TIỂU LUẬN TRIẾT HỌCVỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DI VẬTTRONG CẢM NHẬN VÀ VẬN DỤNG THỰC TIỄNLỜI DẪN:Biện chứng là gì?+ Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.+ Khái niệm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.Biện chứng khách quan là chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất; còn biện chứng chủ quan là chỉ biện chứng của ý thức.Có sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm trong việc giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Theo quan niệm duy tâm: biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan; còn theo quan điểm duy vật: biện chứng khách quan là cơ sở của biện chứng chủ quan. Ph. Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giói tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên...”.Sự đối lập nhau trong quan niệm đó là cơ sở phân chia phép biện chứng thành: phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật.Phép biện chứng là gì?Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới.Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn.Các hình thức lịch sử của phép biện chứngPhép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học. Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. Trong triết học Ân Độ, biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”... Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại là những quan điểm biện chứng của Heraclit.
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DI VẬT
TRONG CẢM NHẬN VÀ VẬN DỤNG THỰC
TIỄN
Trang 2LỜI DẪN:
Biện chứng là gì?
+ Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ và sự phát triển của các sự vật,hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Khái niệm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
Biện chứng khách quan là chỉ biện chứng của các tồn tại vật chất; còn biện chứng chủquan là chỉ biện chứng của ý thức
Có sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm trong việc giải quyết vấn đề
về mối quan hệ giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Theo quan niệmduy tâm: biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan; còn theo quan điểmduy vật: biện chứng khách quan là cơ sở của biện chứng chủ quan Ph Ăngghen khẳngđịnh: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giói tự nhiên, còn biệnchứng gọi là chủ quan, tức tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn
bộ giới tự nhiên ”
Sự đối lập nhau trong quan niệm đó là cơ sở phân chia phép biện chứng thành: phép biệnchứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng là gì?
Phép biện chứng là học thuyết về biện chứng của thế giới
Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến
và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiệntượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luậnchung cho các quá trình nhận thức và thực tiễn
Các hình thức lịch sử của phép biện chứng
Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông vàphương Tây, với ba hình thức cơ bản (cũng là thể hiện ba trình độ phát triển của phépbiện chứng trong lịch sử triết học):
+ Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng tronglịch sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung
Trang 3Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại Tiêu biểu cho những tư tưởng biện chứng của triết họcTrung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổbiến trong vũ trụ) và “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổicủa các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia Trong triết học Ân Độ, biểu hiện
rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học của đạo Phật, với các phạm trù “vô ngã”,
“vô thường”, “nhân duyên” Tiêu biểu cho phép biện chứng của triết học Hy Lạp cổ đại
là những quan điểm biện chứng của Heraclit
+ Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ những quan điểm biện chứngtrong triết học của I Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph Hêghen Ph Hêghen
đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới trình độ lý luận sâu sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về
-sự phát triển Tuy nhiên, phép biện chứng trong triết học của Ph Hêghen là phép biệnchứng được xây dựng trên lập trường duy tâm (duy tâm khách quan) nên hệ thống lý luậnnày chưa phản ánh đúng đắn bức tranh hiện thực của các mốì liên hệ phổ biến và sự pháttriển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quátrình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệmtuyệt đối”
+ Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển caonhất của phép biện chứng Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lýtrong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phụcnhững hạn chế trong phép biện chứng của Ph Hêghen; đồng thời phát triển phép biệnchứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bịtrên lập trường duy vật mới
Cảm nhận hay nhận thức là gì?
Nhận thức (tiếng Anh: cognition) là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những
am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui trình như tri
thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyếtvấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ Theo "Từ điển Báchkhoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quantrong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh
Trang 4biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năngđộng, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.[1].
Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa vô thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mangtính trực giác Quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẵn và tạo ra tri thức mới
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong các hoạt động nghiên cứu của con người về các sự vật, hiện tượng, mỗichúng ta có những phương pháp nghiên cứu khác nhau dựa vào cách nhìn nhận các sựvật hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau Mặc dầu quan sát ở hệ quy chiếu nào đichăng nữa, chúng ta cũng cần nắm bắt được bản chất và nguồn gốc của vấn đề Đó làđiểm chính của bức tranh về các sự vật và hiện tượng, nếu nắm rõ ta có thể đánh giámột cách chính xác về đối tượng mà ta nghiên cứu
Trong thực tế các sự vật và hiện tượng luôn vận động và phát triển khôngngừng Do vậy để nắm bắt được các quy luật, mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa vàvận động của các sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, chúng ta cần mộthọc thuyết để dễ dàng nghiên cứu và tiếp cận nó Học thuyết của Mác – Lênin đã đềcập các vấn đề này thông qua phép biện chứng duy vật Đến nay, học thuyết này vẫncòn mang tính thời sự, vẫn được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu về
tự nhiên, về các hoạt động của xã hội của con người…
Trong chuyên đề này, các vấn đề được trình bày là về phép biện chứng duy vật
và vận dụng phép biện chứng duy vật vào hoạt động nghiên cứu khoa học vật lý
I PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Triết học được coi là khoa học của mọi khoa học Trong triết học, tư tưởng quanđiểm của triết học Mác – xít đóng vai trò vô cùng quan trọng trong khoa học và đờisống hiện nay Những tri thức của triết học đang là công cụ tu duy sắc bén và hiệu quả
để con người nhận thức và tải tạo thế giới Một trong những nội dung triết học đóchính là phép biện chứng duy vật Sau đây là phần khái quát một số nội dung về phépbiện chứng duy vật để làm cơ sở cho các phần nghiên cứu tiếp theo
1.1 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của phép biện chứng duy vật
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phépbiện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và pháttriển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Chúng được chia thành hailoại: Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan
1
Trang 6Biện chứng khách quan là đặc tính vốn có của thế giới (gồm tự nhiên và xã hội).Chúng vận động theo những quy luật khách quan mà không phụ thuộc vào ý thức
Biện chứng chủ quan là đặc tính của tư duy con người Các khái niệm, phánđoán, tư tưởng trong đầu óc của con người, có liên hệ với nhau theo những quy luậtnhất định
Biện chứng chủ quan là phản ánh của biện chứng khách quan Tuy nhiên, không phảibất cứ tu duy của các cá nhân nào cũng phản ánh đúng biện chứng khách quan, đôi khicòn xuyên tạc, sai lệch biện chứng khách quan Vì thế, phép biện chứng duy vật là lýluận, là khoa học nghiên cứu cả biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan nhằmđảm bảo tu duy của con người phản ánh đúng biện chứng khách quan
Đặc điểm của phép biện chứng duy vật bao gồm:
Thứ nhất, phép biện chứng duy vật được xác lập trên cơ sở thế giới quan duyvật và sự khái quát các thành tựu khoa học
Thứ hai, có sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật biện chứng với phươngpháp luận biện chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn
là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới
Với những đặc trưng cơ bản trên, phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩaMác – Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồngthời nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạotrong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn
1.2 Các nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
Nội dung của phép biện chứng duy vật gồm 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù và 3quy luật cơ bản
1.2.1 Hai nguyên lý cơ bản
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2
Trang 7Theo quan điểm biện chứng cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình khácnhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau.Quanđiểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở củamối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới Dùchúng có đa dạng, phong phú bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhaucủa một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất
Nhờ tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau mà tồntại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chínhtrên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng: liên hệ là phạm trù triếthọc, dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sựvật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới
Tính chất của mối liên hệ: theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng,mối liên hệ có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng vàphong phú
Các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các
sự vật, hiện tượng Các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nêntrong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểmtoàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qualại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tácđộng qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên
hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật
- Nguyên lý về sự phát triển
Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dầndần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc vàhết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn Quanđiểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc của
sự phát triển Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triểnnằm trong bản thân sự vật Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Quá trình
3
Trang 8giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật và cũng là quá trình tự thân pháttriển của mọi sự vật
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiệnthực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù triết họcdùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từkém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Theo quan điểm này, phát triển khôngbao quát toàn bộ sự vận động nói chung Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vậnđộng – xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ
Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình pháttriển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất,
sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn
có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển cũng có ba tínhchất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng và phong phú
Nguyên lý về sự phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm phát triển
Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình pháttriển của sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở đó để tìm ra phương pháp nhậnthức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìmhãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sốngcủa con người Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, địnhkiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
1.2.2 Ba quy luật cơ bản
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặplại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật, hiện tượng hay giữacác sự vật, hiện tượng với nhau
Trong thế giới tồn tại nhiều loại quy luật, chúng khác nhau về mức độ phổ biến,
về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quá trình vận động vàphát triển của sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy Do vậy, việc
4
Trang 9phân loại quy luật là cần thiết để nhận thức và vận dụng có hiệu quả các quy luật vàohoạt động thực tiễn của con người
Nếu căn cứ vào mức độ của tính phổ biến để phân loại thì các quy luật đượcchia thành: những quy luật riêng, những quy luật chung và những quy luật phổ biến
Những quy luật riêng là những quy luật chỉ tác động trong phạm vi nhất địnhcủa các sự vật, hiện tượng cùng loại Thí dụ: những quy luật vận động cơ giới, vậnđộng hóa học, vận động sinh học
Những quy luật chung là những quy luật tác động trong phạm vi rộng hơn quyluật riêng, tác động trong nhiều loại sự vật, hiện tượng khác nhau Chẳng hạn: quy luậtbảo toàn khối lượng, bảo toàn năng lượng
Những quy luật phổ biến là những quy luật tác động trong tất cả các lĩnh vực: từ
tự nhiên, xã hội cho đến tư duy Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luậtphổ biến đó Nếu căn cứ vào lĩnh vực tác động để phân loại thì các quy luật được chiathành ba nhóm lớn: những quy luật tự nhiên, những quy luật xã hội và những quy luậtcủa tư duy Những quy luật tự nhiên là quy luật nảy sinh và tác động trong giới tựnhiên, kể cả cơ thể con người, không phải thông qua hoạt động có ý thức của conngười Những quy luật xã hội là quy luật hoạt động của chính con người trong cácquan hệ xã hội; những quy luật đó không thể nảy sinh và tác động ngoài hoạt động có
ý thức của con người, nhưng những quy luật xã hội vẫn mang tính khách quan Nhữngquy luật của tư duy là những quy luật thuộc mối liên hệ nội tại của những khái niệm,phạm trù, phán đoán, suy luận và của quá tình phát triển nhận thức lý tính ở con người
Với tư cách là một khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biệnchứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộ các lĩnhvực tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Đó là quy luật chuyển hóa từ những sựthay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất vàđấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủ định của phủ định
Quy luật chuyển hóa giữa lượng và chất
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi vềchất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình
5
Trang 10vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy Theo quy luật này, phương thứcchung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay đổi về chất của sự vật,hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng vàngược lại; những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng tại tạo ra những biến đổimới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau Đó là mối liên hệtất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triểncủa sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
- Khái niệm chất, lượng
Chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sựthống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật hiện tượng Nhưvậy, tạo thành chất của sự vật, hiện tượng chính là các thuộc tính khách quan vốn cócủa nó nhưng khái niệm chất không đồng nhất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật,hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơbản mới hợp thành chất của sự vật và hiện tượng Khi những thuộc tính cơ bản thay đổithì chất của nó thay đổi Việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản của sự vật,hiện tượng phải tùy theo quan hệ cụ thể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trongquan hệ này là cơ bản thì trong quan hệ khác có thể là không cơ bản
Lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan của sự vật, hiện tượng về cácphương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệucủa các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Với khái niệm này chothấy: một sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác địnhbằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật, hiệntượng đó
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiệntượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy Hai phương diện đóđều tồn tại khách quan Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trìnhnhận thức về sự vật, hiện tượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ nàyđóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng
- Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
6
Trang 11Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất làlượng Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Sựthay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng Tuynhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kì nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất Ởmột giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất Giới hạn
mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ
Sự vận động biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi vềlượng Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến sự thay đổi vềchất Giới hạn đó chính là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, vớinhững điều kiện nhất định tất yếu dẫn đến sự ra đời của chất mới Đây chính là bướcnhảy trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Bước nhảy là sựchuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng
Tóm lại, bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữahai mặt chất và lượng Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sựthay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo
ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng Quá trình đó liên tục diễn ra,tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sựvật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
- Ý nghĩa của phương pháp luận
Vì bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tạitrong tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhậnthức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng,tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật, hiện tượng
Vì những thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyểnhóa thành những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và ngược lại, do đó, trong hoạtđộng nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng
để có thể làm thay đổi về chất; đồng thời, có thể phát huy tác động của chất mới theohướng làm thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng
7
Trang 12Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật,hiện tượng với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trongcông tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theotính tất yếu quy luật thì khi lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu cókhả năng diễn ra bước nhảy về chất sự vật, hiện tượng Vì thế cũng cần phải khắc phục
tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn Tả khuynh chính là hành độngbất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thựchiện những bước nhảy liên tục về chất Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ,trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quanniệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng
Vì bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy,trong nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bướcnhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể Đặc biệt, trong đời sống xãhội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụthuộc vào nhân tố chủ quan của con người Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực, chủđộng của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách có hiệuquả nhất Các quy luật dưới đây xem trong giáo trình [1], Quy luật thống nhất và đấutranh giữa các mặt đối lập; Quy luật phủ định của phủ định
1.2.3 Sáu cặp phạm trù
Cái riêng và cái chung
- Khái niệm “cái riêng” và “cái chung”
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với những sự vật, hiệntượng, quá trình khác nhau như: Cái bàn, cái nhà, cái cây cụ thể v.v Mỗi sự vật đóđược gọi là một cái riêng, đồng thời, chúng ta cũng thấy giữa chúng lại có những mặtgiống nhau như những cái bàn đều được làm từ gỗ, đều có màu sắc, hình dạng Mặtgiống nhauđó người ta gọi là cái chung của những cái bàn
Vậy cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhấtđịnh Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính khôngnhững có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện
8
Trang 13tượng hay quá trình riêng lẻ khác Cần phân biệt “cái riêng” với “cái đơn nhất” “Cáiđơn nhất” là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sựvật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác
- Quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung”
Trong lịch sử triết học đã có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa
“cái riêng” và “cái chung”:
Phái duy thực cho rằng, “cái riêng” chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải
là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có “cái chung” mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ýthức của con người “Cái chung” không phụ thuộc vào “cái riêng”, mà còn sinh ra “cáiriêng” Theo Platôn, cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cáiriêng chỉ có tính chất tạm thời
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhấtđịnh; còn phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố,những quan hệ lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng
- Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Theo quan điểm duy vật biện chứng: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đềutồn tại khách quan Trong đó, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng
mà biểu hiện sự tồn tại của nó; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng, tức
là không tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung; không có cái riêng tồn tạiđộc lập tuyệt đối tách rời cái chung Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơncái chung; còn cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng Bởi vì,cái riêng là tổng hợp của cái chung và cái đơn nhất; còn cái chung là biểu hiện tính phổbiến, tính quy luật của nhiều cái riêng Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóacho nhau trong những điều kiện xác định
Mối quan hệ giữa biện chứng cái riêng và cái chung đã được V.I.Lênin kháiquát ngắn gọn: “Như vậy, các mặt đối lập (cái riêng đối lập với cái chung) là đồngnhất: cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung Cái chung chỉ tồn tại
9