Một trong những giải pháp giúp hạn chế sai sót đã được thực hiện tạinhiều nước trên thế giới là sử dụng phần mềm kê đơn chuyên dụng thuốc CUT [60].Bệnh viện Trung ương Quân đội TWQĐ 108
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC TRUNG
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN TWQĐ 108
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC TRUNG
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN TWQĐ 108
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: 62720412
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Sơn Nam
PGS TS Phạm Nguyên Sơn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập củariêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, được khaithác một cách khách quan, khoa học theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứutrong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực Các kết quả nàychưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Đức Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này tôi đã nhận được sự quan tâm, động viên của rất nhiều người từ gia đình bè bạn đến đồng nghiệp trong các cơ quan đơn vị và nhà trường.
Đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới người thầy
hướng dẫn thứ nhất TS Nguyễn Sơn Nam – chủ nhiệm khoa Dược – Bệnh viện
TWQĐ 108, người đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng biết ơn thầy hướng dẫn PGS.TS Phạm Nguyên Sơn - Phó
giám đốc Bệnh viện TWQĐ 108 đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ, nhân viên công tác tại khoa Dược và các cơ quan trong Bệnh viện đã giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập số liệu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập và hoàn thành luận án tiến sĩ.
Tôi vô cùng biết ơn tất cả các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ tôi từ lúc ban đầu bước vào cổng trường Đại học Những kiến thức
quý báu trong thời gian học tập tại trường là cơ sở để tôi thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và làm việc.
Và cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn sát cánh động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống và học
tập!
Hà Nội, ngày 06 tháng 08 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 BỆNH UNG THƯ 3
1.1.1 Khái niệm chung về ung thư 3
1.1.2 Tình hình bệnh ung thư trên thế giới 3
1.1.3 Tình hình bệnh ung thư ở Việt Nam 4
1.2 CHI PHÍ Y TẾ CHO ĐIỀU TRỊ UNG THƯ 4
1.2.1 Chi phí cho điều trị ung thư trên thế giới 4
1.2.2 Chi phí cho điều trị ung thư ở Việt Nam 5
1.3 THUỐC CHỐNG UNG THƯ 6
1.3.1 Khái niệm và phân loại thuốc chống ung thư 6
1.3.2 Sử dụng thuốc chống ung thư 7
1.3.3 Nguy cơ phơi nhiễm thuốc chống ung thư của cán bộ y tế 8
1.4 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG UNG THƯ 9
1.4.1 Các bước trong quá trình sử dụng thuốc chống ung thư tại bệnh viện 9
1.4.2 Các giải pháp quản lý sử dụng thuốc chống ung thư tại bệnh viện 10
1.5 ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP TRONG QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG UNG THƯ 15
1.5.1 Đánh giá kinh tế 15
1.5.2 Đánh giá an toàn 18
1.6 GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108 24
1.6.1 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 24
1.6.2 Giới thiệu về khoa Dược − Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 25
1.6.3 Thực trạng hoạt động quản lý sử dụng thuốc chống ung thư tại Bệnh viện 26
1.7 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 29
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2 Quy trình tiến hành nghiên cứu 32
2.2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu 40
2.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 43
2.4 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 45
Trang 62.4.1 Xử lý và phân tích số liệu định lượng 45
2.4.2 Xử lý và phân tích số liệu định tính 47
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 ĐÁNH GIÁ KINH TẾ CÁC GIẢI PHÁP 48
3.1.1 Đánh giá kinh tế của pha chế tập trung thuốc chống ung thư 48
3.1.2 Lợi ích sử dụng mô-đun phần mềm chuyên dụng kê đơn thuốc CUT 54
3.2 ĐÁNH GIÁ VỀ AN TOÀN CỦA CÁC GIẢI PHÁP 58
3.2.1 An toàn trong pha chế tập trung thuốc CUT 58
3.2.2 An toàn trong kê đơn thuốc CUT bằng mô-đun phần mềm chuyên dụng 67
3.2.3 Đào tạo về thực hành an toàn trong sử dụng thuốc CUT 70
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 79
4.1 VỀ CỠ MẪU NGHIÊN CỨU 79
4.2 VỀ CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP 81
4.2.1 Pha chế tập trung thuốc chống ung thư 81
4.2.2 Về việc sử dụng mô-đun phần mềm kê đơn thuốc CUT chuyên dụng 84
4.2.3 Đào tạo về thực hành an toàn khi sử dụng thuốc chống ung thư 86
4.3 VỀ ĐÁNH GIÁ KINH TẾ CỦA CÁC GIẢI PHÁP 88
4.3.1 Pha chế tập trung thuốc chống ung thư 88
4.3.2 Kê đơn thuốc CUT bằng mô-đun phần mềm chuyên dụng 91
4.4 VỀ ĐÁNH GIÁ AN TOÀN CỦA CÁC GIẢI PHÁP 92
4.4.1 Pha chế tập trung thuốc chống ung thư 92
4.4.2 Kê đơn thuốc CUT bằng mô-đun phần mềm chuyên dụng 96
4.4.3 Đào tạo về thực hành an toàn trong sử dụng thuốc CUT cho điều dưỡng 99
4.5 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU 106
4.5.1 Ưu điểm 106
4.5.2 Hạn chế 107
4.6 ĐỀ XUẤT HƯỚNG TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109
1 KẾT LUẬN 109
1.1 Đánh giá kinh tế 109
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AHRQ Agency for Healthcare Research Cơ quan nghiên cứu chăm sóc
ATC Anatomical Therapeutic Chemical Cơ quan giải phẫu - Tác dụng
điều trị/ dược lý - Tính chất hóahọc
ASHP American Society of Health- Hiệp hội Dược sĩ trong hệ thống
BMA Bayessian Model Averaging Trung bình mô hình Bayes
BSC Biological Safety Cabinet Tủ an toàn sinh học
CATO Computer Aide Therapy for Liệu pháp hỗ trợ máy tính cho
CCNSA Cell cycle non-specific agents Tác nhân không đặc hiệu lên chu
trình tế bàoCCSA Cell cycle specific agents Tác nhân đặc hiệu lên chu trình tế
bào
DALY Disability-adjusted life year Số năm sống hiệu chỉnh theo mức
FDA Food and Drug Administsration Quản lý thuốc và thực phẩm
Trang 8IARC International Agency for Research Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc
ICC Indice de contact cytotoxiques Chỉ số tiếp xúc thuốc độc tế bào
ISOPP International Society of Oncology Hiệp hội những người phân liều
Pharmacy Practitioners Dược ung thư quốc tế
NCD Non - communicable disease Bệnh không lây nhiễm
NIOSH National Institut for Occupation Viện quốc gia đảm bảo an toàn và
cho bệnh nhân của 1 nhân viên y
tế trong 1 khoảng thời gianOSHA Occupational Safety and Health Quản lý sức khoẻ và an toàn nghề
TKI Tyrosine kinase inhibitor Ức chế Tyrosine kinase
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số thuốc CUT theo phân loại của IARC 7
Bảng 1.2 Một số nghiên cứu dạng câu hỏi khảo sát ở điều dưỡng 23
Bảng 1.3 Số bệnh nhân sử dụng thuốc từ Labo pha chế thuốc CUT tập trung 27
Bảng 1.4 Trung bình số lần chuẩn bị thuốc CUT trên lượt bệnh nhân 28
Bảng 1.5 Số lượng hoạt chất và BD các thuốc CUT sử dụng tại Bệnh viện 28
Bảng 2.6 Thời điểm thực hiện các hoạt động nghiên cứu 33
Bảng 2.7 Các biến số nghiên cứu 35
Bảng 2.8 Đặc điểm mẫu nghiên cứu tham gia khảo sát 40
Bảng 2.9 Đặc điểm đơn thuốc pha chế và đơn hoá trị liệu 41
Bảng 2.10 Cỡ mẫu cho các nghiên cứu 43
Bảng 2.11 Công thức sử dụng để tính toán các chỉ số 46
Bảng 3.12 Giá trị tiết kiệm của thuốc CUT tại Labo giai đoạn 2011-2017 48
Bảng 3.13 Hiệu suất tiết kiệm tính theo giá trị tại Labo giai đoạn 2011-2017 48
Bảng 3.14 Số lượng và giá trị tiết kiệm theo hoạt chất tại Labo từ 2011-2017 50
Bảng 3.15 Mức khấu hao của tài sản cố định 52
Bảng 3.16 Cơ cấu chi phí Labo pha chế thuốc CUT qua các năm dự án 53
Bảng 3.17 Chỉ số kinh tế của dự án đầu tư Labo pha chế thuốc CUT tập trung 53
Bảng 3.18 So sánh trước và sau khi sử dụng mô-đun kê đơn thuốc CUT 55
Bảng 3.19 So sánh pha chế thuốc CUT tại khoa lâm sàng và khoa Dược 59
Bảng 3.20 Đánh giá về hoạt động pha chế tập trung thuốc chống ung thư 60
Bảng 3.21 Triệu chứng cấp tính điều dưỡng gặp phải khi pha chế thuốc CUT tại khoa phòng (khảo sát bộ câu hỏi phụ lục 01) 61
Bảng 3.22 Đánh giá ảnh hưởng lâu dài gây ra bởi thuốc CUT ở dược sĩ và điều dưỡng (Kết quả khảo sát bộ câu hỏi phụ lục 01, 03) 62
Bảng 3.23 Chỉ số ICC của điều dưỡng tại các khoa trước 2010 63
Bảng 3.24 Chỉ số ICC ước tính của DSTH pha chế thuốc CUT 63
Bảng 3.25 Sai sót lâm sàng trên đơn hoá trị liệu 68
Bảng 3.26 Thực hành sử dụng TTB của điều dưỡng (Phụ lục 07) 70
Bảng 3.27 Thực hành của điều dưỡng theo khảo sát bằng bộ câu hỏi 71
Bảng 3.28 Nhu cầu đào tạo của điều dưỡng 72
Bảng 3.29 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy định, hướng dẫn THAT 73
Bảng 3.30 Kiến thức của điều dưỡng tại khoa có sử dụng thuốc chống ung thư 76
Bảng 3.31 Đánh giá thay đổi về thái độ và thực hành của điều dưỡng 78
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tình hình mắc mới và tử vong của bệnh nhân ung thư trên thế giới 3
Hình 1.2 Tỉ lệ sử dụng các phương pháp điều trị ung thư tại Bệnh viện K 8
Hình 1.3 Quá trình sử dụng thuốc CUT tại bệnh viện 10
Hình 1.4 Cơ cấu chi phí cho việc pha chế tập trung thuốc CUT tại khoa Dược 16
Hình 1.5 Sơ đồ các bước thực hiện của quy trình 26
Hình 2.6 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 32
Hình 3.7 Cơ cấu tỉ lệ giá trị thuốc thừa dư qua các năm 2011-2017 49
Hình 3.8 Tương quan giữa số lượng và giá trị tiết kiệm của 15 hoạt chất được pha chế thường xuyên tại Labo 51
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là bệnh ác tính của tế bào Các thuốc điều trị ung thư là những thuốc
có tác dụng ức chế sự phát triển hay tiêu diệt tế bào ung thư vì vậy chúng được gọi
là các thuốc độc tế bào (cytotoxic drugs) Thuốc chống ung thư (CUT) có thể gâyảnh hưởng độc hại với tế bào ác tính và cả các tế bào bình thường khác của cơ thể.Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra thuốc CUT không chỉ gây tác dụng độc hại trên ngườibệnh sử dụng thuốc mà cả cán bộ y tế (CBYT) − những người phải tiếp xúc thườngxuyên có phơi nhiễm với thuốc CUT [69] Để hạn chế ảnh hưởng của các thuốcCUT, theo khuyến cáo của các tổ chức, hiệp hội ngành nghề Y Dược uy tín trên thếgiới thì tất cả giai đoạn tiếp xúc với thuốc CUT từ việc pha chế chuẩn bị đến sửdụng thuốc trên người bệnh, CBYT cần phải sử dụng các trang thiết bị bảo hộ phùhợp [65], [71], [94]
Cán bộ y tế thực hiện pha chế thuốc CUT là đối tượng có nguy cơ bị ảnhhưởng cao nhất Tại nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay như Pháp, Mỹ, Úc phachế thuốc CUT bắt buộc phải thực hiện tập trung tại khoa Dược bởi dược sĩ với cáctrang thiết bị chuyên dụng như tủ cách ly (Isolator) hay tủ an toàn sinh học(Biological Safety Cabinet − BSC) Điều này không chỉ giúp đảm bảo an toàn choCBYT mà còn giúp tiết kiệm chi phí Việc áp dụng quy trình chuẩn bị thuốc CUTtập trung tại một số bệnh viện ở Pháp tiết kiệm từ 2,9-14,7% kinh phí sử dụng thuốcCUT [34], [91] Điều dưỡng trực tiếp sử dụng thuốc CUT cho người bệnh là đốitượng có nguy cơ bị ảnh hưởng cao thứ hai bởi thuốc CUT sau những người thựchiện pha chế Do đó, hiện nay tại nhiều quốc gia trên thế giới để giảm thiểu nguy cơphơi nhiễm nghề nghiệp của thuốc CUT, các tổ chức hiệp hội ngành nghề, cáctrường đại học đã tiến hành đào tạo cho điều dưỡng những kiến thức về thực hành
an toàn (THAT) khi làm việc với thuốc CUT
Quá trình sử dụng thuốc CUT có những đặc điểm riêng biệt so với việc sửdụng các thuốc khác là phải tuân thủ chặt chẽ theo phác đồ đã lựa chọn Phác đồđiều trị ung thư thường kết hợp nhiều loại thuốc và liều dùng được cá thể hoá theothông số sinh học của người bệnh [87] Sai sót dùng thuốc đối với thuốc CUT dạngtiêm thường gây ra những hậu quả trầm trọng như làm tăng tác dụng phụ hoặc thấtbại điều trị, có trường hợp dẫn đến tử vong Một số nghiên cứu ở Mỹ và Pháp đãchứng minh tỉ lệ sai sót dùng thuốc CUT dao động từ 2-4% trên tổng số đơn thuốc[31], [51], [68], [84], [85] Vì vậy, nhiều giải pháp đã được áp dụng để giảm sai sóttrong quá trình kê đơn, đảm bảo hiệu quả điều trị tốt nhất và ít tác dụng phụ trên
1
Trang 12người bệnh Một trong những giải pháp giúp hạn chế sai sót đã được thực hiện tạinhiều nước trên thế giới là sử dụng phần mềm kê đơn chuyên dụng thuốc CUT [60].Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 là bệnh viện hạng đặc biệt, đakhoa, chuyên khoa sâu, tuyến cuối của Quân đội Với nhiều chuyên khoa điều trịung thư như huyết học, tiêu hóa, phổi, sản, tiết niệu nên số lượng bệnh nhân ungthư tới điều trị rất đông Bệnh viện TWQĐ 108 cũng là đơn vị tiên phong trong thựchiện các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả trong sử dụng thuốc CUT Bệnhviện đã áp dụng các giải pháp như tổ chức Labo pha chế thuốc CUT tập trung tạikhoa Dược, sử dụng mô-đun phần mềm kê đơn chuyên dụng thuốc CUT và đào tạocho điều dưỡng về THAT khi sử dụng thuốc CUT Tuy nhiên, chưa có nghiên cứunào đánh giá cụ thể về hiệu quả của các giải pháp can thiệp này Xuất phát từ thực tế
và những yêu cầu trong việc quản lý sử dụng thuốc CUT tại bệnh viện chúng tôi
thực hiện đề tài “Đánh giá một số giải pháp quản lý sử dụng thuốc chống ung thư tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với hai mục tiêu sau:
1 Đánh giá kinh tế các giải pháp quản lý sử dụng thuốc chống ung thư tại Bệnh viện TWQĐ 108
2 Đánh giá về an toàn của các giải pháp quản lý sử dụng thuốc chống ung thư tại Bệnh viện TWQĐ 108
Kết quả của đề tài sẽ giúp cho Bệnh viện có cái nhìn tổng thể về thực trạng tìnhhình sử dụng thuốc CUT và có những biện pháp tăng cường, nâng cao chất lượngquản lý sử dụng thuốc CUT đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 BỆNH UNG THƯ
1.1.1 Khái niệm chung về ung thư
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinhung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn, vô tổ chức không tuân theo các cơ chếkiểm soát về phát triển cơ thể [7]
Ung thư không phải là một bệnh, hiện nay đã phát hiện hơn 200 loại ung thưkhác nhau trên cơ thể người Những loại ung thư này tuy có điểm giống nhau về bảnchất song vẫn có nhiều khác biệt về nguyên nhân, tiến triển, phương pháp điều trị vàtiên lượng bệnh [6]
1.1.2 Tình hình bệnh ung thư trên thế giới
Dự báo về mô hình bệnh tật thế giới trong tương lai, Tổ chức y tế thế giới(World Health Organization − WHO) cho rằng các bệnh không lây nhiễm (NCDs)trong đó có ung thư sẽ trở thành nhóm bệnh chủ yếu đe dọa đến sức khỏe con người[78], [80] Tỉ lệ mắc mới và tử vong do ung thư được mô tả trong hình 1.1:
Hình 1.1 Tình hình mắc mới và tử vong của bệnh nhân ung thư trên thế giới
Tỉ lệ mắc mới và chết do bệnh ung thư toàn cầu đang ở mức đáng báo động.Theo ước tính của WHO, năm 2008 trên thế giới có khoảng 12,4 triệu người mắcmới bệnh ung thư và khoảng 7,6 triệu người chết do căn bệnh này, đến năm 2012 sốngười mắc mới bệnh là 14,1 triệu và số ca tử vong là 8,2 triệu người Tới năm 2018thế giới đã xác nhận có 18,1 triệu bệnh nhân mắc mới và số tử vong là 9,6 triệungười [95] Với những thay đổi về dân số trong 2 thập kỷ tới nếu tỉ lệ mắc ung thưtrên toàn cầu không thay đổi thì dự báo đến năm 2030, mỗi năm thế giới sẽ cókhoảng 26,4 triệu người mắc mới bệnh ung thư và 17,0 triệu người chết do ung thư
3
Trang 14Trong đó, có tới 53% bệnh nhân mắc mới ung thư và 60% số bệnh nhân tử vong làngười dân của các nước đang phát triển [45], [80] Tỉ lệ mắc và chết do ung thưđược dự báo sẽ ngày càng tăng lên trong vài thập kỷ tới ở tất cả khu vực trên thếgiới, nhưng tăng nhanh hơn ở các nước có thu nhập thấp WHO ước tính so với năm
2008 đến năm 2030 tỉ lệ ca mới mắc ung thư tăng khoảng 82% ở các nước có thunhập thấp, 70% ở các nước có thu nhập trung bình thấp, 58% ở các nước có thunhập trung bình cao và 40% ở các nước có thu nhập cao [2]
1.1.3 Tình hình bệnh ung thư ở Việt Nam
Ở Việt Nam, theo nhận định của Bộ Y tế, mô hình bệnh tật ở nước ta là một
mô hình kép, bên cạnh bệnh nhiễm trùng và suy dinh dưỡng của các nước chậm pháttriển, bệnh ung thư, tim mạch, tâm thần đang có nguy cơ tăng lên giống với các nướccông nghiệp phát triển Nếu như trong thế kỷ 20, bệnh nhiễm trùng là bệnh có tỉ lệ mắc
và tỉ lệ tử vong hàng đầu, thì thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh không lây nhiễm nhưung thư, tim mạch, bệnh chuyển hóa [4] Theo thống kê của WHO năm 2012 tử vongtoàn bộ của Việt Nam khoảng 520.000 người trong đó bệnh ung thư đứng thứ hai với18% tương đương 93.600 người [79]
Theo GLOBOCAN 2018 Việt Nam có tỉ lệ mắc mới ung thư là 151,4/100.000người mỗi năm trong đó nam là 186,7/100.000 dân và nữ là 125,2/100.000 người
Tỉ lệ chết cả 2 giới khoảng 104,4/100.000 người mỗi năm, nam là 146,2/100.000 và
nữ là 71,8/100.000 người Các bệnh ung thư phổ biến bao gồm ung thư gan, ung thưphổi, ung thư dạ dày, ung thư vú và ung thư đại trực tràng [95]
1.2 CHI PHÍ Y TẾ CHO ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
1.2.1 Chi phí cho điều trị ung thư trên thế giới
Một nghiên cứu được thực hiện bởi Hiệp hội ung thư Mỹ dựa trên chỉ số
DALY (disability-adjusted life year) cho kết quả là thiệt hại kinh tế (chưa tính đếnchi phí y tế trực tiếp cho điều trị) mà thế giới mất đi do bệnh ung thư năm 2008 làkhoảng 895 tỉ USD, tương đương 1,5% GDP (Gross domestic product) toàn cầu[16] Sự tốn kém trong điều trị và làm mất khả năng lao động, cướp đi sự sống của bệnh ung thư nhiều hơn bệnh AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác
Theo WHO, những bệnh mãn tính gồm tim mạch, ung thư, tiểu đường và bệnhphổi là thủ phạm gây ra 68% trường hợp tử vong năm 2012 và tiêu tốn gần 3% chiphí điều trị công và tư của ngành y tế toàn cầu [105] Dự báo trong tương lai gầnung thư sẽ vượt qua bệnh tim mạch để dẫn đầu trong các nguyên nhân gây tử vong.Hiện nay bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và đứng thứ hai sau
Trang 15ung thư về chi phí [49] Các chi phí tài chính dành cho bệnh ung thư rất cao cho cảngười bị ung thư và cho xã hội nói chung Cơ quan nghiên cứu chăm sóc sức khỏe
và chất lượng của Mỹ (Agency for Healthcare Research and Quality − AHRQ) ướctính rằng chi phí y tế trực tiếp (tổng cộng tất cả chi phí chăm sóc y tế) đối với ungthư ở Mỹ trong năm 2011 là 88,7 tỷ USD Trong đó, 50% chi phí này là cho bệnhnhân ngoại trú hoặc thăm khám tại phòng mạch bác sĩ, 35% chi phí là cho nằm việnđiều trị nội trú và 11% chi phí cho thuốc điều trị Ở Pháp năm 2011, chi phí này ướctính là 15 tỷ Euro, chiếm khoảng 8% ngân sách do Bảo hiểm y tế (BHYT) chi trảtrong năm Trong số chi phí y tế trực tiếp cho bệnh ung thư thì tiền thuốc chiếmkhoảng 20% Chi phí cho thuốc CUT tăng một phần do nhiều thuốc mới thuộcnhóm điều trị đích như kháng thể đơn dòng (MAB) hay thuốc ức chế Tyrosinekinase (TKI) xuất hiện và được sử dụng ngày một nhiều hơn Năm 2011, chi phí chothuốc điều trị đích ở Pháp chiếm tới 65,9% toàn bộ các thuốc CUT Pháp cũng lànước cho phép người dân nhanh chóng được tiếp cận những thành tựu mới nhấttrong công nghiệp Dược, chỉ trong 10 năm từ 2001-2010 có 27 hoạt chất mới đượclưu hành tại Pháp thì đã có 11 thuốc thuộc nhóm điều trị đích [100]
Chi tiêu toàn cầu cho thuốc điều trị ung thư tiếp tục tăng với việc sử dụngnhiều loại thuốc mới đạt mức 133 tỷ USD trên toàn thế giới trong năm 2017, năm
2013 con số này chỉ là 96 tỷ USD Chi tiêu cho các loại thuốc điều trị ung thư tậptrung nhiều vào một số ít các phương pháp điều trị, với 35 loại thuốc hàng đầuchiếm 80% trong tổng chi tiêu, trong khi hơn một nửa số thuốc trị ung thư có doanhthu hàng năm dưới 90 triệu USD Giá niêm yết của các loại thuốc trị ung thư mới đãtăng đều đặn trong thập kỷ qua và chi phí trung bình hàng năm của một loại thuốcung thư mới được tung ra vào năm 2017 đã vượt quá 150.000 USD, so với 79.000USD cho các loại thuốc ung thư mới ra mắt năm 2013 [14] Một trong vấn đề làmtăng chi phí thuốc CUT là giá các thuốc mới thâm nhập thị trường, các nhà sản xuấtthường đặt giá cao hơn những sản phẩm cũ khoảng 15-20% và tính vào đó mọi loạichi phí liên quan Việc xác định giá thuốc chống ung thư thế hệ mới dựa trên kếtquả nghiên cứu chi phí − lợi ích nên được xem xét để giảm gánh nặng về kinh tếcho toàn xã hội [100]
1.2.2 Chi phí cho điều trị ung thư ở Việt Nam
Chi phí điều trị ung thư tại Việt Nam trong những năm gần đây có xu hướngtăng Do người bệnh được tiếp cận với những phương pháp điều trị tiên tiến như xétnghiệm, kỹ thuật phẫu thuật hiện đại và hóa trị cũng sử dụng những loại thuốc mới
5
Trang 16để đạt hiệu quả tốt hơn Cứ sau 10 năm, chi phí điều trị bệnh ung thư lại tăng gấpđôi Chi phí điều trị các bệnh ung thư rất lớn, chi phí điều trị một ca ung thư vú giaiđoạn nhẹ chỉ cần phẫu thuật đã là 80 triệu đồng, giai đoạn nặng từ 650-700 triệuđồng, chi phí điều trị ung thư gan giai đoạn nặng là 820 triệu đồng, ung thư trựctràng giai đoạn sớm là 150-170 triệu đồng, ung thư đại tràng hoặc dạ dày giai đoạnnặng từ 300-700 triệu đồng Chi phí điều trị một ca ung thư cổ tử cung được pháthiện ở giai đoạn sớm thấp hơn so với nhiều loại bệnh ung thư khác, chỉ 25-50 triệuđồng, nhưng 70% người bệnh mắc bệnh ung thư cổ tử cung lại ở những vùng nôngthôn nên chi phí này vẫn là gánh nặng cho bệnh nhân [97].
Chi phí Bảo hiểm xã hội Việt Nam chi trả cho bệnh nhân mắc bệnh ung thưtrong năm 2013 cao hơn nhiều so với năm 2012 Trong năm 2012, chi phí cho bệnhnhân BHYT điều trị bệnh ung thư được Bảo hiểm xã hội Việt Nam chi trả là 2.762 tỉđồng thì năm 2013 đã tăng lên đến 3.374 tỉ đồng [96] Nhiều thuốc CUT có giáthành rất cao mới được đưa vào sử dụng tại các bệnh viện với chi phí thanh toánBHYT 50% cũng làm tăng đáng kể chi phí điều trị bệnh ung thư nói chung và ngânsách BHYT nói riêng Các thuốc mới điều trị đích dạng viên đối với 2 bệnh ung thưphổ biến ở nước ta là ung thư gan, ung thư phổi như Nexavar hay Tagrisso có giáthành điều trị tương ứng là 1.300.000.000 VNĐ/năm và 1.770.000.000 VNĐ/nămvới tỉ lệ thanh toán 50% làm tăng gánh nặng cho chi phí y tế không chỉ của BHYT
mà của cả người bệnh ung thư [2] Trong chi phí mà Bảo hiểm xã hội chi trả chobệnh nhân ung thư, thuốc chiếm 80% tổng chi phí điều trị, điều này có vẻ trái ngược
so với các nước phát triển khi chi phí thuốc chỉ chiếm khoảng 20% tổng chi phí điềutrị, tuy nhiên cách tính tổng chi phí ở nước ta chưa được tính đúng, tính đủ và giádịch vụ y tế ở các nước khác cao hơn nước ta nhiều [96]
1.3 THUỐC CHỐNG UNG THƯ
1.3.1 Khái niệm và phân loại thuốc chống ung thư
Do tính chất đặc thù nên thuốc CUT có thể được biết đến dưới nhiều tên gọikhác nhau theo thuật ngữ quốc tế như Cytotoxic drugs (các thuốc độc tế bào);Anticancer drugs (các thuốc CUT); Antineoplastic drugs (các thuốc CUT);Hazardous drugs (các thuốc nguy hiểm) Thuốc CUT là những thuốc dùng để ức chế
sự phát triển hoặc tiêu diệt tế bào ung thư Chúng có thể sử dụng đơn độc hoặc phốihợp nhiều thuốc với nhau trong một phác đồ [6], [7], [54]
Có nhiều cách phân loại thuốc CUT khác nhau, theo cấu trúc tác dụng của mãATC (Anatomical Therapeutic Chemical), theo cơ chế tác dụng hoặc theo độc tính
Trang 17Việc phân loại thuốc theo nguy cơ gây ung thư (độc tính) của viện nghiên cứu ungthư quốc tế (International Agency for Research on Cancer − IARC) rất quan trọngtrong thực hành sử dụng thuốc CUT [61], [101].
- Nhóm 1: Chất gây ung thư (đã có bằng chứng trên người) gồm 120 chất
- Nhóm 2A: có 82 tác nhân có khả năng gây ung thư cho người (bằng chứng trên người hạn chế, nhưng đủ bằng chứng trên động vật)
- Nhóm 2B: Thuốc có thể gây ung thư cho người gồm 302 khoản (bằng chứng trên người hạn chế, nhưng cũng không có bằng chứng trên động vật)
- Nhóm 3: Không phân loại là chất gây ung thư cho con người có 501 tác nhân
Các thuốc CUT được sử dụng phổ biến hiện nay chủ yếu rơi vào nhóm 1,2,3trong cách phân loại của IARC [46] Tổng hợp và phân loại một số thuốc CUT theophân loại IARC tại Bệnh viện TWQĐ 108 chúng tôi có bảng 1.1:
Bảng 1.1 Một số thuốc CUT theo phân loại của IARC
Cyclophosphamide Carmustine Bleomycin sulfate Actinomycin D
Daunorubicin
1.3.2 Sử dụng thuốc chống ung thư
Căn cứ vào các pha hoạt động của chu kỳ sinh sản tế bào ung thư mà các nhàkhoa học nhận thấy có những thuốc tác động lên tất cả các pha của chu trình, đôi khichúng còn tác động lên cả pha G0 vì vậy chúng có hoạt tính CUT mạnh và được gọi
là nhóm tác nhân không đặc hiệu lên chu trình tế bào (cell cycle non-specific agents
− CCNSA); còn các thuốc khác chỉ tác động lên một pha nhất định của chu trìnhtăng sinh tế bào nên được gọi là nhóm tác nhân đặc hiệu lên chu trình tế bào (cellcycle specific agents − CCSA) nhóm này có hoạt tính CUT được cho là yếu hơnnhóm trên [54]
Tùy theo tính chất của từng loại bệnh ung thư, giai đoạn bệnh và trên ngườibệnh cụ thể mà người ta sử dụng nhóm thuốc nào và thứ tự lựa chọn phối hợp thuốctrong phác đồ điều trị cho phù hợp Mỗi bệnh nhân có những đáp ứng riêng biệt vớiphác đồ điều trị hóa chất, vì vậy để điều trị mỗi bệnh người ta nghiên cứu nhiềuphác đồ cho phép các bác sĩ có thể lựa chọn phù hợp với từng cá thể bệnh nhân
7
Trang 18Hóa trị liệu (HTL − Chemotherapy) là phương pháp dùng thuốc để tiêu diệtcác tế bào ung thư bằng cách không đặc hiệu Ban đầu, HTL được dùng như là mộtliệu pháp để điều trị bệnh ung thư di căn, hoặc cho những trường hợp thất bại củađiều trị tại chỗ Ngày nay, phương pháp điều trị bằng hóa chất đã phát triển và phạm
vi sử dụng đã mở rộng đáng kể, tham gia vào hầu hết phương pháp điều trị ung thư
Hình 1.2 Tỉ lệ sử dụng các phương pháp điều trị ung thư tại Bệnh viện K giai
đoạn 2000-2004
Hoá trị liệu cũng là một phương pháp điều trị ung thư phổ biến ở Việt Nam.Theo thống kê tại bệnh viện K trung ương, tỉ lệ sử dụng phương pháp hóa trị liệu tạibệnh viện ngày càng tăng Trong 5 năm từ 2000-2004, có 29.008 bệnh nhân ung thưđến điều trị tại bệnh viện và 39% tổng số bệnh nhân được điều trị hóa chất [97].Hầu hết phác đồ hóa trị liệu đều có tác dụng không mong muốn, hay gặp nhất
là độc tính đối với các tổ chức phân chia nhanh như tủy xương, biểu mô đường tiêuhóa do thuốc ức chế không đặc hiệu khả năng nhân lên của tế bào Đôi khi, độc tínhcủa chúng còn có thể đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân Vì vậy, các thuốc dùngtrong hóa trị liệu cần phải được lưu ý: ngày giờ dùng thuốc, các điều trị bổ trợ cầnthiết, giám sát trong khi sử dụng và đặc biệt là cá thể hóa liều dùng
1.3.3 Nguy cơ phơi nhiễm thuốc chống ung thư của cán bộ y tế
Thuốc CUT là thuốc độc tế bào không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp cho người
sử dụng mà còn cả CBYT − những người thường xuyên tiếp xúc Tất cả mọi người
từ công nhân sản xuất, người giữ kho, người giao nhận cấp phát tại kho Dược, dược
sĩ tham gia vào quá trình pha chế thuốc CUT, người làm vệ sinh khu vực pha chế,
Trang 19bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng đều luôn phải chú ý để giảm thiểu đến mức thấp nhất nguy
cơ phơi nhiễm với thuốc CUT [59], [102]
Cán bộ y tế thực hiện pha chế thuốc CUT là đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm,
bị ảnh hưởng cao nhất bởi thuốc CUT Nghiên cứu đã cho thấy mức độ vấy nhiễm ởkhoa Dược cao hơn ở bệnh phòng Khu vực phơi nhiễm cao nhất tại khoa Dược lànhững khu vực liên quan trực tiếp đến pha chế [29] Nghiên cứu bởi B.Favier vàcộng sự năm 2013 cho thấy ngay cả với lọ thuốc CUT còn nguyên vẹn, chưa sửdụng cũng tìm được sự vấy nhiễm thuốc CUT trên vỏ lọ của nhà sản xuất [33] Kếtquả nghiên cứu thực hiện bởi Kai Falck và cộng sự đăng trên tạp chí Lancet, bằngthử nghiệm Ames cho thấy nước tiểu của những CBYT tham gia vào việc pha chếthuốc CUT mà không có trang thiết bị bảo hộ phù hợp gây biến đổi gen [48]
Sau cán bộ y tế thực hiện pha chế thì điều dưỡng trực tiếp sử dụng thuốc CUTcho bệnh nhân là đối tượng có nguy cơ bị ảnh hưởng cao thứ hai Trong khi thựchiện sử dụng thuốc cho người bệnh, điều dưỡng nếu gặp phải những tai nạn như dâythuốc CUT ra bộ phận cơ thể, dây vào niêm mạc hay kim tiêm gắn với thuốc CUTđâm vào tay, đổ thuốc ra sàn, đệm thì đây được coi là những trường hợp nguy cơphơi nhiễm cao Điều dưỡng ngay cả khi thực hành cẩn thận, không gặp các tai nạntrong quá trình sử dụng thuốc thì vẫn có nguy cơ phơi nhiễm với thuốc
Để giảm vấy nhiễm với thuốc CUT thì cán bộ y tế khi làm việc tại khu vựcliên quan đến thuốc CUT phải luôn chú ý THAT, kể cả khi đã mang mặc các trangthiết bị bảo hộ phù hợp và thực hiện quá trình khử nhiễm đúng quy định Nghiêncứu thực hiện bởi Harrison và cộng sự năm 1996 đã cho thấy mọi khu vực liên quanđến thuốc CUT đều có nguy cơ vấy nhiễm, ngay cả những khu vực xa nơi pha chếnhư sàn nhà hay tay nắm cửa sau khi đã thực hiện khử nhiễm [40]
1.4 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG UNG THƯ 1.4.1 Các bước trong quá trình sử dụng thuốc chống ung thư tại bệnh viện
Sử dụng thuốc CUT tại bệnh viện khác hẳn với việc sử dụng các thuốc thôngthường khác vì chúng có độc tính nội tại, liều dùng cá thể hóa trên từng bệnh nhân
và phần lớn thuốc CUT được kế hoạch hóa trước các liệu trình điều trị theo phác đồ,
sử dụng lặp lại theo chu kỳ Quá trình đưa thuốc CUT dạng tiêm truyền từ nơi cungứng đến nơi sử dụng cho bệnh nhân cần có sự phối hợp giữa khoa Dược và khoalâm sàng trong việc pha chế, chuẩn bị thuốc Sơ đồ trong hình dưới đây mô tả phân
9
Trang 20công nhiệm vụ của các nhân viên y tế trực tiếp tham gia vào quá trình: Bác sĩ, dược
sĩ đại học (DSĐH), dược sĩ trung học (DSTH) và điều dưỡng
Hình 1.3 Quá trình sử dụng thuốc CUT tại bệnh viện 1.4.2 Các giải pháp quản lý sử dụng thuốc chống ung thư tại bệnh viện
Nhiều giải pháp đã được áp dụng để giúp quản lý sử dụng thuốc CUT trên thếgiới như pha chế tập trung thuốc CUT, tin học hóa toàn bộ quá trình sử dụng thuốcCUT trong bệnh viện từ kê đơn, pha chế đến sử dụng và đào tạo cho CBYT về thựchành an toàn khi làm việc với thuốc CUT
1.4.2.1 Pha chế tập trung thuốc chống ung thư
Thấy rõ được những nguy cơ phơi nhiễm có thể ảnh hưởng độc hại đến sứckhỏe, từ năm 1986 Cơ quan quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp của Mỹ(occupational Safety and Health Administration − OSHA) đã có hướng dẫn về cácthiết bị, trang phục, quy trình cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho cán bộ y tế khitiếp xúc với thuốc CUT [62] Viện nghiên cứu quốc gia về sức khỏe và an toàn nghề
Trang 21nghiệp của Mỹ (National Institut for Occupation Safety and Health − NIOSH) đã cóhướng dẫn với các tiêu chuẩn bắt buộc đối với cơ sở y tế nhằm bảo vệ tốt nhất chodược sĩ, điều dưỡng trước nguy cơ phơi nhiễm do tiếp xúc với thuốc điều trị ung thư[59] Năm 1987, Hiệp hội dược học ung thư Pháp (Société Française PharmacieOncologique − SFPO) đã đưa ra khuyến cáo về việc cần đưa phân liều thuốc điều trịung thư tập trung về khoa Dược bệnh viện, đặt dưới sự giám sát và thực hiện củadược sĩ Đến năm 2004 trên cơ sở của điều L162-22-7 của luật An toàn xã hội, việcnày mới trở thành bắt buộc đối với các cơ sở y tế trên toàn nước Pháp [92].
Theo khuyến cáo của SFPO việc thiết lập phòng pha chế thuốc CUT cần tuântheo việc lựa chọn sử dụng trang thiết bị pha chế chuyên dụng là tủ an toàn sinh học(Biological Safety Cabinet − BSC) hay Isolator Việc lựa chọn trang thiết bị còn phụthuộc vào quy mô và tần suất pha chế thuốc CUT của từng đơn vị Đối với mộtLabo pha chế thuốc CUT tập trung cần quan tâm đến địa điểm, con người và sảnphẩm
Ở Việt Nam vấn đề này được đề cập đến vào năm 2011 Điều 18, chương IIIcủa thông tư số 22/2011/TT-BYT đưa ra khái niệm về chuẩn bị thuốc CUT và tráchnhiệm của khoa Dược trong hoạt động này:
“Chuẩn bị thuốc điều trị ung thư: khoa Dược đảm nhiệm việc pha chế thuốc điều trị ung thư vào trong dịch truyền hoặc trong dung dịch tiêm cho khoa lâm sàng Nơi chưa có điều kiện thì khoa Dược phải xây dựng quy trình pha chế, hướng dẫn và kiểm soát việc pha thuốc chống ung thư cho người bệnh tại khoa lâm sàng Phòng chuẩn bị thuốc chống ung thư phải đảm bảo an toàn cho người chuẩn bị và
an toàn cho môi trường" [3].
Tuy nhiên, Bộ Y tế chưa có văn bản ban hành hướng dẫn thực hiện nhiệm vụnày dẫn đến các quy định pháp lý liên quan đến quy trình pha chế thuốc CUT nhưtrang thiết bị, con người, quy trình kỹ thuật chưa có tiêu chuẩn cụ thể Việc thựchiện pha chế thuốc CUT là do các cơ sở y tế căn cứ vào tình hình cụ thể của đơn vịmình để tổ chức triển khai cho phù hợp
Trước năm 2010, Việt Nam chưa có bệnh viện công lập nào tổ chức pha chếthuốc CUT tập trung tại khoa Dược Các thuốc điều trị ung thư dạng tiêm do khoaDược cấp phát được điều dưỡng pha loãng, sử dụng trực tiếp cho bệnh nhân Từnăm 2010, Bệnh viện TWQĐ 108 là đơn vị tiên phong thực hiện pha chế tập trungthuốc CUT tại khoa Dược Sau đó, khi thông tư 22/2011/TT-BYT có hiệu lực thìmột số bệnh viện trên địa bàn và tỉnh phía Bắc đến học hỏi kinh nghiệm và triển
11
Trang 22khai như: Bệnh viện Huyết học truyền máu Trung ương, Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnhviện Bạch Mai (Trung tâm ung bướu và Y học hạt nhân), Bệnh viện Ung bướu HàNội, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh
1.4.2.2 Tin học hóa toàn bộ quá trình sử dụng thuốc chống ung thư tại Bệnh viện
Một giải pháp đã được ứng dụng tại nhiều nước trên thế giới là sử dụng cácphần mềm tin học ứng dụng trong các bước của quá trình sử dụng thuốc CUT trongBệnh viện Đó có thể là một giải pháp tổng thể kết nối các mô-đun (module) chuyêndụng trong từng khâu hoặc là các mô-đun đơn lẻ ứng dụng trong từng bước cụ thểcủa quá trình Tin học được coi là một công cụ phòng ngừa hiệu quả sai sót dùngthuốc trong điều trị ung thư bằng cách thúc đẩy đơn hóa trị liệu được chuẩn hóa
a Các phần mềm tham gia toàn bộ quá trình chuẩn bị thuốc chống ung thư
Năm 1996 phần mềm CHIMQUEST bắt đầu được ứng dụng ở Châu Âu vớinhững tính năng đơn giản: (1) Soạn thảo văn bản liên quan đến pha chế thuốc CUT:
kê đơn, kế hoạch sản xuất, nhãn thuốc, lưu thông tin bệnh nhân (chu trình, số lầntruyền,…); (2) Thực hiện hoạt động đơn giản: theo dõi lượng thuốc tiêu thụ tươngứng số lượng bệnh nhân, vật tư tiêu hao trong quá trình sản xuất; (3) Truy nguyên
dữ liệu liên quan đến từng lượt pha chế đã được thực hiện: số lô sản xuất Thông tinđược cung cấp đầy đủ theo trình tự các bước thực hiện nhưng sự kết nối chưa cao do
đó chưa thực sự thuận tiện khi sử dụng Phần mềm này cũng chỉ ứng dụng cho đơn
vị có số lần chuẩn bị khoảng 5.000 lần mỗi năm [82]
Phần mềm CATO (Computer aide therapy for oncology) thuộc tập đoànBecton Dickinson tại Áo là một trong ứng dụng được sử dụng hàng đầu ở châu Âucho pha chế thuốc CUT tại bệnh viện CATO là giải pháp phần mềm cho phép hỗtrợ bác sĩ và dược sĩ trong từng giai đoạn của kế hoạch điều trị và pha chế thuốcCUT tại khoa Dược Với công nghệ hiện đại, cơ sở dữ liệu được cập nhật, phầnmềm CATO cho phép thực hiện ở cả bệnh viện quy mô nhỏ và lớn [99] Một phầnmềm cũng được sử dụng phổ biến là ASCLEPIOS do COACHIS-santé thuộc tậpđoàn ALMA của Pháp cung cấp [98]
b Các phần mềm tham gia một phần quá trình chuẩn bị thuốc chống ung thư
Từ năm 2012, CHIMIO là phần mềm chuẩn hóa kê đơn cho hóa trị liệu đãđược sử dụng tại liên vùng y tế PACA (Provence Alpes Côte d’Azur) và đảo Corse
ở Pháp CHIMIO cho phép lên kế hoạch điều trị cho từng bệnh nhân cụ thể qua việcthiết lập hồ sơ chi tiết của bệnh nhân từ các thông số sinh học như chiều cao, cân nặng,diện tích bề mặt cơ thể đến các kết quả xét nghiệm máu và cả những dấu ấn tế
Trang 23bào quan trọng như tình trạng thụ thể HER dương tính hay âm tính CHIMIO còngiúp các bác sĩ thiết lập được liệu trình điều trị tối ưu cho bệnh nhân trên cơ sở dữliệu về thuốc sẵn có trên hệ thống và kể cả những thay thế, điều chỉnh khi cần [103].STABILIS là phần mềm mở, trực tuyến cung cấp những thông tin quan trọngliên quan đến dung môi, đóng gói và độ ổn định của thuốc sau khi được pha chế ởcác nồng độ với điều kiện bảo quản thích hợp STABILIS còn cung cấp bằng chứngcủa dữ liệu để có thể so sánh lựa chọn giải pháp tối ưu trong những giải pháp đãđược hiển thị của chương trình STABILIS không chỉ dành cho pha chế thuốc CUT
mà cơ sở dữ liệu đầy đủ cho các loại thuốc tiêm truyền khác Dữ liệu thuốc CUT chỉchiếm 35% trong toàn bộ cơ sở dữ liệu của phần mềm này [104]
Tin học được thừa nhận có đóng góp quan trọng trong việc sử dụng an toànthuốc CUT như đảm bảo chu trình thuốc, xác nhận, lưu trữ hệ thống của hồ sơ sảnxuất Tuy nhiên bản thân nó cũng có tính rủi ro cần được đánh giá khi sử dụng.Quản lý sự cố và báo cáo giám sát thiết bị y tế là rất cần thiết để cải thiện an toàncủa quá trình, chiến lược kiểm soát rủi ro để giảm tần số và ngăn chặn càng nhiềucàng tốt những nguy cơ mất an toàn
Để có thể triển khai được phần mềm phù hợp và đáp ứng công việc cần phải
có các nghiên cứu tìm hiểu về nhu cầu của người sử dụng và đánh giá hiệu quả.Nghiên cứu thực hiện bởi tác giả Cindy và cộng sự cho thấy người kê đơn mongmuốn một phần mềm kê đơn giúp tăng mức độ chính xác trong kê đơn, xác địnhnhững vấn đề sai sót trong kê đơn tốt hơn và giúp cải thiện quy trình làm việc, nângcao quản lý về liệu pháp điều trị trong thực hành Phối hợp tốt giữa những người kêđơn và dược sĩ, giảm cuộc gọi từ dược sĩ để làm rõ vấn đề kê đơn từ đó giúp tiếtkiệm chi phí, tăng cường giao tiếp với người bệnh, nâng cao mức độ hài lòng củangười bệnh [74]
Ở Việt Nam, ứng dụng tin học trong y tế đang phát triển đặc biệt trong quản lýbệnh viện Nhiều công ty phần mềm của Việt Nam có những đội ngũ chuyên gia để xâydựng phần mềm bệnh viện với những yêu cầu quản lý ngày càng cao như FPT, Vimes,Onemes, Nanosoft… Các lập trình viên của Việt Nam là những kỹ sư tin học có trình độchuyên môn giỏi có thể nắm bắt được những công nghệ tiên tiến nhất của thế giới tronglĩnh vực lập trình
Các nhà quản lý trong bệnh viện hiểu được lợi thế của việc đầu tư cho tin họchóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện nên đã thay đổi được tưduy cũ là chủ yếu đầu tư mua sắm phần thiết bị cứng Chính phủ có định hướng ưu
13
Trang 24tiên cho việc phát triển công nghệ thông tin nên có nhiều các dự án lớn của Bộ Khoahọc công nghệ dành cho các bệnh viện như ở Bệnh viện TWQĐ 108, Bệnh việnBạch Mai, Bệnh viện Việt Đức…
1.4.2.3 Đào tạo về thực hành an toàn cho điều dưỡng
Ngay cả khi hoạt động chuẩn bị thuốc CUT được thực hiện tập trung tại khoaDược thì điều dưỡng vẫn là đối tượng có nguy cơ cao tiếp xúc với thuốc CUT dophải thực hiện các hoạt động sử dụng thuốc cho người bệnh, vận chuyển thuốc,phân loại rác thải có chứa hoá chất, dọn dẹp chất thải của người bệnh
Điều dưỡng nhận thức được tầm quan trọng của đào tạo về THAT và cho rằng
họ cần phải được đào tạo về THAT trước khi làm việc (nghiên cứu thực hiện bởi tácgiả Sevcan Topçu năm 2017) [72] Điều dưỡng có nhu cầu được đào tạo về THATtại nơi làm việc Theo nghiên cứu của tác giả Kyeong Weon Jeong tại Seoul chothấy 70,8% điều dưỡng mong muốn được đào tạo về THAT [47] Bên cạnh đào tạo,điều dưỡng cho rằng cần phải có hoạt động để nhắc nhở họ về THAT và cần xâydựng một văn hoá an toàn Điều dưỡng cho rằng vì đồng nghiệp của họ không quantâm về vấn đề này nên bản thân họ cũng bị ảnh hưởng [72]
Một số nghiên cứu đã chỉ ra nguồn cung cấp kiến thức THAT ở điều dưỡng rất
đa đạng Có cả những nguồn mang tính chính thống (được đào tạo bởi trường học,hiệp hội ngành nghề hoặc nơi làm việc) và không chính thống (tự tìm hiểu từinternet, chia sẻ từ đồng nghiệp ) Tại Iran, theo nghiên cứu của tác giả Abdol vàcộng sự thì nguồn cung cấp kiến thức về THAT của điều dưỡng phần lớn vẫn lànguồn tài liệu không chính thống (52% tự nghiên cứu từ tài liệu và internet, 14% từđồng nghiệp) Tuy nhiên, tại Iran đã có sự tham gia đào tạo của các hiệp hội dược vàtrường: 27% do hiệp hội dược và trường đại học đào tạo, 3% tham dự các hội thảo,4% các lớp đào tạo tại bệnh viện [70] Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tỉ lệ kiến thức chính thốngcao hơn: phần lớn kiến thức điều dưỡng có được là từ quản lý của bệnh viện(35,2%), tiếp theo là truyền thông (21,0%), hiệp hội điều dưỡng (12,6%) và cácnguồn khác như đại học, sách, mạng internet (15,9%) [73] Tại các quốc gia pháttriển như Anh, Canada và Hàn Quốc, tỉ lệ điều dưỡng được đào tạo về THAT caohơn Tại Hàn Quốc, 61,0% điều dưỡng được giáo dục về an toàn tại trường học và69,9% được giáo dục tại nơi làm việc theo nghiên cứu của tác giả Kyeong WeonJeong Tại Anh, Columbia và Canada thì 69,7% điều dưỡng đã từng được đào tạo về
an toàn nơi làm việc và an toàn khi làm việc với thuốc CUT [42]
Trang 25Tại Việt Nam, hiện nay chưa có bất kỳ hướng dẫn chính thức nào về THATcho điều dưỡng khi làm việc, tiếp xúc với thuốc CUT được ban hành bởi cơ quanquản lý có thẩm quyền hay cơ sở khám chữa bệnh.
1.5 ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP TRONG QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG UNG THƯ
Sử dụng thuốc phải đảm bảo hợp lý, an toàn và hiệu quả [56] Vấn đề nàycũng đã được đưa vào trong chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Namđến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 [5] Quản lý sử dụng thuốc CUT cũngphải đảm bảo các vấn đề này trong đó đặc biệt chú ý đảm bảo vấn đề an toàn và hiệuquả kinh tế do thuốc CUT là các thuốc độc tế bào và có chi phí điều trị cao Đó cũng
là vấn đề được tác giả Torsten đề cập đến đầu tiên khi phân tích những thách thứchiện nay trong thực hành liên quan đến sử dụng thuốc CUT Phân tích này cũng chothấy dược sĩ cần phải có vai trò trong thực hiện các hoạt động liên quan đến thuốcCUT đặc biệt là công tác chuẩn bị, pha chế [43]
1.5.1 Đánh giá kinh tế
1.5.1.1 Khía cạnh kinh tế của pha chế tập trung thuốc chống ung thư
Vấn đề sử dụng tiết kiệm, giảm lãng phí cũng rất quan trọng do thuốc CUTthường đắt tiền và là thuốc độc tế bào, nếu sử dụng không hết phải xử lý thuốc thừa
dư sẽ tốn kém hoặc lượng thuốc đó thải ra môi trường sẽ gây ảnh hưởng không tốt.Giải pháp được áp dụng trong quản lý sử dụng thuốc CUT là pha chế tập trung tạikhoa Dược đã cho thấy tiết kiệm chi phí [32], [44]
- Chi phí bảo trì: Đối với Isolator được thực hiện theo các khuyến nghị của nhà
sản xuất (thay đổi tay găng, bộ lọc HEPA, bộ lọc thô )
- Chi phí vận hành: dựa trên kiểm kê hàng ngày danh mục sử dụng của hệ thống
- Chi phí khấu hao: thường được tính chia cho 5 năm sử dụng thiết bị: Isolator,
tủ bảo quản thuốc, hệ thống máy tính
- Chi phí nhân công: chi phí nhân công thực tế của từng đối tượng liên quan đến
pha chế thuốc CUT
15
Trang 26Kết quả nghiên cứu cho biết cơ cấu chi phí cho việc pha chế tập trung thuốcCUT tại khoa Dược bằng thiết bị Isolator được thể hiện ở hình 1.4.
Chi phí bảo trì : chiếm 6%
Chi phí vận hành : chiếm 8%
Chi phí khấu hao : chiếm 17%
Chi phí nhân công : 69%
Hình 1.4 Cơ cấu chi phí cho việc pha chế tập trung thuốc CUT tại khoa Dược
Chi phí trung bình trên một lượt pha chế thuốc CUT tập trung tại khoa Dược là138,3 FF (franc pháp) so với pha chế tại khoa lâm sàng là 63,4 FF Chênh lệch lớngiữa thực hiện quy trình tập trung tại khoa Dược so với khoa lâm sàng nằm ở chi phíđầu tư trang thiết bị pha chế (Isolator) cùng với chi phí bảo trì, vận hành cũng tăngthêm đáng kể Chi phí nhân công cho việc thực hiện tại khoa Dược cũng tăng 62%
so với việc thực hiện tại các khoa lâm sàng cho thấy sự huy động nhân lực nhiềuhơn cho việc pha chế thuốc CUT tập trung tại khoa Dược Tuy nhiên, ngân sáchthuốc tiết kiệm được 3,5% khi thực hiện pha chế thuốc CUT tập trung so với thựchiện tại khoa lâm sàng [91]
Một số nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá về lợi ích tiết kiệm đượcthuốc CUT khi pha chế tập trung nhờ vào việc ghép bệnh nhân sử dụng cùng mộtloại thuốc và dùng loại lọ thuốc đa liều có hàm lượng lớn Tỉ lệ tiết kiệm là 8,5%theo Tilleul, 9,2% theo Favier, 9,7% theo Husson, 10% theo Augry, 10,5% theoKinoo và 14,7% theo Pinguet [86], [90] Nghiên cứu Fasola thực hiện ở Italy năm
2005 đã theo dõi và đánh giá chính xác chi phí này Nghiên cứu tiến hành phân tíchchi phí và tiết kiệm của 29 thuốc, xem xét đơn giá và lượng thuốc thừa dư, chủ yếutập trung vào sáu loại thuốc: cetuximab, docetaxel, gemcitabine, oxaliplatin,pemetrexed và trastuzumab Sự lãng phí của các thuốc này tương đương 4,8% chiphí thuốc hàng năm Sau khi áp dụng một số phương pháp chi phí do lãng phí này
đã giảm 45% trong năm 2006 [32]
Trang 27Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu đã được triển khai để chứng minh hoạt độngpha chế tập trung giúp tiết kiệm chi phí Nghiên cứu thực hiện bởi tác giả GianpieroFasola năm 2008 hay tác giả Adriano năm 2014, Varun Monga năm 2017 cho thấyhoạt động pha chế tập trung giúp tiết kiệm chi phí thuốc CUT Các tác giả tiến hànhtính toán, phân tích số lượng tiêu thụ của từng thuốc giữa số lượng kê đơn và sốlượng sử dụng từ đó tính toán được lượng thuốc tiết kiệm hay lượng thuốc lãng phícũng như chi phí tiết kiệm hay lãng phí [32], [44], [58].
b Tại Việt Nam:
Một số nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra hoạt động pha chế tập trung sẽ giúptiết kiệm chi phí Nghiên cứu đầu tiên thực hiện bởi nhóm nghiên cứu tại Bệnh việnTWQĐ 108 đã chỉ ra tỉ lệ giá trị tiết kiệm được là 2,93% trên tổng giá trị thuốc CUTđưa vào pha chế Hiệu suất tiết kiệm của lượng thuốc thừa dư tại Bệnh viện TWQĐ
108 trong năm 2011 đạt 60,79% [9] Sau đó, một số nghiên cứu đánh giá về tiếtkiệm chi phí do pha chế tập trung thuốc CUT cũng được thực hiện Nghiên cứu củatác giả Nguyễn Xuân Quang thực hiện năm 2013 tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵngcho thấy lượng thuốc điều trị ung thư lãng phí do không ghép liều cho bệnh nhân là67,5 triệu chiếm 2,4% giá trị sử dụng thuốc điều trị ung thư [10] Nghiên cứu củatác giả Bùi Đức Trung tại bệnh viện Hữu Nghị năm 2015 đã cho biết giá trị tiếtkiệm do pha chế tập trung là 224,1 triệu đồng Tỉ lệ giá trị thuốc tiết kiệm so với giátrị thuốc phân liều là 1,6% và hiệu suất tiết kiệm là 26,6% [13] Các nghiên cứu nàyđều đánh giá lượng tiết kiệm do pha chế thuốc CUT được thực hiện trong một năm
1.5.1.2 Tiết kiệm chi phí của việc sử dụng mô-đun chuyên dụng trong kê đơn thuốc chống ung thư
Mô-đun phần mềm chuyên dụng kê đơn thuốc CUT với khả năng kết nối nội
bộ giữa các bước mà còn tương thích với mô-đun khác về quản lý bệnh nhân, quản
lý tồn kho thuốc, quản lý tài chính để thực hiện các bước liên hoàn đảm bảo chínhxác và tiết kiệm thời gian cho CBYT từ đó giúp tiết kiệm nhân lực, chi phí cho bệnhviện Năm 2011, V.Nerich và các cộng sự nghiên cứu tại Pháp cho thấy việc ápdụng phần mềm kê đơn đối với thuốc CUT đã hạn chế được 1,5% lỗi kê đơn trongmột năm, chi phí tiết kiệm tính được 16,82 Euro cho mỗi dược phẩm được phân tíchtrong nghiên cứu [60] Nghiên cứu của C.Z Prina thực hiện năm 2015 cho thấy hiệuquả về kinh tế và lâm sàng của can thiệp dược đối với việc kê đơn thuốc CUT dạngtiêm Trong 5284 lần chuẩn bị thuốc của 200 đơn kê đã có tổng cộng 237 can
17
Trang 28thiệp dược được thực hiện, 105 can thiệp (44,3%) đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt,trong đó 83 can thiệp được chấp nhận bởi bác sĩ Giá trị tiết kiệm được 15.096,2euro, trung bình 181,9 euro cho một can thiệp được chấp nhận [89].
1.5.2 Đánh giá an toàn
Quản lý sử dụng thuốc CUT phải đảm bảo an toàn cho bệnh nhân, cán bộ y tế
và môi trường Để đảm bảo an toàn cho nhân viên khi làm việc với thuốc CUT đã
có rất nhiều khuyến cáo, hướng dẫn về THAT được đưa ra bởi các tổ chức, hiệp hộingành nghề có uy tín như NIOSH, ASHP [94], [102] Nghiên cứu của tác giả Mari
và cộng sự năm 2018 thực hiện một tổng quan hệ thống về THAT gồm 61 nghiêncứu, hướng dẫn trong đó có nhiều hướng dẫn do hiệp hội Dược khuyến cáo đã đượcđưa vào sử dụng và phân tích trong luận án này Nghiên cứu đã cho thấy tất cả giaiđoạn bao gồm nhận và bảo quản, pha chế, vận chuyển, quản lý, chăm sóc bệnhnhân, xử lý rác thải, làm sạch, xử lý tràn, đổ, vỡ thuốc đều có nguy cơ phơi nhiễmvới thuốc CUT Nghiên cứu của tác giả A.C Easty và cộng sự trên năm 2015 dựatrên 3 nghiên cứu về tổng quan hệ thống đã đưa ra khuyến cáo về THAT Tác giả đãđưa ra khuyến cáo chi tiết về 14 nội dung liên quan đến thuốc CUT Trong khuônkhổ của đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung vào thiết bị bảo hộ, chuẩn bị pha chếthuốc, sử dụng thuốc, xử lý khi tiếp xúc với thuốc, quản lý sự cố tràn hay đổ thuốcCUT [30]
1.5.2.1 An toàn trong pha chế tập trung thuốc chống ung thư
Các nghiên cứu đánh giá về vấn đề an toàn hay phơi nhiễm với thuốc CUTtrong quá trình pha chế đã sử dụng nhiều chỉ số khác nhau Một số nghiên cứu trênthế giới đã sử dụng chỉ số trực tiếp như định lượng nồng độ thuốc CUT tại các khuvực [27], [55] Một số nghiên cứu khác lại sử dụng chỉ số đánh giá về mức độ ảnhhưởng lâu dài gây ra bởi thuốc như mắc bệnh nghiêm trọng (ung thư) hoặc ảnhhưởng đến khả năng sinh con Ngoài ra, đánh giá ảnh hưởng tức thời như tần suấtgặp phải triệu chứng cấp tính (acute symptoms) khi pha chế cũng đã được sử dụng
để đánh giá mức độ an toàn
Với ảnh hưởng lâu dài, các nghiên cứu đánh giá tỉ lệ gây ung thư và độc tínhtrên sinh sản đối với phơi nhiễm nghề nghiệp liên quan đến việc pha chế và sử dụngcác thuốc CUT [23], [75] Ảnh hưởng nghiêm trọng đã được ghi nhận ở cán bộ y tếthực hiện pha chế thuốc CUT là đẻ non, thai hư, dị tật bẩm sinh và vô sinh Mộtphân tích gộp hồi cứu 14 nghiên cứu khác nhau trên thế giới cho thấy hậu quả trênsinh sản của những CBYT có tiếp xúc với các thuốc CUT mà không có biện pháp
Trang 29bảo hộ an toàn phù hợp trong quá trình sử dụng cho bệnh nhân bao gồm: gia tăng tỉ
lệ hư thai, đẻ non, dị dạng bẩm sinh và vô sinh [18], [24]
Một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra cán bộ y tế gặp phải những ảnhhưởng tức thời khi thực hành pha chế thuốc CUT trong điều kiện không đáp ứng cácquy định về đảm bảo an toàn Nghiên cứu sử dụng phương pháp tự báo cáo tại Iranvới 14 cán bộ y tế có thực hiện các hoạt động liên quan đến pha chế thuốc CUTtrong giai đoạn từ 11/2014 đến 1/2015 cho thấy những ảnh hưởng trên hệ thần kinh
là triệu chứng cấp tính hay gặp nhất, chiếm 26,33%, tiếp theo là những dấu hiệu trêntiêu hoá (chiếm 23,86%), mắt 20,98%; trên da (20,57%), trên hô hấp (95,34%).Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữatần suất gặp phải triệu chứng cấp tính và tần suất của pha chế thuốc CUT (r = 0,38,p<0,05), tần suất gặp phải triệu chứng cấp tính với liều, số lượng thuốc phải pha chế(r=0,46, p<0,01 và r =0,39, p <0,05) [15] Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền tạibệnh viện đại học Ege với hoạt động pha chế được thực hiện bởi điều dưỡng chothấy 54,1% điều dưỡng gặp các triệu chứng cấp tính khi phơi nhiễm với thuốc CUT[73] Các biểu hiện rất đa dạng từ đau đầu, bong da, mệt, dị ứng, nôn, chóng mặt,nóng da, thường xuyên nhiễm khuẩn Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi tácgiả Abdol năm 2014 tại Iran đã chứng minh cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩathống kê về triệu chứng cấp tính giữa nhóm điều dưỡng có thực hiện các hoạt độngpha chế thuốc CUT tại khoa ung thư và điều dưỡng không làm việc ở khoa ung thư,không phơi nhiễm với thuốc CUT [70]
Một chỉ số khác được được sử dụng để đánh giá nguy cơ phơi nhiễm của cán
bộ y tế là chỉ số đánh giá nguy cơ tiếp xúc với thuốc CUT (Incide de contactcytotoxiques − ICC) Chỉ số ICC được tính theo công thức :
ICC = (nr + na)/nh
Trong đó:
nr: số lần thực hiện chuẩn bị thuốc CUT của một nhân viên y tế trong một khoảng thời gian nhất định; na: số lần sử dụng thuốc cho bệnh nhân của nhân viên đó trong khoảng thời gian trên; nh: số giờ làm việc trong chu kỳ đó.
Các cơ sở khi có chuẩn bị thuốc CUT thì đều cần phải tiến hành đánh giá chỉ
số này Theo khuyến cáo của SFPO thì phân chia mức độ theo chỉ số ICC là:
- Mức độ 1: ICC < 1 tương ứng với mức độ tiếp xúc không đáng kể
- Mức độ 2: 1 ≤ ICC ≤ 3 thì mức độ tiếp xúc là trung bình
- Mức độ 3: Nếu ICC > 3 thì mức độ tiếp xúc là thường xuyên và cường độ cao
19
Trang 30Nếu ở các cơ sở mà có chỉ số ICC >3 thì cần phải có các biện pháp can thiệptích cực và phù hợp nhằm đảm bảo an toàn cho cán bộ y tế.
Tại Việt Nam, do còn hạn chế về phương pháp, quy trình cũng như máy móctrang bị nên chưa có khả năng đo lường trực tiếp mức độ vấy nhiễm của thuốc tạinơi làm việc Chính vì vậy, chúng tôi đánh giá mức độ an toàn đối với CBYT tiếpxúc với thuốc CUT bằng các chỉ số về ảnh hưởng lâu dài (tình trạng sinh sản, dị tậttrẻ em), ảnh hưởng tức thời (tỉ lệ gặp triệu chứng cấp tính khi pha chế) và chỉ sốđánh giá nguy cơ tiếp xúc với thuốc CUT (ICC)
1.5.2.2 An toàn trong sử dụng mô-đun chuyên dụng kê đơn thuốc CUT
Một số nghiên cứu đã chỉ ra khi kê đơn không sử dụng phần mềm thì sẽ cónguy cơ mắc lỗi Nghiên cứu của tác giả Cindy thực hiện năm 2011 tạiMassachusetts đã chỉ ra một số vấn đề có thể gặp phải như: Kê đơn thuốc khôngđúng, liều lượng hoặc hướng dẫn không đúng khi thuốc được cấp phát, đơn thuốc bịthay đổi bởi bệnh nhân hoặc người khác, đơn thuốc được viết không bởi người kêđơn hoặc bị làm giả, tương tác thuốc không phát hiện được tại thời điểm kê đơn,bệnh nhân bị mất đơn thuốc và yêu cầu được kê đơn thay thế, thuốc đã được nhận từnhà thuốc nhưng không được bảo hiểm chi trả Vì vậy cần có giải pháp thích hợp
để giải quyết tình trạng này [74]
Sai sót dùng thuốc là vấn đề tồn tại trong sử dụng thuốc nói chung tuy nhiênđối với sử dụng thuốc CUT nó gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến
an toàn tính mạng của người bệnh Một nghiên cứu ở Mỹ năm 2001 được thực hiệnbởi J.Phillips và cộng sự chỉ ra sai sót dùng thuốc CUT chiếm 15,4% số tử vong dosai sót dùng thuốc nói chung, chỉ đứng sau các thuốc tác dụng lên hệ thần kinh trungương [66] Khi không sử dụng phần mềm kê đơn chuyên dụng thuốc CUT thì sai sóttrong chuẩn bị thuốc CUT có thể lên tới 4% số lần thực hiện [68], [85] Nghiên cứucủa R.Bateman và P.Donyai thực hiện tại Anh năm 2010 cho biết trong 4691 báocáo sai sót trong chuẩn bị thuốc tiêm vô trùng được gửi về từ 01/2004-12/2007 thì
có đến 40% lỗi trong chuẩn bị thuốc CUT, sai sót thường xuyên nhất thuộc về lỗighi nhãn chiếm 34,2% [19] Nghiên cứu của Tejal K.,Gandhi và cộng sự năm 2005
và nghiên cứu của F.Ranchon năm 2011 đều cho thấy trong các sai sót gặp phải thì
tỉ lệ lỗi kê đơn chiếm phần lớn [35], [68]
MC.Escoms và cộng sự đã khảo sát một đơn vị pha chế thuốc CUT trong mộtnăm với 20 thông số được theo dõi trên mỗi lần chuẩn bị kết quả trong 4734 lầnchuẩn bị (tương ứng 94.680 thông số) phát hiện được 314 lỗi tương ứng 0,33%, tỉ lệ
Trang 31lỗi có xu hướng giảm trong những ngày có ít lần chuẩn bị tuy nhiên tần suất chuẩn
bị không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra lỗi [31]
Sử dụng phần mềm kê đơn thuốc CUT giúp giảm sai sót, tăng mức độ an toàn.Tác giả Amandine Grave năm 2015 đã thực hiện một chương trình phần mềm giámsát DRUGCAM để kiểm soát hạn chế lỗi liên quan đến pha chế thuốc CUT ởGrenoble và thu được kết quả tốt [84] Trong nghiên cứu của L.Grangeasse tạiBesançon năm 2006 cho thấy trong 4.314 đơn thuốc được kê thì dược sĩ can thiệpvào 138 trường hợp tương đương 3,2% tổng số đơn, trong số đó 52,9% trường hợpphải can thiệp lại đơn kê của bác sĩ, lỗi về liều trong số này chiếm tới 30,4% [83]
1.5.2.3 An toàn trong sử dụng thuốc chống ung thư của điều
dưỡng a Các yếu tố ảnh hưởng đến THAT của điều dưỡng
Theo nghiên cứu của tác giả Martha đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đếnTHAT của điều dưỡng tại Mỹ dùng mô hình yếu tố dự đoán việc sử dụng các biệnpháp phòng ngừa đảm bảo an toàn khi làm việc với thuốc độc tế bào (The factorspredicting use of hazardous drug safe handling precautions model) [63] Nghiên cứu
sử dụng 21 biến số theo thang likert 5 điểm về môi trường làm việc an toàn Bộ câuhỏi này cũng đã được chuẩn hoá từ nghiên cứu trước đó năm 2000 bởi tác giảGershon [37] Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa số lượng bệnh nhân một ngày
và việc sử dụng trang thiết bị bảo hộ
Nghiên cứu của tác giả Amy Callahan năm 2016 đã chỉ ra các yếu tố dự đoán
sẽ ảnh hưởng đến sử dụng thiết bị giúp đảm bảo an toàn khi làm việc với thuốc CUT
là kiến thức, hiệu quả, rào cản, nhận thức về nguy cơ, xung đột lợi ích, ảnh hưởngcủa những cá nhân khác và môi trường làm việc Các biện pháp phòng ngừa cũngảnh hưởng đến việc sử dụng thiết bị như tủ an toàn sinh học, ống găng, găng tay, áochoàng, bảo vệ mắt, mặt nạ [25]
Tác giả Sevcan Topçu năm 2017 đã tiến hành nghiên cứu định tính để tìm hiểu
về kinh nghiệm, thái độ của điều dưỡng với THAT quản lý thuốc CUT đã cho thấy
5 vấn đề chính ảnh hưởng: nhận thức về rào cản (yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức),nhận thức về tính nhạy cảm (nhận thức về nguy cơ tổn thương), nhận thức về nguy
cơ (lo lắng, phơi nhiễm với thuốc), nhận thức về lợi ích (niềm tin, hành vi an toàn),tín hiệu thúc đẩy hành động (giáo dục, nhắc nhở, văn hoá an toàn) [72]
Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào triển khai về vấn đề này Chính vì vậy,chúng tôi đã dựa trên mô hình và bộ công cụ của tác giả Martha để tìm hiểu về yếu
21
Trang 32tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định hoặc hướng dẫn THAT của điều dưỡng tạiBệnh viện TWQĐ 108.
b Kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về thực hành an toàn với thuốc chống ung thư và hiệu quả của can thiệp đào tạo
Tất cả giai đoạn làm việc có liên quan thuốc CUT đều có nguy cơ phơi nhiễm.Theo tác giả Jeong (năm 2015) tỉ lệ nhận thức của điều dưỡng về các giai đoạn cónguy cơ tiếp xúc với thuốc CUT khác nhau Dao động từ 3,5% khi làm việc vớithuốc CUT có khả năng bay hơi hay khuyếch tán vào không khí đến 21,6% khi thayđổi đường truyền của thuốc CUT [47]
Các nghiên cứu đánh giá về THAT khi tiếp xúc với thuốc CUT thường tậptrung đánh giá vào các hành vi đơn giản nhưng quan trọng giúp đảm bảo an toàncho điều dưỡng như đeo găng tay và rửa tay sau khi làm việc với thuốc CUT Rửatay không chỉ thực hiện khi phải làm việc với thuốc CUT mà ngay cả khi đi vào khuvực có liên quan đến thuốc CUT Nhiều nghiên cứu trên thế giới về THAT đã đánhgiá về tỉ lệ thực hiện 2 hành vi này Nghiên cứu được thực hiện bởi tác giả Christina
từ năm 1/2012 đến 3/2013 quan sát trên 22 điều dưỡng cho thấy việc đeo các trangthiết bị bảo hộ giữa quan sát và tự đánh giá tuân thủ không có sự khác biệt Theo kếtquả tự đánh giá cho thấy 75% điều dưỡng đeo găng tay và 92% điều dưỡng rửa taysau khi bỏ găng tay [26] Nghiên cứu được thực hiện bởi tác giả Sarah Ben Aminăm 2001 tại Israel cho thấy theo kết quả tự báo cáo thì chỉ có 48% điều dưỡng rửatay khi thực hành liên quan đến quản lý thuốc CUT, 32% đeo găng tay cao su tựnhiên (latex) Quan sát 22 điều dưỡng thực hiện các hoạt động liên quan đến quản lýthuốc CUT thì tỉ lệ đeo găng tay là 14/22 (63,6%) và rửa tay sau khi thực hành là9/22 (40,9%), không có điều dưỡng nào mặc áo choàng và đeo mặt nạ bảo vệ Trongcác hoạt động giúp đảm bảo an toàn cho điều dưỡng thì rửa tay là hoạt động ít ràocản nhất, tiếp đến là đeo găng tay [20] Nghiên cứu thực hiện bởi tác giả Laura năm
2006 cho thấy 11,2% cán bộ y tế không bao giờ rửa tay sau khi tháo găng [36].Theo một nghiên cứu thực hiện tại Anh, Canada và Columbia thì 75,8% điều dưỡngthường xuyên đeo găng tay khi làm việc với thuốc CUT, có 21,2% thỉnh thoảng vàkhông có ai không bao giờ đeo găng tay khi làm việc với các thuốc này Có 24,2%điều dưỡng thường xuyên rửa tay sau khi tháo găng, trong nghiên cứu này có 75,8%điều dưỡng thỉnh thoảng rửa và không có điều dưỡng nào chưa từng rửa tay sau khitháo găng [42]
Trang 33Để đảm bảo an toàn khu vực làm việc, tiếp xúc với thuốc CUT chỉ sử dụng
cho những hoạt động liên quan đến sử dụng thuốc, chăm sóc bệnh nhân không đượcthực hiện các hoạt động khác Tuy nhiên, tại bệnh viện Ege hay Seoul đều cho thấy
điều dưỡng vẫn thực hiện hành vi có nguy cơ mất an toàn ở khu vực liên quan đến
thuốc chống ung thư [47], [73]
Tổng hợp các nghiên cứu thiết kế dạng bộ câu hỏi về kiểm soát an toàn ở điều
dưỡng được thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Một số nghiên cứu dạng câu hỏi khảo sát ở điều dưỡng
Martin 263 thành viên Găng tay: Găng tay:
dưỡng ung thư
việc: 2%
Không sử dụng 0%
Maryam 224 bộ câu hỏi tự Găng tay: Găng tay: Găng tay Găng
Alehashem điền được điền 77,6% 100% 100%; tay:
(2018)[15] bởi 14 cán bộ y Bảo vệ mặt: Bảovệ Bảo vệ 100%
tế khoa ung thư 63,6% mặt: mặt: Bảo vệ
100%
Nghiên cứu thực hiện bởi tác giả Chun Yip Hon và cộng sự năm 2015 tại Anh,
Columbia và Canada cho thấy 100,0% điều dưỡng nhận thức được nguy cơ tiếp xúc
với thuốc CUT, 93,7% điều dưỡng biết bề mặt nơi làm việc có thể có thuốc CUT.Một số nghiên cứu đã chỉ ra hiệu quả khi tiến hành can thiệp về đào tạo và chính
sách THAT Theo nghiên cứu của tác giả Meijster và cộng sự năm 2006 đã cho thấy
trước và sau can thiệp có sự thay đổi về thực hành sử dụng găng tay ở tất cả các giai
Trang 3423
Trang 35đoạn có liên quan đến thuốc CUT [57] Nghiên cứu tại bệnh viện Sultanah Bahiyah
đã cho thấy tất cả điểm số về kiến thức, thái độ và thực hành đều có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê trước và sau can thiệp Nghiên cứu so sánh các nội dung về kiếnthức trước và sau can thiệp gồm kiến thức chung, kiến thức về ảnh hưởng của thuốcCUT, các nguy cơ tiếp xúc với thuốc CUT và sử dụng các trang thiết bị bảo hộ có đolường kiểm soát an toàn Các nội dung về thái độ của điều dưỡng được đánh giá bao gồmcảm giác tự tin để kiểm soát an toàn thuốc CUT, tin việc sử dụng trang thiết bị bảo hộ làhoàn toàn không cần thiết, lo lắng về ảnh hưởng lâu dài khi phơi nhiễm nghề nghiệp vớithuốc CUT [50] Nghiên cứu tại bệnh viện Ege cho thấy điểm kiến thức trung bình giữanhóm được nhận và không được nhận những thông tin mang tính chính thống về thuốcCUT là khác biệt có ý nghĩa thống kê [73] Nghiên cứu thực hiện bởi tác giả Rachaelđánh giá về hiệu quả của chương trình can thiệp với nhiều giải pháp khác nhau như giáodục, chuẩn hoá thiết bị bảo hộ, nhận diện thuốc CUT đã cho thấy điểm số kiến thức khácbiệt trước và sau can thiệp [28] Tác giả Catherine Graeve và cộng sự năm 2017 đã tiếnhành nghiên cứu can thiệp nhằm làm giảm phơi nhiễm với thuốc CUT đã chạy mô hìnhảnh hưởng của các yếu tố trước và sau can thiệp Trước can thiệp, những yếu tố về đơn vịlàm việc, tự đánh giá hiệu quả và môi trường làm việc an toàn là các yếu tố có ảnhhưởng Sau can thiệp thì chỉ còn yếu tố đơn vị là ảnh hưởng Nghiên cứu chỉ ra yếu tốthay đổi lớn nhất sau can thiệp là giúp tăng nhận thức về nguy cơ [38]
1.6 GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN ĐỘI 108
1.6.1 Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Bệnh viện TWQĐ 108 thành lập ngày 01/04/1951, là một trong 05 bệnh việnhạng đặc biệt của Việt Nam Đây là một bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâu, tuyếncuối của ngành Quân y, luôn đi đầu trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, hiện đại và
đã triển khai nhiều nghiên cứu khoa học có hiệu quả thiết thực đạt được những tiến
bộ vượt bậc trong nền y học nước nhà Bệnh viện không ngừng nâng cao chất lượngchẩn đoán, điều trị, bám sát trình độ y tế tiên tiến trên thế giới, có những kỹ thuật
mũi nhọn đạt ngang tầm khu vực và quốc tế.
Bệnh viện có cơ cấu tổ chức biên chế khá đồng bộ, hợp lý gồm có 104 đơn vịtrực thuộc ban giám đốc, 14 phòng ban cơ quan, 07 viện chuyên ngành, 10 trungtâm, 22 khoa nội, 19 khoa ngoại và chuyên khoa, 17 khoa cận lâm sàng, 03 khoakhám bệnh, 01 bệnh xá trên đảo Song tử tây, 02 tổ y tế thuộc ban bảo vệ sức khỏeTrung ương và 12 bộ môn đào tạo sau đại học Đội ngũ cán bộ khoa học của bệnh
24
Trang 36viện khá đồng đều, nhiều lứa lớp, được đào tạo cơ bản tại các trung tâm lớn ở trong
và ngoài nước Bệnh viện có khoảng 2.500 nhân viên, trong đó đội ngũ cán bộ đạihọc có 610 bác sỹ, dược sỹ, kỹ sư và cử nhân bao gồm: 41 giáo sư, phó giáo sư, 144tiến sĩ, 115 thạc sĩ, 114 bác sĩ chuyên khoa cấp I, II, đủ khả năng giải quyết các vấn
đề y học phức tạp đặt ra, làm tốt chức năng là bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sâutuyến cuối toàn quân, viện nghiên cứu khoa học Y- Dược lâm sàng, cơ sở đào tạosau đại học tới bậc học tiến sỹ, thành viên y tế chuyên sâu của Hà Nội và cả nước,tham gia chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cán bộ cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước vàQuân đội
Bệnh viện TWQĐ 108 là một trong các bệnh viện đi đầu trong nghiên cứu vàđiều trị ung thư Hoạt động điều trị bệnh ung thư tại bệnh viện TWQĐ 108 đã có
những phát triển trong những năm vừa qua Bệnh viện đã phát triển từ khoa A6
(Huyết học lâm sàng) thành Viện Ung bướu với các khoa A6-A; A6-B; A6-C vàA6-D để đáp ứng với nhu cầu điều trị bệnh nhân ung thư đến Bệnh viện ngày mộtđông [93]
1.6.2 Giới thiệu về khoa Dược - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Khoa Dược có tổ chức biên chế gồm 62 cán bộ nhân viên Trong đó DSĐH là
19 người chiếm 30,6% quân số Khoa Dược có đội ngũ cán bộ hùng hậu được đàotạo chính quy từ Đại học Dược Hà Nội và Học viện Quân Y Trình độ chuyên mônsau đại học đạt 73,7 %, trong đó có 02 tiến sĩ, 12 thạc sĩ (02 NCS) và 05 dược sĩ đạihọc (03 học viên cao học) Khoa Dược được tổ chức thành 06 bộ phận: Ban Dượcchính - kiểm nghiệm, Ban bào chế sản xuất, Ban Đảm bảo thuốc, Ban Dược lâmsàng, hệ thống nhà thuốc Bệnh viện và bộ phận Quản lý chất lượng
Trong lịch sử phát triển của mình, khoa Dược - Bệnh viện TWQĐ 108 rất tựhào là khoa Dược đầu tiên trong hệ thống y tế Việt Nam được đón nhận danh hiệuAnh hùng lực lượng vũ trang năm 2015 Khoa Dược luôn đi đầu trong các công tácchuyên môn nghiệp vụ Dược đó là nghiên cứu khoa học, sản xuất thuốc trong thời
kỳ chiến tranh chống Mỹ, sớm áp dụng phần mềm công nghệ thông tin trong quản
lý xuất nhập tồn tại kho Dược và đặc biệt là đơn vị đi đầu trong việc xây dựng Labopha chế tập trung thuốc CUT tại khoa Dược Được chuẩn bị từ cuối năm 2009, khaitrương hoạt động vào ngày 24/03/2010 đến nay, Labo pha chế tập trung thuốc CUTluôn là điểm đến thăm quan và học tập mô hình của các bệnh viện trên địa bàn vàtrong cả nước Đây cũng là cơ sở thực tập hàng năm của lớp đào tạo liên kết chohoạt động pha chế thuốc CUT của Đại học Bordeaux và Đại học Dược Hà Nội
Trang 371.6.3 Thực trạng hoạt động quản lý sử dụng thuốc CUT tại Bệnh viện
Hiện nay, bệnh viện TWQĐ 108 đã trang bị 2 isolator phục vụ cho công tácpha chế với dịên tích phòng pha chế là 48m2 Đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định củaHiệp hội Dược Ung thư Pháp (SFPO) về thực hiện pha chế thuốc chống ung thư tậptrung (tiêu chuẩn BPP ch.7-3 diện tích tổi thiểu là 40m2) Bệnh viện TWQĐ 108 có
5 dược sĩ thực hiện công tác pha chế đều được đào tạo về kỹ thuật pha chế cơ bản,được chỉ dẫn về các nguy cơ khi tiến hành công việc với các thuốc độc hại và tuânthủ tốt các quy trình vận hành cũng như sản xuất, pha chế Ngoài ra, bệnh việnTWQĐ 108 cũng đáp ứng các quy định về các quy trình trong pha chế thuốc CUTnhư xây dựng các quy trình xử lý khi xảy ra đổ vỡ, tràn thuốc, quy trình xử lý rácthải sau pha chế, quy trình vận hành và bảo dưỡng thiết bị Dựa vào tình hình thực
tế Bệnh viện và những hướng dẫn của các hiệp hội chuyên ngành Dược của Mỹ vàChâu Âu như ASHP, NIOSH, SFPO, Bệnh viện đã thiết lập các bước hoạt động củaQuy trình chuẩn bị thuốc CUT như hình 1.5
Hình 1.5 Sơ đồ các bước thực hiện của quy trình
26
Trang 38Bác sĩ chịu trách nhiệm kê đơn, lựa chọn phác đồ phù hợp với người bệnh,
sau đó chuyển đơn thuốc cho khoa Dược DSĐH được phân công có trách nhiệm
phân tích đơn thuốc về sự phù hợp của phác đồ, sự tương kỵ của hóa chất và dung
môi có thể phản hồi và trao đổi với bác sĩ nếu phát hiện bất thường Sau khi hoàn
thiện bước này DSĐH cần đưa ra phương pháp bào chế phù hợp và chuyển phiếu
pha chế cho DSTH tiến hành thực hiện các thao tác Sản phẩm sau khi được hoàn
thiện được cấp cho điều dưỡng để sử dụng ngay cho bệnh nhân
1.6.3.1 Pha chế tập trung thuốc chống ung thư
Tại Bệnh viện TWQĐ 108, trước đây thuốc CUT được pha chế tại các khoa
lâm sàng bởi điều dưỡng Từ tháng 3/2010, Labo pha chế thuốc CUT tập trung tại
khoa Dược đi vào hoạt động Từ năm 2011 tất cả các thuốc CUT phải pha chế trước
khi sử dụng đều được thực hiện tập trung tại khoa Dược
a Đặc điểm bệnh nhân được phục vụ tại Labo
Tổng hợp số bệnh nhân sử dụng thuốc từ Labo pha chế thuốc CUT tập trung
tại bệnh viện TWQĐ 108 được thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Số bệnh nhân sử dụng thuốc từ Labo pha chế thuốc CUT tập trung
Trong giai đoạn 2011-2017 tổng số bệnh nhân được sử dụng thuốc từ Labo
pha chế thuốc CUT của khoa Dược là 8.564 bệnh nhân Các đối tượng bệnh nhân
chủ yếu mắc các bệnh như ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư lympho ác
tính, ung thư thực quản và ung thư vú Số bệnh nhân tăng qua các năm với tỉ lệ tăng
Trang 39trưởng từ 12-25% so với năm liền kề trước Nếu chỉ so sánh tổng số bệnh nhânđược phục vụ tại Labo của năm 2017 đã lớn hơn gấp 2,8 lần so với năm 2011.
b Số lượng đơn thuốc chống ung thư
Trong giai đoạn này số lượng bệnh nhân ung thư đến điều trị tại Bệnh viện liêntục tăng dẫn đến số lượt bệnh nhân được chuẩn bị thuốc cũng như số lần chuẩn bịthuốc CUT được thực hiện tại Labo cũng tăng lên tương ứng Số lượt bệnh nhânchính là số đơn hóa trị liệu được kê hàng ngày Tổng hợp số lượng đơn thuốc CUTđược thực hiện tại khoa Dược trong vòng 7 năm từ 2011 đến 2017 được thể hiện ởbảng 1.4
Bảng 1.4 Trung bình số lần chuẩn bị thuốc CUT trên lượt bệnh nhân
c Cơ cấu thuốc điều trị ung thư được pha chế tập trung tại khoa Dược
Tổng hợp hoạt chất và biệt dược CUT tại Bệnh viện TWQĐ 108 từ 2011 đến
2107 được thể hiện ở bảng 1.5
Bảng 1.5 Số lượng hoạt chất và BD các thuốc CUT sử dụng tại Bệnh viện
Trang 40Số biệt dược trung bình tăng từ 57 lên 106 nhưng số lượng hoạt chất chỉ tăng
từ 27 lên 35 Do nhiều biệt dược của cùng loại hoạt chất được cung ứng trong bệnhviện Điều này giúp đảm bảo lựa chọn thuốc phù hợp với bệnh nhân cả về mức độbệnh tật và khả năng chi trả Số biệt dược nhiều hơn số hoạt chất vì liều dùng thuốcCUT là liều cá thể được tính trên từng bệnh nhân dựa vào phác đồ được lựa chọn vàthông số sinh học của bệnh nhân đó (ví dụ như BSA, AUC…) vì vậy để tổ hợp đượcliều dùng phù hợp thì mỗi hoạt chất của cùng một nhà sản xuất thường có hai loạihàm lượng Ví dụ: biệt dược Eloxatin (oxaliplatin) có hàm lượng 50mg (lọ 10ml) và100mg (lọ 20ml); biệt dược Taxotere 20mg và Taxotere 80mg hoạt chất làdocetaxel Hơn nữa cùng 01 loại hoạt chất cũng có nhiều biệt dược khác nhau (ví dụhoạt chất docetaxel có các biệt dược là Taxotere; Tadocel; Oncodocel)
1.6.3.2 Kê đơn thuốc chống ung thư tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Trên thế giới đã có nhiều phần mềm kê đơn chuyên dụng cho thuốc CUT nhưASCLEPIOS hay CHIMIO Tuy nhiên, các phần mềm này thường có giá cao và đềuthiết kế trên những quy định của luật pháp của nước sở tại mà những văn bản pháp
lý này không phù hợp với quy định hiện hành ở Việt Nam Vì vậy, nếu mua nhữngphần mềm này khi áp dụng tại Việt Nam sẽ gặp những khó khăn nhất định Cácbệnh viện ở nước ta hiện nay chưa có phần mềm chuyên dụng để thực hiện
Chính vì vậy, Bệnh viện TWQĐ 108 đã triển khai xây dựng một mô-đunchuyên dụng cho kê đơn thuốc CUT và tích hợp vào phần mềm quản lý VIMESđang được sử dụng tại Bệnh viện Mô-đun kê đơn thuốc CUT được triển khai xâydựng từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 7 năm 2018 Sau đó được tích hợp vào phầnmềm quản lý bệnh viện và được triển khai thử nghiệm tại khoa A6 bệnh việnTWQĐ 108 từ tháng 8/2018
1.6.3.3 Đào tạo về thực hành an toàn khi sử dụng thuốc chống ung thư
Trước đây chưa có hoạt động đào tạo cho điều dưỡng về THAT khi làm việcvới thuốc CUT cho điều dưỡng tại Bệnh viện TWQĐ 108 Do đó, chúng tôi xâydựng nội dung đào tạo THAT cho điều dưỡng dựa trên các khuyến cáo hướng dẫn
về THAT trên thế giới sau đó tiến hành đào tạo cho điều dưỡng các khoa lâm sàngcủa Bệnh viện TWQĐ 108 có sử dụng thuốc CUT được pha chế Can thiệp đào tạo
về THAT cho điều dưỡng được triển khai vào tháng 7/2018
1.7 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với xu hướng gia tăng bệnh nhân ung thư và chi phí thuốc CUT ngày mộttăng, hoạt động quản lý sử dụng thuốc CUT càng trở nên quan trọng Bệnh viện