả (còn gọi là nghĩa sự vật, nghĩa biểu hiện): “Là phần phản ánh sự việc, hiện tượng, sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ… ngoài thực tế khách quan được đưa vào câu Nội dung phản ánh hiện thực đó được gọi là sự việc (hay sự thể) Mỗi câu thường ứng với một sự việc” [13,23]

* Nghĩa tình thái: “Là phần nghĩa của câu thể hiện thái độ, ý định, mục đích hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan” [13,178]

1.1.3 Bình diện dụng học

Vấn đề mà dụng học đặc biệt quan tâm chính là: “Lĩnh vực hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, còn được gọi là lĩnh vực của lời nói hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả các sản phẩm của giao tiếp bằng ngôn ngữ và các cơ chế, các quy tắc sản sinh ra chúng.” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu

[4,93]]

Nguyễn Thị Lương bổ sung thêm: “Bình diện này nghiên cứu mối quan

hệ giữa câu với người sử dụng, giữa câu với việc sử dụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiện những ý nghĩa của câu – phát ngôn trong tình huống cụ thể đó (gọi là nghĩa ngữ dụng của câu).” [13,24]

Như vậy, hiểu một cách đơn giản, nhiệm vụ của dụng học là nghiên cứungôn ngữ trong sử dụng, nghĩa là phải làm rõ

- Giá trị thông báo của câu (đâu là tin cũ, đâu là tin mới)

Trang 18

- Mục đích phát ngôn của câu (câu được nói ra để nhằm mục đích gì)

- Nghĩa hàm ẩn của câu (câu được nói ra trong văn cảnh đó có nghĩa là gì)

Ba bình diện nghiên cứu câu có mối quan hệ gắn bó khăng khít với

nhau: “Hình thức câu được dùng để biểu thị nội dung nghĩa của câu; muốn hiểu đúng nghĩa của câu, cần đặt câu trong ngữ cảnh Ba bình diện ấy tồn tại

vì nhau, dựa vào nhau, không thể hiểu thấu đáo một bình diện nếu tách nó khỏi hai bình diện kia.” [13,25]

1.2 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt

1.2.1 Câu đặc biệt

1.2.1.1 Khái niệm câu đặc biệt

Nguyễn Thị Lương: “Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ, mà chỉ được cấu tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường.”.

[13,105]

(1) “Ôi giời! Các bác đánh cầu lông.”

(Coi như không biết)

Ở ví dụ trên, CĐB là “Ôi giời!” không có cấu tạo theo mô hình CN - VN (2) “Khỉ con Cô bé tí của anh Ngày mai thuyền ra khơi, cát sẽ xóa mọi dấu

vết.”

Trang 19

a Câu đặc biệt danh từ

Trang 20

Câu đặc biệt danh từ là câu có trung tâm cú pháp chính là danh từ hoặc cụmdanh từ.

- CĐB DT có cấu tạo là một danh từ:

(3) “Mưa Nước xối xả đổ xuống mái hiên.”

Trang 21

(4) “ Hoàng hôn Đường phố mát rượi.Em nằm trong phòng.”

(Kí ức)

(Sơ ri đắng)

“Mưa.” và “Hoàng hôn.” trong hai ví dụ trên là CĐB DT có cấu tạo bởi một

DT riêng, dùng để chỉ những hiện tượng tự nhiên

- CĐB DT có cấu tạo là một cụm danh từ:

(5) “Tôi không biết gì nữa ngoài cảm giác tất cả tan biến hết Con gái Người đàn ông thích ăn xôi buổi sáng cho chắc dạ và uống cà phê trong lúc

yêu đương, lúc nào cũng chỉ cà phê Những chùm pháo hoa… Thiên đường

tuổi mười sáu! ”

b Câu đặc biệt vị từ

(Hậu thiên đường)

Câu đặc biệt vị từ có trung tâm cú pháp chính là vị tố (động từ, tính từ)hoặc cụm từ

- CĐB VT có cấu tạo là từ:

(6) “Bốp!” Chàng thẳng tay vào mặt nàng Nàng sững lại vì bất ngờ Chàng

đứng dậy, lại chiếc bàn của nàng xới tung lên Một quyển album Thái Lan, một bộ tiểu thuyết, một cái đèn ngủ…”

(Tình yêu ơi, ở đâu?)

Có thể thấy, từ in đậm trong ví dụ trên là CĐB VT được cấu tạo bởi một

động từ duy nhất – “Bốp!”.

- CĐB VT có cấu tạo là cụm từ:

Trang 22

(7) “Bịch giấy vỡ toang Trên nền vải nâu Lốm đốm màu đỏ pha vàng của

những trái sơ ri lăn tung tõe trong lòng em Em cười khanh khách: Tuyệt

quá!”

(Sơ ri đắng)

Xét ví dụ trên, ta thấy, bộ phận in đậm là hai CĐB VT được cấu tạo bởi

cụm tính từ “Tuyệt quá!”.

c Câu đặc biệt tình thái từ

Câu đặc biệt tình thái từ thường dùng để bộc lộ cảm xúc

- Câu đặc biệt được tạo thành các quán ngữ tình thái:

(8) “ – Qua tháng 9 âm May ra nó hết bị bùa mê thuốc lú, nó bị thằng kia

đá, đi với con khác xinh hơn, nó thề với em thôi.

- Giời ơi Còn những bốn tháng nữa, em chịu thế nào được Một ngày

không thấy ló là em không làm được việc gì.”

(Nào ta cùng lãng quên)

Có thể thấy, “Giời ơi.” trong ví dụ trên được cấu tạo bởi tổ hợp từ mang

tính chất quán ngữ tình thái dùng để bộc lộ cảm xúc

Câu đặc biệt được tạo thành từ các tình thái từ:

(9) “ – Nhưng bà già thế này, ai nỡ bắt hầu mình Mẹ trông bà ấy đáng thương lắm.

- Dào Thế bây giờ mẹ để chúng con nghỉ hưu non trông mẹ nhé? Cùng

tuổi già với nhau mới có chuyện mà nói Hợp quá còn gì Thôi con phải đi họp đây Mẹ cần gì cứ sai bà ấy Vài hôm là quen thôi Lương tháng 200.000 đồng, một năm hai bộ quần áo, cơm nuôi Con chịu hết.”

(Của để dành)

“Dào.” Trong ví dụ trên là CĐB TTT có cấu tạo là thán từ thường dùng

để bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người nói nhưng không gọi tên cảm xúc

Trang 23

1.2.2 Câu tỉnh lược

1.2.2.1 Khái niệm câu tỉnh lược

Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Hiện tượng tỉnh lược các yếu tố của một phát ngôn mang chức năng liên kết phát ngôn nếu thỏa mãn hai điều kiện: yếu tố tỉnh lược cần thiết cho việc hiểu nội dung của phát ngôn và việc khôi phục yếu tố tỉnh lược phải dựa vào một phát ngôn khác gần đó Nếu đáp ứng được hai điều kiện này thì đó là hiện tượng tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược nói chung.” [20,160]

(10) “Tôi vẫn nghĩ đến cái sự chết của mình, nó sẽ như hồi chuông lảnh lót, không dứt ngân lên giữa cuộc đời Và khối kẻ sẽ phải điếc tai.

-  Về đi! – Ông ra lệnh.

Tôi chần chừ, bỗng cảm giác ông ấy giống con ma.”

Trang 24

1.2.2.2 Phân loại câu tỉnh lược

- Dựa vào các thành phần chính bị tỉnh lược, Phạm Văn Tình chia câu tỉnhlược thành ba loại sau:

+ Câu tỉnh lược chủ ngữ + Câu tỉnh lược vị ngữ + Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ: Với trường hợp này,

câu có thế bị tỉnh lược toàn phần (còn lại ở dạng im lặng) hoặc là câu chỉ cònlại các hư từ

- Đồng quan điểm với Phạm Văn Tình, dựa vào các thành phần chính bị

tỉnh lược, Nguyễn Kim Thản (trong cuốn Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt) và

Trang 25

Nguyễn Thị Lương (trong cuốn Câu tiếng Việt) chia câu tỉnh lược thành ba

loại sau:

+ Câu tỉnh lược chủ ngữ + Câu tỉnh lược vị ngữ + Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ Trong phạm vi của khóa luận nghiên cứu ba kiểu trong “37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” chúng tôi xin đi theo cách phân loại của Phạm Văn

Tình, Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Thị Lương Đó là chia câu tỉnh lượcthành ba loại: câu tỉnh lược chủ ngữ (CTL CN), câu tỉnh lược vị ngữ (CTLVN) và câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ (CTL CN & VN)

Xét ví dụ “Nhưng  cũng không bao giờ quên”, ta thấy đây là CTL CN thiếu chủ ngữ “Tôi”.

- CTL CN mà dạng thể hiện là cụm từ:

(12) “Tôi thò tay vào túi Chỗ tiền ít ỏi bà dúi cho tôi chắc đủ trả cho chỗ chim còn sống trong lồng.

- Cháu muốn mua chỗ chim còn sống.

Ông ngẩng nhìn tôi Hơi nhếch nhếch một bên mép, giọng khản đặc:

Trang 26

-  Năm trăm.

Chỗ tiền của tôi, có thể mua được bốn lần chỗ chim đó.”

Dạng đầy đủ: “Ch ỗ chi m nà y năm trăm”

(Biển ấm)

Trang 27

Trong ví dụ trên, thành phần bị tỉnh lược là chủ ngữ mà dạng thể hiện làmột cụm danh từ.

b Câu tỉnh lược vị ngữ

Phạm Văn Tình cho rằng: “Việc tỉnh lược vị ngữ đòi hỏi những điều kiện rất ngặt nghèo, nếu không sẽ phá vỡ logic về mặt cấu trúc kết hợp và làm cho phát ngôn và lược ngôn ở đây cũng rất hẹp, thường theo quan hệ 1:1.”.

[23,114]

- Câu tỉnh lược vị ngữ một phần:

(13) “- Em Em khóc sao?

- Vâng Em thấy xót xa cho nàng.

- Cho nàng hay cho em? – Anh nắm lấy tay tôi, bóp nhẹ.”

Dạng đầy đủ: “Em Xó t xa cho nàng hay cho em?”

(Người xưa)

Bộ phận in đậm trong ví dụ trên là một câu tỉnh lược, trong đó thành phần

bị tỉnh lược không chỉ là chủ ngữ “Em” mà còn là cả tính từ trung tâm của vị ngữ “xót xa”.

- Câu tỉnh lược vị ngữ toàn phần:

(14) “- Hôm nay lớp mình có bạn nghỉ học.

- Ai Ø?

- Bạn Cảnh Ø.”

Trang 28

c Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ

CTL CN & VN là câu mà ở đó việc tỉnh lược diễn ra đồng thời đối vớicác chủ ngữ và vị ngữ khiến cho trong câu không còn thành phần nòng cốtnào

(15) “Bà Vy mở sững mắt và đỏ mặt vì cách nói năng của cô gái Đến mấy

bà buôn lợn đầu cầu chửi nhau cũng không chanh chua bằng cô này Bà Vy quay mặt đi thở dài:

- Thế cháu đi làm nghề này lâu chưa?

- Chưa Nàm thử vài việc chả gì ra cái gì mà về quê lại gặp bọn chó dái Đéo về nửa Đéo có tiền khổ nắm.”

Trang 29

Dạng đầy đủ: “Cháu chưa là m n gh ề

n ày.”

(Của để dành)

Trong câu trên, chủ ngữ (Cháu) và động từ trung tâm (làm) của vị ngữ đã

bị lược bỏ, chỉ còn lại phụ từ “Chưa” bổ ngữ cho động từ.

(16) “Cậu đứng tựa lung vào tường, hai tay khoanh trước ngực Trông cậu như hóa đá Mắt cậu đầy nước Tôi mong đó là nước mưa bắn vào chứ đừng phải là nước mắt.

- Vào đi cậu, mưa ướt hết bây giờ.

- ….

Im lặng.Gió phần phật như muốn bứt tất cả những gì nó gặp trên đường Bỗng điện tắt phụt ”

(Nước mắt đàn ông)

Ở đây, lượt lời của nhân vật “cậu” đã bị tỉnh lược hoàn toàn và biểu hiện

ở dạng im lặng Có thể thấy, đây là một dạng đặc biệt của câu tỉnh lược toànphần

Trang 30

1.2.3 Câu tách biệt

1.2.3.1 Khái niệm câu tách biệt

Câu tách biệt (CTB) hay cũng gọi là câu dưới bậc có rất nhiều cách địnhnghĩa:

“Câu dưới bậc là một kiểu câu có trông văn bản được tạo ra bằng cách tách thành phần phụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ hoặc một thành phần của câu ghép thành một câu riêng, hoàn chỉnh về hình thức: mở đầu bằng chữ cái viết hoa, kết thúc bằng dấu ngắt câu và có một nội dung nhất định.”.

[15,37]

“Về thực chất, câu dưới bậc là một bộ phận của một câu trọn vẹn được tách ra vì những lí do nghệ thuật và có ý nghĩa hiểu được xét trong mối quan

hệ với câu mà từ đó nó được tách ra” [1,278]

Phạm Văn Tình [22,138] gọi câu tách biệt là một dạng của ngữ trực thuộc tỉnh lược chủ ngữ + vị ngữ: tỉnh lược bằng cách tách câu tạo hàm ý.

(17) “ Hai năm sau Anh mang về từ gạch lát nền Gạch lát tường buồng

tắm Những bộ bàn ghế Những chiếc đèn bàn, đèn ngủ.”

(Tân cảng)

Các câu in đậm trong ví dụ (17) chính là câu tách biệt có được do hoạt

động tách các bổ ngữ của động từ “mang về” câu cơ sở ra thành câu riêng.

Nếu không đặt các câu tách biệt này trong quan hệ với câu mà từ đó nó tách

ra ta khó có thể hiểu trọn vẹn nghĩa của chúng Dựa vào câu trước, có thể khôiphục ví dụ trên như sau:

“Hai năm sau Anh mang về từ gạch lát nền, gạch lát tường buồng tắm, những bộ bàn ghế, những chiếc đèn bàn, đèn ngủ.”

Như vậy có thể thấy, điều kiện tồn tại của CTB là văn cảnh, là sự liên kếtvới những câu lân cận xung quanh Tách ra khỏi văn cảnh, CTB không thể tồn

Trang 31

tại và sẽ trở thành những câu sai ngữ pháp Một yếu tố khác đồng thời quyếtđịnh sự tồn tại của CTB là giá trị tu từ mà chúng mang lại.

1.2.3.2 Phân loại câu tách biệt

Trên cơ sở đó khóa luận chúng tôi đã tiến hành khảo sát trong “37

truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” thì thấy có một số kiểu câu tách biệt sau:

Câu tách biệt tương đương thành tố phụ của cụm từ ( CTB  TTPCCT);câu

tách biệt tương đương với thành phần phụ của câu (CTB  TTPCC); câu

tách biệt tương đương với thành phần biệt lập của câu (CTB 

TPBLCC) a Câu tách biệt tương đương thành tố phụ của cụm từ

- Câu tách biệt tương đương bổ ngữ:

(18) Anh mang về từ gạch lát nền Gạch lát buồng tắm Những bộ bàn ghế.

Những chiếc đèn bàn, đèn ngủ”.

(Tân cảng)

Trong ví dụ trên, hàng loạt bổ ngữ chỉ đối tượng bổ nghĩa cho động từ

“mang về” được tách ra thành những câu riêng biệt Chúng ta có thể ghép các

câu bị tách ra với câu trước nó để thành một câu hợp lí sau:

“Anh mang về gạch lát nền, gạch lát buồng tắm những bộ bàn ghế,

những chiếc đèn bàn, đèn ngủ.”

- Câu tách biệt tương đương định ngữ

(19) “Nhưng cứ đến giao thừa, dù ngày tất niên đó lạnh hay mưa rét, ba mẹ con

cũng nhận được một gói quà Của người lữ hành nhỡ tàu đêm giao thừa ấy”.

(Lời thì thầm của mùa xuân)

Ở ví dụ trên, câu “Của người lữ hành nhỡ tàu đêm giao thừa ấy” vốn là

thành phần định ngữ cho danh từ “một gói quà” nhằm nhấn mạnh nguồn gốc

của gói quà được nhận nhưng đã được tách ra thành câu riêng

Trang 32

(20) “Hình như ai cũng có một cái thú riêng Thú kiềm tiền Thú tiêu tiền.

Thú ăn ngon Thú mặc đẹp Thú nói xấu sau lưng người khác Thú chọc gậy bánh xe.”

(Giai nhân)

Ở ví dụ trên các định ngữ trong một chỉnh thể được tách ra để tạo nênnhững câu liên hợp đồng dạng nêu bật các khía cạnh khác nhau của một khái

niệm nằm ở câu cơ sở Khái niệm “ Cái thú riêng” được giải thích, bổ sung ý

nghĩa nhờ 6 câu xuất hiện ở phía sau

b Câu tách biệt tương đương với thành phần phụ của câu

Câu tách biệt tương đương với thành phần trạng ngữ:

(21) “Dưới nhà Tiếng chân chạy rậm rịch Tiếng í ới gọi nhau.”

(Nước mắt đàn ông)

(22) “Bao nhiêu năm Khi tôi thấm thía cái sự không có bố, tôi vẫn chờ có

đêm sẽ mơ thấy bố về.”

(Đôi giày đỏ)

Có thể thấy, trong hai ví dụ trên: (21) “Dưới nhà.” (22) “Bao nhiêu

năm.” Vốn là trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn của câu cơ sở nhưng được

tách ra thành câu riêng

c Câu đặc biệt tương đương với thành phần biệt lập của câu

Câu tách biệt tương đương với thành phần liên ngữ:

(23) “Ai cũng tưởng cậu ấy lên lớp và có phần dạy dỗ những lời khuôn sáo xa

xôi Nhưng rồi Hình như đại đa phần là không cưỡng lại nổi.”

(Hoàng hôn màu cỏ úa)

(24) “Có những tình yêu đến trong đêm trăng Và Có những nỗi cô đơn tìm

nhau trong đêm trăng.”

( Dĩ vãng)

Trang 33

Trong hai ví dụ trên, (23) “Nhưng rồi.” (24) “Và.” Vốn là thành phân liên

ngữ, có tác dụng nối câu trước nó với câu sau nó Nhưng ở đây, nó đã bị tách

ra thành câu riêng – câu tách biệt

1.3 Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ

1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp

Nguyễn Thị Thu Huệ sinh năm 1966 tại Quảng Ninh Chị là con của nhàvăn, nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Tú và nhà báo Nguyễn Ngọc Chánh cùng làphóng viên báo vùng mỏ Vì thế, với Nguyễn Thị Thu Huệ, Quảng Ninh lànơi đầy ắp những kỷ niệm ấu thơ

Chị tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Chị là nguyênPhó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành HộiNhà văn Việt Nam khóa VIII, Giám đốc Trung tâm Quyền Tác giả Văn họcViệt Nam

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ là nữ chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn

Hà Nội Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nổi tiếng với các tập truyện ngắn Cátđợi (1993), Hậu thiên đường (1994), Thành phố đi vắng (2012)

Không chỉ gặt hái nhiều thành công trong sáng tác văn chương, với sứcviết dồi dào và sự sáng tạo không ngừng nghỉ, tinh thần lao động nghệ thuậtchân chính, nghiêm túc cùng với niềm đam mê cháy bỏng, chị rẽ hướng sang

cả lĩnh vực truyền hình (làm tại trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) –Đài Truyền hình Việt Nam) Một số truyện ngắn nổi tiếng của chị đã đượcchuyển thể thành phim và gây được tiếng vang lớn và ấn tượng mạnh vớicông chúng những năm 2000 Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ khi xuấthiện vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước đã mau chóng chiếm được tìnhcảm và sự yêu mến của người đọc

NTTH quan niệm “Văn chương là sự chân thành…” NTTH có mộtgiọng văn đặc biệt khó trộn lẫn, một giọng văn vừa sắc cạnh, lại vừa dịu dàng

Trang 34

đằm thắm thiết tha Nhà văn luôn khám phá cuộc sống bằng văn chương vàniềm say mê bất tận Nhà văn NTTH có một cách nhìn rất mới khi xây dựnghình tượng người phụ nữ Trong những sáng tác của mình, chị ít đề cập đếnnhững vấn đề thời sự, xã hội to lớn, điều mà nhà văn luôn trăn trở, suy tư lànhững ngóc ngách trong tâm tư, tình cảm và suy nghĩ của người phụ nữ củagia đình trước đời sống xã hội ngày một thay đổi chóng mặt, luôn khao kháttìm kiếm những hạnh phúc nhỏ bé cho riêng mình Điển hình là các truyệnngắn: Hình bóng cuộc đời, Hậu thiên đường, Một trăm linh tám cây bằnglăng Tân cảng…

1.3.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ

Truyện ngắn NTTH có sức hấp dẫn người đọc không chỉ bởi truyện giàuchất đời mà còn nhờ lối viết câu văn giảm bớt độ dài để thích nghi với hoàncảnh mới – đó là một trong những dạng câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu táchbiệt Tất nhiên, NTTH cũng có viết những câu bình thường, những câu đầy đủxen kẽ câu tỉnh lược, câu đơn phần, câu ngắn xen kẽ câu dài… nhưng tỉ lệ câuđặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt được tác giả sử dụng khá dày đặc vànổi bật Đây là dạng câu xuất hiện chủ đạo trong truyện ngắn NTTH Ở bakiểu câu khác thường này, NTTH đã viết, viết say mê bằng cả trái tim, tâmhồn của người nghệ sĩ Kết quả, nhà văn đã gặt hái được nhiều thành công chotác phẩm của mình Với cách viết đầy sáng tạo, ba kiểu câu trong văn NTTH

đã làm cho người đọc phải “sợ” trước cách viết như bị “lên đồng” của chị.Việc tạo nên những kiểu câu khác thường đó góp phần làm cho cáchviết của NTTH khác với những nhà văn nữ cùng thời Chính chị đã tạo nênmột giọng điệu riêng cho mình bằng thể loại truyện ngắn đang được bạn đọcyêu mến hiện nay

Trang 35

Đó là những dạng câu văn đặc trưng và đầy ấn tượng rất khó có thể lẫnlộn trong văn phong của NTTH Nó làm cho những vấn đề trong truyện nhưđang xảy ra trước mắt người đọc một cách bất ngờ.

Để hiểu rõ hơn về ba kiểu câu khác thường này, khóa luận chúng tôi sẽ

đi nghiên cứu cụ thể ba loại câu này trong “37 truyện ngắn của Nguyễn ThịThu Huệ” xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học ở nhữngchương tiếp theo

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Qua chương 1, người viết đã đưa ra một số quan điểm của các tác giả về

ba kiểu câu: Câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách biệt và ba bình diện nghiêncứu câu: nghĩa học, kết học và dụng học

- Khái niệm ba kiểu câu:

+ “Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ, mà chỉ được cấu tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường.” (Dẫn theo Nguyễn

Thị Lương)

+ “Hiện tượng tỉnh lược các yếu tố của một phát ngôn mang chức năng liên kết phát ngôn nếu thỏa mãn hai điều kiện: yếu tố tỉnh lược cần thiết cho việc hiểu nội dung của phát ngôn và việc khôi phục yếu tố tỉnh lược phải dựa vào một phát ngôn khác gần đó Nếu đáp ứng được hai điều kiện này thì đó là hiện tượng tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược nói chung” (Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)

+ “Câu dưới bậc là một kiểu câu có trong văn bản được tạo ra bằng cách tách thành phần phụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ hoặc một thành phần của câu ghép thành một câu riêng, hoàn chỉnh về hình thức: mở đầu bằng chữ cái viết hoa, kết thúc bằng dấu ngắt câu và có một nội dung nhất định.”

(Dẫn theo Trần Thị Nhàn)

- Phân loại ba kiểu câu:

+ Câu đặc biệt: Dựa vào cách chia câu đặc biệt của Đinh Trọng Lạc câu đặc

biệt được chia làm ba loại: Câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt vị từ và câu đặc biệt tình thái từ.

Trang 37

+ Câu tỉnh lược: Dựa trên quan điểm của Phạm Văn Tình, Nguyễn Kim

Thản và Nguyễn Thị Lượng chia câu tỉnh lược thành ba loại: Câu tỉnh lược chủ ngữ, câu tỉnh lược vị ngữ, câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ.

+ Câu tách biệt: Được chia thành Câu tách biệt tương đương thành tố phụ của cụm từ, câu tách biệt tương đương thành phần phụ của câu và câu tách biệt tương đương thành phần biệt lập của câu.

- Lí thuyết ba bình diện: Người viết đồng nhất với quan điểm cho rằng: Kết học, nghĩa học và dụng học là ba lĩnh vực thống nhất không thể tách rời, có mối quan hệ khăng khít.

Trang 38

Chương 2 CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRÊN

BÌNH DIỆN KẾT HỌC 2.1 Câu đặc biệt trên bình diện kết học

2.1.1 Đặc điểm kết học của câu đặc biệt

Câu đặc biệt có những đặc điểm sau

- Được cấu tạo từ một từ hoặc một cụm từ đẳng lập hay chính phụ, chứkhông cấu tạo từ một cụm C – V

- Không xác định được thành phần câu

chấm

(26) “Anh Hoạt đấy Thôi! Coi như anh xong nhiệm vụ với anh Hoạt là đón

em về đây Anh phải về đội.”

Trang 39

Trong ví dụ (26) “Thôi!” là CĐB và kết thúc bằng dấu chấm than.

2.1.2 Phân loại câu đặc biệt

(Biển ấm)

Có rất nhiều cách chia khác nhau, nhưng trong khóa luận chúng tôi chiacâu đặc biệt ba loại: Câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt vị từ và câu đặc biệttình thái từ

Trang 40

Kiểu cấu tạo Số lượng câu Tỉ lệ (%)

Bảng 1.2: Bảng thống kê các loại câu đặc biệt

Nhận xét số liệu thống kê: Tư liệu khảo sát, thống kê 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ CĐB DT được nhà văn sử dụng với tần số xuất hiện lớn

nhất (chiếm 57,8%), sau đó là CĐB VT(chiếm 23,1%) và sử dụng ít nhất làCĐB TTT (chiếm 19,1%)

2.1.2.1 Câu đặc biệt danh từ

a Cấu tạo của câu đặc biệt danh từ

Câu đặc biệt danh từ là câu được cấu tạo từ một danh từ hoặc một cụmdanh từ (đẳng lập hoặc chính phụ)

- CĐB có cấu tạo là một danh từ:

(27)“Mưa Nước xối xả đổ xuống mái hiên.”

Ngày đăng: 06/09/2019, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (xuất bản lần đầu 1987, tái bản 2013), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếngViệt
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Diệp Quang Ban (1998), Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2003
4. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2007), Giáo trình Ngữ dụng học, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Đạihọc sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
5. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại Cương ngôn ngữ học, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
6. Cao Xuân Hạo (2004), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2004
7. Đoàn Thị Hằng (2015), “Câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách biệt tiếng Việt dưới lí thuyết ba bình diện: Kết học, nghĩa học và dụng học” Luận văn thạc sĩ trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách biệt tiếngViệt dưới lí thuyết ba bình diện: Kết học, nghĩa học và dụng học”
Tác giả: Đoàn Thị Hằng
Năm: 2015
8. Nguyễn Thái Hòa (2001), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
9. Nguyễn Thị Thu Huệ (2006), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXBVăn học
Năm: 2006
10. Đinh Trọng Lạc (1994), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
11. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
12. Trần Thị Loan (2009), “Khảo sát câu tách biệt trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, Luận văn thạc sĩ Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát câu tách biệt trong truyện ngắn NguyễnThị Thu Huệ”
Tác giả: Trần Thị Loan
Năm: 2009
13. Nguyễn Thị Lương (2006), Câu tiếng Việt, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2006
14. Phạm Thị Lượng (2015), “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn NguyễnThị Thu Huệ”
Tác giả: Phạm Thị Lượng
Năm: 2015
15. Trần Thị Nhàn (2006), “Vấn đề dạy và học kiểu câu đặc biệt, câu rút gọn trong trường phổ thông hiện nay”, Tạp chí ngôn ngữ (số 4), Tr37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề dạy và học kiểu câu đặc biệt, câu rút gọntrong trường phổ thông hiện nay”
Tác giả: Trần Thị Nhàn
Năm: 2006
16. Hoàng Kim Ngọc (2007), Tiếng Việt thực hành, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
17. Hoàng Trọng Phiến (1989), Ngữ pháp tiếng Việt – câu, NXB ĐH &THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – câu
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB ĐH &THCN
Năm: 1989
18. Trần Kim Phượng (2012), Các phương pháp phân tích câu (Trên ngữ liệu tiếng Việt), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp phân tích câu (Trên ngữ liệutiếng Việt)
Tác giả: Trần Kim Phượng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2012
19. Nguyễn Kim Thản (1997), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
20. Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Khoahọc Xã Hội
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w