1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Slide báo cáo bài báo khoa học_ PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP (A Taxonomy of Systems of Corporate Governance)

24 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SLIDE BÁO CÁO MÔN KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ BÁO CÁO BÀI BÁO KHOA HỌC: PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP (A Taxonomy of Systems of Corporate Governance) Sự sụp đổ của các nền kinh tế tập trung, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đã chứng minh cần tăng sự quan tâm hơn nữa trong kiểm soát quản trị để tăng lợi ích cho doanh nghiệp Việc thảo luận về hệ thống kiểm soát quản trị trong môi trường quốc tế bị cản trở do thiếu khuôn khổ và tính mạch lạc, trong khi các hệ thống này có thể được sắp xếp một cách có phương pháp Trong cuộc thảo luận tại Hội thảo nghiên cứu quốc tế về quản trị và định hướng doanh nghiệp tổ chức tại Anh, vào ngày 1112061997, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu phân loại các hệ thống quản trị DN, và Ngân hàng ABN Amro sẽ hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu này. Đã tạo động lực cho các tác giả thực hiện bài nghiên cứu này để thiết lập ra một phân loại cho các hệ thống kiểm soát quản trị doanh nghiệp (cấp quốc gia) và giải thích các đặc điểm của nó. Từ đó, giúp các nhà quản trị tăng hiệu quả trong các hệ thống kiểm soát quản trị khác nhau, sẵn sàng minh bạch để tự đánh giá phê bình và nghiên cứu cấu trúc của kiểm soát quản trị trong môi trường quốc tế. Dựa vào các đặc thù của quốc gia về pháp lý, thể chế và văn hóa làm hình thành nên các yếu tố ảnh hưởng đến các bên liên quan (ví dụ: người quản lý, nhân viên, cổ đông, chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ) tác động lên việc ra quyết định của ban quản lý. Đây là yếu tố có ảnh hưởng đến việc kiểm soát quản trị Từ nghiên cứu của Scott (1985), De Jong (1989), Moerland (1995a, b) và Weimer (1995) đã đề ra bốn nhóm quốc gia công nghiệp hóa, tương đối giàu mạnh và hệ thống kiểm soát doanh nghiệp của họ có thể xác định được. Vì vậy, các tác giả sử dụng 04 nhóm quốc gia đại diện này để phân tích các đặc điểm KSQT từ đó đề xuất một phân loại cho các hệ thống kiểm soát quản trị trong bài viết này, đó là các nhóm:

Trang 1

HỌC PHẦN:

KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

NỘI DUNG BÁO CÁO BÀI BÁO KHOA HỌC PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

(A Taxonomy of Systems of Corporate Governance)

NỘI DUNG BÁO CÁO BÀI BÁO KHOA HỌC

PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

(A Taxonomy of Systems of Corporate Governance)

1

Trang 2

Việc thảo luận về hệ thống kiểm soát quản trị trong môi trường quốc

tế bị cản trở do thiếu khuôn khổ và tính mạch lạc, trong khi các hệ thống này có thể được sắp xếp một cách có phương pháp

Việc thảo luận về hệ thống kiểm soát quản trị trong môi trường quốc

tế bị cản trở do thiếu khuôn khổ và tính mạch lạc, trong khi các hệ thống này có thể được sắp xếp một cách có phương pháp

Sự sụp đổ của các nền kinh tế tập

trung, các nhà nghiên cứu và các

nhà hoạch định chính sách đã

chứng minh cần tăng sự quan tâm

hơn nữa trong kiểm soát quản trị

để tăng lợi ích cho doanh nghiệp

Sự sụp đổ của các nền kinh tế tập

trung, các nhà nghiên cứu và các

nhà hoạch định chính sách đã

chứng minh cần tăng sự quan tâm

hơn nữa trong kiểm soát quản trị

để tăng lợi ích cho doanh nghiệp

Đã tạo động lực cho các tác giả thực hiện bài nghiên cứu này để thiết lập ra một phân loại cho các hệ thống kiểm soát quản trị doanh nghiệp (cấp quốc gia) và giải thích các đặc điểm của nó Từ đó, giúp các nhà quản trị tăng hiệu quả trong các hệ

thống kiểm soát quản trị khác nhau, sẵn sàng minh bạch để tự đánh giá phê bình và nghiên cứu cấu trúc của kiểm soát quản trị trong môi trường quốc tế

Đã tạo động lực cho các tác giả thực hiện bài nghiên cứu này để thiết lập ra một phân loại cho các hệ thống kiểm soát quản trị doanh nghiệp (cấp quốc gia) và giải thích các đặc điểm của nó Từ đó, giúp các nhà quản trị tăng hiệu quả trong các hệ thống kiểm soát quản trị khác nhau, sẵn sàng minh bạch để tự đánh giá phê bình và nghiên cứu cấu trúc của kiểm soát quản trị trong môi trường quốc tế

Trong cuộc thảo luận tại Hội thảo nghiên cứu quốc tế về quản trị và định hướng doanh nghiệp tổ chức tại Anh, vào ngày 11&12/06/1997, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu phân loại các hệ thống quản trị

DN, và Ngân hàng ABN Amro sẽ hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu này.

Trong cuộc thảo luận tại Hội thảo nghiên cứu quốc tế về quản trị và định hướng doanh nghiệp tổ chức tại Anh, vào ngày 11&12/06/1997, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu phân loại các hệ thống quản trị

DN, và Ngân hàng ABN Amro sẽ hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu này.

2

Trang 3

Nhật bản (là một quốc gia tách biệt)

Pháp, Ý, Tây Ban Nha

và Bỉ

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

ĐỂ NGHIÊN CỨU

Dựa vào các đặc thù của quốc gia về pháp lý, thể chế và văn hóa làm hình thành nên các

yếu tố ảnh hưởng đến các bên liên quan (ví dụ: người quản lý, nhân viên, cổ đông, chủ nợ,

khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ) tác động lên việc ra quyết định của ban quản lý

Đây là yếu tố có ảnh hưởng đến việc kiểm soát quản trị

Từ nghiên cứu của Scott (1985), De Jong (1989), Moerland (1995a, b) và Weimer (1995) đã

đề ra bốn nhóm quốc gia công nghiệp hóa, tương đối giàu mạnh và hệ thống kiểm soát

doanh nghiệp của họ có thể xác định được Vì vậy, các tác giả sử dụng 04 nhóm quốc gia đại

diện này để phân tích các đặc điểm KSQT từ đó đề xuất một phân loại cho các hệ thống

kiểm soát quản trị trong bài viết này, đó là các nhóm:

Từ nghiên cứu của Scott (1985), De Jong (1989), Moerland (1995a, b) và Weimer (1995) đã

đề ra bốn nhóm quốc gia công nghiệp hóa, tương đối giàu mạnh và hệ thống kiểm soát

doanh nghiệp của họ có thể xác định được Vì vậy, các tác giả sử dụng 04 nhóm quốc gia đại

diện này để phân tích các đặc điểm KSQT từ đó đề xuất một phân loại cho các hệ thống

kiểm soát quản trị trong bài viết này, đó là các nhóm:

Mỹ, Anh, Canada

và Úc

1

2

Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Áo, Đan Mạch, Na Uy

và Phần Lan

Nhóm các nước Anglo-Saxon

Trang 4

Dựa trên các cơ

Khái niệm phổ biến của công ty (the prevailing concept of the firm)

Khái niệm phổ biến của công ty (the prevailing concept of the firm)

Hệ thống hội đồng quản trị (the board system)

Hệ thống hội đồng quản trị (the board system)

Khả năng gây ảnh hưởng của các bên liên quan đến việc ra quyết định của nhà quản lý

(the salient stakeholders able to exert influence on managerial decision-making)

Khả năng gây ảnh hưởng của các bên liên quan đến việc ra quyết định của nhà quản lý

(the salient stakeholders able to exert influence on managerial decision-making)

Tầm quan trọng của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế quốc gia

(the importance of stock markets in the national economy)

Tầm quan trọng của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế quốc gia

(the importance of stock markets in the national economy)

Có hay không sự tác động của của thị trường bên ngoài đến kiểm soát quản trị DN

(the presence or absence of an external market for corporate control)

Có hay không sự tác động của của thị trường bên ngoài đến kiểm soát quản trị DN

(the presence or absence of an external market for corporate control)

Cơ cấu quyền sở hữu (the ownership structure)

Cơ cấu quyền sở hữu (the ownership structure)

Mức đãi ngộ cho các nhà điều hành dựa vào hiệu quả hoạt động của công ty

(the extent to which executive compensation is dependent on corporate performance)

Mức đãi ngộ cho các nhà điều hành dựa vào hiệu quả hoạt động của công ty

(the extent to which executive compensation is dependent on corporate performance)

Thời hạn của các mối quan hệ kinh tế

(the time horizon of economic relationships)

Thời hạn của các mối quan hệ kinh tế

(the time horizon of economic relationships)

Trang 5

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Định hướng thị trường

(market-oriented):

Nhóm các quốc gia Anglo Saxon

1 Định hướng thị trường

(market-oriented):

Nhóm các quốc gia Anglo Saxon

2 Định hướng mạng lưới

oriented):

(network-Nhóm các nước Đức, Latinh và Nhật

2 Định hướng mạng lưới

oriented):

(network-Nhóm các nước Đức, Latinh và Nhật

Thông qua việc

Thường được gọi là thị trường tiếp quản

(Cho phép chuyển quyền kiểm soát san nhóm QL khác nếu có thể mang lại hiệu quả cao hơn nhóm hiện tại).

Ngân hàng, các tổ chức phi tài chính khác

và các nhóm cổ đông chủ chốt có mối quan

hệ với nhau cùng tác động đến việc ra quyết định quản lý Các hình thức phổ biến nhất là cổ phần chéo và các chức vụ kiêm nhiệm (định hướng thể chế)

5

Trang 6

Dữ liệu và Kết quả nghiên cứu được các tác giả thể hiện tổng quát trong 03 bảng phụ lục và phần giải thích chi tiết trong bài viết

Trang 7

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (tt)

7

Trang 8

Bảng 2: Mô tả tầm quan

trọng của thị trường

chứng khoán đối với nền

kinh tế quốc gia thông

qua 02 chỉ số (theo Liên

đoàn giao dịch

chứng khoán quốc

tế -FIBV) :

- Tỷ lệ % vốn hóa thị

trường của các cty trong

nước chiếm trong Tổng

SP quốc nội (MVDC as %

of GDP)

- Tỷ lệ % của Vốn mới

huy động thông qua

chào bán công khai

chứng khoán đối với nền

kinh tế quốc gia thông

qua 02 chỉ số (theo Liên

đoàn giao dịch

chứng khoán quốc

tế -FIBV) :

- Tỷ lệ % vốn hóa thị

trường của các cty trong

nước chiếm trong Tổng

SP quốc nội (MVDC as %

of GDP)

- Tỷ lệ % của Vốn mới

huy động thông qua

chào bán công khai

chiếm trong Tổng hình

thành vốn cố định (NCR

Trang 9

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (tt)

9

Trang 10

Bảng 3: Thống kê tỷ lệ sở hữu cổ phần của các thành phần tham gia trong các công ty ở các quốc gia đại diện Từ

đó cho thấy sự kiểm soát doanh nghiệp có bị tác động của thị trường bên ngoài hay không (các thành phần ảnh

hưởng đến các quyết định quản lý của công ty)

Bảng 3: Thống kê tỷ lệ sở hữu cổ phần của các thành phần tham gia trong các công ty ở các quốc gia đại diện Từ

đó cho thấy sự kiểm soát doanh nghiệp có bị tác động của thị trường bên ngoài hay không (các thành phần ảnh hưởng đến các quyết định quản lý của công ty)

10

Trang 11

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (tt)

11

Trang 12

1 Đối với nhóm các nước Anglo Saxon: chỉ có Mỹ và Anh được phân tích sâu hơn một vì giá trị GDP của

họ tương đối lớn (xem Bảng 1).

2 Đối với nhóm các nước nói tiếng Đức: chỉ có Đức và Hà Lan (thấp hơn nhiều) được phân tích sâu hơn

một vì giá trị GDP của họ tương đối lớn (xem Bảng 1).

3 Đối với nhóm các nước Latinh: chỉ có Pháp và Ý (thấp hơn nhiều) được phân tích sâu hơn một vì giá trị

GDP của họ tương đối lớn (xem Bảng 1).

4 Nhật: là trường hợp một quốc gia tách biệt.

XEM BẢNG 1

12

Trang 13

1 KHÁI NIỆM CỦA CÔNG TY (Concept of the firm):

Anglo-cụ để tạo ra lợi ích cho cổ đông

Thay vào đó, nó được coi là một thực thể kinh tế tự trị tạo thành một liên minh gồm nhiều người tham gia, như cổ đông, quản lý, nhân viên, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ, nhà cung cấp vốn và khách hàng, cùng phấn đấu cho

sự phát triển chung của cty (Moerland, 1995a).

Thể chế

(Institutional)

- Khái niệm về công ty ở các nước Latinh có sự pha trộn giữa quan điểm công

cụ của Anglo Saxon và quan điểm thể chế của các nước Đức nhưng gần giống hơn với nhóm các nước Đức.

Thể chế

(Institutional)

- Nhật Bản là nơi khái niệm thể chế chiếm ưu thế Khái niệm này biểu hiện trong sự hiện diện quy mô lớn của mạng lưới các Cty liên doanh, gọi là Keiretsu

(một tập đoàn các doanh nghiệp liên kết với nhau bằng các cổ phần chéo để tạo thành một cấu trúc doanh nghiệp mạnh mẽ).

Ví dụ: Công ty Mitsubishi có các công ty con kinh

doanh các lĩnh vực liên quan, như kinh doanh (Mitsubishi Corp), bảo hiểm (Tokyo insurrance), kho bãi (Mitsubishi Warehouse), đóng tàu (Mitsubishi Heavy Industries) và ngân hàng (Mitsubishi bank).

PHẦN 5: PHÂN TÍCH CHI TIẾT 08 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỆ THỐNG KSQT (tt)

13

Trang 14

2 HỆ THỐNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ (Board system)

Một cấp

One-tier

- Trách nhiệm điều hành và

giám sát của hội đồng quản trị

(HĐQT) được cô đọng trong

một pháp nhân Tuy nhiên, có

thành viên HĐQT tham gia điều

hành (bên trong) và người

không điều hành (bên ngoài)

Sau cùng, là các chuyên gia bên

ngoài, những người này thường

cũng là thành viên Ban điều

hành của các Cty khác

- Các thành viên hội đồng quản

trị bên ngoài chịu trách nhiệm

quản lý của tập đoàn

- Cả thành viên HĐQT có điều

hành và không điều hành đều

được bổ nhiệm và miễn nhiệm

bởi Đại hội đồng cổ đông.

[theo Ble Rich và Paul (1986), Edwards

và Fischer (1994) và Kaplan (1995)].

- Các tập đoàn Đức có 2.000 nhân viên trở lên thì đại diện nhân viên phải chiếm một nửa số ghế trong Ban giám sát Các thành viên khác của Ban giám sát được bổ nhiệm bởi Đại hội đồng cổ đông

Không bắt buộc, nói chung 01 cấp

(Optional, in general one-tier)

- Ở Pháp, các cty có quyền lựa chọn sử dụng hệ thống quản trị một cấp hoặc hai cấp Phần lớn các công ty niêm yết (98%) đã chọn hệ thống một cấp.

- Các cổ đông có thể bổ nhiệm và bãi nhiệm thành viên HĐQT với 50% quyền biểu quyết Giới hạn trong hệ thống một cấp, luật doanh nghiệp của Pháp không phân biệt giữa giám đốc điều hành và không điều hành trong ban quản lý Trên thực tế, ít nhất 2/3 HĐQT có thể là người không điều hành, thường là đại diện của các cổ đông lớn.

- Quyền hạn của chủ tịch Cty đặc trưng hơn nữa cho hệ thống HĐQT của Pháp Chủ tịch

có quyền hạn rộng trong các mối quan hệ quản lý Cty Cho thấy văn hóa của hệ thống

kiểm soát quản trị ở Pháp là: sự thiên vị

cho tập trung quyền lực (ICMG, 1995).

Ban giám đốc; Phòng đại diện giám đốc; Phòng kiểm toán; thực tế 1 cấp

- Hệ thống quản trị của Nhật Bản khá phức tạp Nó bao gồm một Ban giám đốc, một Phòng đại diện ban giám đốc

và một Phòng kiểm toán, tất cả đều có trách nhiệm khác nhau Tuy nhiên, các công ty Nhật Bản thường tạo ra một cấu trúc Ban giám đốc không chính thức Điều này dẫn đến một HĐQT bên trong và các thành viên bên ngoài, thực

tế giống với hệ thống hội đồng quản trị một cấp ở Mỹ và Anh (Aoki, 1984 a; Corbett, 1994).

- Giống như ở các nước Anglo-Saxon, Hội đồng quản trị được bầu và bãi miễn bởi Đại hội đồng cổ đông.

14

Trang 15

3 NHỮNG NGƯỜI THAM GIA GIỮ VAI TRÒ QUAN TRỌNG NHẤT (Salient stakeholders)

phiếu bầu" (one

share, one vote)

đầu tư nhỏ khỏi sự

chi phối của các

chung

 

- Nhân viên và cổ đông là các bên liên quan nổi bật có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến việc ra quyết định Qlý Quyền của NV tham gia vào việc ra quyết định với tên gọi là

“codetermination”: một hệ

thống mà trong đó cả người quản lý và người lao động đều tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng cho công ty.

- Đặc biệt, các ngân hàng lớn của Đức là những đối tượng có ảnh hưởng lớn nhất Vì Ngoài vai trò là nhà cung cấp vốn, tiềm lực ảnh hưởng của họ còn

có hai khía cạnh: quyền sở hữu cổ phần và các ghế trong Ban giám sát

Những người nắm giữ tài chính, chính phủ, gia đình, trong nhóm chủ chốt nói

chung  

 

- Nguyên tắc cơ bản của luật doanh nghiệp Pháp là các GĐ có thể bị các cổ đông loại bỏ theo ý muốn Tuy nhiên, trên thực tế, ảnh hưởng này là tương đối nhỏ (De Jong, 1989) Như ở các nước Đức,

và trái với các nước Anglo-Saxon, nguyên tắc “một cổ phần, một phiếu bầu” không áp dụng.

- Nhóm nắm giữ tài chính, tổ chức

có cổ phần chéo, kiểm soát của chính phủ và kiểm soát gia đình ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định Qlý Hình thức phổ biến

là các tập đoàn và các Cty con của họ nắm giữ quyền biểu quyết

của nhau Hoặc đặt cổ phần của

họ trong một nhóm các Cty "hữu

nghị" (système verrouillage; De

Jong, 1989).

Các Ngân hàng thành phố, các tổ chức tài chính khác, nhân viên, trong nhóm chủ chốt nói chung   

- Giống như ở Đức, NV và cổ đông là những bên liên quan nổi bật có thể làm thay đổi đáng kể việc ra quyết định Qlý ở Nhật Điều này có liên quan mạnh mẽ đến truyền thống văn hóa của chủ nghĩa gia đình.

- Các cổ đông Nhật sở hữu cổ phần của

họ cho các mục đích gắn kết các mối quan hệ kinh doanh lâu dài, không để

bị mua lại Cty.

- Như ở Đức, các ngân hàng lớn của Nhật Bản là các cổ đông có ảnh hưởng lớn vì là nhà cung cấp vốn và là hạt nhân trong mạng lưới Keiretsu, các ngân hàng thành phố ảnh hưởng đến việc ra quyết định Qlý bằng cách chuyển các NV của chính họ làm giám đốc điều hành và không điều hành (cổ đông) cho các Cty phi tài chính trong Keiretsu.

PHẦN 5: PHÂN TÍCH CHI TIẾT 08 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC HỆ THỐNG KSQT (tt)

15

Trang 16

4 TẦM QUAN TRỌNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC GIA

(Importance of stock market in the national economy)

Liên đoàn giao dịch chứng khoán quốc tế (FIBV) sử dụng hai chỉ số để so sánh tầm quan trọng này là:

(1) Tỷ lệ % Vốn hóa thị trường của các công ty trong nước (MVDC) chiếm trong GDP và

(2) Tỷ lệ % Vốn được huy động (NCR) thông qua chào bán công khai chiếm trong Tổng hình thành vốn cố định (GFCF).

Cao

(Hight)

  - Dựa vào số liệu trong Bảng 2 ta thấy

rằng: Thị trường chứng khoán đóng vai

trò quan trọng hơn ở các quốc gia

Anglo-Saxon so với các nhóm quốc gia

khác Tổng vốn hóa thị trường của các

công ty trong nước (MVDC) nhóm

Anglo-Saxon chiếm 82,1% GDP vào năm 1995

Đối với các nước Đức chỉ là 41,7% và

các nước Latinh chỉ 27,3%

- Thị trường chứng khoán cũng đóng

một vai trò quan trọng trong nền kinh tế

quốc gia Nhật Bản (83,5%) Tuy nhiên,

ít quan trọng hơn nhóm các nước nhóm Anglo Saxon (MVCD trong GDP chỉ chiếm 41,7%), nhỏ hơn nhiều so với các nước AngloSaxon (82,1%) NCR của các nước Đức chỉ chiếm 6,5%, nhỏ hơn so các nước Anglo Saxon là 10%.

Trung bình

(Moderate)

  - Như được minh họa trong

Bảng 2, thị trường

chứng khoán ít quan trọng trong nền kinh tế của các nước Latinh (MVDC chỉ chiếm 27,3%

đến 83,5% trong GDP)

Tuy nhiên, vốn huy động (NCR) thông qua chào bán công khai chỉ chiếm 0,5% Chứng tỏ

sự hiện diện quy mô lớn của mạng lưới các Cty liên doanh, gọi là

Keiretsu 16

Ngày đăng: 05/09/2019, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w