SLIDE BÁO CÁO HỌC PHẦN: KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ Quản trị doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế (Corporate governance and firm value: International evidence) Kiểm soát quản trị tốt có thể giúp công ty vượt qua những “vấn đề” và tạo ra giá trị cho chính nó, theo đó: Giá cổ phiếu cao và lợi nhuận thu được dưới dạng lãi hoặc cổ tức (Jensen and Meckling, 1976; LaPorta et al., 2002) Chi phí vốn thấp hơn (Shleifer and Vishny, 1997) Chủ đề thú vị này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đo lường. Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu giới hạn ở cấp độ quốc gia cũng như khía cạnh nghiên cứu và chất lượng của dữ liệu thu được vẫn còn là dấu chấm hỏi bởi chính các nhà nghiên cứu như Khanna et al. (2006). Trong bài viết này, các tác giả cung cấp bằng chứng mới về mối quan hệ giữa kiểm soát quản trị doanh nghiệp cấp công ty và định giá công ty trong một khung cảnh quốc tế. Qua đó đóng góp cho các nghiên cứu trước đó bằng cách sử dụng bộ dữ liệu mới và chưa được khám phá trước đây từ Hệ thống xếp loại kiểm soát quản trị (GMI) GMI bắt đầu cung cấp dữ liệu về kiểm soát quản trị cấp doanh nghiệp tính từ năm 2003 và tạo ra một hệ thống đánh giá kiểm soát quản trị cho các công ty từ khắp nơi trên thế giới (gồm cả Mỹ và ngoài Mỹ) bằng thuật toán chấm điểm độc quyền. Dữ liệu sử dụng Sử dụng bộ dữ liệu chưa được sử dụng trước đây bởi GMI bao gồm 64 thuộc tính kiểm soát quản trị doanh nghiệp trên hơn 2300 công ty từ 22 các nước phát triển (không bao gồm Hoa Kỳ) trong khoảng thời gian 5 năm từ 2003 đến 2007 64 thuộc tính quản trị khác nhau được phân loại bởi GMI trong sáu loại, cụ thể là trách nhiệm của hội đồng quản trị, công khai tài chính và kiểm soát nội bộ, quyền cổ đông, lương thưởng, thị trường để kiểm soát và hành vi của công ty. Lợi thế đầu tiên thu được có thể kể đến là đa đạng các thuộc tính trong nhóm sáu loại có thể thể hiện phần nào hành vi xã hội của công ty hay còn được gọi là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CRS) trong khi còn rất ít các nghiên cứu về chủ đề này. Các tác giả có cơ sở để tin rằng việc sử dụng dữ liệu chưa từng được sử dụng trước đây là rất quan trọng do chất lượng dữ liệu trong các nghiên cứu trước là đáng ngờ (e.g., Khanna et al., 2006). Ngoài ra, dữ liệu trong bài viết được xem là lớn hơn đáng kể so với Aggarwal et al. (2009) and Bruno and Claessens (2010) mặc dù không bao gồm bất kỳ công ty nào ở Mỹ và chuỗi thời gian dài hơn cho phép thu thập tốt hơn và tìm ra bằng chứng về mối quan hệ giữa kiểm soát quản trị doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp.
Trang 1Quản trị doanh nghiệp và giá trị doanh
nghiệp: Bằng chứng quốc tế
(Corporate governance and firm value:
International evidence)
Quản trị doanh nghiệp và giá trị doanh
nghiệp: Bằng chứng quốc tế
(Corporate governance and firm value:
International evidence)
BÁO CÁO HỌC PHẦN: KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ
Trang 2Manuel Ammann
Prof Dr Manuel Ammann Swiss Institute of Banking and Finance
University of St.Gallen Rosenbergstrasse 52 CH-9000 St.Gallen Tel +41-71-224-7080 Fax +41-71-224-7088 Email: firstname.lastname@unisg.ch
Trang 3David Oesch
• Associate Professor of Financial
Accounting
University of Zurich Department of Business Administration Plattenstrasse 14
CH-8032 Zurich
Email: david.oesch@business.uzh.ch
Trang 4Markus M Schmid
• University of Mannheim, Finance Area,
D-68131 Mannheim, Germany
• Corresponding author University of
Mannheim, Finance Area, Chair for Corporate Governance, D-68131 Mannheim, Germany Tel.: +49 621 181 37 54.
Trang 5Agency problems?
Kiểm soát quản trị tốt có thể giúp công ty vượt qua những “vấn đề” và tạo ra giá trị cho chính nó, theo đó:
• Giá cổ phiếu cao và lợi nhuận thu được dưới dạng lãi hoặc cổ tức (Jensen and Meckling, 1976; La Porta et al., 2002)
• Chi phí vốn thấp hơn (Shleifer and Vishny, 1997) Chủ đề thú vị này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đo lường Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu giới hạn ở cấp độ quốc gia cũng như khía cạnh nghiên cứu và chất lượng của dữ liệu thu được vẫn còn là dấu chấm hỏi bởi chính các nhà nghiên cứu như Khanna et al (2006)
Trang 6Corporate governance and firm value: International
evidence☆
Trong bài viết này, các tác giả cung cấp bằng chứng mới về mối quan hệ giữa kiểm soát quản trị doanh nghiệp cấp công ty
và định giá công ty trong một khung cảnh quốc tế Qua đó
đóng góp cho các nghiên cứu trước đó bằng cách sử dụng bộ
dữ liệu mới và chưa được khám phá trước đây từ Hệ thống xếp loại kiểm soát quản trị (GMI)
GMI bắt đầu cung cấp dữ liệu về kiểm soát quản trị cấp doanh nghiệp tính từ năm 2003 và tạo ra một hệ thống đánh giá kiểm soát quản trị cho các công ty từ khắp nơi trên thế giới (gồm cả
Mỹ và ngoài Mỹ) bằng thuật toán chấm điểm độc quyền
Trang 7Phương pháp nghiên cứu
• Dữ liệu sử dụng
Sử dụng bộ dữ liệu chưa được sử dụng trước đây bởi GMI bao gồm 64 thuộc tính kiểm soát quản trị doanh nghiệp trên hơn 2300 công ty từ 22 các nước phát triển (không bao gồm Hoa Kỳ) trong khoảng thời gian 5 năm từ 2003 đến 2007
64 thuộc tính quản trị khác nhau được phân loại bởi GMI trong sáu loại, cụ thể là trách nhiệm của hội đồng quản trị, công khai tài chính và kiểm soát nội bộ, quyền cổ đông, lương thưởng, thị trường để kiểm soát và hành vi của công ty
Lợi thế đầu tiên thu được có thể kể đến là đa đạng các thuộc tính trong nhóm sáu loại có thể thể hiện phần nào hành vi xã hội của công ty hay còn được gọi là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CRS) trong khi còn rất ít các nghiên cứu về chủ đề này
Các tác giả có cơ sở để tin rằng việc sử dụng dữ liệu chưa từng được sử dụng trước đây là rất quan trọng do chất lượng dữ liệu trong các nghiên cứu trước là đáng ngờ (e.g., Khanna et al., 2006) Ngoài ra, dữ liệu trong bài viết được xem là lớn hơn đáng
kể so với Aggarwal et al (2009) and Bruno and Claessens (2010) mặc dù không bao gồm bất kỳ công ty nào ở Mỹ và chuỗi thời gian dài hơn cho phép thu thập tốt hơn và tìm ra bằng chứng về mối quan hệ giữa kiểm soát quản trị doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp
Trang 8Bên cạnh việc sử dụng một bộ dữ liệu mới, các tác giả đóng góp cho nghiên cứu bằng cách thử nghiệm các cách tiếp cận khác
nhau và khác biệt về cách cô đọng số lượng lớn các biến quản trị
có trong cơ sở dữ liệu thành một thước đo kiểm soát quản trị
doanh nghiệp Xây dựng bộ 3 chỉ số kiểm soát quản trị gồm:
• CGI1 biểu thị chỉ số quản trị được xây dựng theo cách tương tự như Aggarwal et al (2009), cụ thể bằng cách chia các thuộc
tính quản trị mà một công ty hoàn thành với số lượng quản trị thuộc tính một công ty báo cáo dữ liệu cho.
• CGI2 biểu thị chỉ số quản trị được xây dựng theo cách tương tự như CGI1 nhưng với các thuộc tính bị thiếu được xử lý như thể những thuộc tính này đã không được thực hiện (tính “missing values”).
• CGI3 biểu thị chỉ số quản trị được xây dựng bằng phương pháp phân tích nhân tố để gom nhóm các thành phần chính lại (PCA)
Trang 9Bảng 1 Tổng quan về các quốc gia có trong mẫu.
Trang 10
Bảng 2 cung cấp tổng quan về 64 thuộc tính quản trị và cho thấy
tỷ lệ phần trăm của các công ty đáp ứng các tiêu chí này
Trang 11Xây dựng chỉ số quản trị doanh nghiệp
• Chỉ số đầu tiên - CGI1, được tính bằng tỷ lệ phần trăm của các thuộc tính mà một công ty đã áp dụng (nghĩa là các thuộc tính đã được gán giá trị của một thuộc tính) Nếu một công ty đáp ứng tất cả 64 thuộc tính, CGI1 cho công ty này sẽ bằng 100, ngược lại, Nếu công ty không cung cấp thông tin về một thuộc tính sẽ bị loại bỏ thuộc tính này khỏi tính toán của chỉ mục
• Chỉ số thứ hai, CGI2, được xây dựng giống như CGI1, ngoại trừ các tác giả không loại trừ các thuộc tính bị thiếu khỏi tính toán nhưng cho mỗi thuộc tính bị thiếu điểm 0, xử lý nó một cách hiệu quả như thể công ty không chấp nhận tương ứng thuộc tính quản trị
• Áp dụng phân tích thành phần chính (PCA), bằng cách tìm ra sự kết hợp tuyến tính của kiểm soát quản trị ban đầu các thuộc tính chiếm càng nhiều biến thể trong tập dữ liệu gốc càng tốt PCA yêu cầu sự sẵn có của tất cả các thuộc tính quản trị cho một quan sát năm công ty cụ thể
và do đó các tác giả hạn chế quản trị các thuộc tính được sử dụng tiêu chuẩn đối với 17 thuộc tính quản trị được chọn.
Trang 12Thống kê tóm tắt các chỉ số quản trị doanh
nghiệp và các biến kiểm soát.
Trang 13Hình 1 cho thấy rằng có sự khác biệt đáng kể về kiểm soát quản trị doanh nghiệp giữa các công ty trong mẫu, bất kể sử dụng chỉ số nào Phương pháp tính CGI1 và CGI2 giống như phương pháp được sử dụng bởi Aggarwal et al (2009)
Trang 14Tầm quan trọng về kinh tế của kiểm soát quản trị
Trang 15KẾT QUẢ
Nghiên cứu chỉ ra rằng thực tiễn kiểm soát quản trị doanh nghiệp tốt hơn được phản ánh trong ý nghĩa thống kê và giá trị thị trường cao hơn Do đó, ít nhất là đối với công ty trung bình trong mẫu, chi phí thực hiện
cơ chế kiểm soát quản trị của công ty dường như nhỏ hơn lợi ích giám sát, dẫn đến dòng tiền cao hơn tích lũy cho các nhà đầu tư và chi phí vốn thấp hơn Do đó,
từ quan điểm của các công ty, kiểm soát quản trị
doanh nghiệp nên được hiểu là một cơ hội chứ không phải là một nghĩa vụ và yếu tố chi phí thuần túy.