Bài viết này dựa trên kết quả của một số cuộc khảo sát ở TPHCM về tình hình thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi cơ bản như giáo dục, y tế và nhà ở để đi đến một số nhận định mang tính giả
Trang 1PHÚC LỢI XÃ HỘI VÀ XU HƯỚNG “HÀNG HÓA HÓA” (PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
TRẦN HỮU QUANG
TĨM TẮT
Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường thời kỳ đổi mới, hệ thống phúc lợi
xã hội của thời quan liêu bao cấp đã thay
đổi gần như tồn diện : hệ thống cũ đã bị
giải thể theo hướng "xĩa bao cấp", nhưng
một hệ thống mới vẫn chưa được xác lập
một cách ổn định Bài viết này dựa trên kết
quả của một số cuộc khảo sát ở TPHCM
về tình hình thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi
cơ bản như giáo dục, y tế và nhà ở để đi
đến một số nhận định mang tính giả thuyết
về xu hướng "hàng hĩa hĩa" các dịch vụ
phúc lợi cơ bản, xu hướng chuyển gánh
nặng chi phí từ nhà nước sang người dân,
tình trạng bất bình đẳng trong việc cung
ứng và thụ hưởng các lợi ích phúc lợi,
những vấn đề phát sinh trong quá trình "xã
hội hĩa" và tự chủ hĩa tài chính tại các cơ
sở phúc lợi cơng lập, và cuối cùng là một
số đề nghị thực tiễn.
Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường vào cuối thập niên 1980, bên cạnh
quá trình cải tổ cơ chế quản lý nhà nước
đối với các lĩnh vực kinh tế, diện mạo của
hệ thống phúc lợi xã hội ở Việt Nam cũng
đã thay đổi gần như tồn diện Hệ thống phúc lợi xã hội của thời quan liêu bao cấp
đã bị giải thể, nhưng một hệ thống phúc lợi
xã hội mới vẫn chưa được xác lập một cách rõ ràng, vững chắc, và vẫn cịn đang chất chứa nhiều tình trạng mâu thuẫn và bất ổn ở nhiều mặt
Cho đến nay, ngồi những chương trình trợ giúp xã hội và xĩa đĩi giảm nghèo đối với một số đối tượng mục tiêu, nhà nước
đã và đang tiếp tục từng bước cắt bỏ hoặc giảm bớt một số khoản phúc lợi xã hội cơ bản vốn bao cấp hồn tồn trước đây đối
với đại đa số nhân dân, như nhà ở (đã bãi
bỏ hồn tồn sự bao cấp), giáo dục (học phí và các khoản thu ngày càng tăng), và y
tế (thiết lập chế độ viện phí cũng theo
hướng ngày càng tăng) Cuộc sống của khá đơng các hộ gia đình người dân vì thế khơng thể khơng bị ảnh hưởng
Cĩ thể nĩi rằng quá trình chuyển đổi của các chính sách phúc lợi xã hội diễn ra một cách dị dẫm và thực sự chưa phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế đi đơi với phát triển xã hội và văn hĩa, và chủ trương tăng trưởng kinh tế khơng tách rời khỏi mục tiêu tiến bộ và cơng bằng xã hội Thực tế cho
Trần Hữu Quang Phĩ Giáo sư tiến sĩ Trung
tâm Thơng tin Viện Phát triển Bền vững vùng
Nam Bộ
Trang 2thấy đang nảy sinh không ít vấn đề bức
xúc và gai góc trong lĩnh vực này
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ nêu lên
một số xu hướng nổi bật và những vấn đề
đặt ra trong hệ thống phúc lợi xã hội ở
TPHCM hiện nay, dựa trên việc phân tích
kết quả ba cuộc khảo sát trên địa bàn
TPHCM do chúng tôi chủ trì: cuộc điều tra
các hộ gia đình dân cư vào tháng 9/2008
tại 11 quận huyện với tổng số mẫu điều tra
là 1.000 hộ gia đình; cuộc điều tra giáo
viên vào tháng 1/2007 tại 12 trường ở nội
thành và ngoại thành với tổng số mẫu điều
tra là 363 giáo viên; và cuộc điều tra bác sĩ
và y tá vào tháng 4/2006 tại 10 bệnh viện
với tổng số mẫu điều tra là 129 bác sĩ và
64 y tá (Xem: Trần Hữu Quang, 2009a)
Khái niệm phúc lợi xã hội (social welfare)
thường được hiểu là bao gồm nhiều lĩnh
vực và chương trình đa dạng trong đó có
những hệ thống chính như bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bao phủ những lĩnh vực
chủ yếu như chăm sóc sức khỏe, giáo dục,
nhà ở, các chính sách đối với người hưu
trí, gia đình có công, chăm sóc gia đình
thương binh, liệt sĩ, các chính sách trợ cấp
thất nghiệp và tạo công ăn việc làm, các
chính sách xóa đói giảm nghèo, cứu trợ
người nghèo, người bị tai nạn hoặc gặp
thiên tai, giúp đỡ người tàn tật, mồ côil
(Xem thêm: Trần Hữu Quang, 2009b) Mặc
dù lĩnh vực nào cũng quan trọng, nhưng ở
đây chúng tôi chỉ giới hạn vào việc khảo
sát ba tiểu hệ thống phúc lợi mang tính
chất thiết yếu nhất và đụng chạm đến cuộc
sống của hầu hết các hộ gia đình, đó là
giáo dục, y tế, và nhà ở
Các chính sách phúc lợi xã hội nói chung
cũng như những chính sách liên quan tới
giáo dục, y tế và nhà ở nói riêng ở TPHCM hầu hết đều được thực thi trong khuôn khổ của các chủ trương và qui định chung của Chính phủ Vì thế, nhiều nhận xét rút ra trong công trình khảo sát này tại TPHCM thực ra cũng gián tiếp đề cập tới tình hình chung của cả nước trong những lĩnh vực
ấy
1 XU HƯỚNG "HÀNG HÓA HÓA" CÁC DỊCH VỤ PHÚC LỢI CƠ BẢN
Trong thời bao cấp, các lĩnh vực giáo dục
và y tế đều được nhà nước đảm nhiệm chủ yếu về mặt tài chính, người dân hầu như không phải đóng góp khoản nào Riêng về nhà ở thì nhà nước có chính sách phân phối nhà ở cho những người lao động thuộc khu vực nhà nước
Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế-xã hội, các chính sách trên lần lượt được thay đổi một cách căn bản theo hướng "xóa bao cấp" và từng bước áp dụng nguyên tắc hạch toán kinh tế Năm
1989, lần đầu tiên sau ngày thống nhất đất
nước, người dân TPHCM phải đóng học
phí cho con em mình và phải đóng viện phí
khi chữa chạy bệnh tật tại bệnh viện, tức là không còn được hưởng chế độ giáo dục miễn phí và y tế miễn phí như trước(1) Chế
độ phân phối nhà ở cho cán bộ và công nhân viên nhà nước cũng được chính thức bãi bỏ vào năm 1992 để bắt đầu thực hiện chế độ đưa tiền nhà ở vào tiền lương, và đến năm 1993 chính phủ quyết định chuyển quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước sang phương thức kinh doanh(2)
Kết quả cuộc khảo sát vào cuối năm 2008 của chúng tôi cho thấy mức chi cho giáo dục của người dân TPHCM nói chung khá nặng So với các địa phương khác, các
Trang 3trường học ở TPHCM không chỉ có mức
học phí cao hơn, mà cả các khoản thu
khác cũng cao hơn, học sinh đi học thêm
nhiều hơn, và chính vì thế mà mức chi
bình quân cho một học sinh ở thành phố
này luôn luôn cao hơn các nơi khác, và
nặng hơn xét về mặt tỷ trọng trong ngân
sách gia đình, nhất là nơi các tầng lớp
nghèo và trung lưu dưới (Xem: Trần Hữu
Quang, 2008) Chi phí y tế cũng khá cao
đối với ngân sách gia đình của dân cư
TPHCM, nhất là khi gia đình có người lâm
bệnh nặng Điều này đặc biệt là gánh nặng
đối với tầng lớp nghèo: tuy tầng lớp này
chi ít hơn, nhưng tỷ trọng chi phí điều trị
bệnh tật (trong ngân sách gia đình) lại
chiếm mức cao hon so với các hộ gia đình
khá giả Lĩnh vực nhà ở coi như đã hoàn
toàn xóa bao cấp, và người dân phải hoàn
toàn tự lực cánh sinh trong việc đi tìm nhà
và mua nhà hay xây nhà Kết quả điều tra
cho biết khả năng tài chính của phần lớn
các hộ gia đình hiện nay đều khó lòng mua
nổi một căn nhà, và tình hình thiếu nhà ở
cũng như ở nhà chật chội chiếm một tỷ lệ
không nhỏ nơi các hộ đang sinh sống
trong thành phố này Như vậy, điều có thể
thấy rõ là các chủ trương xóa bao cấp và
thu phí trong các lĩnh vực giáo dục, y tế và
nhà ở đã làm gia tăng mạnh mẽ gánh nặng
trong ngân sách gia đình người dân
Bên cạnh lĩnh vực nhà ở là lĩnh vực đã xóa
bỏ bao cấp hoàn toàn, thì trong hai lĩnh
vực giáo dục và y tế, khi thực hiện chế độ
đóng phí và áp dụng nguyên tắc lấy thu bù
chi, những sự thay đổi này thực chất bao
hàm một ý tưởng rõ rệt không thể phủ
nhận là chuyển các dịch vụ phúc lợi cơ
bản này thành hàng hóa Mặc dù ngân
sách nhà nước hàng năm vẫn dành một
khoản không nhỏ cho giáo dục và y tế, nghĩa là vẫn tiếp tục bao cấp hai lĩnh vực phúc lợi trọng yếu này, nhưng đồng thời lại chủ trương tăng phí từng bước, tức là gia tăng mức đóng góp từ phía người dân Ngoại trừ những người có thẻ bảo hiểm y
tế, còn lại những người dân khác đều phải trả tiền thì mới được hưởng dịch vụ y tế Như vậy, trong thực tế, để được hưởng những lợi ích phúc lợi này, người dân
buộc phải trả tiền thì mới thực hiện được
quyền học tập và quyền được chăm sóc
sức khỏe(3) Điều này có nghĩa là chiều hướng cải tổ trong hai lĩnh vực giáo dục và y tế đã và
đang chủ yếu đi theo xu hướng "hàng hóa
hóa" các dịch vụ phúc lợi, chứ không phải
đi theo xu hướng "phi hàng hóa hóa" các
dịch vụ này (de-commodification) mà một
nhà nước phúc lợi phải chủ trương, như Gøsta Esping-Andersen đã nhấn mạnh (Esping-Andersen, 1991, tr 21-22)
2 XU HƯỚNG CHUYỂN GÁNH NẶNG CHI PHI TỪ NHÀ NƯỚC SANG NGƯỜI DÂN
Số liệu thống kê năm 2006 cho biết tổng ngân sách nhà nước dành cho giáo dục và đào tạo của TPHCM là hơn 2,54 ngàn tỷ đồng (bằng 1,33% tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố, hay 11,35% tổng chi ngân sách nhà nước của TPHCM); còn trên cả nước, con số này là 54,80 ngàn tỷ đồng (bằng 5,63% GDP cả nước, hay 17,79% trong tổng chi ngân sách quốc gia)
Trong khi đó, theo kết quả tính toán của chúng tôi dựa trên số liệu của Cục Thống
kê TPHCM và Tổng cục Thống kê, tổng chi tiêu cho giáo dục và đào tạo của các gia
Trang 4Biểu đồ 1 Tỷ lệ chi phí cho giáo dục (2006) và cho y tế (2007) từ ngân sách nhà nước và từ các hộ gia đình dân cư và các nguồn khác, số liệu cả nước và TPHCM
61%
39%
34%
66%
33%
67%
20%
80%
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Tỷ lệ %
Lĩnh vực giáo dục trên cả nước
Lĩnh vực giáo dục ở TPHCM
Lĩnh vực y
tế trên cả nước
Lĩnh vực y
tế ở TPHCM
Ngân sách nhà nước
Các hộ gia đình dân cư và các nguồn khác
Ghi chú: Các nguồn khác bao gồm các khoản viện trợ nhân đạo, các khoản đóng góp của các
doanh nghiệp nhưng ngân sách từ các hộ gia đình vẫn chiếm phần lớn trong khoản tổng chi
ngoài nhà nước cho y tế và giáo dục
Nguồn: Số liệu do chúng tôi tính toán căn cứ trên các dữ kiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y
tế, Tổng cục Thống kê, và Cục Thống kê TPHCM
đình dân cư TPHCM trong năm 2006 là
4,88 ngàn tỷ đồng, còn của các gia đình
trên cả nước thì lên tới 29,79 ngàn tỷ
đồng
Như vậy, tỷ lệ chi cho học hành của người
dân trên cả nước chiếm khoảng 35% trong
tổng chi phí xã hội cho giáo dục vào năm
2006, còn phần chi của ngân sách nhà
nước chiếm khoảng 65% Nhưng tại
TPHCM, cán cân nghiêng nặng hơn về
phía người dân: các hộ gia đình dân cư
phải chi tới 66% trong tổng chi phí xã hội
cho giáo dục tại thành phố này, còn phần
chi của ngân sách nhà nước là 34%
Trong lĩnh vực y tế, theo cuộc khảo sát của
chúng tôi tại 10 bệnh viện ở TPHCM, phần
ngân sách nhà nước cấp chỉ chiếm bình
quân khoảng 22% trong tổng thu năm
2005 của các bệnh viện này Các nguồn
thu khác bao gồm bảo hiểm y tế (chúng tôi ước lượng khoảng trên dưới 15%) và phần lớn còn lại là viện phí (khoảng trên dưới 65%)(4)
Trên cả nước, nếu vào năm 1994, phần viện phí mới chỉ chiếm 9%, thì đến năm
1998 đã tăng lên tới 30% trong tổng thu của các bệnh viện (Ngân hàng Thế giới, 2001) Trong khi đó, tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước cho y tế cả nước tính trong tổng chi phí xã hội cho y tế có chiều hướng giảm dần trong những năm qua, từ 30,1% vào năm 2000, 28,5% năm 2001, 25,7% năm 2005, đến 18% năm 2006(5)
Năm 2007, ngân sách TPHCM chi cho y tế tổng cộng 1.513 tỷ đồng (chiếm 6,9% trong tổng chi ngân sách địa phương của TPHCM) Trong khi đó, các hộ gia đình dân cư chi tổng cộng khoảng 4.789 tỉ
Trang 5Biểu đồ 2 Tỷ lệ chi phí cho giáo dục tiểu học của các gia đình người dân và của chính quyền tại chín quốc gia Đông Á
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Tỷ lệ %
Camp
uchia
Indon
esia Lào
Myan
mar
Philip
pines
Thái L an
Hộ gia đình Chính quyền
Nguồn: Mark Bray, Counting the Full Cost Parental and Community Financing of Education in East Asia, 1996, tr 32 Số liệu của Việt Nam được lấy từ World Bank, Vietnam: Poverty Assessment and Strategy, East Asia and Pacific Regional Office, Country Department I, Washington DC, 1995
đồng, theo ước tính của chúng tôi(6) Như
vậy, ước lượng nhà nước chỉ chi khoảng
20%, còn các hộ gia đình dân cư và các
nguồn khác chi tới khoảng 80% trong tổng
chi xã hội cho y tế
Một công trình nghiên cứu của Mark Bray
năm 1996 cho biết mức chi phí của các gia
đình Việt Nam chiếm tới khoảng 52% trong
tổng chi phí quốc gia dành cho giáo dục
tiểu học công lập, thuộc hàng cao nhất
trong các nước Đông Á, chỉ thua
Campuchia (M Bray, 1996, tr 32) Một
công trình khác của Raja Kattan và
Nicholas Burnett năm 2004 cũng cho biết
mức chi phí cho giáo dục của các hộ gia
đình ở Việt Nam lên tới 44% trong tổng chi
phí xã hội cho giáo dục tiểu học công lập,
cao thứ nhì ở các nước Á châu, chỉ thua
Campuchia (R.B Kattan, N Burnett, 2004,
tr 14)
Theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc, trong tổng chi tiêu cho y tế của Việt Nam năm 2004, nhà nước chi 1,5% so với tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn tư nhân lên tới 4,0% GDP (xem UNDP, 2007, bảng 6, tr 254) Theo một công trình phân tích khác dựa trên tài khoản y tế quốc gia năm 2004 (số liệu của Vụ tài chính, Bộ Y tế), các khoản chi trực tiếp của các hộ gia đình chiếm khoảng 63% tổng chi tiêu cho y
tế trên cả nước Tỷ lệ khác nhau tùy từng vùng, từ mức 77% ở châu thổ sông Cửu Long đến mức 46,6% ở vùng Tây Bắc (Liên Hiệp Quốc, 2005, tr 10-11)
Như vậy, nhìn chung hai lĩnh vực giáo dục
và y tế, có thể nhận thấy hệ quả của các
nỗ lực huy động sức dân thông qua các chính sách thu học phí cũng như viện phí trong những năm qua, hay nói khác đi là
hệ quả của xu hướng "hàng hóa hóa" các
Trang 6Biểu đồ 3 Tỷ lệ chi phí cho y tế của nhà nước/tư nhân tại một số quốc gia, năm 2001
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
Thái La
n Philipp
ines
Malay sia
Nhà nước
Tư nhân
Nguồn: Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB), 2001 Dẫn lại theo Liên hiệp quốc, Cơ quan thường
trú tại Việt Nam, Tài chính cho chăm sóc y tế ở Việt Nam, Hà Nội, tháng 6/2003, tr 7
dịch vụ phúc lợi cơ bản này, thực chất
chính là chuyển gánh nặng chi phí giáo
dục cũng như chi phí y tế từ phía nhà nước
sang người dân, với mức độ cao hơn hẳn
so với nhiều nước khác trong khu vực
(xem các biểu đồ 2 và 3)
Tuy nhiên, hậu quả của xu hướng chuyển
gánh nặng chi phí sang người dân không
xảy ra một cách đồng đều nơi các tầng lớp
dân cư, mà diễn ra theo chiều hướng ngày
càng thiệt thòi cho tầng lớp nghèo và tầng
lớp dễ bị tổn thương
3 THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG
VIỆC CUNG ỨNG VÀ THỤ HƯỞNG CÁC
LỢI ÍCH PHÚC LỢI
Kết quả điều tra cho thấy, giữa các tầng
lớp dân cư ở TPHCM, có một sự chênh
lệch đáng kể trong việc thụ hưởng các lợi
ích phúc lợi giáo dục và y tế
Mặc dù TPHCM là nơi đã có tỷ lệ phổ cập
giáo dục rất cao ở bậc tiểu học, trung học
cơ sở, cũng như khá cao ở bậc trung học phổ thông, nhưng mức độ thụ hưởng dịch
vụ phúc lợi giáo dục công vẫn có xu hướng diễn ra không đồng đều Gia đình nghèo chi cho việc học hành của con em ít hơn, có tỷ lệ con em nghỉ học kể từ lứa 15 tuổi trở lên đông hơn, nhưng đồng thời lại phải gánh chịu tỷ trọng chi phí giáo dục trong ngân sách chi tiêu của gia đình cao hơn so với những gia đình khá giả, mặc dù
số tiền chi cho giáo dục của những hộ này luôn thấp hơn nhiều so với các hộ khá giả
Theo số liệu điều tra của chúng tôi về các vấn đề kinh tế-xã hội trong nền giáo dục phổ thông tại năm tỉnh thành miền Nam vào tháng 11/2007, tỷ lệ chi cho giáo dục tính trên tổng chi tiêu cho đời sống một năm của một hộ nhóm 5 (nhóm giầu nhất)
là 8,2%, trong khi nơi nhóm 1 (nhóm nghèo nhất) lên tới 11,3% Còn tỷ lệ chi cho giáo dục bình quân một người đi học một năm nơi nhóm 5 là 5,58%, trong khi
Trang 7nơi nhóm 1 lên tới 6,25% tính trong tổng
chi tiêu cho đời sống của gia đình (Trần
Hữu Quang, 2008) Như vậy, càng nghèo
thì chi phí cho giáo dục của con em càng
là gánh nặng đối với ngân sách chi tiêu
của gia đình
Những nhóm hộ khá giả chi bình quân cho
một học sinh cao hơn, cho con em đi học
thêm nhiều hơn, và có tỷ lệ con em học lên
cấp trung học phổ thông cũng như lên bậc
đại học nhiều hơn hẳn so với con em
những nhóm hộ nghèo Nói cách khác, kể
từ bậc trung học phổ thông, con em các
gia đình trung lưu và khá giả ở TPHCM
được thụ hưởng phúc lợi giáo dục của nhà
nước nhiều hơn so với các gia đình nghèo
Nền giáo dục, trong trường hợp này, thay
vì là một nhân tố thúc đẩy sự bình đẳng
như mọi người kỳ vọng, thì lại có nguy cơ
biến thành một nhân tố góp phần vào quá
trình phân hóa xã hội
Trong lĩnh vực y tế, kết quả khảo sát tại
TPHCM cho thấy rằng khi gia đình có
người bị bệnh nặng, các hộ gia đình nghèo
vẫn đưa bệnh nhân đi điều trị nội trú tại
bệnh viện với tỷ lệ ngang với các hộ khá
giả Số lần đi khám bệnh và số ngày nằm
bệnh viện của những người có thẻ bảo
hiểm y tế so với những người không có thẻ
không chênh lệch nhau bao nhiêu Thậm
chí ngược lại, còn có tình trạng khoảng
một nửa không sử dụng thẻ bảo hiểm y tế
để thanh toán viện phí
Tuy nhiên, khi phân tích cơ cấu chi trả viện
phí bảo hiểm y tế theo các tầng lớp dân
cư, thì chúng tôi lại chứng kiến sự chênh
lệch đáng kể Nhóm gia đình khá giả nhất
không những chi cho y tế và chăm sóc sức
khỏe nhiều hơn so với nhóm gia đình
nghèo nhất, mà còn được hưởng mức chi trả của cơ quan bảo hiểm y tế nhiều hơn hẳn so với những nhóm gia đình nghèo Theo kết quả cuộc điều tra 1.000 hộ gia đình dân cư vào tháng 9/2008 của chúng tôi, trong tổng số tiền viện phí mà cơ quan bảo hiểm y tế chi trả cho những người phải
đi điều trị trong mẫu điều tra, riêng số tiền chi cho các hộ gia đình thuộc nhóm 5 (khá giả nhất) chiếm tới 35%, trong khi nơi nhóm 1 (nghèo nhất) chỉ chiếm 13% và nhóm 2 chỉ nhận được 4% Còn nếu chỉ tính số bệnh nhân bị bệnh nặng phải điều trị nội trú tại bệnh viện thì riêng các bệnh nhân thuộc hai nhóm hộ 4 và 5 (khá giả nhất) chiếm tổng cộng tới 64% trong tổng
số tiền chi trả của cơ quan bảo hiểm y tế,
và các bệnh nhân thuộc hai nhóm hộ 2 và
1 (nghèo nhất) chỉ được hưởng tổng cộng 14% trong tổng số tiền chi trả này
Do thành phần cấu tạo đối tượng của hệ thống bảo hiểm y tế hiện nay chỉ tập trung vào những ngành nghề thuộc khu vực chính thức, nên tình hình phân bổ ngân sách chi trả viện phí của cơ quan bảo hiểm
y tế trong thực tế đã mang tính chất thiên
vị cho những tầng lớp trung lưu và khá giả,
và thiệt thòi đối với những tầng lớp nghèo
vốn phần lớn đang làm việc trong khu vực phi chính thức
Theo ông Phạm Mạnh Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, "chúng ta cũng phải thừa nhận rằng đã xuất hiện một nguy cơ thiếu công bằng và ngày càng gia tăng trong (việc) chăm sóc sức khỏe nhân dân so với thời kỳ bao cấp" (Phạm Mạnh Hùng, 2004,
tr 77) Một bản phúc trình của tổ chức Liên hiệp quốc cũng nói rõ rằng "hiện tại, hệ thống tài chính cho y tế ở Việt Nam đã làm
Trang 8Biểu đồ 4 Tỷ trọng thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội, phân theo các nhóm hộ gia đình dựa trên mức thu nhập (ngũ phân), Việt Nam 2004
Ghi chú: Khoản "Phúc lợi xã hội" (social welfare) trong biểu đồ trên bao gồm những chương
trình dành cho các nhóm đối tượng như thương binh và các gia đình liệt sĩ
Nguồn: Martin Evans et al., An sinh xã hội ở Việt Nam Lũy tiến đến mức nào ?, 22/8/2007, tr
25 Tính toán của các tác giả dựa trên kết quả cuộc điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 của Tổng cục Thống kê Việt Nam
tăng sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp
cận với các dịch vụ khám chữa bệnh và sự
chênh lệch về sức khoẻ, là nguyên nhân
khiến nhiều người tái nghèo" (Liên Hiệp
Quốc, 2003, tr 5) Kết quả phân tích của
nhóm nghiên cứu của Martin Evans cũng
cho rằng hệ thống an sinh xã hội của Việt
Nam ngày nay mang tính thoái bộ
(regressive) và không hướng đến sự bình
đẳng trong xã hội "Trợ cấp giáo dục mang
tính lũy thoái (regressive) vì 57% tổng chi
dành cho hai nhóm giầu nhất trong khi
nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 15%"
Còn trong lĩnh vực phúc lợi y tế, hai nhóm
hộ khá giả nhất nhận được đến 66%, và
hai nhóm hộ nghèo nhất chỉ nhận được
18% (Martin Evans, et al., 2007, tr 26)
Khi đánh giá về quỹ chăm sóc y tế cho người nghèo ở Việt Nam, Adam Wagstaff nhận định rằng quỹ này không ảnh hưởng bao nhiêu tới việc chi trả chi phí y tế của những người nghèo, và cho dù họ có được trợ cấp thì tỷ lệ chi phí mà họ phải trả từ tiền túi của mình vẫn chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng chi tiêu vốn đã còm cõi của
họ, và điều này thực sự là nguy cơ làm cho ngân sách gia đình của họ bị cạn kiệt
do ốm đau, bệnh tật (A Wagstaff, 2007, tr 17)
Một bản báo cáo của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế cho biết "chính sách thu
Trang 9viện phí vừa có mặt tích cực vừa có mặt
tiêu cực ở chỗ vừa huy động được nguồn
lực cho nâng cao hoạt động của bệnh viện,
vừa là rào cản khả năng tiếp cận các dịch
vụ khám chữa bệnh của người nghèo Các
chính sách miễn giảm đã được áp dụng
nhưng hiệu quả không cao" (Nguyễn
Khánh Phương, 2002)
Các số liệu khảo sát cho thấy đang tồn tại
một thực trạng bất bình đẳng trong việc
cung ứng và thụ hưởng các lợi ích phúc lợi
giáo dục và y tế Mặc dù đã có những
chính sách trợ giúp xã hội hướng đến
những đối tượng nghèo và khó khăn,
nhưng hiệu quả của các chính sách này
vẫn không làm giảm được bao nhiêu mức
độ chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư
trong việc hưởng dụng các lợi ích phúc lợi
giáo dục và y tế mà chúng tôi đã nhận diện
được qua kết quả điều tra
4 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG
QUÁ TRÌNH "XÃ HỘI HÓA" VÀ TỰ CHỦ
HÓA TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ PHÚC
LỢI CÔNG LẬP
Những biện pháp thu học phí và viện phí
xuất hiện vào cuối thập niên 1980, khi mà
hầu hết trường học và bệnh viện đều đang
lâm vào tình thế khủng hoảng tài chính
nghiêm trọng Lúc ban đầu, những biện
pháp này được đề ra như một giải pháp
tình thế mang tính cấp bách và chữa cháy
nhằm hỗ trợ thêm cho ngân sách của các
đơn vị sự nghiệp này và nhất là cải thiện
đời sống cho giáo viên và bác sĩ, y tá vốn
hồi ấy hết sức khó khăn Việc thu phí được
thực hiện ngay tại từng trường, từng bệnh
viện, và do vậy vô hình trung đã biến các
đơn vị này thành những đơn vị sự nghiệp
có thu Đó là chưa kể sự sinh sôi của các
loại hình dạy thêm, làm thêm, phòng khám ngoài giờ, khu dịch vụ hết sức đa dạng, không khác gì bao nhiêu so với những "kế hoạch B" hay "xí nghiệp đời sống" trong lĩnh vực công nghiệp thời bao cấp Kể từ
đó, hầu như đơn vị nào cũng có sổ sách thu chi riêng, và trong thực tế hầu như được quyền tự mình quyết định không ít khoản thu và khoản chi, từ lâu trước khi chính phủ ban hành qui chế về quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập Kiểu cơ chế mang tính vừa phân tán vừa cát cứ ấy đã tạo nên một nếp quản lý
mang nặng xu hướng phường hội và cục
bộ hơn là "tự chủ" theo đúng nghĩa tích
cực của từ này Cái nếp quản lý này dường như vẫn còn tồn tại dai dẳng nơi không ít đơn vị công lập ngày nay
Chính vì thế mà mặc dù Nghị quyết 90/CP (1997) của Chính phủ đã nói rằng chủ
trương "xã hội hóa" là "vận động và tổ
chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp" trong các lĩnh vực giáo dục, y tế,
văn hóa, và nhấn mạnh rằng chủ trương
"xã hội hóa" là một "giải pháp quan trọng
để thực hiện chính sách công bằng xã hội",
nhưng trong thực tế vẫn xảy ra một sự ngộ nhận khá phổ biến khi chỉ chú trọng đến
việc tăng thu ở các đơn vị Theo chúng tôi,
nguyên nhân cốt lõi không hẳn nằm ở nhận thức về chủ trương "xã hội hóa" cho bằng là nằm ngay trong mô hình tổ chức cũng như trong cơ chế quản lý tài chính của các cơ sở cung ứng dịch vụ phúc lợi công như bệnh viện và trường học vốn mang dáng dấp vừa phân tán vừa phường hội như đã nêu trên
Trong lĩnh vực giáo dục, ngoài học phí, các nhà trường còn đề ra hàng loạt khoản thu
Trang 10mà phụ huynh buộc phải đóng Tuy không
thiếu văn bản qui định khá chặt chẽ của
nhà nước, nhưng trong thực tế ở các địa
phương và các trường đã tự phát đề ra rất
nhiều thứ phí và quỹ khác nhau mà các cơ
quan quản lý không phải lúc nào cũng có
thể kiểm soát hết Đó là chưa nói tới tình
trạng nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực
khác như nạn ép học thêm, dạy thêm,
chạy trường, chạy điểm, bệnh thành tích
vừa làm khổ cho cả phụ huynh, học trò lẫn
thầy cô giáo, vừa ảnh hưởng nghiêm trọng
tới hình ảnh đạo đức mô phạm của nhà
trường
Mô hình "trường công lập tự chủ tài chính"
cũng là một vấn đề cần xem xét lại Chúng
tôi cho rằng mô hình này tự bản thân nó là
một nghịch lý, vì một trường công lập đang
thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ cập
không thể đi thu học phí cao, bởi lẽ điều
này vi phạm nguyên tắc công bằng mà một
trường công của nhà nước phải bảo đảm
Công phải ra công, tư ra tư Nếu không,
dưới mắt người dân, đây quả là loại
trường công "dành cho con nhà giàu"(7)
Nếu quan niệm rằng chủ trương "xã hội
hóa" không phải là mở rộng sự tham gia
của xã hội vào quá trình thảo luận và thực
hiện các dự án giáo dục, mà chỉ hiểu đây
chủ yếu là thu hút sự đóng góp tài chính
của các gia đình người dân cho nhà
trường, thì đây quả là một cách hiểu hoàn
toàn méo mó và tai hại Đối với trường
công, không thể suy nghĩ theo logic của
một cơ sở tư nhân là ai chi nhiều tiền thì
được hưởng nhiều, ai chi ít hưởng ít Vì
làm như vậy thì giáo viên và học sinh vùng
sâu vùng xa sẽ mãi mãi phải cam chịu thân
phận thiệt thòi mà không có quyền đòi hỏi
gì hơn, đơn giản là do nghèo Nếu lập luận
rằng phải dựa trên nguyên tắc thu học phí theo khả năng chi trả và vùng nào giàu có đóng học phí cao thì trẻ em có quyền được hưởng dịch vụ giáo dục tốt hơn so với trẻ
em vùng nghèo khổ thì mới "công bằng" thì đây quả là một sự ngộ nhận nghiêm trọng, vì đã quan niệm khái niệm công
bằng dựa trên logic kinh tế tư nhân hóa
hoàn toàn, chứ không dựa trên logic xã hội
của một nhà nước do dân và vì dân
Việc tìm cách gia tăng nguồn chi tiêu của người dân (vốn đã hết sức cao) vào nền giáo dục công lập đã góp phần gây ra tình
trạng bất bình đẳng về cơ hội cũng như về
điều kiện học tập, không chỉ thiệt thòi cho
những gia đình khó khăn, mà còn tổn hại đến lợi ích lớn hơn của quốc gia, vì sẽ làm lãng phí những nguồn lực trí tuệ có thể có nơi con em gia đình ở vùng sâu vùng xa
và gia đình nghèo
Trong lĩnh vực y tế, tình hình "xã hội hóa" trong các bệnh viện công lập cũng không khả quan hơn và cũng gặp phải những vấn
đề tương tự như trong hệ thống giáo dục Mặc dù nhà nước đã có những qui định chi tiết về những khoản phí được phép thu, nhưng trên thực tế, mức phí áp dụng rất khác nhau tùy từng địa phương, từng bệnh viện Theo một bản phúc trình của Liên hiệp quốc, "một số bệnh viện không tuân thủ khung phí quy định, và một số bệnh viện khác thì lại áp đặt những khoản phụ phí", và "có những bằng chứng thực tế cho thấy một số giám đốc bệnh viện đã linh hoạt hơn trong việc phân bổ những khoản thu từ phí" (Liên Hiệp Quốc, 2005, tr 9) Bản phúc trình trên còn nhận định như sau: "Việc trao quyền tự chủ về tài chính
và quản lý cho các cơ sở y tế và giáo dục công lập sẽ giúp các cơ sở này tăng nguồn