TRẢ LỜI CÂU HỎI ĐỀ THI TỰ LUẬN MÔN TRIẾT HỌC Câu 1: Phân tích tư tưởng “Thế giới quan” trong triết học Phật giáo? Liên hệ vai trò của Phật giáo tại Việt NamGIẢI1. Khái quát thân thế, sự nghiệp của Phật Thích CaPhật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI – TCN. Người sáng lập Phật giáo là thái tử Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama. Ông là thái tử của vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nêpan) sáng lập.Về năm sinh của Phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều ý kiến cho rằng Phật sinh vào ngày 4 tháng 4 năm 563 trước Công Nguyên. Nhưng theo truyền thống Phật lịch thì tính là ngày 15 tháng 04 (rằm tháng tư) hay còn gọi là ngày Phật đản.Năm 17 tuổi, ông cưới vợ và sinh được một người con trai đặt tên là La Hầu La. Mặc dù sinh ra trong gia đình quý tộc dòng dõi Đế Vương, nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước những khó khăn của cuộc đời và xã hội khiến ông sớm có ý định từ bỏ cuộc đời giàu sang phú quý để đi tìm một đạo lý cứu người.Năm 29 tuổi, ông đã từ bỏ hoàng cung để xuất gia tu đạo. Sau 6 năm tu khổ hạnh, bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng Người đã giác ngộ tìm ra chân lý, tìm ra con đường có thể dẫn con người đến sự giải thoát. Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lí, đã hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh. Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni – tức người giác ngộ chân lí đầu tiên có họ là Thích Ca. Ông bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo. Vào năm 483 TCN, ông tạ thế.Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thăng trầm về vũ trụ và con người. Với mục đích giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người. Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động. Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi bát ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á. Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ, bao gồm 3 bộ phận gọi là Tam tạng kinh, đó là: Tạng kinh (ghi lại những lời dạy của Phật Thích Ca), Tạng luật (những điều quy định mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo); Tạng luận (các tác phẩm luận giải về Phật giáo của các học giả cao tăng về sau).2. Tư tưởng “Thế giới quan” trong triết học Phật giáo: Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo: Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù là: vô ngã, vô thường và duyên. Quan điểm “vô ngã” (không có cái “ta”, cái “tôi” chân thực): Phật giáo cho rằng thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của hai yếu tố vật chất và tinh thần.Vật chất gọi là “sắc”, là cái có thể cảm giác được, nó bao gồm đất, nước, lửa, không khí. Tinh thần là “danh”, không có hình chất mà chỉ có tên gọi, bao gồm thụ, tưởng, thức. + Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội thân hay tâm.+ Tưởng: là sự suy nghĩ, tư tưởng.+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.+ Thức: là sự nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý.Chính cái “danh” và cái “sắc” đó kết hợp với nhau tạo thành “ngũ uẩn”. Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người. Nhưng sự tồn tại chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi. Do đó, không có cái “bản ngã” hay cái tôi chân thực. Quan điểm “vô thường” (vận động biến đổi không ngừng): quan điểm này cho rằng thế giới là dòng biến đổi không ngừng, không nghỉ, theo chu trình bất tận: sinh, trụ, dị, diệt.+ Sinh: được sinh ra, tạo ra.+ Trụ: lớn lên, trưởng thành, phát triển.+ Dị: già yếu, bệnh tật, làm thay đổi hình hài.+ Diệt: chết đi, mất đi.Quan điểm “vô thường” của của Phật giáo thể hiện quan điểm duy vật biện chứng Quan điểm “duyên” (điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả): Phật giáo cho rằng, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên. Trong đó, duyên là điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả, kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nguyên nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành kết quả mới, cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật. Trong thực tế, quá trình nhân – quả là vô tận. Quá trình trước là cơ sở, nguyên nhân cho quá trình sau.Ví dụ hạt lúa là quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành tiếp theo. Lúa muốn thành cây lúa, có bông thì lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng. Những yếu tố đó chính là Duyên.Như vậy, thong qua phạm trù vô ngã, vô thường và duyên, triết học Phật giáo đã bác bỏ quan điểm duy tâm cho rằng Brahman sáng tạo ra con người và thế giới. Phật giáo cho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng. Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng. Quan điểm của triết học Phật giáo về nhân sinh:Nội dung triết lí nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” tức là bốn chân lí tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được. Một là Khổ đế: Cuộc đời của mỗi con người là một bể khổ, ít nhất có tám nỗi khổ (bát khổ), đó là sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt (thương nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu tố tạo nên con người). Vậy con người ở đâu, làm gì cũng khổ. Hai là Nhân đế (tập đế): Giải thích nguyên nhân của sự khổ. Phật giáo cho rằng nỗi khổ của con người là có nguyên nhân, có 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”. 1. Vô minh: Không sáng suốt. 2. Duyên hành: Ý muốn thúc đẩy hành động. 3. Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối. 4. Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức). 5. Duyên lục nhập: Quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan. 6. Duyên xúc: Sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác. 7. Duyên thụ : Sự cảm thụ, nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài. 8. Duyên ái: Sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài. 9. Duyên thủ : Do yêu thích mà muốn chiếm lấy, giữ lấy. 10. Duyên hữu: Sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được. 11. Duyên sinh: Sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại. 12. Duyên lão tử : Già và chết vì có sự sinh thành. Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗi đau nhân loại. Ba là Diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt được trạng thái Niết bàn. Bốn là Đạo đế: Con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng là con đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt đến hạnh phúc. Phật giáo đưa ra 8 con đường chân chính gọi là “bát chính đạo”. 1. Chính kiến: Hiểu đúng đắn tứ diệu đế. 2. Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn. 3. Chính ngữ : Nói năng đúng đắn. 4. Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn. 5. Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn. 6. Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng. 7. Chính niệm: Tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát. 8. Chính định: Kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu đế, về vô ngã, vô thường. Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ được vô minh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào Niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi.Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, Phật giáo còn đưa ra năm điều răn để mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người. Đó là bất sát (không được sát sinh), bất dâm (không được dâm dục), bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ), bất ẩm tửu (không được rượu trà), bất đạo (không được trộm cướp).Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học lớn của Ấn Độ trung đại. Ở giai đoạn đầu, học thuyết triết học ấy chứa đựng những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng về thế giới. Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do, bình đẳng xã hội. Đồng thời, nó cũng nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bác ái, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân. Tuy nhiên, triết lí nhân sinh của Phật giáo vẫn còn mang nặng bi quan không tưởng và duy tâm về mặt xã hội. 3. Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam:Với bản chất từ bi, bác ái, hỷ xả, Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng và dần dần bám rễ vững chắc trên Đất nước Việt Nam. Do phù hợp với truyền thống, đạo đức của người Việt Nam nên Phật giáo thâm nhập vào VN một cách tự nhiên. Phật giáo có nhiều ảnh hưởng và là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, kiến trúc, …như: Về chính trị: Phật giáo đã trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, góp phần kiến lập và bảo vệ chế độ phong kiến vững mạnh, giữ vững độc lập dân tộc. Phật giáo có công trong việc đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc. Trong đó có nhiều vị thiền sư, quốc sư có đức độ và tài năng giúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu, Không Lộ, … Bản chất từ bi, hỷ xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, hướng nhân dân và vua quan vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức, vì dân vì nước.Đến thế kỷ 20, phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu. Đến thời Diệm, Thiệu (19591975) cũng thế, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật Giáo và chính quyền. Đến cuối thế kỷ 20, ta thấy tinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là sự có mặt của các thiền sư Việt Nam trong quốc hội của nước nhà. Về văn hóa: có Nhiều tác phẩm văn học có giá trị như truyện Từ Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính, ... Có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương, Lễ Vu Lan báo hiếu.Ảnh hưởng của Phật giáo về văn hóa của Việt Nam còn thể hiện qua các phong tục, tập quán như: tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sanh và bố thí, viếng chùa hái lộc đầu xuân,… Về kiến trúc: có nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, mang tầm quốc tế của VN được xây dựng như: chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy hội đầu xuân, chùa Tây Phương vời vợi, chùa Yên Tử mây mù, chùa Keo bề thế, chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông Hương.Từ cuối thế kỷ XIII cho đến nay, Phật giáo không còn là quốc giáo nữa nhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sức mạnh tinh thần của nhân dân ta.Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam. Việc khai thác hạt nhân tích cực hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lược đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của xã hội gia đình nhà trường bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực cả truyền thống và hiện đại. Tóm lại, triết lý Phật giáo nhìn nhận đúng đắn ở nhiều góc độ và đã mang lại nhiều giá trị cho Việt Nam. Từ đó, chúng ta chắt lọc được những giá trị ưu việt này để áp dụng vào công tác giáo dục đạo đức, nhân cách con người, góp phần làm lành mạnh hóa xã hội, hạn chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Đồng thời, chúng ta cũng cần đấu tranh chống lại việc lợi dụng và cố tình hiểu sai để biến thành những hủ tục, mê tín dị đoan, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người và xã hội. Việc đánh giá, nhìn nhận về tầm ảnh hưởng, về vị trí và vai trò của Phật giáo trong nền văn hóa và lịch sử của dân tộc cần phải dựa trên tinh thần khoa học và khách quan để nhận rõ những mặt thiếu sót, lạc hậu, tệ nạn nhằm hạn chế, loại bỏ cũng như nhìn thấy mặt tích cực hữu ích để duy trì và phát triển. HẾT CÂU 1 Câu 2: Phân tích tư tưởng “triết lý nhân sinh” trong triết học Phật giáo? Ý nghĩa rút ra từ phân tích vấn đề trên?GIẢI1. Khái quát thân thế, sự nghiệp của Phật Thích CaPhật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI – TCN. Người sáng lập Phật giáo là thái tử Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama. Ông là thái tử của vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nêpan) sáng lập.Về năm sinh của Phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều ý kiến cho rằng Phật sinh vào ngày 4 tháng 4 năm 563 trước Công Nguyên. Nhưng theo truyền thống Phật lịch thì tính là ngày 15 tháng 04 (rằm tháng tư) hay còn gọi là ngày Phật đản.
Trang 1TRẢ LỜI CÂU HỎI ĐỀ THI TỰ LUẬN MÔN TRIẾT HỌC – BẬC CAO HỌC
PHẦN 1:
Câu 1: Phân tích tư tưởng “Thế giới quan” trong triết học Phật giáo? Liên hệ vai trò của
Phật giáo tại Việt Nam
GIẢI
1 Khái quát thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca
Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI – TCN Người sáng lập Phật giáo là thái tử Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama Ông là thái tử của vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nêpan) sáng lập
Về năm sinh của Phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều ý kiến cho rằng Phật sinh vào ngày 4 tháng 4 năm 563 trước Công Nguyên Nhưng theo truyền thống Phật lịch thì tính là ngày 15 tháng 04 (rằm tháng tư) hay còn gọi là ngày Phật đản
Năm 17 tuổi, ông cưới vợ và sinh được một người con trai đặt tên là La Hầu La Mặc
dù sinh ra trong gia đình quý tộc dòng dõi Đế Vương, nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước những khó khăn của cuộc đời và xã hội khiến ông sớm có ý định từ bỏ cuộc đời giàu sang phú quý để đi tìm một đạo lý cứu người
Năm 29 tuổi, ông đã từ bỏ hoàng cung để xuất gia tu đạo Sau 6 năm tu khổ hạnh, bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng Người đã giác ngộ tìm ra chân lý, tìm ra con đường có thể dẫn con người đến sự giải thoát Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lí, đã hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni – tức người giác ngộ chân lí đầu tiên có
họ là Thích Ca Ông bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo Vào năm 483 TCN, ông tạ thế
Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thăng trầm về vũ trụ và con người Với mục đích giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi bát ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á
Trang 2Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ, bao gồm 3 bộ phận gọi là Tam tạng kinh, đó là:
Tạng kinh (ghi lại những lời dạy của Phật Thích Ca), Tạng luật (những điều quy
định mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo); Tạng luận (các tác phẩm luận giải về Phật
giáo của các học giả cao tăng về sau)
2 Tư tưởng “Thế giới quan” trong triết học Phật giáo:
* Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo: Quan điểm về thế giới quan của
Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù là: vô ngã, vô thường và duyên
- Quan điểm “vô ngã” (không có cái “ta”, cái “tôi” chân thực): Phật giáo cho rằng
thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần sáng tạo ra mà được cấu thành bởi sự kết hợp của hai yếu tố vật chất và tinh thần
Vật chất gọi là “sắc”, là cái có thể cảm giác được, nó bao gồm đất, nước, lửa, không khí Tinh thần là “danh”, không có hình chất mà chỉ có tên gọi, bao gồm thụ, tưởng, thức
+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội thân hay tâm
+ Tưởng: là sự suy nghĩ, tư tưởng
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động
+ Thức: là sự nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý
Chính cái “danh” và cái “sắc” đó kết hợp với nhau tạo thành “ngũ uẩn” Ngũ uẩn tác động qua lại tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có cái “bản ngã” hay cái tôi chân thực
- Quan điểm “vô thường” (vận động biến đổi không ngừng): quan điểm này cho
rằng thế giới là dòng biến đổi không ngừng, không nghỉ, theo chu trình bất tận: sinh, trụ, dị, diệt
+ Sinh: được sinh ra, tạo ra
+ Trụ: lớn lên, trưởng thành, phát triển
+ Dị: già yếu, bệnh tật, làm thay đổi hình hài
Trang 3Quan điểm “vô thường” của của Phật giáo thể hiện quan điểm duy vật biện chứng
- Quan điểm “duyên” (điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả): Phật giáo cho
rằng, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên Trong đó, duyên là điều kiện giúp nguyên nhân thành kết quả, kết quả
ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nguyên nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành kết quả mới, cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật Trong thực tế, quá trình nhân – quả là vô tận Quá trình trước là cơ sở, nguyên nhân cho quá trình sau
Ví dụ hạt lúa là quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành tiếp theo Lúa muốn thành cây lúa, có bông thì lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng Những yếu tố đó chính là Duyên
Như vậy, thong qua phạm trù vô ngã, vô thường và duyên, triết học Phật giáo đã bác
bỏ quan điểm duy tâm cho rằng Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, các sự vật của thế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng Đó là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới, mặc dù còn chất phác, mộc mạc nhưng rất đáng trân trọng
* Quan điểm của triết học Phật giáo về nhân sinh:
Nội dung triết lí nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ
diệu đế” tức là bốn chân lí tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được.
- Một là Khổ đế: Cuộc đời của mỗi con người là một bể khổ, ít nhất có tám nỗi khổ
(bát khổ), đó là sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt (thương nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu tố tạo nên con người) Vậy con người ở đâu, làm gì cũng khổ
- Hai là Nhân đế (tập đế): Giải thích nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho rằng nỗi
khổ của con người là có nguyên nhân, có 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”
1 Vô minh: Không sáng suốt
2 Duyên hành: Ý muốn thúc đẩy hành động
3 Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối
Trang 44 Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)
5 Duyên lục nhập: Quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan
6 Duyên xúc: Sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác
7 Duyên thụ : Sự cảm thụ, nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài
8 Duyên ái: Sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài
9 Duyên thủ : Do yêu thích mà muốn chiếm lấy, giữ lấy
10 Duyên hữu: Sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được
11 Duyên sinh: Sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại
12 Duyên lão tử : Già và chết vì có sự sinh thành
Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗi đau nhân loại
- Ba là Diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt
được trạng thái Niết bàn
- Bốn là Đạo đế: Con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng là con
đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt đến hạnh phúc Phật giáo đưa ra 8 con đường chân chính gọi là “bát chính đạo”
1 Chính kiến: Hiểu đúng đắn tứ diệu đế
2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn
3 Chính ngữ : Nói năng đúng đắn
4 Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn
5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn
6 Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng
7 Chính niệm: Tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát
8 Chính định: Kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu
đế, về vô ngã, vô thường
Trang 5Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ được vô minh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào Niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh
tử luân hồi
Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, Phật giáo còn đưa ra năm điều răn
để mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người Đó là bất sát (không được sát sinh), bất dâm (không được dâm dục), bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ), bất ẩm tửu (không được rượu trà), bất đạo (không được trộm cướp)
Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học lớn của Ấn Độ trung đại Ở giai đoạn đầu, học thuyết triết học ấy chứa đựng những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng về thế giới Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do, bình đẳng xã hội Đồng thời, nó cũng nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bác
ái, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên, triết lí nhân sinh của Phật giáo vẫn còn mang nặng bi quan không tưởng và duy tâm về mặt xã hội
3 Liên hệ vai trò của Phật giáo ở Việt Nam:
Với bản chất từ bi, bác ái, hỷ xả, Phật giáo nhanh chóng tìm được chỗ đứng và dần dần bám rễ vững chắc trên Đất nước Việt Nam Do phù hợp với truyền thống, đạo đức của người Việt Nam nên Phật giáo thâm nhập vào VN một cách tự nhiên Phật giáo có nhiều ảnh hưởng và là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, kiến trúc, …như:
- Về chính trị: Phật giáo đã trở thành quốc giáo ở các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần,
góp phần kiến lập và bảo vệ chế độ phong kiến vững mạnh, giữ vững độc lập dân tộc Phật giáo có công trong việc đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc Trong đó có nhiều vị thiền sư, quốc sư có đức độ và tài năng giúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu, Không Lộ, … Bản chất từ bi, hỷ xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, hướng nhân dân và vua quan vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức, vì dân vì nước
Đến thế kỷ 20, phật tử Việt Nam rất hăng hái tham gia các hoạt động xã hội như cuộc vận động đòi ân xá cho Phan Bội Châu Đến thời Diệm, Thiệu (1959-1975) cũng thế, các tăng sĩ và cư sĩ miền Nam tham gia tích cực cho phong trào đấu tranh đòi hòa bình và độc lâp cho dân tộc, nổi bật là những cuộc đối thoại chính trị giữa các tăng sĩ Phật Giáo và chính
Trang 6quyền Đến cuối thế kỷ 20, ta thấy tinh thần nhập thế này cũng không ngừng phát huy, đó là
sự có mặt của các thiền sư Việt Nam trong quốc hội của nước nhà
- Về văn hóa: có Nhiều tác phẩm văn học có giá trị như truyện Từ Thức, truyện Tấm
Cám, truyện Quan Âm Thị Kính, Có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương, Lễ Vu Lan báo hiếu
Ảnh hưởng của Phật giáo về văn hóa của Việt Nam còn thể hiện qua các phong tục, tập quán như: tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sanh và bố thí, viếng chùa hái lộc đầu xuân,…
- Về kiến trúc: có nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc, mang
tầm quốc tế của VN được xây dựng như: chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất trong ngày trẩy hội đầu xuân, chùa Tây Phương vời vợi, chùa Yên Tử mây mù, chùa Keo bề thế, chùa Thiên Mụ soi mình trên dòng sông Hương
Từ cuối thế kỷ XIII cho đến nay, Phật giáo không còn là quốc giáo nữa nhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sức mạnh tinh thần của nhân dân ta
Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam Việc khai thác hạt nhân tích cực hợp lý của Đạo Phật nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, là một mục tiêu chiến lược đòi hỏi sự kết hợp giáo dục tổng hợp của xã hội - gia đình - nhà trường - bản thân cá nhân, một sự kết hợp tự giác tích cực cả truyền thống và hiện đại
Tóm lại, triết lý Phật giáo nhìn nhận đúng đắn ở nhiều góc độ và đã mang lại nhiều
giá trị cho Việt Nam Từ đó, chúng ta chắt lọc được những giá trị ưu việt này để áp dụng vào công tác giáo dục đạo đức, nhân cách con người, góp phần làm lành mạnh hóa xã hội, hạn chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường Đồng thời, chúng ta cũng cần đấu tranh chống lại việc lợi dụng và cố tình hiểu sai để biến thành những hủ tục, mê tín dị đoan, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người và xã hội Việc đánh giá, nhìn nhận về tầm ảnh hưởng, về vị trí
và vai trò của Phật giáo trong nền văn hóa và lịch sử của dân tộc cần phải dựa trên tinh thần khoa học và khách quan để nhận rõ những mặt thiếu sót, lạc hậu, tệ nạn nhằm hạn chế, loại
bỏ cũng như nhìn thấy mặt tích cực hữu ích để duy trì và phát triển
-HẾT CÂU
Trang 71 -Câu 2: Phân tích tư tưởng “triết lý nhân sinh” trong triết học Phật giáo? Ý nghĩa rút ra từ
phân tích vấn đề trên?
GIẢI
1 Khái quát thân thế, sự nghiệp của Phật Thích Ca
Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào thế kỉ VI – TCN Người sáng lập Phật giáo là thái tử Siddharta (Tất Đạt Đa), họ là Gôtama Ông là thái tử của vua Tịnh Phạn, vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nêpan) sáng lập
Về năm sinh của Phật hiện nay có nhiều tài liệu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều ý kiến cho rằng Phật sinh vào ngày 4 tháng 4 năm 563 trước Công Nguyên Nhưng theo truyền thống Phật lịch thì tính là ngày 15 tháng 04 (rằm tháng tư) hay còn gọi là ngày Phật đản
Năm 17 tuổi, ông cưới vợ và sinh được một người con trai đặt tên là La Hầu La Mặc
dù sinh ra trong gia đình quý tộc dòng dõi Đế Vương, nhưng trước bối cảnh xã hội phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, với sự bất lực của con người trước những khó khăn của cuộc đời và xã hội khiến ông sớm có ý định từ bỏ cuộc đời giàu sang phú quý để đi tìm một đạo lý cứu người
Năm 29 tuổi, ông đã từ bỏ hoàng cung để xuất gia tu đạo Sau 6 năm tu khổ hạnh, bằng sự kiên trì và nhạy cảm trí tuệ, cuối cùng Người đã giác ngộ tìm ra chân lý, tìm ra con đường có thể dẫn con người đến sự giải thoát Bằng lối tu đó, sau 49 ngày chìm đắm trong những tư duy sâu thẳm, ông tuyên bố đã đạt đến chân lí, đã hiểu được bản chất sự tồn tại của nhân sinh Từ đó, ông được gọi là Thích Ca Mâu Ni – tức người giác ngộ chân lí đầu tiên có
họ là Thích Ca Ông bắt đầu sự nghiệp hoằng hóa của mình, thu nạp đệ tử, thành lập các tăng đoàn Phật giáo Vào năm 483 TCN, ông tạ thế
Xét về mặt triết học, Phật giáo được coi là triết lí thăng trầm về vũ trụ và con người Với mục đích giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó trở thành biểu tượng của lòng từ bi bát ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc châu Á
Kinh điển của Phật giáo rất đồ sộ, bao gồm 3 bộ phận gọi là Tam tạng kinh, đó là:
Tạng kinh (ghi lại những lời dạy của Phật Thích Ca), Tạng luật (những điều quy
Trang 8định mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo); Tạng luận (các tác phẩm luận giải về Phật
giáo của các học giả cao tăng về sau)
2 Tư tưởng triết lý về nhân sinh của Phật giáo:
Nội dung triết lí nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết “Tứ
diệu đế” tức là bốn chân lí tuyệt diệu mà đòi hỏi mọi người phải nhận thức được.
- Một là Khổ đế: Cuộc đời của mỗi con người là một bể khổ, ít nhất có tám nỗi khổ
(bát khổ), đó là sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt (thương nhau mà phải xa nhau), oán tăng hội (ghét nhau mà phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (do năm yếu tố tạo nên con người) Vậy con người ở đâu, làm gì cũng khổ
- Hai là Nhân đế (tập đế): Giải thích nguyên nhân của sự khổ Phật giáo cho rằng nỗi
khổ của con người là có nguyên nhân, có 12 nguyên nhân của sự khổ gọi là thuyết “thập nhị nhân duyên”
1 Vô minh: Không sáng suốt
2 Duyên hành: Ý muốn thúc đẩy hành động
3 Duyên thức: Tâm từ trong sáng trở nên u tối
4 Duyên danh sắc: Sự hội tụ của các yếu tố vật chất và tinh thần sinh ra các cơ quan cảm giác (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức)
5 Duyên lục nhập: Quá trình xâm nhập của thế giới xung quanh vào các giác quan
6 Duyên xúc: Sự tiếp xúc với thế giới xung quanh sinh ra cảm giác
7 Duyên thụ : Sự cảm thụ, nhận thức trước sự tác động của thế giới bên ngoài
8 Duyên ái: Sự yêu thích mà nảy sinh ham muốn dục vọng do cảm thụ thế giới bên ngoài
9 Duyên thủ : Do yêu thích mà muốn chiếm lấy, giữ lấy
10 Duyên hữu: Sự tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được
11 Duyên sinh: Sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại
12 Duyên lão tử : Già và chết vì có sự sinh thành
Trang 9Đó là 12 nguyên nhân và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nỗi đau nhân loại
- Ba là Diệt đế: Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được để đạt
được trạng thái Niết bàn
- Bốn là Đạo đế: Con đường tu đạo để hoàn thiện đạo đức cá nhân, đó cũng là con
đường giải thoát khỏi nỗi khổ để đạt đến hạnh phúc Phật giáo đưa ra 8 con đường chân chính gọi là “bát chính đạo”
1 Chính kiến: Hiểu đúng đắn tứ diệu đế
2 Chính tư duy: Suy nghĩ đúng đắn
3 Chính ngữ : Nói năng đúng đắn
4 Chính nghiệp: Giữ nghiệp một cách đúng đắn
5 Chính mệnh: Giữ ngăn dục vọng đúng đắn
6 Chính tinh tiến: Cố gắng nỗ lực đúng hướng
7 Chính niệm: Tâm niệm tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát
8 Chính định: Kiên định, tập trung tư tưởng cao độ mà suy nghĩ về tứ diệu đế, về
vô ngã, vô thường
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ được vô minh, đạt tới sự giải thoát, nhập vào Niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh
tử luân hồi
Ngoài tám con đường chính để diệt khổ, Phật giáo còn đưa ra năm điều răn
để mỗi người chủ động thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho mọi người Đó là bất sát (không được sát sinh), bất dâm (không được dâm dục), bất vọng ngữ (không được nói năng thô tục, bậy bạ), bất ẩm tửu (không được rượu trà), bất đạo (không được trộm cướp) Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học lớn của Ấn Độ trung đại Ở giai đoạn đầu, học thuyết triết học ấy chứa đựng những yếu tố duy vật và tư tưởng biện chứng về thế giới Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do, bình đẳng xã hội Đồng thời, nó cũng nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, khuyên con người sống lương thiện, từ bi, bác ái, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân Tuy nhiên, triết lí nhân sinh của Phật giáo vẫn còn mang nặng bi quan không tưởng và duy tâm về mặt xã hội
Trang 103 Ý nghĩa của triết lý về nhân sinh của Phật giáo :
- Về mặt tích cực: Phật giáo nói lên được tiếng nói phản kháng chế độ đẳng cấp khắc
nghiệt, phê phán sự bất công, đòi tự do bình đẳng xã hội đồng thời nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, làm cho con người không ngừng tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cá nhân Tiến tới giá trị Chân – Thiện - Mỹ
Về mặt tiêu cực: trong triết lý nhân sinh của phật giáo vẫn mang nặng tính bi quan không tưởng và duy tâm về xã hội
Tóm lại, Triết lý nhân sinh Phật giáo nhìn nhận đúng đắn ở nhiều góc độ và đã mang
lại nhiều giá trị cho Việt Nam Từ đó, chúng ta chắt lọc được những giá trị ưu việt này để áp dụng vào công tác giáo dục đạo đức, nhân cách con người, góp phần làm lành mạnh hóa xã hội, hạn chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường Đồng thời, chúng ta cũng cần đấu tranh chống lại việc lợi dụng và cố tình hiểu sai để biến thành những hủ tục, mê tín dị đoan, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người và xã hội Việc đánh giá, nhìn nhận về tầm ảnh hưởng, về vị trí và vai trò của Phật giáo trong nền văn hóa và lịch sử của dân tộc cần phải dựa trên tinh thần khoa học và khách quan để nhận rõ những mặt thiếu sót, lạc hậu, tệ nạn
nhằm hạn chế, loại bỏ cũng như nhìn thấy mặt tích cực hữu ích để duy trì và phát triển
-HẾT CÂU