Đi cùng với sự quan tâm khủng hoảng kinh tế là gì thì nhiều nhà kinh tế vẫn luônphân loại khủng hoảng kinh tế. Khủng hoảng thừa chính là khi mà các khu cung lớn hơn khu cầu, số lượng hàng hoá sản xuất ra quá nhiều hơn mới nhu cầu cần dùng của con người, các hoạt động đầu cơ của các “ông chủ lớn” đã làm cho giá cả bị đẩy lên mức quá cao, mức giá bong bóng bất hợp lí. Đến một thời điểm, bong bóng bị vỡ và dẫn tới giá của các loại hàng hoá quay trở lại sụt giảm nghiêm trọng, nhà đầu tư mất tiền, người lao động thất nghiệp còn các doanh nghiệp bị phá sản.
Trang 1MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I PHẦN LÝ THUYẾT 3
1 Khái niệm khủng hoảng kinh tế và những quan niệm về khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới 3
1.1 Thế nào là khủng hoảng kinh tế 3
1.2 Một số quan niệm về khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng kinh tế thế giới 3
1.2.1 Quan điểm về khủng hoảng kinh tế trong hệ thống lý luận mácxit 3
1.2.2 Khủng hoảng kinh tế dưới góc nhìn của các nhà kinh tế học phương Tây 4
1.2.3 Quan điểm hiện nay về khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới 4 2 Các loại khủng hoảng kinh tế 7
2.1 Khủng hoảng thừa 7
2.2 Khủng hoảng thiếu 7
2.3 Khủng hoảng nợ 7
3 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản 8
4 Bản chất và nguyên nhân của khủng kinh tế - nhìn từ học thuyết kinh tế của C.Mác 9
4.1 Bản chất của khủng hoảng kinh tế dưới cách nhìn của C.Mác 9
4.2 Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nhìn từ học thuyết kinh tế của C.Mác 9
5 Hình thức biểu hiện và đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay 10
5.1 Biểu hiện cụ thể của khủng hoảng kinh tế theo quan điểm C.Mác, V.I.Lênin 10 5.2 Dấu hiê ̣u và biểu hiê ̣n chủ yếu của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay 12
5.3 Mô ̣t số đă ̣c trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay 12
6 Hậu quả của khủng hoảng kinh tế trong thời kì chủ nghĩa tư bản 13
7 Giải pháp của C.Mác để chống khủng hoảng kinh tế 15
II PHÂN LIÊN HỆ THỰC TẾ 16
1 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2008 (Khủng hoảng Hoa Kỳ 2007-2008) 16
1.1 Tổng quan cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ 2007-2008 17
Trang 21.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ 2007-2008 17
1.3 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng 23
1.3.1 Nguyên nhân trực tiếp 23
1.3.1.1 Tình trạng kinh doanh thua lỗ và sự sụp đổ hàng loạt theo dây chuyền của các tổ chức tài chính hàng đầu 23
1.3.1.2 Khủng hoàng niềm tin của người dân vào nền kinh tế 24
1.3.2 Nguyên nhân sâu xa 24
1.3.2.1 Sự phát triển bong bóng của thị trường bất động sản 25
1.3.2.2 Chứng khoán hóa các khoản tín dụng bất động sản 26
1.3.2.3 Sự buông lỏng quản lí nhà nước và những sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà nước 28
1.4 Tác động của cuộc khủng hoảng 2007-2008 29
1.4.1 Tác động của cuộc khủng hoảng đến Mỹ 29
1.4.2 Tác động của cuộc khủng hoảng đến Việt Nam 31
1.5 Biện pháp đối phó với khủng hoảng của Hoa Kỳ 33
1.6 Bài học cho Việt Nam từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2008 36
1.6.1 Xây dựng hệ thống tài chính ổn định và minh bạch 36
1.6.1.1 Việc thực thi các chính sách 36
1.6.1.2 Củng cố niềm tin 37
1.6.1.3 Nâng cao vai trò quản lý của ngân hàng trung ương 38
1.6.1.4 Bài học cho các ngân hàng trong hoạt động quản lý tín dụng 38
1.6.2 Hoạt động công khai 39
1.6.3 Xây dựng các gói kích thích kinh tế phù hợp 40
KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
Sau nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhỏ trên thế giới trong nhiều năm qua, đã cho thấy mức độ nghiêm tro ̣ng và khả năng tàn phá mà nó mang la ̣i Đứng trước những cuộc khủng hoảng đó, các quốc gia đưa ra nhiều liê ̣u pháp và hướng thế giới tới viê ̣c cùng nhau phối hợp để vượt qua khủng hoảng thông qua sự ra đời của các thể chế vấn tế Nhưng hiện nay là các thể chế hiê ̣n hành không còn tương thích với sự vâ ̣n hành của nền kinh tế toàn cầu
Việt Nam đã và đang tiếp tu ̣c hội nhâ ̣p sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu Đứng trước
cơ hội cũng như là thách thức đó thì chúng ta phải đưa ra những phân tích và các giải pháp phù hợp trước các cuô ̣c khủng hoảng kinh tế
Nhằm giúp mọi người hiểu hơn về khủng hoảng kinh tế thì nhóm chúng em sẽ phân tích kĩ về khái niê ̣m, bản chất, nguyên nhân, hình thức biểu hiê ̣n, tác đô ̣ng và đồng thời đưa
ra những ví dụ khủng hoảng kinh tế điển hình trong li ̣ch sử để phân tích, đưa ra những giải pháp phù hợp và rút ra những bài ho ̣c kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng đó
Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Thị Minh Hương đã cho em những bài giảng đầy bổ ích để nhóm chúng em hoàn thành bài tiểu luận này Mặc dù, chúng em đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song do quy mô và tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu, bài tiểu luận này khó tránh khỏi còn thiếu sót Nhóm chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của cô để bài viết được hoàn thiện hơn
Trang 4NỘI DUNG
I PHẦN LÝ THUYẾT
1 Khái niệm khủng hoảng kinh tế và những quan niệm về khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới
1.1 Thế nào là khủng hoảng kinh tế
Để tìm hiểu một cách đơn giản về khủng hoảng kinh tế, chúng ta có thể sử dụng mô hình đơn giản trong kinh tế học để thể hiện nền kinh tế
Trong mô hình này, nền kinh tế chỉ bao gồm hai chủ thể là doanh nghiệp và hộ gia đình Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho hộ gia đình và ngược lại, hộ gia đình cung cấp cho doanh nghiệp sức lao động Đó là vòng xoay kinh tế
Doanh nghiệp Hộ gia đình
Khủng hoảng kinh tế khác với tổn thất Nếu một ngôi nhà bị sập, một kho hàng bị cháy, đó là tổn thất Còn đối với khủng hoảng, hàng hoá trong kho không bán được, sức lao động cũng không bán được (tức là thất nghiệp) Do vậy, một cách đơn giản, khủng hoảng kinh tế chính là khi vòng xoay kinh tế kia quay chậm hơn bình thường hoặc có trục trặc ở một khâu nào đó, hay đó chính là sự suy giảm các loại hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng
Theo C.Mác: Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời.Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới
1.2 Một số quan niệm về khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng kinh tế thế giới
1.2.1 Quan điểm về khủng hoảng kinh tế trong hệ thống lý luận mácxit
Trong hệ thống lý luận mácxít, không có một chương riêng nào bàn về khủng hoảng, ngoài những bài báo của C.Mác hay rải rác trong bộ Tư bản và một số tác phẩm khác có thể tìm thấy nhiều điểm đề cập đến khủng hoảng V.I.Lênin cũng bàn về khủng hoảng kinh tế trong nhiều tác phẩm
Có thể tóm lược quan điểm của C.Mác và V.I.Lênin về khủng hoảng kinh tế như sau:
Trang 5Khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra ở một hay toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất Đó là sự rối loạn trong sản xuất, lưu thông hay phân phối Có những cuộc khủng hoảng bộ phận xảy ra do mất cân đối trong sản xuất của một ngành nào đó, mà một trong những hình thức là sản xuất tư bản cố định1 hay sản xuất thừa tư bản lưu động2 Dựa trên
cơ sở lý luận giá trị và giá trị thặng dư, Mác cho rằng công nhân làm thuê luôn sản xuất ra một lượng giá trị mà họ không thể nào mua hết được, đó chính là giá trị thặng dư Do nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt thật nhiều lao động thặng dư bằng cách sản xuất với quy mô lớn mà không tính đến giới hạn của thị trường Khi khủng hoảng bao trùm những vật phẩm buôn bán chủ yếu thì sẽ trở thành một cuộc tổng khủng hoảng, nghĩa là sản xuất thừa ít nhiều có tính phổ biến trên toàn bộ thị trường Một bên hàng hoá không bán được, bên kia là những nhà tư bản phá sản và công nhân thất nghiệp chịu cảnh thiếu thốn
Nhưng thừa hàng hoá chứ không phải thừa sản phẩm Thừa hàng hoá có tính chất tương đối, thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán, chứ không phải thừa tuyệt đối Xét nhu cầu tuyệt đối thì nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng sản xuất không đủ Giới hạn sản xuất của chủ nghĩa tư bản là lợi nhuận cho các nhà tư bản chứ tuyệt nhiên không phải là nhu cầu của những người sản xuất Sản xuất thừa sản phẩm và sản xuất thừa hàng hoá – đó là hai điều hoàn toàn khác nhau3
1.2.2 Khủng hoảng kinh tế dưới góc nhìn của các nhà kinh tế học phương Tây
Khủng hoảng kinh tế dưới góc nhìn của các học giả phương Tây đó là thời kì tới hạn,
là một thời điểm lịch sử nguy hiểm và mong ngóng, trong đó người ta sẽ tránh được sự kêt thúc thông qua các điều chỉnh mới, người ta đưa ra các quyết định và thực hiện các chuyển đổi xác định sự phát triển tương lai của hệ thống cả về xã hội kinh tế và chính trị
1.2.3 Quan điểm hiện nay về khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới
1 Tư bản cố định: Tư bản cố định là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thái giá trị của những máy móc, thiết bị, nhà
xưởng , tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần, mà chuyển từng phần vào sản phẩm trong quá trình sản xuất
2 Tư bản lưu động: Tư bản lưu động là một bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng nguyên, nhiên vật liệu và sức
lao động, giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm ngay trong một quá trình sản xuất
3 Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập (1995) Chính trị quốc gia, Hà Nội t.26, p.II, tr.732-776
Trang 6Mặc dù những nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế còn có những khác biệt nhất định, hoặc khác biệt về quan niệm hoặc khác biệt về các thức tiếp cận mà cụ thể là khác nhau trong việc lý giải bản chất của các cuộc khủng hoảng này hay đánh giá những tác động kinh tế, xã hội của chúng nhưng dường như các kết quả nghiên cứu đều hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thừa nhận khủng hoảng kinh tế là một thực tế khách quan trong các quá trình phát triển kinh tế Và hiện nay, quan điểm tiếp cận này đã được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế nói chung, khủng hoảng kinh tế thế giới nói riêng Tuy vậy, ở Việt Nam, do trình độ phát triển kinh tế còn hạn chế và nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới và ít nhiều có cả những ảnh hưởng của yếu tố hệ
tư tưởng, nên nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế nói chung, khủng hoảng kinh tế thế giới nói riêng Tuy vậy, ở Việt Nam, do trình độ phát triển kinh tế còn hạn chế và nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới và ít nhiều có cả những ảnh hưởng của yêu tố hệ tư tưởng, nên nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế nói chung, khủng hoảng kinh tế thế giới nói riêng còn ít và dường như đó là một chủ đề nghên cứu có tính chuyên biệt cao và thường được gắn với bản chất của chủ nghĩa tư bản hay thuộc tính cố hữu của nền sản xuất tử bản chủ nghĩa
Sau 25 năm đổi mới đất nước, cùng với tiến trình hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, đồng thời trực tếp chịu tác động từ hai cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới trong một thập kỷ gần đây, tư duy, nhận thức của dân chúng, cũng như giới nghiên cứu, các chính trị gia đã có nhiều thay đổi và đang dần hội nhập với nhận thức chung của thế giới về khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế giới
Về cơ bản, có thể khái quát những nhận thức hiện nay về khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng kinh tế thế giới ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, xem xét khủng hoảng kinh tế như một hiện tượng kinh tế khách quan của
mọi quá trình phát triển, nó được hình thành, tồn tại cùng với sự vận hành của các quá trinh kinh tế và “bùng nổ” khi nền kinh tế hoặc một khu vực kinh tế trọng yếu rơi vào trạng thái
“yếu nhất” Do vật, khủng hoảng kinh tế là một hiện tượng kinh tế có hình thái biếu hiện
đa dạng và không nhất thiết gắn với một không gian địa lý nhất định Các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng sẽ diễn ra với những mức độ khác nhau ở từng quốc gia và từng thời điểm
Trang 7nhưng đều có thể quy về là sự biểu hiện của những dạng thức cơ bản của khủng hoảng kinh tế như khủng hoảng cơ cấu hay khủng hoảng chu kỳ hay hỗn hợp nhiều dạng thức khủng hoảng
Thứ hai, khủng hoảng kinh tế theo quan điểm hiện nay được xem xét đó là sự thay
đổi các trạng thái của cùng một sự vật dẫn đến sự biến thái của nó, hay nói cách khác đó là hệ quả tất yếu của những biến đổi trong các điều kiện phát triển kinh tế Chẳng hạn, toàn cầu hoá kinh tế đang được coi như là một điều kiện tiên quyết cho phát triển, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới đòi hỏi sự ứng biến của các quá trình kinh tế không chỉ
ở các hành vi kinh tế mà cần cả những thay đổi về cấu trúc kinh tế
Sự thay đổi trong nền tảng vật chất, kỹ thuật gắn cuộc cách mạng khoa học- công nghệ mà tâm điểm là phát triển mạnh mẽ của cách mạng tin học là yếu tố đã và đang tạo ra
sự thay đổi các điều kiện của quá trình tái sản xuất cũng như hình thành những cách thức
tổ chức sản xuất mới Do vậy, khủng hoảng kinh tế hiện nay gắn với trạng thái quá độ từ nền kinh tế công nghiệp sang một nền kinh tế vận hành dựa trên nền tảng thông tin và tri thức
Thứ ba, có những quan niệm khác nhau về khủng hoảng kinh tế, theo TS.Phạm Thị Túy Phối hợp điều tiết kinh tế giữa các nhà nước trong khủng hoảng kinh tế Nhà xuất bản
Chính trị Quốc Gia Trang 16: “khủng hoảng kinh tế hiểu theo nghĩa chung nhất đó là một thời điểm quan trọng trong tiến trình phát triển, là điểm nút làm bộc lộ những mâu thuẫn hoặc mất cân bằng của hệ thống nhất định do sự tác động của những yếu tố nội tại cũng như bên ngoài quy định sự phát triển của hệ thống đó” Do vậy, theo lẽ thường khủng hoảng kinh tế là một tất yếu kinh tế, nó hình thành và xuất hiện từ chính bản thân sự vận động của quá trình kinh tế Mặc dù, khi “bùng phát hay xuất hiện” nó có thể có khởi nguồn khác nhau (từ khủng hoảng chu kỳ, cơ cấu hay chức năng ), nhưng suy đến cùng khủng hoảng kinh tế là sự thể hiện cao nhất, tập trung nhất của những vấn đề nội tại của hệ thống kinh tế, nó
có thể là sự mất cân đối của cấu trúc kinh tế, có thể là sai lầm trong các lựa chọn chính sách, có thể là sai lầm trong các lựa chọn đầu tư và cũng có thể là việc mất khả năng thanh khoản của hệ thống tài chính Kết quả là đến một thời điểm nhất định khi những bất ổn đó
Trang 8phình đại, trở thành những “bong bóng”1, những “điểm yếu” trong nền kinh tế và khi gặp những yêu tố kích phát thì nó sẽ bị vỡ và khủng hoảng nổ ra
Thứ tư, ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu hướng chủ đạo chi phối các quá
trình phát triển kinh tế, bởi vậy khủng hoảng kinh tế trong điều kiện toàn cầu hoá thường
là khủng hoảng kinh tế khu vực hay khủng hoảng kinh tế thế giới, điểm “bộc phát” của khủng hoảng thường là những trung tâm kinh tế năng động xét trong tổng thể nền kinh tế khu vực hay toàn cầu Trong đó, nhân tố “kinh tế ảo” được coi là những căn nguyên trực tiếp làm khủng hoảng “nổ ra” Khi khủng hoảng kinh tế “bùng phát” thì suy giảm kinh tế nhanh chóng lan rộng trên phạm vi toàn cầu và hệ lụy của nó là không thể dự liệu trước
2 Các loại khủng hoảng kinh tế
2.1 Khủng hoảng thừa
Đi cùng với sự quan tâm khủng hoảng kinh tế là gì thì nhiều nhà kinh tế vẫn luôn phân loại khủng hoảng kinh tế Khủng hoảng thừa chính là khi mà các khu cung lớn hơn khu cầu, số lượng hàng hoá sản xuất ra quá nhiều hơn mới nhu cầu cần dùng của con người, các hoạt động đầu cơ2 của các “ông chủ lớn” đã làm cho giá cả bị đẩy lên mức quá cao, mức giá bong bóng bất hợp lí Đến một thời điểm, bong bóng bị vỡ và dẫn tới giá của các loại hàng hoá quay trở lại sụt giảm nghiêm trọng, nhà đầu tư mất tiền, người lao động thất nghiệp còn các doanh nghiệp bị phá sản
2.2 Khủng hoảng thiếu
Khủng hoảng thiếu xảy ra khi nguồn cung của các sản phẩm hàng hoá bị sụt giảm nghiêm trọng, trong khi nhu cầu cần sử dụng hàng hoá lại quá nhiều Mà nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng thiếu chính là sự gia tăng dân số mạnh, thiên tại hay do sự thiếu kiệt nguồn tài nguyên và sự hạn chế về năng lực sản xuất, công nghệ của các doanh nghiệp Người dân chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các cuộc khủng hoảng thiếu bởi lúc này giá cả mọi mặt hàng hoá sẽ bị đẩy lên cao một mức khó chấp nhận được
2.3 Khủng hoảng nợ
1 bong bo ́ ng: Là sự gia tăng đô ̣t biết về giá cả hoă ̣c luồng tiền
2 Đầu cơ: Là hành vi của 1 người, tận dụng cơ hội của thị trường đi xuống để tích lũy sản phẩm, hàng hóa và thu lợi
sau khi thị trường ổn định lại.Chủ yếu diễn ra trong ngắn hạn và thu lợi nhờ chênh lệch về giá
Trang 9Khủng hoảng nợ xảy ra khi các chính phủ cho các doanh nghiệp mượn quá nhiều vốn,
mà doanh nghiệp lại không có khả năng chi trả, khi đó sẽ gọi là cuộc khủng hoảng nợ, quá trình khủng hoảng nợ này không nguy hiểm bằng khủng hoảng thiếu và khủng hoảng thừa, bởi suy cho cùng nó chính là mối quan hệ cần giải quyết giữa chủ nợ và con nợ
3 Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản
Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vận động từ đầu cuộc khủng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau
Chu kì kinh tế gồm 4 giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh
Khủng hoảng: là giai đoạn khởi điểm của chu trình kinh tế mới Ở giai đoạn này,
hàng hoá ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất trì trệ, xí nghiệp đóng cửa, công nhân thất nghiệp hàng loạt, tiền công hạ xuống Tư bản mất khả năng thanh toán các khoản nợ, phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn biểu hiện dưới hình thức xung đột dữ dội
Tiêu điều: đặc điểm ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ, không còn tiếp
tục đi xuống nhưng cũng không tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán hạ giá, tư bản để rỗi nhiều vì không có nơi đầu tư Trong giai đoạn này, để thoát khỏi tình trạng bế tắc, các nhà tư bản còn trụ lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho sản xuất vẫn còn có lời trong tình hình hạ giá Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
Phục hồi: là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sản xuất Công
nhân lại được thu hút vào làm việc; mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên
Hưng thịnh: là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá điểm cao nhất của chu kỳ trước
đạt được Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hóa tăng, xí nghiệp được mở rộng và xây dựng thêm Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại vượt quá sức mua của xã hội Do đó, lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế mới
Trang 10Từ cuộc khủng hoảng năm 1825, sau khi nền đại công nghiệp vừa mới thoát khỏi thời kì ấu trĩ thì sự tuần hoàn có tính chất chu kì mới bắt đầu Tính trung bình thuở ban đầu là 10 năm, vì thời gian sử dụng tư bản cố định tính trung bình khoảng 10 năm Tư bản cố định là cơ sở vật chất cho những cuộc khủng hoảng chu kỳ, vì khủng hoảng bao gờ cũng cấu thành khối điểm cho những khoản đầu tư mới và lớn của tư bản Do đó, đứng về toàn thể xã hội mà xét thì khủng hoảng ít nhiều đều tạo ra một cơ sở vật chất mới cho chu kỳ chuyển sau đó Tiến bộ khoa học-công nghệ lại làm cho “vòng đời” của tư bản cố định bị rút ngắn do những biến thiên không ngừng trong các tư liệu sản xuất Phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa càng phát triển thì những biến thiên này càng xảy ra thường xuyên hơn Gắn với tình hình này là sự thay thế tư bản cố định sớm hơn do hao mòn vô hình, trước khi những tư liệu sản xuất ấy sống trọn đời sống thể chất của chúng Do đó chu kỳ khủng hoảng được rút ngắn lại1
4 Bản chất và nguyên nhân của khủng kinh tế - nhìn từ học thuyết kinh tế của C.Mác
4.1 Bản chất của khủng hoảng kinh tế dưới cách nhìn của C.Mác
Trong chủ nghĩa tư bản, khi nền sản xuất đã được xã hội hoá cao độ, khủng hoảng kinh tế là điều không tránh khỏi Từ đầu thế kỷ XIX, sự ra đời của đại công nghiệp cơ khí đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bị gián đoạn bởi những cuộc khủng hoảng
có tính chu kỳ Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là khủng hoảng sản xuất "thừa"
Khi khủng hoảng nổ ra, hàng hoá không tiêu thụ được, sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, thợ thuyền bị thất nghiệp, thị trường bị rối loạn Tình trạng thừa hàng hoá không phải là so với nhu cầu của xã hội, mà là “thừa” so với sức mua có hạn của quần chúng lao động Trong lúc khủng hoảng thừa đang nổ ra, hàng hoá đang bị phá huỷ thì hàng triệu người lao động lại lâm vào tình trạng đói khổ vì họ không có khả năng thanh toán
4.2 Nguyên nhân gây ra khủng hoảng nhìn từ học thuyết kinh tế của C.Mác
1 Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen: Sđd, t.24, tr.277-278
Trang 11Theo C.Mác, nguyên nhân của khủng hoảng tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Thứ nhất, đó là những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản:
- Mâu thuẫn giữa nền sản xuất đại kế hoạch của tư bản công nghiệp và giới hạn thị trường với sự gia nhập tự do của tư bản thương nghiệp làm giảm dần tỉ suất lợi nhuận bình quân
- Mâu thuẫn giữa tính chuyên môn hoá trong lao động của nền kinh tế tư bản với cơ cấu lao động bất hợp lí
- Mâu thuẫn từ việc nguồn gốc giá trị thặng dư được tạo ra từ khu vực sản xuất nhưng bị tước đoạt quá nhiều do sự phát triển ngày càng phình to của khu vực phi sản xuất (chứng khoán, bất động sản)
- Mâu thuẫn do mất cân đối giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng Đầu tư và tiêu dùng thường lớn hơn nhiều so với tiết kiệm khi tiền tệ được luân chuyển qua hệ thống các ngân hàng đồng thời tạo nên gánh nặng lạm phát rất cao vào các thời điểm nền kinh tế đang hưng thịnh, mở đầu cho một sự gia tăng lãi suất đột biến, dẫn đến sự bùng nổ của khủng hoảng
Thứ hai, đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế
độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội:
- Mâu thuẫn giữa tính tổ chức, tính kế hoạch trong từng xí nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội
- Mâu thuẫn giữa khuynh hướng tích luỹ, mở rộng không có giới hạn của tư bản với sức mua ngày càng co hẹp của quần chúng do bị bần cùng hoá
- Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư bản và giai cấp lao động làm thuê
C.Mác đã mổ xẻ những nguyên nhân cốt lõi gây nên khủng hoảng kinh tế và điều đó không chỉ chính xác với các cuộc khủng hoảng nữa cuối thế kỉ XIX, nữa đầu thế kỉ XX mà còn có phần đúng đắn với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay
5 Hình thức biểu hiện và đặc trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay
5.1 Biểu hiện cụ thể của khủng hoảng kinh tế theo quan điểm C.Mác, V.I.Lênin
Trang 12Tră ́ c trở trong viê ̣c mua và bán Không bán được hàng hóa hoă ̣c phải bán rẻ, không
đủ tiền thanh toán nợ đến ha ̣n Giá nguyên liê ̣u tăng không đủ tiền mua, nếu không mua được thì phải giảm quy mô sản xuất, sa thải công nhân, không tâ ̣n du ̣ng được công suất của
máy móc thiếu bi ̣
Mâ ́t cân đối trong sản xuất C.Mác đã phát hiê ̣n những quan hê ̣ tỷ lê ̣ cân đối giữa các
bộ phâ ̣n tổng sản phẩm hàng năm dành cho tái sản xuất ra tư bản và cho tiêu dùng cá nhân
Nếu mô ̣t nước không tự bảo đảm được những tỷ lê ̣ cân đối đó thì sẽ lâm vào khủng hoảng Ngoại thương có thể tạm thời góp phần giải quyết những mất cân đối đó, nhưng ngoại thương chỉ đẩy mâu thuẫn ra một trường rộng rãi hơn, chứ không giải quyết được mâu thuẫn, khiến cho khủng hoảng mang tính chất toàn thế giới
Rô ́i loạn hê ̣ thống tín dụng Trong chế đô ̣ sản xuất mà tất cả những mối liên hê ̣ của
quá trình tái sản xuất đều dựa trên tín du ̣ng, nếu đô ̣t nhiên tín du ̣ng bi ̣ đình chỉ và chỉ những thanh toán bằng tiền mă ̣t mới có hiê ̣u lực thôi, thì thế nào cũng xảy ra khủng hoảng và tình trạng xô đẩy nhau cha ̣y theo các phương tiê ̣n thanh toán
Vi pha ̣m quy luật về lưu thông tiền tê ̣ Phát hành giấy bă ̣c vượt quá số lượng tiền tê ̣
cần thiết trong lưu thông sẽ gấy ra la ̣m phát Nhưng phát hành giấy ba ̣c không đủ cũng gây
ra khủ ng hoảng
Mâ ́t cân đối giữa sản xuất và nhu cầu khả năng thanh toán Do hê ̣ thống tín du ̣ng và
ngoại thương mở rô ̣ng do đầu cơ đã ta ̣o ra những nhu cầu giả ta ̣o vượt qua nhu cầu khả năng thanh toán thực sự, khiến cho quy mô sản xuất mở rô ̣ng quá mức dẫn tới sản xuất thừa thêm trầm tro ̣ng Hơn nữa lượng cầu bên phía công nhân không đủ, bởi vì lợi nhuâ ̣n tồn ta ̣i được chính vì lượng cầu mà công nhân có thể đưa ra la ̣i ít hơn giá tri ̣ sản phẩm của ho ̣, và
lợi nhuâ ̣n sẽ càng lớn nếu lượng cầu đó càng ít đi mô ̣t cách tương đối Sự tiêu dùng của quần chúng nhân dân không tăng lên mô ̣t cách tương ứng với sự tăng lên năng suất lao động
Xây dư ̣ng nhà ở không theo đơn đặt hàng mà chạy theo thi ̣ trường và mang tính chất đầu cơ Nhà thầu khoán vay ngân hàng cầm cố bất đô ̣ng sản Ngân hàng chỉ giải ngân dần
dần theo tiến đô ̣ xây dựng Nếu có tru ̣c tră ̣c, nhà thầu khoán không trả được nợ đúng kỳ ha ̣n
sẽ bi ̣ đình chỉ vay Nếu phải bán nhà theo giá rẻ để thanh toán thì sẽ lỗ, thâ ̣m chí phá sản
Trang 13Như ̃ng chứng khoán không đại biểu cho tư bản thực tế, không có đảm bảo ngày càng được phát hành nhiều hơn C.Mác đã dẫn ra những tư liê ̣u về những khoản tín du ̣ng giả
được ta ̣o ra bằng phương pháp có tính có tính chất kỹ thuâ ̣t Ví du ̣, Ngân hàng đi ̣a phương sau khi chiết khấu kỳ phiếu la ̣i đưa cho Billbroker (người môi giới chứng khoán) đem đi chiết khấu la ̣i ở thi ̣ trường Luân Đôn Viê ̣c này chỉ hoàn toàn dựa vào khả năng tín du ̣ng
củ a ngân hàng, không kể gì đến phẩm chất khác của kì phiếu La ̣i cô ̣ng thêm những trường
hợp đầu cơ chứng khoáng nữa
5.2 Dấu hiê ̣u và biểu hiê ̣n chủ yếu của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay
Dấu hiê ̣u cơ bản nhất báo hiê ̣u nguy cơ khủng hoảng kinh tế là sự xuất hiện các “bong
bóng” kinh tế Biểu hiê ̣n dễ nhận thấy của những “bong bóng” kinh tế là sự gia tăng giá
một cách bất thường của mô ̣t số loa ̣i hàng hóa, nhất là những loa ̣i hàng hóa đă ̣c biê ̣t như là tiền tê ̣, bất đô ̣ng sản và chứng khoán Từ sự tăng giá đô ̣t biến kéo theo những thay đổi trong
hành vi kinh tế, trong đó “đầu cơ” trở thành hành vi “thời thượng” đem la ̣i sự giàu có mô ̣t
cách nhanh chóng, đồng thời nó cũng là nhân tố làm lũng đoa ̣n sự vâ ̣n hành của nền kinh
tế, bất ổn kinh tế trở nên ngày càng rõ nét hơn và đến mô ̣t thời điểm nào đó bong bóng sẽ
vỡ khi đó sẽ xảy ra hàng loa ̣t những su ̣p đổ có tính chất dây chuyền và kinh tế bước vào những thăng trầm khó sự báo trước Trước hết, đó là sự giảm sút nghiêm tro ̣ng trên các thi ̣ trường chứng khoán, giá các cổ phiếu sẽ “tu ̣t dốc” thê thảm, tiếp đến là viê ̣c mất giá trầm trọng của các đồng tiền trên thi ̣ trường ngoa ̣i hối
Hầu hết các ngân hàng sẽ bi ̣ thua lỗ, điều này ảnh hưởng tới toàn bô ̣ hoă ̣c phần lớn
các ngân hàng và tổ chức tài chính trong từng quốc gia, khu vực và thế giới Thiê ̣t ha ̣i do
tác đô ̣ng của khủng hoảng kinh tế trong khối ngân hàng rất nă ̣ng nề khoản lỗ của các ngân
hàng thuô ̣c mỗi nước ảnh hưởng tới GDP, đồng thời những thua lỗ này tác đô ̣ng đến các hoạt đô ̣ng sản xuất, kinh doanh dẫn tới kìm hãm tỷ lê ̣ tăng trưởng kinh tế quốc gia, phá
sản, giảm viê ̣c làm, thất nghiê ̣p gia tăng và đời sống người dân trở nên khó khăn hơn trong khủng hoảng, tâm lý lo lắng, hoảng loạn ẩn hiện trong đời sống xã hội
5.3 Mô ̣t số đă ̣c trưng cơ bản của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay
Trang 14Thư ́ nhất, khủng hoảng kinh tế thế giới thường gắn với những biến đổi sâu sắc trong
lĩnh vực ta ̣i chính tiền tê ̣, các cuô ̣c khủng hoảng kinh tế thế giới mang tính quốc tế cả về những nguyên nhân, các tác đô ̣ng lẫn những nỗ lực nhằm vượt qua khủng hoảng
Thư ́ hai, khủng hoảng kinh tế thế giới thường khởi phát bởi các “bong bóng” kinh tế,
trong đó “bong bóng” bất đô ̣ng sản, chứng khoán là những điểm khởi phát chủ yếu Nên khủ ng hoảng kinh tế thế giới cũng sẽ được khắc phu ̣c chủ yếu nhờ những giải pháp nhằm
lành ma ̣nh hóa và hoàn thiê ̣n hê ̣ thống tài chính tiền tê ̣ của những khu vực, trong tổng thể
nền kinh tế trong ngắn ha ̣n và cấu trúc la ̣i thể chế kinh tế tài chính mô ̣t cách tổng thể trong
dài ha ̣n
Thư ́ ba, khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra theo tính chất làn sóng, lan tỏa từng đợt
đuổi bắt nhau, sau đó ảnh hưởng chế đi ̣nh lẫn nhau như “hiê ̣u ứng Đôminô” và bắt đầu từ những chấn đô ̣ng ta ̣i các nước, khu vực kinh tế được coi là “trung tâm nha ̣y cảm”, nhưng
sẽ không cố đi ̣nh Xu hướng khủng hoảng sẽ di ̣ch chuyển nhanh chóng từ trung tâm kinh
tế này sang trung tâm kinh tế khác và càng về sau càng phát tán những mầm mống lây nhiễm rộng và sâu hơn, đe do ̣a kéo theo những tổn thất và đòi hỏi những phối hợp quốc tế
rộng lớn và ma ̣nh mẽ hơn, tốn kém hơn với thời gian khắn phu ̣c dài hơn
6 Hậu quả của khủng hoảng kinh tế trong thời kì chủ nghĩa tư bản
Hậu quả luôn được nhắc đến đầu tiên có thể tận mắt nhìn thấy được và không thể thiếu trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào; đó là việc phá hoại lực lượng sản xuất và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông
Mỗi khi khủng hoảng kinh tế đi qua người ta lại đưa ra con số thống kê kinh hoàng về sức tàn phá của nó Khủng hoảng năm 1929-1933 là một ví dụ rõ nét mà mỗi lần nhắc lại người ta còn thấy sợ: 13 vạn công ty phá sản, sản lượng thép sụt 79,4%, sản lượng ôtô sụt 80% Trong khi nhân dân lao động đang thiếu thốn ,nghèo đói, các chủ tư bản đã phá huỷ một khối lượng khổng lồ các phương tiện sản xuất và hàng hoá tiêu dùng Năm 1931,
ở Mĩ người ta đã phá huỷ những lò cao có thể sản xuất ra 1 triệu tấn thép trong 1 năm ,đánh đắm 124 tàu biển (trọng tải 1 triệu tấn), phá bỏ ¼ tổng diện tích trồng bông, giết và không
sử dụng 6,4 triệu con lợn Còn ở Brazin năm 1933: 22 triệu bao cà phê bị liệng xuống biển
và ở Xâylan gần 100 triệu kg chè bị đốt, … (số liệu sách lịch sử 11-NXB Giáo Dục)
Trang 15Không chỉ vậy, cuộc sống của người lao động càng thêm khó khăn Sau 7 năm tính
từ cuộc khủng hoảng 1929-1933 mà tỷ lệ thất nghiệp của Mĩ vẫn ở mức14,6%,mấy năm kế tiếp tuy có giảm nhưng vẫn còn ở mức rất cao Mặt khác, khủng hoảng kinh tế đã gây ra nạn lạm phát Khủng hoảng 1974-1975 và khủng hoảng 1980-1982 làm cho khu vực Tây
Âu phải đối đầu với tỷ lệ lạm phát ở mức 2 con số Tỷ lệ lạm phát ở Tây Đức tuy thấp nhưng cũng là từ 2,6 (năm 1960) lên 6,5 (1974-1975); Pháp từ 4,1 lên 12,7; Anh từ 4 lên 20,1; Italia từ 3,9 lên 181
Hậu quả thứ 2 mà khủng hoảng kinh tế gây ra là đẩy nhanh tích tụ và tập trung tư bản là điều kiện để dẫn tới độc quyền Khủng hoảng cùng với sự phá sản của các nhà tư bản nhỏ là sự lớn mạnh của các công ty khổng lồ.Với khả năng tài chính vững vàng và cánh tay quyền lực vươn xa các nhà tư bản lớn đã kiếm được nhiều món lợi trong thời kỳ này Việc phá sản và việc sát nhập các liên doanh, tập đoàn, công ty đã làm cho sự tập trung tư bản ngày càng cao Nếu như trước khủng hoảng 1929-1933 Mĩ chỉ có 49 xí nghiệp có quy
mô từ 1 vạn người trở lên thì sau khủng hoảng con số này lên tới 343 Cũng ở Mĩ, đầu thế
kỉ 20 chỉ có một công ty có số vốn 1 tỷ USD thì đến đầu 1950 là 2 công ty; năm 1974 có
24 trong 49 công ty quốc tế có số vốn 5 tỷ Lợi nhuận của 500 tổ chức siêu độc quyền của Mĩ năm 1972 là 27,8 tỷ USD, năm 1973 là 38,7 tỷ USD còn năm 1974 là năm khủng hoảng thì đã lên đến 43,6 tỷ USD Tỷ suất lợi nhuận của 12 công ty “toàn cầu” của Mĩ tăng từ 11% năm 1970 sau khủng hoảng là 41% ( năm 1975)2
Tuy nhiên cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản là việc gia tăng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và mâu thuẫn giữa tư bản và người lao động ngày một tăng Đó
là hậu quả thứ 3 của khủng hoảng Một khi mà tư liệu xản xuất tập trung hết vào tay các ông chủ tư bản thì việc bóc lột và bần cùng hoá công nhân càng diễn ra ráo riết hơn, mạnh
mẽ hơn Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì 75% GDP toàn cầu nằm trong tay 20% dân số thuộc nhóm giàu còn 20% dân số thuộc nhóm nghèo chỉ chiếm 1,5% GDP3 toàn cầu
Trang 16Hiện nay con số đó còn có thể lớn hơn Trong khi có hàng nghìn người đang chịu cảnh đói rét thì các ông chủ tư bản lại có thể chi cho những khoản ăn chơi tốn kém không có mục đích với chi phí lên đến hàng triệu đôla Trên thực tế ở các nước tư bản lớn cho thấy trung bình một ngày tư bản có thể kiếm được trên dưới 1 triệu đô thì công nhân nghèo chỉ có thể kiếm được xấp xỉ 2 đôla Khoảng chênh lệch quá lớn ấy dường như không thể xoá và nó cũng tạo điều kiện mạnh mẽ cho hậu quả cuối cùng của các cuộc khủng hoảng diễn ra nhanh chóng hơn
Hậu quả cuối cùng của khủng hoảng là làm cho mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt hơn Trong khi lực lượng sản xuất ngày càng mang tính xã hội thì quan hệ sản xuất vẫn không thay đổi ,vẫn là quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất Khi khủng hoảng xảy ra đông đảo quần chúng nhân dân lao động càng điêu đứng , càng có ý thức đấu tranh để thoát khỏi nghèo khổ và đó là việc tiêu diệt chế độ tư bản Còn giai cấp tư bản và nhà nước tư bản thì lại bất lực trước những tai hoạ do mình tạo ra Vì vậy khủng hoảng làm cho đấu tranh giai cấp diễn ra mạnh mẽ hơn Mặt khác, khủng hoảng đem lại sự tập trung
tư liệu sản xuất vào tay tư bản càng cao nên càng tăng thêm sự đối lập lợi ích Chủ nghĩa
tư bản có càng nhiều thì quần chúng càng có ít, càng làm nên sự chênh lệch to lớn trong xã hội
Bởi vậy, khủng hoảng và hậu quả của nó luôn là mối lo của các nhà tư bản nhưng mặt khác chính nó lại là cái mốc thúc đấy cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
tư bản Điều đó nghe có vẻ vô lý nhưng thực tế đa chứng minh ở các nước tư bản lớn Sau khủng hoảng 1978-1980 Mĩ liên tục tăng trưởng bình quân 3%, năng suất lao động tăng 2,5% Năm 1993 Mĩ đã tăng mức đầu tư nước ngoài lên 130 tỷ USD gấp 2 lần năm 1992, gấp 10 lần năm 1980.Hiện tại Mĩ đầu tư nước ngoài 100 tỷ USD/năm, thu hút FDI1 lớn nhất thế giới 70 đến 80 tỷ USD/ năm
7 Giải pháp của C.Mác để chống khủng hoảng kinh tế
Theo C.Mác, để chống khủng hoảng kinh tế và tác động xấu của tính chu kỳ trong khủng hoảng, ta cần kéo dài thời gian phục hồi, hưng thịnh và rút ngắn thời gian khủng
1 FDI ( Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Trang 17hoảng, tiêu điều trong một chu kỳ kinh tế Trong luận thuyết đó, C.Mác đã đề ra những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế chủ yếu sau:
Hạn chế và cố gắng triệt tiêu những mâu thuẫn sẵn có và mâu thuẫn mới phát sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Việc giải quyết thoả đáng được các mâu thuẫn có thể giúp ngăn chặn khủng hoảng kinh tế và giảm trừ được thiệt hại to lớn một khi khủng hoảng kinh tế xảy ra
Khi xảy ra khủng hoảng, các nhà tư bản phải giảm chi phí sản xuất bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân đồng thời đổi mới tư bản cố định (máy móc, thiết bị ) Từ đó làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
Nhà nước cần có tác động trong việc xây dựng một hệ thống ngân hàng thống nhất, đảm bảo mức cung ứng tiền tệ ổn định trong nền kinh tế, đảm bảo mức lãi suất chênh lệch trong các ngành có tỉ suất lợi nhuận khác nhau
Giảm thuế và hạ lãi suất cho vay để kích cầu nền kinh tế từ đó giảm được khó khăn về tài chính cho các doanh nhiệp và người lao động
Các nhà tư bản cần phải kết hợp quá trình đào tạo qua sự phát triển của lực lượng sản xuất với khoa học kĩ thuật để đảm bảo cho cơ cấu lao động ở mức hợp lý, phù hợp với điều kiện sản xuất của từng quốc gia nhưng không bị chi phối bởi giới hạn thị trường
Cân bằng hợp lí giữa cung và cầu trên thị trường Qua đó, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và tránh khỏi những biến động lớn
Các tập đoàn, công ty lớn phải được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, hay nói cách khác là quốc hữu hoá một phần nền kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa Từ đó nâng cao sự hiệu quả trong tổ chức quản lý và hạn chế được nhiều rủi ro trong hoạt động
Các biện pháp chống khủng hoảng và suy giảm kinh tế của C.Mác là rất thiết thực
và mang tính vận dụng cao Chúng có thể phát huy hiệu quả cao nếu được áp dụng hợp lí trong từng điều kiện cụ thể Những tư tưởng của C.Mác mang cả tính thời đại lẫn tính tiên tri, điều đó tạo nên giá trị của học thuyết C.Mác
II PHÂN LIÊN HỆ THỰC TẾ
1 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2008 (Khủng hoảng Hoa Kỳ 2007-2008)
Trang 18Khủng hoảng kinh tế năm 2007-2008 là cuộc khủng hoảng tài chính với quy mô toàn cầu, bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ1 sau đó nhanh chóng lan rộng ra các nước châu Âu và kéo nền kinh tế toàn cầu đi xuống Hàng loạt ngân hàng tuyên bố phá sản,
bị mua lại hoặc bị kiểm soát đặc biệt Thế giới thực sự bị chao đảo, nghiêng ngả bởi làn sóng sụp đổ của các nhà băng
1.1 Tổng quan cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ 2007-2008
Năm 2001, nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái sau cuộc khủng hoảng dotcom, thêm vào đó là việc nước Mỹ lao vào cuộc chiến chống Alghanistan và Irak sau khủng bộ ngày 11 tháng 9, để khuyến khích dân chúng tiêu thụ, ngân hàng trung ương đã hạ lãi suất: từ năm
2003 đến năm 2005, ngân hàng trung ương giảm lãi suất chỉ đạo từ 6% xuống còn 1% Kết quả là với lãi suất quá thấp, đầu tư và tiêu thụ trở nên quá dễ dàng, thị trường tài chính của
Mỹ tăng nhanh trở lại và tạo nên “bong bóng bất động sản” Đến giữa năm 2006, ngân hàng trung ương đã tăng lãi suất để đề phòng lạm phát, khiến cho bong bóng đầu tư, đầu cơ địa ốc bị vỡ vì nhiều người vay tiền quá khả năng thanh toán, trả tiền nhà không nổi, nhà bị tịch biển Bắt đầu từ thị trường nhà đất, cuộc khủng hoảng đã nhanh chóng lan ra toàn bộ hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ
1.2 Diễn biến cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ 2007-2008
Cùng điểm lại những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng tại Mỹ đã diễn ra như thế nào:
Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona, California, Florida, Hawaii, và Nevada
tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu
Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường bất động sản
tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5,35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường.2
1 Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ: là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng
khoán) diễn ra từ năm 2007-2009 Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp
2 Les Christie (30/04/2007) Homes: Big drop in speculation Truy cập từ
http://money.cnn.com/2007/04/30/real_estate/speculators_fleeing_housing_markets/index.htm
Trang 19Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh doanh bất động
sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể Chỉ số xây dựng nhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng
08 giảm hơn 40% so với một năm trước đó
Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính cao
nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 75% từ năm 2006.1
Ngày 05/02/2007: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong số các
nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3,3 tỷ đô la thời điểm quý 3 năm
2006, tuyên bố phá sản
Ngày 02/04/2007: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ, tuyên
bố phá sản
Tháng 08/2007: Một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial
Corporation phải làm thủ tục xin phá sản Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra
Tháng 07- 09/2007: Ngân hàng IKB của Đức trở thành ngân hàng đầu tiên tại châu Âu
chịu ảnh hưởng bởi những khoản đầu tư xấu trên thị trường cho vay dưới chuẩn ở Mỹ Trong khi đó, Ngân hàng SachsenLB của Đức phải nhận sự cứu trợ từ chính phủ
Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa vây
để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh - Ngân hàng cho vay thế chấp Northern Rock - ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh.2
Trang 20Ngày 15/10/2007: Citigroup-Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi
nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11
Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạn nhân là
Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở Sydney
Ngày 11/1/2008: Bank of America-Ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn
hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial1 sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn
Ngày 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ
USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát liên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố
Ngày 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.2
Ngày 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân
của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ Euro
Ngày 16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan
Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu
Ngày 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong 5 năm công bố một khoản thua lỗ
trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản
Trang 21Ngày 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac
Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày
Ngày 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ
USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu
Ngày 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát
hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ
Ngày 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại
chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%
Ngày 14/9/2008: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cổ
phần sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers
Ngày 15/9/2008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa
trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào tháng 09/2001 Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ1; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố
Ngày 16/9/2008: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào
các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu Cổ phiếu AIG2 giảm gần một nửa Fed3 công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần Ngân hàng Barclays của Anh mua lại một phần tài sản tại Bắc Mỹ của Lehman với trị giá 1,75 tỷ USD
1 Thanh Phương (16/09/2008) Ngân hàng lớn thứ 4 của Mỹ phá sản Truy cập từ
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/ngan-hang-lon-thu-4-cua-my-pha-san-
2695140.html
2 AIG: tên viết tắt của American International Group, một công ty bảo hiểm lớn của Mỹ
3 Fed: Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ
Trang 22Ngày 17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập
đoàn Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế tình trạng bán khống
Ngày 19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế
hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính
Ngày 20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD hai ngân
hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall1
Ngày 22/9/2008: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm
hoạt động của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và Trung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley
Ngày 23/9/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs2; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ
Ngày 25/9/2008: Washington Mutual Inc.(WaMu), một trong những ngân hàng lớn
nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
1 Phố Wall: theo thời gian, tên gọi này đã trở thành đồng nghĩa cho thị trường tài chính của Hoa Kỳ nói chung Wall
Street cũng là cách nói tắt để đề cập đến các tầm quan trọng tài chính có ảnh hưởng của ngành tài chính Mỹ, tập
trung ở khu vực thành phố New York
2 Kiều Oanh (24/09/2008) Tỷ phú Buffett đầu tư 5 tỷ USD vào Goldman Sachs Truy cập từ
http://vneconomy.vn/the-gioi/ty-phu-buffett-dau-tu-5-ty-usd-vao-goldman-sachs-
20080924021533571.htm