1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TIẾP CẬN VẤN ĐỀ “TIẾT YẾU” KINH ĐIỂN NHO GIÁO (KHẢO SÁT PHẦN “ĐẠI HỌC” TRONG “TỨ THƯ TIẾT YẾU”)

21 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 129,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, sau khi Minh Thành Tổ lệnh Hồ Quảng biên tập các bộ Đại toàn thì thư tịch Nho giáo tuy “thiên kinh vạn quyển” nhưng đều lấy Ngũ kinh, Tứ thư và Tính lý là ba trụ cột chính, đ

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Hải Anh

Học hàm học vị: Cử nhân

Đơn vị công tác:

Số điện thoại: 0989246395

Địa chỉ email: nguyenhai.anh121@gmail.com

TIẾP CẬN VẤN ĐỀ “TIẾT YẾU” KINH ĐIỂN NHO GIÁO

(KHẢO SÁT PHẦN “ĐẠI HỌC” TRONG “TỨ THƯ TIẾT YẾU”)

Nguyễn Hải Anh Tóm tắt:

Khoa cử là một nhân tố chính trong quá trình truyền bá kinh điển Nho giáo vàoViệt Nam Cái học khoa cử đã tạo ra trong kho Thư liệu Hán Nôm hệ thống các thưtịch cử nghiệp Nổi bật nhất như một thứ sách giáo khoa cho sĩ tử là bộ phận các sách

Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý Tiết yếu gắn với “Bùi thị nguyên bản” Chính bởi sự phổ biến

đó cùng với sự phê phán của Nguyễn Thông, Huỳnh Thúc Kháng đã đưa vấn đề “tiếtyếu” kinh điển Nho giáo trở thành tâm điểm chú ý của các học giả trong thời gian gần

đây Do vậy, bài viết tập trung khảo sát phần Đại học trong Tứ thư tiết yếu nhằm cơ

bản đưa ra đặc điểm, tính chất và giải thích nguyên nhân hình thành cũng như là giá trịcủa việc “tiết yếu” trong giáo dục và khoa cử Việt Nam

Từ khóa: tiết yếu, đại toàn, kinh điển Nho giáo, giáo dục khoa cử.

Tiểu ban 3

1 Đặt vấn đề

Năm 2018 là tròn 100 năm kể từ khoa thi hương cuối cùng dưới triềuNguyễn1 Tính từ khoa thi đầu tiên dưới triều Lý cũng đã gần 1000 năm Việt Nam sửdụng chế độ khoa cử, xây dựng nên một nền văn hiến “phủ phất hoàng du”, “chiêudương thánh giáo” Có thể nói: “từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, lập VănMiếu- Quốc Tử Giám, lấy Nho giáo làm nội dung giáo dục quốc dân thì cũng là lúcgiáo dục Nho học chính thứ góp phần tích cực vào việc xây dựng và phát triển chế độphong kiến ở Việt Nam”2 Trước khi có nghị định 31/05/1906 đánh dấu việc cải lươngkhoa cử, kinh điển Nho giáo luôn là những tri thức cốt tủy để tuyển chọn nhân tài.Việc kẻ sĩ giảng giải tường minh kinh học là then chốt thiết yếu cho cử nghiệp, khuôn

1 Năm Mậu Ngọ, 1918.

2 Nguyễn Thế Long, (1995), Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi cử, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.198.

1

Trang 2

thước mẫu mực cho trường văn, đi kèm với đó là sự truyền bá kinh điển Nho giáo vàoViệt Nam.

Sự truyền bá Nho giáo truyền bá xuất hiện hai xu hướng Thứ nhất là dạngthức tiếp nhận trực tiếp nguyên bản từ Trung Hoa, hoặc biến đổi phù hợp với điều kiện

ở Việt Nam Dạng thức thứ nhất tiêu biểu là việc tiếp nhận, ban hành và lưu trữ các bộ

Đại toàn ở các khu vực quan phương, kèm với những thư tịch được tiếp nhận qua con

đường giao thương (Bắc thư) Sự biến chuyển (Nam thư) được ghi nhận dưới 03 cáchthức Đầu tiên là việc diễn nôm, giải nghĩa, diễn âm mà mục đích chủ yếu tạo ra “conđường làm cho tư tưởng Nho gia phù hợp hơn với tư duy người Việt, nhu cầu tư duy tưtưởng, triết học bằng tiếng Việt”3 Thứ hai, đó là việc phu diễn nghĩa lý theo quan điểm

và góc nhìn của các nhà Nho Việt Nam, ghi nhận các tác phẩm như: Dịch phu tùng

thuyết, Luận Ngữ ngu án, Xuân Thu quản kiến,… Các tác phẩm này tiêu biểu cho Nho

học Việt Nam, đánh dấu sự phát triển trong kinh học và học thuật Bên cạnh đó, xuấthiện bộ phận thư tịch tuy không quá nổi bật nhưng phổ biến như một thứ sách giáokhoa, chọn lựa những chỗ “quan trọng của cái học khoa cử”4 舉舉舉舉, đó là hệ thống

sách “tiết yếu” mà mục đích quan trọng nhất chỉ để “tiện cho khoa cử mà thôi” 5舉舉舉舉舉舉舉 Điều đó dẫn tới, cần có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, nhằm đưa ranhững đánh giá về nội dung, hình thức và nguyên nhân hình thành cùng với vai trò, vịtrí của chúng trong giáo dục khoa cử nói riêng và kinh học Nho giáo nói chung ở ViệtNam

Có thể nói, sau khi Minh Thành Tổ lệnh Hồ Quảng biên tập các bộ Đại toàn thì thư tịch Nho giáo tuy “thiên kinh vạn quyển” nhưng đều lấy Ngũ kinh, Tứ thư và

Tính lý là ba trụ cột chính, đó cũng là những tri thức cơ bản của văn chương khoa cự.

Việc sĩ tử thông hiểu kinh điển, nói cách khác là việc nắm vững ba trụ cột này Bởi

vậy, trong hệ thống thư tịch “tiết yếu” gắn với “Bùi thị nguyên bản” xuất hiện gồm đủ

Ngũ kinh tiết yếu 舉舉舉舉舉舉, Tứ thư tiết yếu 舉舉舉舉舉舉 và Tính lý tiết yếu舉舉舉舉舉舉 Thế

nhưng, đặc điểm, tính chất cũng như là quá trình chú giải, phát triển của kinh, thư,truyện, chú, sớ giữa các chúng có sự khác biệt Điều đó dẫn tới muốn nghiên cứu về

vấn đề “tiết yếu” cần khảo sát đầu đủ cả ba bộ Tiết yếu trên trong sự tương quan với các bộ Đại toàn Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không có tham vọng giải quyết trọn vẹn vấn đề đó, mà chỉ đi từ việc khảo sát trực tiếp phần Đại học trong Tứ

thư tiết yếu nhằm đứa ra những tiếp cận cơ bản về vấn đề “tiết yếu” của Tứ thư, bao

3 Nguyễn Kim Sơn, (2012), Hoạt động diễn dịch Hán – Nôm kinh điển Nho gia của các nhà nho Việt Nam–

Phân tích từ góc độ mục tiêu và bản chất, truy lục từ: http://www.nguyenkimson.net/?p=324

4 Bài tự sách Ngũ kinh tiết yếu, Ngũ kinh tiết yếu - Thư kinh 舉舉舉舉-舉舉, (1842), R.1287.

5 Bài tự sách Tứ thư tiết yếu, Tứ thư tiết yếu - Đại học 舉舉舉舉-舉舉 ,(1985), NLVNPF-0769.

2

Trang 3

gồm các vấn đề: “tiết yếu” là gì, “tiết yếu” như thế nào, và nguyên nhân của việc “tiếtyếu”?

2 Khái quát từ “Tứ thư Đại toàn” đến “Tứ thư tiết yếu”

Nhan đề của cuốn sách là Tứ thư Đại toàn tiết yếu - Đại học 舉舉舉舉舉舉舉 -舉

舉舉,mở đầu sách là bài Minh Thành Tổ ngự chế Tứ thư Ngũ kinh Tính lý tự, và Minh

Hồ Quảng đẳng tiến thư biểu Điều này có nghĩa, cuốn sách này và hệ thống sách Tứ thư tiết yếu nói riêng, tiết yếu nói chung được biên tập liên quan đến hệ thống Đại toàn Bởi vậy, chưa ban tới các sách tiết yếu khác, trước khi đi tìm hiểu về phần Đại học trong Tứ thư tiết yếu, ta cần phải có cái nhìn tổng quan về vấn đề Tứ thư Đại toàn

của Trung Quốc và sự tiếp nhận chúng ở Việt Nam

2.1 Một số vấn đề về “Tứ thư Đại toàn”

Trong lịch sử kinh học Nho giáo đánh dấu một sự kiện 舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉6 Liêm, Lạc, Quan, Mân chi học hưng, nhi hậu Nghiêu,

Thuấn, Vũ, thang chi đạo trứ, tất tảo trăn vu chi tế, đại khai chính học chi tông, cái

học của Liêm Lạc, Quan Mân7 hứng khởi, mà đạo sau thời vua Nghiêu Thuấn VũThang sáng tỏ, quét sạch sự che lấp tạp nham giườm già, mở ra tông phái chínhhọc(Minh- Hồ Quảng, Tiến thư biểu) Bậc chân Nho được cho là người kế thừa đạothống đã thất truyền từ ngàn năm nay, không ai khác đó là thầy Chu Đôn Di, thầy

Trình Hạo, thầy Trình Di, thầy Trương Tái và đặc biệt là thầy Chu Hy với cuốn Tứ thư

chương cú tập chú

Bằng việc “cải kinh” 舉舉 và “phân chương thích cú” 舉舉舉舉 đã đưa hai thiên

trong sách Lễ Ký (Đại Học - thiên 42 và Trung Dung - thiên 31) trở thành hai cuốn sách đặt ngang với Luận Ngữ và Mạnh Tử thành Tứ thư Theo như phần giải thích trong Tứ thư tiết yếu: 舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉,舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉.舉舉舉舉舉,舉舉舉舉舉舉舉舉舉,舉舉舉舉 舉舉舉,舉舉舉,舉舉舉舉舉舉舉舉, Án Đại Học nãi Lễ Ký chi đệ tứ thập nhị thiên, Trung Dung nãi

Lễ Ký chi đệ tam thập nhất thiên Trình Tử thủy biểu chương, dĩ vi vạn thế đạo học chi uyên nguyên, chí Chu Tử phân chương thích cú, dữ Luận Ngữ, Mạnh Tử, thông danh chi viết Tứ Thư Xét sách Đại Học lại là thiên thứ 42 trong sách Lễ Ký, sách Trung Dung lại là thiên thứ 31 trong sách Lễ Ký Thầy Trình Tử bắt đầu biểu chương điều

này, lấy đó làm sự uyên nguyên của đạo học muôn đời, đến thầy Chu Tử phân chương

giải thích câu, với sách Luận Ngữ, Mạnh Tử, gọi chung là Tứ Thư 8

6 Tứ thư đại toàn tiết yếu - Đại học, văn bản sưu tầm từ Đinh Thanh Hiếu, phần biểu, tr.03.

7 Liêm Lạc Quan Mân: Liên là chỉ thầy Chu Đôn Di (Liêm Khê tiên sinh) tổ của Lý Học, Lạc chỉ hai thầy Trình

Hạo, Trình Di, hai thầy ở Lạc Dương, nên còn gọi đạo học của hai thầy là Lạc Học, Quản chỉ thầy Trương Tái, Mân chỉ thầy Chu Hy, ngài ở vùng Phúc Kiến nên dùng đất Mân đặt tên.

8 Tứ thư đại toàn tiết yếu - Đại học, sđd, phần biểu, tr.05.

3

Trang 4

Từ đó, Tứ thư đóng vai trò then chốt trong học thuật và tư tưởng Nho gia Tống Minh, mở ra một ngành học mới Lý học hay Tính lý học Vào thời Nguyên, Tứ thư trở

thành một nội dung trong khoa cử, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử Nho giáokhông chỉ ở Trung Quốc mà còn ở các nước đồng văn sử dụng thể chế khoa cử như ởViệt Nam và Triều Tiên

Sau khi thầy Chu Tử (1130-1200) hoàn thành Tứ thư chương cú tập chú (năm

Kỷ Dậu9, niên hiệu Thuần Hy, tháng hai, ngày Giáp Tý, thầy Chu Tử viết bài tựa sách

Đại Học; tháng ba, ngày Mậu Thân, viết bài tự sách Trung Dung), những chú giải do

các để tử của ngài bắt đầu xuất hiện Đầu tiên là thầy Hoàng Cán 舉舉-Luận Ngữ thông

thích 舉舉舉舉舉舉, thầy Chân Đức Tú 舉舉舉 với Tập nghĩa舉舉舉舉 đưa Ngữ lục của thầy Chu

Tử phụ vào Chương cú Sau này, thầy Chúc Tông Đạo 舉舉舉 phỏng theo thể lệ đó, bổ sung thành Tứ thư phụ lục舉舉舉舉舉舉, thầy Sái Mô 舉舉 với Tứ thư tập sớ 舉舉舉舉舉舉, thầy

Triệu Thuận Tôn 舉舉舉 với cuốn Tứ thư toản sớ 舉舉舉舉舉舉, thầy Ngô Chân Tử 舉舉舉 với

Tứ thư tập thành 舉舉舉舉舉舉, thầy Trần Lịch 舉舉 với Tứ thư phát minh 舉舉舉舉舉舉, thầy Hồ

Bính Văn 舉舉舉 với Tứ Thư Thông 舉舉舉舉舉 Sau đó học trò của thầy Trần Lịch là thầyNghê Sĩ Nghị 舉舉舉 là tương hợp các sách thành Tứ thư tập thích 舉舉舉舉舉舉là cơ sở cho

Hồ Quảng biên tập Tứ thư Đại toàn sau này10

Năm Vĩnh Lạc 舉舉 thứ 12 (1414), tháng 11, ngày Giáp Dần, Minh Thành Tổ dụ

Hồ Quảng và các quan biên tập Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý Đại toàn Đến năm VĩnhLạc 舉舉 thứ 13 (1415), tháng 9 ngày Kỷ Dậu thì hoàn thành, Hồ Quảng và các quandâng biểu tiến sách, nhà vua ngự ở điện Phụng Thiên nhận sách rồi lệnh bộ Lễ in ấn

rồi ban ra thiên hạ Trong bộ Ngũ kinh Tứ thư Tính lý Đại toàn, dẫn 108 các vị tiên Nho Trong phần Tứ thư chương cú Đại toàn, phần Tập chú của thầy Chu Tử viết lớn,

còn những chú giải của chư vị tiên Nho được trọn lựa viết nhỏ phía dưới Các truyệnchú này được dẫn bằng họ, hiệu của các vị, chứ không dẫn tên sách của các vị đó Thí

dụ: “Tân An - Trần thị viết” hay “Bắc Kê - Trần thị viết” Những chú giải này tuy của

các tác giả khác nhau, nhưng phải thống nhất trên một cách hiểu Ở đây, cách hiểu

chính thống của Tứ thư là cách hiểu của Chu Tử trong Tứ thư chương cú tập chú Hơn

thế nữa, Minh Thành Tổ đã dùng quyền hành của một ông vua để chỉnh hợp các thuyết

và đưa tới một cách hiểu xuyên suốt những chỗ dị biệt

Tứ thư chở thành cửa ngõ tiếp cận với văn chương thánh nhân Cách chú giải

kinh điển của thầy Chu Tử trở thành cách hiểu quan phương, chính điển hóa, sử dụngtrong khoa cử có ảnh hưởng học thuật vô cùng lớn Cái học của thầy Chu Tử nghiễm

nhiên có địa vị nhất tôn trong nền học thuật, dẫn tới sau khi bộ Tứ thư chương cú Đại

toàn hoàn thành tiếp tục xuất hiện những chú giải khác của các nhà kinh học đời Minh.

Tiêu biểu trong số đó là: thầy Sái Thanh 舉舉 với Tứ thư mông dẫn 舉舉舉舉舉舉, thầy Lâm

9 1129.

10 舉舉舉, 三三三三三三三三三, 舉舉舉舉舉, https://www.tctcc.taipei/zh-tw/Home.htm.

4

Trang 5

Hi Nguyên 舉舉舉 với Tứ thư tồn nghi 舉舉舉舉舉舉, thầy Trần Sâm 舉舉 với Tứ thư thiển

thuyết 舉舉舉舉舉舉, thầy Vương Chấn Hi 舉舉舉 với Tứ thư đạt thuyết舉 舉舉舉舉舉,thầy Lộc

Thiện Kế 舉舉舉 với Tứ thư thuyết ước 舉舉舉舉舉舉

Sau khi Tứ thư chương cú Đại toàn được xác lập địa vị trong quan học, thì đến

thời Thanh, lại là tâm điểm phê phán kịch liệt của các nhà Nho Phí Mật

舉舉(1623-1699) trong Đạo mạch phổ luận 舉舉舉舉舉舉cho rằng: “舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉”,

truyền tập Tống truyện, tính lý phù thuyết thịnh hành, đái tương tổ thụ, cổ nghĩa tận phế,việc học theo những truyện chú của Tống Nho, thịnh hành những phù thuyết của

tính lý, xúm cùng bắt chước nhau, nghĩa lý của cổ nhân bị phế bỏ11.Thế nhưng, bấtđồng với quan điểm đó, Lục Lũng Kỳ 舉舉舉 (1630-1692) cho rằng: “舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉

舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉”, cao cử đại nghĩa, phi Trình Chu học thuật bất thủ, tắc thị học

giả trị học cai hữu đích chuẩn thằng, cử ra nghĩa lớn, không phải cái học của thầyTrình Chu thì không giữ lấy, ắt là chuẩn mực của người đi học12 Theo ông đạo củaKhổng Mạnh đến Chu Hy là sáng tỏ rực rỡ nhất Đó cũng là nguyên nhân đưa tới tâm

huyết truyền lại một bộ sách điển phạm cho hậu thế - biên soạn, tập hợp lại bộ Tứ thư

Đại toàn Kế thừa thầy Chân Đức Tú, Chúc Tông Đạo, ông cũng phụ Ngữ Loại của

Chu Tử, cùng với Hoặc vấn Chưa dừng lại ở đó, những chú giải của các nhà chưa được thầy Hồ Quảng biên tập trong Đại toàn cũng được bổ sung thêm ở phần “thông

khảo” ” (舉舉) Bên cạnh đó, những chú giải của các nhà kinh học đời Minh bao gồm

những chỗ thiết yếu của Mông dẫn, Tồn nghi, Thiển thuyết, Đạt thuyết và Thuyết ước

cũng được bổ sung Để phân biệt với những chú giải của các tác gia kinh học trước khi

có bộ Đại toàn đời Minh, những chú giải này được dẫn bằng tên sách, ví dụ như” “Tồn

nghi viết”, “Thiển thuyết viết” Được gọi tên là Tam Ngư đường Tứ thư tập chú Đại toàn 舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉 Chưa dừng lại ở đó, Lục Lũng Kỳ còn đặt bút soạn bộ Tứ thư

giảng nghĩa Khốn Miễn Lục 舉舉舉舉舉舉舉舉舉đưa ra những chú giải của ông cho Tứ thư

Học trò của Chu Tử chia ra làm nhiều học phái Trong bộ Tứ thư chương cú

Đại toàn thời Minh thống kê được số tiểu chú của Hồ Bính Văn 舉舉舉 (có 481 điều,chiếm 8.16%) Trần Lịch 舉舉 (được 1169 điều, chiếm 19.83%), Nghê Sĩ Nghị 舉舉舉 ( có

70 điều, chiếm 1.19%) là chính, số lượng những chú giải này phân lượng lớn gấp đôinhững chú giải của hệ phái Bắc Sơn 舉舉 đại diện là Hứa Khiêm (118 điều, chiếm 2%)

và Nhiêu Lỗ 舉舉 (610 điều, chiếu 10,36%)13 Giải thích cho điều này, cũng như đã nói

ở trên học trò của thầy Trần Lịch là thầy Nghê Sĩ Nghị tương hợp các sách thành Tứ

thư tập thích 舉舉舉舉舉舉 là căn cứ cho thầy Hồ Quảng biên thành bộ Tứ thư chương cú

Đại toàn Điều này dẫn tới thầy Uông Phần cho rằng thầy họ Nghê đã làm sai lệch đi

những điều mà thầy Chu Tử dạy Đó là nguyên nhân cơ bản để ông kế thừa bộ Tam

Ngư đường Tứ thư tập chú Đại toàn của thầy Lục Lũng Kỳ làm ra cuốn Tăng đính Tứ

11 舉舉舉,(2015),三三三三三三三三三三三三三三-三三三三三三三三三三三,舉舉舉舉舉舉-舉舉舉舉舉.

12舉舉舉, 三三三三三三三三三, 舉舉舉舉舉, https://www.tctcc.taipei/zh-tw/Home.htm.

13舉舉舉,(2015), 三三三三三三三三三三三三三三-三三三三三三三三三三三,舉舉舉舉舉舉-舉舉舉舉舉

5

Trang 6

thư Đại toàn 舉舉舉舉舉舉舉舉 Trong cuốn này, ông làm hai nhiệm vụ “tăng” và “đính”:

“đính” là đính chính những chú giải mà ông cho là hợp lý, loại bỏ những chú giải đượccho là trái với thầy Chu Tử; “tăng” là ông làm ra phần thượng tằng tăng bổ, bổ sung

những chú giải chưa được đưa vào trong bộ Tam Ngư đường Tứ thư tập chú Đại toàn

và những chú giải cho Tứ thư của ông đặt sau “Phần án” (Uông Phần xét thầy).

Có thể kết luận, Đại toàn là một kiểu biên tập sách mà ở đó mỗi một vấn đề

được tập hợp bởi nhiều chú giải của các tác giả khác nhau Những chú giải này tuy củacác tác giả khác nhau, nhưng phải thống nhất trên một cách hiểu Chứ không tập hợptất cả các chú giải, điều này dẫn tới tuy là “thuật nhi bất tác” thế nhưng dùng chínhviệc “thuật” để “tác” - thể hiện xu hướng học thuật của mình Hơn thế nữa, ngoài việcbiên tập tác giả còn bổ sung cách hiểu của mình (phụ chú dưới các chú truyện của tiên

Nho hoặc biên tập thành một sách khác) Các bộ Đại toàn có sự xuất nhập giữa các lần san định, đặc biệt là hai bộ Đại toàn dưới thời Thanh được bổ sung qua nhiều thời kỳ Hình thức biên tập Đại toàn và những chú giải là tiền đề cho sự hình thành sách Tứ

thư tiết yếu

2.2 Khát quát về sách “Từ thư tiết yếu”

Bàn về các hệ thống thư tịch Nho gia, có thể tạm chia ra thành hai loại: thưtịch nghĩa lý và thư tịch cử nghiệp Theo đó, nếu như thư tịch nghĩa lý là những sáchchuyên chủ về xiển thích, lý giải, phát minh nghĩa lý của kinh điển theo quan điểm họcthuật của tác giả, thì thư tịch cử nghiệp lại chuyên dùng phục vụ cho giáo dục, khoa

cử Nói như vậy cũng chưa thật rõ ràng, trên thực tế, những tác gia minh giải nghĩa lýphần lớn đều là các đại Nho ít nhiều hiển danh khoa bảng; mặt khác tuy nói là phục vụcho khoa cử và giáo dục thì cũng không đồng nghĩa với việc sách không có liên quan

gì đến vấn đề nghĩa lý Thế nhưng, những sách được xếp vào loại thư tịch cử nghiệpngoài vấn đề nghĩa lý thì sách còn có tính mô phạm văn chương và được sử dụng phổbiến trong giáo dục, chứ không phải để thưởng thức

Theo như bài tựa, có thể xếp Tứ thư tiết yếu vào hệ thống thư tịch cử nghiệp,

bởi chính trong bài tựa cũng đã khẳng định cuốn sách viết ra phục vụ cho cái học khoacử: “舉舉舉,舉舉舉舉,舉舉舉? 舉舉舉舉舉舉舉! 舉舉舉舉舉,舉舉舉舉舉舉舉.舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉 舉舉舉舉舉舉舉舉.舉舉舉舉舉舉,舉舉舉 舉舉舉舉舉舉,舉舉舉舉舉,舉舉舉舉舉舉舉舉舉, 舉舉舉舉舉舉.舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉舉:舉舉舉”.Tiết” (舉) nghĩa là giản ước, “yếu” (舉) cũng có nghĩa là giản ước Sao phải giảnước? Chỉ để thuận tiện cho khoa cử mà thôi Cái học khoa cử với cái học nghĩa lýkhông giống nhau Cái học nghĩa lý tự bác mà rút gọn lại, cái học khoa cử thì chủ yếu

ở ước lược Cho nên, lấy toàn bộ phần kinh truyện mà chọn lược ra cái cốt yếu Bởi

vậy nên, riêng bản của thầy họ Bùi, so với các nhà tốt hơn, trước đã chọn Ngũ kinh để khắc ván, nay lại đến Tứ thư Trong đây, chỗ huấn, thích, viện, dẫn vẫn một mực y

6

Trang 7

theo nguyên bản, mà đều đặt tên là: Tiết yếu 14 Bởi vậy, khi nghiên cứu phải đặt cuốnsách dưới góc độ thư tịch cử nghiệp phục vụ cho giáo dục khoa cử, không nên phiếndiện nhìn từ quan điểm chú giải, xiển thích kinh điển Có như vậy mới thấy đượcnguyên nhân hình thành và giá trị của chúng.

Về nội dung, theo như mục lục bộ Tứ thư tiết yếu gồm 08 quyển: trừ Đại Học

hoặc vấn, Trung Dung hoặc vấn thì dường như bao chọn những chương trong bộ Tứ thư chương cú Đại toàn Độc Đại Học pháp và Độc Trung Dung pháp được rút gọn

trong cuốn Đại Học và Trung Dung của bộ sách này Riêng trong phần Luận Ngữ và

Mạnh Tử có thêm phần Khảo dị Bốn chương: Trang Tử, Gia Ngữ, Khổng Tùng Tử, Cầm Tháo không phải là các chương trong Luận Ngữ 15

Vê vấn đề thầy Bùi Huy Bích biên tập tiết yếu lại các điển tịch Nho giáo có

nhiều nguồn tư liệu chứng minh Thứ nhất là hệ sách tiết yếu đề ghi “Bùi thị nguyên bản” Bài tựa Tứ thư tiết yếu cũng có ghi “riêng bản của thầy họ Bùi, so với các nhà tốt hơn, trước đã chọn Ngũ kinh để khắc ván, nay lại đến Tứ thư”16 Trong Di sản Hán

Nôm Việt Nam thư mục đề yếu cho rằng “Bùi thị” ở đây là thầy Bùi Huy Bích Bên

cạnh đó, các học giả nghiên cứu trước đây cũng từng dẫn lời Nguyễn Thông, Huỳnh

Thúc Kháng để chứng minh cho việc đó Tuy vậy, vấn đề tác giả của Tứ thư tiết yếu nói riêng và hệ thống tiết yếu nói chung vẫn còn là một câu hỏi lớn.

3 Khảo cứu phần “Đại học” trong sách “Tứ thư tiết yếu”

3.1 Văn bản “Tứ thư Đại toàn tiết yếu - Đại học”

Tứ thư Đại toàn tiết yếu - Đại học 舉舉舉舉舉舉舉-舉舉舉là phần Đại học (quyển 01) trong sách Tứ thư tiết yếu 舉舉舉舉舉舉 Nghiên cứu sử dụng văn bản Tứ thư Đại toàn tiết

yếu - Đại học do Đinh Thanh Hiếu sưu tầm và cung cấp Văn bản không xác định niên

đại, tàng bản tại Mỹ Văn Đường Văn bản gồm 81 trang 26x15 cm, không có bài tựa,phần bìa ngoài do người sau ghi lại, riêng phần đầu và trang cuối một số trang bị rách,

ngoài có đề là “Bùi thị nguyên bản chính” Bản này đầy đủ số trang, tương đối giống

với hệ bản VL-74/8517 So với hệ bản R.38018, văn bản này không có phần thượng tằngtăng bổ, một số chữ khắc có sự nhầm lẫn

Nội dung bao gồm các phần: Minh Thành tổ ngự chế Tứ thư, Ngũ kinh, Tính lý

Đại toàn tự, Tiến thư biểu của Hồ Quảng, đoạn giải thích sự hình thành của Tứ thư, tên

14 Bài tự sách Tứ thư tiết yếu, Tứ thư tiết yếu - Đại học 舉舉舉舉-舉舉 ,(1985), NLVNPF-0769.

15 Xem Phụ lục 1.

16 Bài tự sách Tứ thư tiết yếu, sđd.

17 Tự Đức 4 -1851, nhà in Thịnh Văn đường/ Trần thị tàng bản, Gồm 85trang, có đủ bài tựa, bìa sách, dấu của

“Thịnh Văn đường”, dấu “Trần thị tàng bản”, ngoài ghi “Bùi thị nguyên bản”.

18 Thành Thái 7-1895, tàng bản tại Thịnh Văn đường, có bài tựa, gồm 84 trang, 26x15 cm Phần trên có thượng tầng tăng bổ Thư viện quốc gia Link: http://lib.nomfoundation.org/collection/1/volume/957/

7

Trang 8

ba cuốn sách được dẫn: Mông Dẫn, Tồn Nghi, Thiển Thuyết, sau đó đến Mục Lục, Đại

Học chương cú tự, Đại Học độc pháp, 01 chương kinh, 10 chương truyện.

Tứ thư Đại toàn có 03 tằng dẫn chú cho Chương cú của Chu Tử:

Tầng 01 là những chú đã có ở trong Tứ thư chương cú Đại toàn do thầy Hồ

Quảng đời Minh đã biên tập (phần này chủ yếu là giữa nguyên, nhưng theo như bàitựa là có chỉnh sửa, hiệu đính văn tự) Những tiên Nho ở đây được dẫn bằng: họ +

“thị” + hiệu + “viết” Tên và hiệu các vị tiên Nho được đặt trong ô

Tầng 02 được đặt sau chữ “thông khảo” (舉舉) (để trong ô bôi đen) là chú của cáctiên Nho cùng thời, nhưng chưa được thầy Hồ Quảng biên tập, nhưng đến thầy LụcLũng Kỳ và thầy Uông Phần thấy cần thiết nên khảo và phụ thông vào đây Trong

những chú dẫn này bao gồm cả những tiên Nho đã dẫn trong Tứ thư Đại toàn đời

Minh và một số vị cùng thời đặc biệt là thầy Ngô thị Quý Tử Tên và hiệu các vị tiênNho được đặt trong ô

Tầng 03 lại dẫn các sách (chú giải của các nhà Nho đời Minh), đặt sau chữ

“phụ” (舉) (để trong ô bôi đen) phụ dẫn một số sách: : Ngữ loại 舉舉舉舉, Mông dẫn 舉舉

舉舉,Tồn nghi 舉舉舉舉, Thiển thuyết 舉舉舉舉, Đạt thuyết 舉舉舉舉 và Thuyết ước 舉舉舉舉 Ở

đây, việc dẫn chú không dẫn bằng họ và hiệu của các vị tiên Nho mà dẫn tên sách các

vị trước tác, tên sách được đặt trong khung

Bên cạnh đó, liên quan đến Tứ thư, thầy Lục Lũng Kỳ làm ra sách Khốn Miễn

Lục đến Tăng bổ Tứ thư Đại toàn thầy Uông Phần trong phần thượng tằng tăng bổ

ngoài việc bổ sung thêm các chú giải lại còn đưa thêm những kiến giải của ông trongphần “Phần án” (Uông Phần xem xét thấy)

Thế nhưng, bố cục trình bầy phần Đại học trong Tứ thư tiết yếu không tuân theo

thứ tự như vậy mà phụ thuộc vào sự quan trọng (theo chủ ý người biên tập) để viết cỡchữ to, nhỏ, sắp đặt trước sau19 Có thể chia thành 04 tầng chữ (không tính bài tựa vàbài biểu) nhưng nội dung ở các tầng chú có sự khác biệt:

 Dòng viết thượng: lời trong kinh

 Dòng viết lùi xuống: lời chú giải

19 Xem Phụ lục 3.

8

Trang 9

 Đại chú: viết cỡ chữ to.

 Tiểu chú: viết cỡ chữ 1/2 đại chú

 Chú cho tiểu chú: viết cỡ chữ 1/4 đại chú

Khi biên soạn Tứ thư Đại toàn tiết yếu - Đại Học, tác giả đã thực hiện ba công việc Thứ nhất là dẫn lại kinh truyện theo thứ tự trong Đại học chương cú Dẫn phần

Tập chú của Chu Tử thành chữ to, lùi xuống sau kinh; đưa phần chú âm, chú nghĩa

làm thành tiểu chú sau các chữ cần chú của kinh Tiếp theo, chọn lựa những chú giảicủa các tiên Nho và sách dẫn theo hai loại: những chú giải quan trọng viết cỡ chữ lớn,những chú giải phụ viết chữ nhỏ Bên cạnh đó, tác giả thêm chú thích của tác giả vàonhững chỗ thấy cần thiết chú thích, bao gồm cả phần kinh, truyện, chú giải của tiênNho, chú dẫn sách; theo 04 cách: chú nghĩa, chú âm, chú nguồn, khảo dị

3.3 Dẫn “Đại Học chương cú tập chú”

Nội dung Đại Học chương cú tập chú được dẫn gần như hoàn toàn, theo đúng

thứ tự các chương kinh và truyện Thế nhưng, những phần chú âm, chú nghĩa được cắt

và gắn vào sau chữ cần chú Một số phần chú âm, chú nghĩa và chú sự khác biết giữa

Đại học chương cú tập chú và thiên Đại Học trong sách Lễ Ký bị cắt, nhưng lại bổ

sung một chú thích cho một số chữ

Phần bị cắt thường là những câu chú âm, phát ngữ từ, hoặc những câu chú

khác biệt so với thiên Đại Học trong sách Lễ Ký Ví dụ: Câu “Thi vân: “Ô hô tiền vương bất vong…” cắt chú “Lạc âm lạc” Lạc (舉) đọc âm là chữ lạc (舉) Cuối chương

truyện thứ 3 cắt chú: “Thử chương nội tự dẫn Kỳ Úc thi dĩ hạ, cự bản ngộ tại Thành ý

chương hạ” Trong chương này từ chỗ dẫn thơ Kỳ Úc đến cuối, bản cũ (bản trong Lễ

Ký) bị nhầm ở chương Thành ý ở sau Hay như ở chương 4 câu cuối cắt chú: Thử chương cựu bản ngộ tại “Chỉ ư tín” hạ Chương này bản cũ (bản trong lễ ký) bị nhầm

ở “chỉ ư tín” phía dưới

Chữ được ghép ngay sau chữ cần chú Ở đây có 03 dạng: thứ nhất tríchnguyên câu chú của Chu Tử ghép vào sau chữ cần chú, thứ hai là biến đổi, viết dướimột câu đồng nghĩa, thứ ba là ghép nhiều ý chú của Chu Tử tạo thành một chữ sau chữ

cần chú Ví dụ: “Thái Giáp viết: “Cố thị cổ tự do thị thiên chi minh mệnh” đại độc tác

thái” Ở đây chữ và “đại độc tác thái” 舉舉舉舉 là câu trong chương cú của Chu Tử được

cắt ra đưa ngay sau chữ cần chú Câu “Cổ tự do thị” 舉舉舉舉 nguyên văn chú trong chương cú là “thị, cổ thị tự” 舉舉舉舉.Cả hai cách biểu đạt đều thể hiện chữ “thị” 舉 là

chữ chữ cổ của chữ “thị” 舉 và về mặt nghĩa thì hai chữ dùng giống nhau Thế nhưngcách biểu đạt ở trong sách này dường như dễ hiểu hơn Một ví dụ khác trong chương

03 thích Chỉ ư chí thiện, chú có chữ “Úc lục phản, ôi dã, Thi tác áo” “Lục phản” 舉舉 trong Chương cú ghi là “ư lục phản” 舉舉舉, về chú âm thì ở đây cắt đi chữ ư, chữ “ôi

9

Trang 10

dã” 舉舉 là chú ở phần sau của Chương cú rằng: “chữ úc (舉) nghĩa là khúc sông”, “Thi

tác áo” 舉舉舉 kinh Thi viết là chữ áo (舉) không thấy trong chú của Chu Tử

Ngoài cắt bỏ, cắt ghép, thì ở đây sẩy ra việc phụ thêm một số chú âm, chúnghĩa cho kinh, truyện Ví dụ: ở chương truyện thứ 04 ta sẽ thấy các trường hợp đều

sẩy ra: “đại úy uy phục dân chí”, sau chữ “đại úy” thêm chú nghĩa là “uy phục” Cùng xem chú giải chương truyện 07 thích Chính tâm tu thân: “Sở vị tu thân tại chính kỳ

tâm giả: thân đương tác tâm hữu sở phẫn sí trị phản, nộ dã, tắc bất đắc kỳ chính; hữu

sở khủng cụ khủng bố, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở hiếu lạc giáo phản, tắc bất đắc kỳ chính; hữu sở ưu hoạn, tắc bất đắc kỳ chính” Cắt chú trong Chương cú: “Phẫn, phất phấn phản” chữ “phẫn” phiên thiết là “phất” 舉 “ phấn” 舉 ;“Hiếu, lạc đồng khứ

thanh”chữ “hiếu” 舉 với chữ “lạc” 舉 đều đọc khứ thanh Câu “đương tác tâm” nguyên

trong Chương cú ghi là Trình Tử viết: “Thân hữu chi thân, đương tác tâm” chữ “thân” trong câu “thân hữu” phải là chữ tâm mới đúng Câu “trị phản” nguyên trong Chương

cú ghi là “sắc trị phản” nghĩa là: chữ “sí” 舉 phiên thiết là “sắc” 舉, “trị”舉 Còn “nộ dã”,

“khủng bố” là chú nghĩa, “giáo phản” là chú âm tác giả sách chú thêm vào không có trong Chương cú.

Việc cắt một số chú giải không làm mất đi ý nghĩa chú của Chu Tử Mặt khác,việc cắt, thêm chú ngay sau chữ cần chú lại làm cho kinh, truyện trở nên dễ hiểu, dễnhớ hơn Bởi lẽ, mục đích của cuốn sách này không phải phục vụ cho việc nghiên cứukinh điển mà để tiện cho việc thuộc kinh

3.4 Chú dẫn tiên Nho và dẫn chú sách

3.4.1 Dẫn chú tiên Nho

Bàn về việc dẫn tên các vị tiên Nho, rêng các vị “tử” (舉) Chu Tử (舉舉), Chu

Tử (舉 舉 ), Trình Tử ( 舉 舉 ) trong ba bộ Tứ thư Đại toàn đề cập ở phía trên đều ghi

“họ”+tử thì ở trong cuốn Phần Đại học trong Tứ thư Đại toàn tiết yếu cũng như vậy.

Còn ghi tên các vị tiên Nho thì cuốn sách này ghi giản hơn, và khác thứ tự Trong cuốn

Tam Ngư đường Tứ thư tập chú Đại toàn và cuốn Tăng đính Tứ thư Đại toàn khi dẫn

chú những tiên Nho sẽ ghi theo công thức:

玉玉

Lư 玉

thị玉

viết玉Nhân Sơn

玉玉

Kim 玉

thị玉

viết玉

10

Ngày đăng: 05/09/2019, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w