Quá trình hình thành kiến thức thể dục thực dụng nghề nghiệp Tác động của thể dục thể thao đối với hình thành kĩ năng nghề Tác động của thể dục thể thao đối với hình thành kĩ năng ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
–––––––––––––––––––––––
VŨ ĐỨC VINH
NGHIÊN CỨU NỘI DUNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHUYÊN BIỆT CHO SINH VIÊN NGÀNH ĐI BIỂN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO –––––––––––––––––––––––
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa tác giả nào công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Vũ Đức Vinh
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang bìa
1.1 Vai trò và những yếu tố cấu thành của thể dục thực dụng
nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục thể chất
1.1.2 Những yếu tố cấu thành thể dục thực dụng nghề nghiệp
1.2 Đặc điểm giáo dục thể dục thực dụng nghề nghiệp đối với
sinh viên các trường đại học có nghề nghiệp đặc thù
1.2.1
1.2.2
Quá trình hình thành kiến thức thể dục thực dụng nghề nghiệp
Tác động của thể dục thể thao đối với hình thành kĩ năng nghề
Tác động của thể dục thể thao đối với hình thành kĩ năng
nghề
8
10
1.2.3 Tác động của thể dục thể thao với yếu tố tâm – sinh lý nghề 12
1.2.4 Tác động của thể dục thể thao đối với phát triển tố chất thể lực
nghề nghiệp
14
1.3 Đặc điểm môi trường tự nhiên và điều kiện lao động trên
tàu viễn dương
15
Trang 51.3.1 Đặc điểm môi trường tự nhiên trên biển 15
1.3.2 Điều kiện lao động trên tàu vận tải biển viễn dương 17
1.4.3
1.4.4
Cơ chế của mệt mỏi
Biểu hiện của mệt mỏi
1.5.1 Vị trí của thể dục thực dụng nghề nghiệp đối với chuẩn bị
nguồn nhân lực nghề đi biển
33
1.5.2 Nhiệm vụ và phương pháp chuẩn bị thể lực thực dụng nghề
nghiệp
35
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU
44
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 44
Trang 62.3.1 Địa điểm nghiên cứu 57
3.1 Đánh giá thực trạng giáo dục thể chất và xây dựng tiêu
chuẩn phát triển thể chất chuyên biệt cho sinh viên Ngành
đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
59
3.1.1 Thực trạng giáo dục thể chất và giáo dục thể lực nghề nghiệp
của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
59
3.1.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh thể lực sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
66
3.1.3 Đánh giá thực trạng phát triển thể chất sinh viên Ngành đi
biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam:
73
3.1.4 Xây dựng thang điểm và bảng điểm tổng hợp đánh giá thể lực
sinh viên Ngành đi biển, Trường Đại họcHàng hải Việt Nam
76
3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung giáo
dục thể chất chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
90
3.2.2 Cấu trúc nội dung học trình Bơi thực dụng và cứu đuối
và lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên biệt cho sinh
viên Ngành đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
97
3.2.3 Thực nghiệm đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung học trình
thể dục thực dụng nghề nghiệp và hệ thống bài tập
chuyên biệt phát triển thể lực sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BXTC Bật xa tại chỗ DTS Dung tích sống ĐHHH Đại học hàng hải
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
3.1 Thực trạng phân bổ các nội dung môn học Giáo dục thể chất ở
3.2 Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho GDTC và thể thao ở
3.3
Kết quả đánh giá thực trạng tinh thần và thái độ đối với môn
học GDTC của sinh viên Ngành đi biển, Trường Đại học Hàng
hải Việt Nam (n=144)
Sau tr.63
3.4
Kết quả khảo sát các nguyên nhân ảnh hưởng đến tinh thần và
thái độ đối học tập đối với môn học GDTC của sinh viên
Ngành đi biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (n=144)
Sau tr.65
3.5
Kết quả lựa chọn các chỉ tiêu, test đánh giá sự phát triển thể
chất sinh viên Ngành đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt
Nam
Sau tr.69
3.6 Kết quả kiểm định độ tin cậy các test đánh giá thể lực sinh viên
Ngành đi biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (n = 144) Sau tr.71
3.7
Kết quả kiểm định tính thông báo các test đánh giá thể lực sinh
viên Ngành đi biển,Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
(n=144)
72
3.8 Kết quả thực trạng hình thái, chức năng sinh lý sinh viên
Ngành đi biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (n=144) Sau tr.73
3.9 Kết quả thực trạng tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (n=144) Sau tr.74 3.10 Kết quả thực trạng tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam so với Chuẩn đánh giá thể
lực theo QĐ 53/2008/BGDĐT (n=144)
Sau tr.75
3.11 Kết quả kiểm định phân bố chuẩn các thông số tố chất thể lực
sinh viên Ngành đi biển,Trường ĐHHH Việt Nam Sau tr.76 3.12 Bảng điểm tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển,Trường Đại
Trang 10Tên bảng Trang
3.13 Bảng điểm tổng hợp tố chất thể lực sinh viên Ngành đi
3.14 Kết quả khảo sát định hướng phát triển thể lực thực dụng nghề
nghiệp cho sinh viên Ngành đi biển, Trường ĐHHH Việt Nam Sau tr.96 3.15 Cấu trúc nội dung học trình Bơi thực dụng và cứu đuối Sau tr.100 3.16 Kết quả ý kiến chuyên gia lựa chọn hệ thống bài tập phát triển
thể lực chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển Trường Đại
học Hàng hải Việt Nam (n = 23)
Sau tr.103
3.17 Phân bổ bài tập thể lực nghề đi biển trong tiến trình giảng dạy
nội dung Bơi ếch
Sau tr.104
3.18 Phân bổ bài tập thể lực nghề đi biển trong tiến trình giảng dạy
nội dung Thể thao hàng hải
Sau tr.104 3.19 Phân bổ bài tập thể lực nghề đi biển trong tiến trình giảng dạy
nội dung Bơi thực dụng và cứu đuối
Sau tr.104
3.20
So sánh phát triển tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam giữa NTN và NĐC -
Trước thực nghiệm
Sau tr.106
3.21
So sánh phát triển tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam giữa NTN và NĐC - Sau
thực nghiệm
Sau tr.106
3.22 Tăng trưởng tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển Trường
Đại học Hàng hải Việt Nam – NTN (n=81) Sau tr.106
3.23 Tăng trưởng tố chất thể lực sinh viên Ngành đi biển
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – NĐC (n=64) Sau tr.106
3.24 Tăng trưởng tố chất thể lực toàn diện sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – TTN Sau tr.107
3.25 Tăng trưởng tố chất thể lực toàn diện sinh viên Ngành đi biển,
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – STN Sau tr.107 3.26 Đánh giá học trình Bơi thực dụng và cứu đuối cho sinh viên
Ngành đi biển, Trường ĐHHH Việt Nam (n=14) 109
Trang 11Tên bảng Trang
3.27 Kết quả đánh giá về tinh thần, thái độ của sinh viên Ngành đi
biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – STN 110
3.1 Kết quả tăng trưởng tố chất thể lực chung sinh viên Ngành đi
biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – NTN
Sau tr.106 3.2 Kết quả tăng trưởng tố chất thể lực chuyên môn sinh viên
Ngành đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – NTN
Sau tr.106 3.3 Kết quả tăng trưởng tố chất thể lực chung sinh viên Ngành đi
biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – NĐC
Sau tr.106 3.4 Kết quả tăng trưởng tố chất thể lực chuyên môn sinh viên
Ngành đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – NĐC
Sau tr.106 3.5 Kết quả tăng trưởng tố chất thể lực toàn diện sinh viên Ngành
đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam - TTN
Sau tr.107 3.6 Kết quả tăng trưởng tố chất thể lực toàn diện sinh viên Ngành
đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam - STN
Sau tr.107
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Với nhận thức Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là chìa khoá quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư cho sự nghiệp giáo dục theo hướng khoa học và hiện đại [12] Đào tạo nguồn nhân lực đã đặt ra những yều cầu cấp bách: Vừa phải trang bị những tri thức, kỹ năng mới, vừa phải thay đổi công nghệ và cách làm Nhà trường từ chỗ đào tạo khép kín chuyển sang mở, gắn bó với chặt chẽ với khoa học - công nghệ và ứng dụng [24]
Từ những định hướng trên cho thấy, giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu
xã hội cần đảm bảo các yếu tố: Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu về sử dụng lao động Gắn đào tạo với thực tiễn sử dụng lao động của nhà sản xuất và doanh nghiệp, bởi vì nơi
sử dụng nguồn lực lao động là nơi đưa ra các yêu cầu về đào tạo [26] Do đó,
cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động cần có sự phối hợp trong việc xây dựng chương trình đào tạo, phương hướng đào tạo và tổ chức quản lý đào tạo [13], [25]
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trương ương khoá XI (2003), về đổi mới căn bản toàn diên giáo dục, đã xác định phương hướng, biện pháp đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam phải gắn với sử dụng, trực tiếp phục vụ đào tạo chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành [4] Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, giáo dục đại học phải đáp ứng những yêu cầu và hoạt động của các nhà sản xuất và doanh nghiệp [33], [34]
Thông báo số 242-TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 2 (Khóa VIII) và phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã chỉ rõ: Chương trình, giáo trình chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp Thực trạng lạc hậu về chương trình đào tạo có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân rất cơ bản là công tác nghiên cứu và ứng dụng
Trang 13trong phát triển chương trình đào tạo trong nhiều năm qua chưa được quan tâm đúng mức [2]
GDTC là quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao năng lực làm việc và kéo dài tuổi thọ; Là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người và đặc biệt là hình thành kỹ năng vận động sống Trong đó, GDTC mang “tính nghề” hiện đang là hoạt động chủ đạo trong nghiên cứu về đổi mới nội dung
và hình thức Hướng tới góp phần rèn luyện tri thức và kỹ năng phục hoạt động nghề nghiệp [20], [21], [38] Vì vậy, áp dụng các phương tiện TDTT với các biện pháp tích cực trong việc hình thành kĩ năng nghề, tác động đến các yếu tố tâm, sinh lí nghề và phát triển thể lực chuyên môn nghề nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả và tăng năng suất lao động là nội dung phương tiện GDTC nghề có ý nghĩa quan trọng trong công tác đào tạo công nhân lành nghề chất lượng cao ở các trường dạy nghề Việt Nam, là yêu cầu cấp thiết đối với đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay [38]
Đi biển là một nghề đặc thù, hệ thống đào tạo cán bộ, thuyền viên của Việt Nam vừa phải đáp ứng yêu cầu của Công ước quốc tế (STCW) và các quy định hiện hành của quốc gia Đã có một chiến lược của quốc gia về phát triển ngành Vận tải biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, thì đi kèm theo phải có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ lĩnh vực
đó [3], [11], [30] Từ cơ sở tiếp cận cho thấy, GDTC nói chung và GDTC chuyên biệt cho ngành đi biển là một yêu cầu bức thiết cho chuẩn bị nguồn nhân lực phát triển kinh tế biển, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH-HĐH và
hội nhập quốc tế, tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nội dung giáo dục thể chất chuyên biệt cho sinh viên ngành đi biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu:
Trang 14Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thiết kế nội dung giáo dục thể chất chuyên biệt (Cấu trúc nội dung học trình Bơi thực dụng và cứu đuối; Lựa chọn bài tập thể lực chuyên biệt), đáp ứng nhu cầu tác nghiệp, làm việc cho sinh viên Ngành đi biển, Trường ĐHHH Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định giải quyết hai mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng giáo dục thể chất và xây dựng tiêu chuẩn phát triển thể chất chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam:
Đánh giá thực trạng GDTC và thể thao, thực trạng giáo dục thể lực nghề nghiệp của Trường ĐHHH Việt Nam; Đánh giá thực trạng phát triển thể chất sinh viên; Lựa chọn test, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá PTTC chuyên biệt ngành đi biển
Mục tiêu 2: Lựa chọn nội dung giáo dục thể chất chuyên biệt và đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung giáo dục chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển, Trường ĐHHH Việt Nam:
Cấu trúc học trình Bơi thực dụng và cứu đuối và lựa chọn hệ thống bài tập thể lực chuyên biệt cho sinh viên Ngành đi biển; Đánh giá hiệu quả ứng dụng nội dung GDTC chuyên biệt cho sinh viên ngành đi biển
Giả thuyết khoa học:
Các công trình nghiên cứu khoa học chỉ ra: Các bài tập TDTT được lựa chọn và áp dụng có hệ thống tác động chuyên biệt và không chuyên biệt lên cơ thể trong quá trình hình thành kĩ năng kĩ sảo vận động, nâng cao được tính ổn định của cơ thể trong các thao tác lao động trước những tác động bất lợi của điều kiện bên ngoài Vì vậy, nếu cấu trúc nội dung GDTC chuyên biệt sẽ đáp ứng nhu cầu tác nghiệp, làm việc cho sinh viên Ngành đi biển
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vai trò và những yếu tố cấu thành của thể dục thực dụng nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục thể chất
1.1.1 Vai trò của thể dục thực dụng nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục thể chất
Các bài tập TDTT là nhân tố cơ bản khắc phục hậu quả xấu của trạng thái ít hoạt động và sự căng thẳng về trí lực cho họ GDTC cho sinh viên nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như sau [20], [21]:
Củng cố và giữ gìn sức khỏe, phát triển thể chất bình thường và duy trì năng lực hoạt động cao
Phát triển toàn diện các tố chất thể lực cơ bản để chuẩn bị bước vào cuộc sống lao động, trong đó quan trọng nhất là đạt được các chỉ tiêu trong chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành
Củng cố và hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động quan trọng đối với cuộc sống và bổ sung thêm những kỹ năng kỹ xảo mới, trong đó có các
kỹ năng kỹ xảo thực dụng nghề nghiệp được lựa chọn Sử dụng hợp lý các phương tiện TDTT trong cuộc sống cá nhân và trong chế độ hoạt động lao động
Theo đó, thể dục thực dụng và nghề nghiệp là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện TDTT nói chung, được sử dụng với mục đích giáo dục những năng lực thể chất thích hợp với những đòi hỏi chuyên biệt của một nghề nghiệp nhất định và trang bị những kỹ năng kỹ xảo vận động quan trọng đối với nghề nghiệp [18], [68], [78]
Hiện nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm nảy sinh thêm hàng trăm ngành nghề khác nhau, nên sự chuyên môn hóa theo ngành nghề trong quá trình GDTC có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với xã hội, là nhân tố trực tiếp nâng cao kết quả đào tạo chuyên gia, rút ngắn thời gian hoàn thiện các
kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp và nâng cao năng lực hoạt động của con người trong những điều kiện lao động phức tạp, để nâng cao năng suất lao động
Trang 16Ở nhiều nước trên thế giới và ngay cả nước ta, hoạt động của các trường đại học gắn liền với hoạt động của thực tiễn lao động nhằm đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất [26], [33]
Ở nhiều trường đại học, nhờ tích lũy được những kinh nghiệp thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu khoa học, đã hình thành được những phương pháp
và hình thức tập luyện thể dục thực dụng và nghề nghiệp, chuẩn bị tốt thể lực cho sinh viên, giải quyết có hiệu quả quá trình gắn nhà trường với thực tiễn
xã hội, đem lại hiệu quả kinh tế cho đất nước [50], [68], [67]
Như vậy chuẩn bị thể lực thực dụng nghề nghiệp cho sinh viên có vị trí quan trọng trong chương trình GDTC của các trường đại học và chuyên nghiệp, đặc biệt ở những trường đào tạo những chuyên gia mà hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi phải có trình độ chuẩn bị thể lực chuyên môn cao như các ngành địa chất, hàng hải, lâm nghiệp v.v… [52]
1.1.2 Những yếu tố cấu thành thể dục thực dụng nghề nghiệp
Quan hệ giữa con người và sản xuất là mối quan hệ hữu cơ Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển làm thay đổi tính chất và điều kiện lao động, đòi hỏi con người làm việc trong một nền sản xuất mới có những năng lực ngày càng hoàn thiện hơn Con người luôn luôn là lực lượng sản xuất chính của xã hội
Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều ngành nghề làm cho chức năng và vị trí của con người trong sản xuất phải thay đổi Con người cần được chuẩn bị chuyên môn cho thích ứng với những chức năng ngành nghề mới – đồng thời phải được chuẩn bị thể lực nghề nghiệp tương ứng để loại trừ mâu thuẫn giữa những điều kiện kỹ thuật với năng lực con người sử dụng chúng [84]
Vì vậy yếu tố chung để hình thành thể dục thực dụng và nghề nghiệp
là quan hệ giữa con người với trình độ sản xuất Thể dục thực dụng nghề nghiệp góp phần giải quyết mối quan hệ này trong quá trình học tập của sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp, phải được coi là một phần bắt
Trang 17buộc trong chương trình quốc gia GDTC của các trường đại học và chuyên nghiệp Để hình thành những nội dung cụ thể của thể dục thực dụng nghề nghiệp, phải dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như hình thức, điều kiện và tính chất lao động Ngoài ra còn có một số nhân tố khác như chế độ lao động
và nghỉ ngơi, sự biến đổi khả năng làm việc v.v…[84]
Về nhân tố hình thức lao động: Trong quá trình làm việc, ở mỗi con người tất cả mọi hệ thống cơ quan đều được tham gia hoạt động, song hình thức lao động khác nhau được xác định bằng sự gắng sức trội hơn ở một hệ thống chức năng nhất định như hệ thần kinh, các cơ quan phân tích vận động, hệ tuần hoàn, hô hấp và cả hệ cơ Thí dụ: những người làm việc với máy móc tinh vi, sự gắng sức không lớn, song hoạt động này đòi hỏi những yêu cầu cao với hệ thần kinh trung ương, cơ chế phối hợp vận động, và chức năng của các cơ quan phân tích thị giác, vận động… Song có nhiều nghề đồi hỏi sự phát triển cao về sức mạnh, sức bền và những phẩm chất thể lực khác, những phẩm chất tâm lý…[40] Vì vậy sự hình thành những cấu trúc chuyên biệt các phẩm chất thể lực và thể chất của những người có nghề nghiệp khác nhau phải khác nhau Đó là yếu tố đầu tiên cấu thành nội dung thể dục thực dụng nghề nghiệp cho những ngành nghề khác nhau nhằm giúp họ hình thành năng lực chuyên môn được nhanh chóng hơn [18], [40], [48]
Về nhân tố điều kiện lao động: điều kiện lao động được hiểu là những điều kiện ngoại cảnh của hoạt động nghề nghiệp, như những nhân tố gây phức tạp cho việc thực hiện quá trình lao động Đó là những điều kiện bên ngoài không thuận lợi, kể cả những điều kiện sản xuất, gây thêm sự căn thẳng cho các nhân tố tâm lý và sinh lý của cơ thể trong thời gian lao động Việc hình thành nội dung thể dục thực dụng nghề nghiệp phải tính tới nhân
tố này thì sự chuẩn bị và đào tạo người cán bộ mới thu được kết quả cao
Về nhân tố tính chất lao động: cũng như điều kiện lao động, tính chất lao động là những nhân tố khách quan của lao động, quy định những tác động chuyên biệt với cơ thể con người Nhân tố này xác định những yêu cầu
Trang 18chuyên biệt về trình độ thể lực của người lao động với nghề này hay nghề khác Mỗi một nghề nghiệp được xác định bởi những đặc điểm và tính chất thao tác, phản ánh nội dung của chức năng lao động Đặc điểm một thao tác trong lao động nào đó được thể hiện bằng tổng hợp của những dấn hiệu về đặc tính không gian, thời gian, đặc tính về lực, về phối hợp các cử động và loại thao tác đó Tính chất cảu các thao tác lao động trong các hình thức hoạt động nghề nghiệp khác nhau có thể giống nhau và ngươci lại có thể khác nhau hoàn toàn, Dựa vào tính chất lao động, người ta chia thành các nhóm nghề nghiệp mang tính chất ước định có cơ sở khoa học [84] Khi xây dựng nội dung thể dục thực dụng nghề nghiệp cho sinh viên phải căn cứ vào tính chất hoạt động nghề nghiệp Có thể coi đây là nhân tố cơ bản nhất [18], [40], [91]
Các ngành nghề có những đặc thù riêng trong sự hoạt động của mình Khi xây dựng nội dung của thể dục thực dụng và nghề nghiệp, cần căn cứ vào một số nhân tố phụ như chế độ làm việc và nghỉ ngơi của sinh viên và sự biến đổi khả năng lao động của họ Trong thời gian học tập ở trường đại học, nhiệm vụ chính của sinh viên là nắm vững kiến thức khoa học trong điều kiện khối lượng thông tin tăng thường xuyên (sự bùng nổ thông tin) Vì vậy
để thích ứng với quá trình này đòi hỏi sinh viên phải có chế độ học tập và nghỉ ngơi hợp lý, biết sử dụng thời gian vào những hoạt động có lợi và hoạt động TDTT, nhằm nâng cao khả năng làm việc trí óc, loại trừ sự mệt mỏi, củng cố và nâng cao sức khỏe Những năm học tập của sinh viên là thời kỳ sung sức về thể lực và trí tuệ Khả năng làm việc, sự sáng tạo ở họ thật dồi dào, phong phú Nhưng năng lực làm việc chưa đạt được mức tối đa, chống mệt mỏi, song nhanh hồi phục Bởi vậy hình thành nội dung thể dục thực dụng nghề nghiệp phải tính đến những nhân tố này [38], [45], [55]
Như vậy là trong số lượng lớn các nghề nghiệp hiện có ở các trường đại học, cao đẳng và chuyên nghiệp đang đòi hỏi những yêu cầu cao về sự chuẩn bị thể lực và các năng lực chuyên môn, có quan hệ mật thiết với môi
Trang 19trường công tác sau này Do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, có nhiều ngành học mới nảy sinh và nhiều nghề nghiệp mới xuất hiện, mang tính chất phức tạp hơn Trong tương lai, con người luôn luôn có vai trò to lớn là làm chủ xã hội và thiên nhiên, hướng quy luật thiên nhiên phục vụ cho lợi ích của mình [20] Vì vậy hơn bao giờ hết những sinh viên, những chủ nhân của xã hội phải có sự phát triển và hoàn thiện hơn nữa về mặt thể chất, đáp ứng những yêu cầu cao của nghề nghiệp [84]
1.2 Đặc điểm giáo dục thể dục thực dụng nghề nghiệp đối với sinh viên các trường đại học có nghề nghiệp đặc thù
1.2.1 Quá trình hình thành kiến thức thể dục thực dụng nghề nghiệp
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã và đang làm thay đổi rất nhiều tính chất và điều kiện lao động Song dù cho sản xuất có đạt đến trình độ cao đến đâu, cũng không loại trừ con người ra khỏi sản xuất, mà chỉ thay đổi chức năng và vị trí của con người trong sản xuất Kỹ thuật càng hoàn thiện thì con người điều khiển nó càng được hoàn thiện
Để chuẩn bị thể lực thể dục thực dụng nghề nghiệp cho sinh viên có hiệu quả, cần nắm vững những kiến thức và quá trình hình thành thể dục thực dụng và nghề nghiệp Mặt khác hiện nay vẫn còn không ít những ngành nghề thao tác không phức tạp nhưng lại đòi hỏi cao sự phát triển về các tố chất thể lực cơ bản như sức nhanh, sức mạnh, sức bền và những phẩm chất thể lực, tâm lý khác Cho dù kỹ thuật hiện đại hay thô sơ, con người luôn phải nắm vững các kỹ năng kỹ xảo mang tính thực dụng nghề nghiệp để đạt hiệu suất lao động cao khi bước vào thực tiễn cuộc sống nghề nghiệp Vì vậy giữa con người và kỹ thuật nghề nghiệp chỉ có thể hoạt động trong một mối quan hệ tin cậy trong điều kiện có sự tương ứng hữu cơ giữa chúng Con người cần có sự chuẩn bị chuyên môn thích ứng với chức năng của ngành nghề Sự chuẩn bị này cần phải đi trước một bước những năng lực của con người trong lao động [48]
Trang 20Từ những năm 30 của thế kỷ 20, ở các nước phương Tây có nền khoa học kỹ thuật sớm phát triển, người ta đã nhận thức được sự chuẩn bị thể lực thực dụng cho con người Trong thập kỷ 70-80, sự chuẩn bị thể lực thực dụng cho sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp được chú ý hơn bao giờ hết, được xây dựng thành chương trình và dựa vào kế hoạch đào tạo cán
bộ khoa học trong điều kiện cơ giới hóa và tự động hóa cao các quá trình sản xuất hiện đại, trong nhiều thao tác lao động, tỉ lệ của những cử động nhanh, chính xác và phối hợp phức tạp tăng lên, càng đòi hỏi sự chuẩn bị thể lực thực dụng nghề nghiệp chu đáo hơn
Chuẩn bị thể lực thực dụng nghề nghiệp cho sinh viên là một quá trình bao gồm chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị chuyên môn nghề nghiệp [64]
Chuẩn bị thể lực chung nhằm phát triển ở họ các tố chất thể lực thực dụng như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ dẻo, sự khéo léo và các tố chất thể lực chuyên môn cần cho hoạt động nghề nghiệp
Chuẩn bị chuyên môn bao gồm việc hình thành các kỹ năng kỹ xảo thực dụng nghề nghiệp Đó là hai mặt cơ bản trong quá trình chuẩn bị thể lực thực dụng nghề nghiệp, bên cạnh việc bồi dưỡng các phẩm chất ý chí tâm lý
và nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể với điều kiện lao động [20], [21], [39]
Các kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp được hình thành trong quá trình học tập và lao động, cho nên việc giáo dục bồi dưỡng kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp là nhiệm vụ chuẩn bị chuyên môn bắt buộc cho sinh viên
Cũng giống như trong quá trình giáo dục thể chất, để hình thành kỹ năng kỹ xảo cho một môn thể thao nào đó, cần có các bài tập chuyên môn Hình thành kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp phải bao gồm những bài tạp chuẩn
bị có những yếu tố của các thao tác trong hoạt động nghề nghiệp Thí dụ: các bài tập thực dụng đối với người làm nghề xây dựng, nghề hàng hải, quân sự,v.v…Các bài tập này chứa đựng những nhân tố gần giống với hoạt động
Trang 21nghề nghiệp, để làm quen dần với các yêu cầu chuyên biệt của các ngành nghề đó đòi hỏi mang tính đặc trưng [18], [63], [71]
Vì vậy ngày nay trong nhiều nghề nghiệp, đã hình thành được các bài tập chuyên môn có hiệu quả cao trong lao động sản xuất và trong chiến đấu Dựa vào những đặc điểm và tính chất của hoạt động lao động, các nhà sư phạm TDTT ngày càng sáng tạo được nhiều phương tiện mới giáo dục thể chất có hiệu quả Các bài tập này được lựa chọn theo nguyên tắc chuyển tác động từ bài tập chuẩn bị sang hình thành các kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp cho đối tượng tập luyện Đối với bất cứ nghề nghiệp nào, để hình thành và hoàn thiện các kỹ xảo vận động, việc sử dụng các bài tập thực dụng trong đời sống có ý nghĩa bổ trợ rất lớn Đó là các bài tập tự nhiên (đi bộ, chạy, nhảy, ném, leo trèo…), được sử dụng rộng rãi trong tập luyện TDTT của sinh viên
và nhiều đối tượng khác Sở dĩ như vậy vì trong nhiều nghề nghiệp lao động, các kỹ năng kỹ xảo được hình thành và hoàn thiện từ những động tác thực dụng của tự nhiên mà con người đã nắm được Việc nắm vững các động tác này như những điều kiện không thể thiếu để làm việc có kết quả cao và bảo đảm an toàn lao động [71], [74]
Đối với mỗi ngành nghề chuyên môn có thể sử dụng các dạng bài tập của thể dục (thể dục dụng cụ, nhào lộn) và các môn bóng (bóng chuyền, bóng rổ, bóng bàn, bóng đá, v.v….) như những phương tiện nhằm giáo dục những phẩm chất quan trọng của những nghề đó Thí dụ: các nghề nghiệp đòi hỏi sự phối hợp động tác cao; năng lực định hướng trong không gian và theo thời gian, năng lực phản ứng nhanh, hợp lý trước các tình huống thay đổi, năng lực giữ thăng bằng trên cao, ở những bề mặt trống, tựa hẹp, đòi hỏi
sự dũng cảm bình tĩnh và tự tin
1.2.2 Tác động của thể dục thể thao đối với hình thành kĩ năng nghề
Trong rất nhiều tài liệu chuyên môn, đã cho thấy rằng người ta rất chú
ý việc áp dụng các loại hình bài tập giáo dục thể chất riêng lẻ, liên kết mang đặc điểm gần giống cơ cấu động tác lao động và cơ chế tác động của chúng
Trang 22trong quá trình tiến hành lao động Một số nhà khoa học cho rằng, hiệu quả cao trong việc phát triển tố chất thể lực nghề có thể đạt được trong việc sử dụng các phương tiện khác nhau dựa vào đặc điểm các nghề cụ thể, nhưng trong khi sử dụng chúng cần phải tính đến bản chất tác động đối với cơ thể người tập trong những điều kiện cụ thể [18]
Trong đào tạo công nhân mỏ than, thường sử dụng các bài tập đi, bò, trườn trong các tư thế xổm, ngồi, nằm, đặc biệt các bài tập ấy đã được áp dụng trên các mặt phẳng có độ dốc khác nhau, giống như những điều kiện lao động trong hầm lò Dựa trên đặc thù lao động của công nhân trên tầng cao, áp dụng các bài tập với các dụng cụ đặc biệt trên độ cao khác nhau như trong lao động thường gặp, những kiểu bò và leo trên thang, leo dây và đi lại trên các trang thiết bị có tiết diện bề mặt nhỏ [38]
Khi lựa chọn các bài tập GDTC thực dụng nghề, cần tính đến tác động sinh lí của động tác lên chức năng cơ thể người tập Nhiều nhà khoa học cho rằng, những động tác các môn thể thao khác nhau có tác động ảnh hưởng khác nhau đối với sự hoàn thiện các chức năng cơ bản cũng như hiệu quả áp dụng các bài tập cũng không giống nhau, phụ thuộc vào cơ chế sinh lý bản thân động tác đó
Do vậy khi lựa chọn các động tác, bài tập của môn thể thao đó định hướng vào nghề đang đào tạo nhằm phát triển các tố chất thể lực chuyên môn, hoặc hình thành những kĩ năng, kĩ xảo vận động nghề khác nhau cần phải thực hiện theo sự phân tích cơ chế chức năng của động tác TDTT và lao động [38]
Đã có những tài liệu đề cập tới vấn đề tìm những tố chất cơ bản cần thiết đáp ứng đại đa số các ngành nghề như: sức nhanh của động tác, sự phối hợp khéo léo động tác, tập trung thị giác cao, ổn định ý chí, v.v…Những tố chất cần thiết đó được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi cho ngành công nghiệp nhẹ và đặc biệt là ngành dệt, may mặc, sửa chữa đồng hồ, cơ khí chính xác, kể cả nghề đặc thù như: phi công, lái tàu biển, v.v…
Trang 23Trong các nghề vẽ, lắp ráp máy móc tinh vi, nghề dệt may, khai thác bưu chính viễn thông, v.v…thường gặp nhiều động tác tỉ mỉ có liên quan đến cảm giác động tác bàn tay, ngón tay Trong trường hợp này sự ước định dùng sức được phát sinh trong sự phối hợp giữa chúng với khả năng phối hợp động tác, độ linh hoạt các khớp cũng như cảm giác của bàn tay Để hoàn thiện tố chất này, thường dùng các bài tập với bóng cao su, với gậy, dây thừng [38] Trong thực tiễn lao động gặp phải không ít các trường hợp đòi hỏi sự hoàn chỉnh đồng thời các giác quan để có tính phối hợp, độ chính xác
và linh hoạt cao của động tác Các nhà khoa học đã sáng tạo ra các bài tập kiểu tung hứng, ném và bắt bóng hoặc các dụng cụ nhỏ nhẹ, các động tác thể dục với gậy, dây, v.v…nhằm hoàn thiện năng lực phối hợp vận động và sự linh hoạt thần kinh trong việc thực hiện các thao tác lao động, đặc biệt tố chất “linh hoạt nghề” thể hiện liên quan với sự phát triển của khoa học kĩ thuật [48], [71] Ngày nay việc áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào nền sản xuất hiện đại đã tạo nên sự biến đổi thực sự những chức năng lao động của con người Nghĩa là đưa đến việc điều khiển, tiếp nhận, chỉnh lí các
cơ chế khác nhau của máy móc đều thực hiện dưới dạng các động tác tỉ mỉ
Nhiều nhà khoa học đã phân tích và khẳng định vai trò quan trọng của tính linh hoạt, sự phối hợp đối với các hoạt động lao động sản xuất, đã dùng những bài tập TDTT để hoàn thiện những năng lực đó
1.2.3 Tác động của thể dục thể thao với yếu tố tâm, sinh lí nghề
Sự tập trung thị giác là tính chất tâm lí xuất hiện trong bất kì một hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt nào trong cuộc sống Sự chú ý vô cùng quan trọng trong công việc của phi công thể hiện ở chỗ: khối lượng quan sát,
sự chuẩn xác của quan sát, di động và bền vững của quan sát, những chức năng ấy có liên quan chặt chẽ với chức năng hoạt động của hệ thần kinh trung ương Áp dụng những động tác và bài tập đa dạng của môn bóng rổ, bóng ném để hoàn thiện chức năng chú ý [68] Dùng các phương pháp nhằm tác động đến tính tích cực của thị giác, đặc biệt thu kết quả cao khi áp dụng
Trang 24các bài tập đó trong sự phối hợp có chủ đích khi thực hiện các động tác khác kèm theo Các nhà khoa học đã cho rằng, chính các động tác như bắt bóng rổ
và chuyền bóng theo các hướng khác nhau, thực hiện ném bóng vào rổ, đều
có tác dụng rất tốt tới khả năng linh hoạt của thần kinh thị giác và phát triển khối lượng và chất lượng quan sát của thị giác lên rất nhiều
Sức nhanh của động tác cũng phụ thuộc rất nhiều vào hoạt tính của thần kinh, hoạt tính ấy biểu hiện trong sự thăng bằng của quá trình hưng phấn và ức chế, và được hoàn thiện ngay trong quá trình lao động sản xuất, nhưng hiệu quả hơn nếu như được tập luyện các môn TDTT định hướng trong điều kiện luôn luôn thay đổi Như vậy tập luyện TDTT sẽ làm thay đổi chức năng các quá trình thần kinh Điều đó được chứng minh bằng nhiều kết quả ứng dụng thực tiễn của các nhà khoa học áp dụng tập các bài tập môn bóng rổ và chạy cự ly ngắn sẽ hoàn thiện và nâng cao có hiệu quả hoạt tính thần kinh trong quá trình thao tác lao động [68] Tốc độ phản xạ được phát triển khi làm những động tác TDTT có thể làm ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ hoàn thành động tác trong lao động Nâng cao tốc độ phản xạ được sinh sản
ra trước hết là trong các loại vận động đòi hỏi sức nhan thực hiện động tác, những bài tập trong môn bóng rổ và chạy cự ly ngắn, các bài tập kiểu trò chơi với bóng, đặc biệt bóng cao su loại nhỏ, các tác dụng phát triển sức nhanh của một số động tác lao động Nhiều tác giả còn cho rằng, không phải sức nhanh đơn giản chỉ có ý nghĩa để phát triển sức nhanh thực hiện động tác lao động mà là sức nhanh có liên quan tới những cảm giác của xúc giác để đảm bảo sự chính xác cao trong hoạt động lao động Ngoài ra phản xạ vận động còn có thể thực hiện trong khi làm các động tác hay bài tập trong môn điền kinh nhẹ như chạy xuất phát theo khẩu lệnh, chạy tiếp sức, các trò chơi với bóng…[95], [97], [98]
Trong lao động sản xuất đòi hỏi rất chính xác và tiết kiệm việc dùng sức cơ bắp Điều đó đỏi rất chính xác và tiết kiệm việc dùng sức cơ bắp Điều đó đỏi hỏi ở con người một sự chính xác cao trong việc ước định sức
Trang 25mạnh tổng thể quan hệ phản xạ giữa các giác quan thị giác, xúc giác và các
cơ quan vận động khác Khả năng này có thể dần dần hoàn chỉnh trong quá trình lao động sản xuất, nhưng hiệu quả cao hơn cả là thông qua quá trình tập luyện các bài tập chuyên môn
Chính vì vậy để phát triển và hoàn chỉnh năng lực ước định sức lực cơ bắp, tốc độ động tác, sự chính xác trong không gian, thường được áp dụng những động tác bóng rổ, điều này rất có ý nghĩa trong đào tạo nghề lái xe, sự cần thiết phát triển năng lực ước định dùng sức, sự chính xác trong quá trình dùng sức cơ bắp là nhờ tập luyện các động tác, bài tập ở các môn bóng, điều
đó được chứng minh bằng kết quả thí nghiệm của nhiều nhà khoa học [18]
1.2.4 Tác động của thể dục thể thao đối với phát triển tố chất thể lực nghề nghiệp
Trong nhiều công trình nghiên cứu đã có những phân loại các động tác TDTT để phát triển các yêu cầu khác nhau của các tố chất vận động, sự phân loại đó cho phép sử dụng thích hợp các phương tiện nhằm phát triển các tố chất thể lực và phối hợp động tác chính xác cho các nghề nghiệp khác nhau Trong đó, tố chất sức bền có một ý nghĩa và vai trò quan trọng, đảm bảo duy trì khả năng lao động cao Tình trạng sức khỏe, khả năng tập luyện và sự thích nghi điều kiện lao động của cơ thể được phản ánh trong các chỉ tiêu đặc trưng cho tố chất này, phát triển sức bền theo có thể đánh giá ở cự li chạy
500 đến 1000 mét [42]
Sức bền cơ chân giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng lao động thể lực Để phát triển sức bền cơ chân thường áp dụng các bài tập nhằm phát triển chịu đựng lâu dài như chạy ở cự li trung bình và cự li dài, tập bóng
rổ, nhảy dây theo quy định thời gian,v.v Nhiều thực nghiệm đã chứng minh rằng, hiệu quả tập luyện sức bền tĩnh có thể có được là nhờ tập luyện các động tác tĩnh đặc biệt trong cơ chế hoạt động yếm khí, sức bền tĩnh còn phụ thuộc vào trình độ tập luyện nói chung và có thể nâng cao nhờ tập luyện chuyên môn có chủ đích, đã thu được kết quả là: quan hệ tốt giữa sự phát
Trang 26triển năng lực ổn định của cơ thể đối với những yếu tố bất lợi của điều kiện lao động với việc chạy maratông [43], [74]
Huy động cơ bắp hoạt động căng thẳng liên quan với những điều kiện bất lợi của lao động như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm,.v.v…Trong những nghề này, việc áp dụng các bài tập GDTC đặc biệt để nâng cao sự ổn định của các chức năng cơ thể nhằm khắc phục những điều kiện bất lợi trong quá trình lao động, nghề nghiệp giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo công nhân trẻ Nhiều nhà khoa học đã cho rằng, sự ổn định cơ thể trước tác động của nhiệt độ cao hay thấp, môi trường sản xuất có khí độc, được nâng lên là nhờ áp dụng chủ yếu bài tập về sức bền [53], [54], [97], [98]
1.3 Đặc điểm môi trường tự nhiên và điều kiện lao động trên tàu viễn dương
1.3.1 Đặc điểm môi trường tự nhiên trên biển
Môi trường tự nhiên được xem là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, đặc biệt là môi trường tự nhiên trên biển Nếu như trên
bờ người lao động có nhiều biện pháp để hạn chế những điều kiện khắc nghiệt của môi trường tự nhiên thì trên biển người lao động phải hàng giờ, hàng ngày trong suốt hành trình trên biển phải trực tiếp đối mặt với môi trường tự nhiên khắc nghiệt của biển cả, mà trước tiên là:
Trên bề mặt trái đất, biển là nơi hình thành các cơn áp thấp, giông, bão
và các trận cuồng phong, hậu quả gây nên những hiện tượng biển động với
độ cao của sóng rất lớn làm ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất cũng như an toàn sinh mạng của người lao động biển Về cơ bản, khí hậu vùng biển nước ta là loại khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng đôi khi cũng có những biểu hiện của khí hậu ôn đới Biển nước ta chịu tác động của nhiều loại hệ
thống thời tiết như [30]:
Hệ thống thời tiết phía Bắc ảnh hưởng chủ yếu đến biển nước ta vào mùa Đông - Xuân với biểu hiện chủ yếu là gió mùa đông bắc phát triển mạnh Vào thời gian này nhiệt độ không khí khá thấp (trung bình 15-20 độ),
Trang 27khô hanh, lạnh, gió mùa đông bắc có khi mạnh cấp 6, cấp 7, có thể lên cấp 8, cấp 9 Các lao động biển chịu nhiều tác động rất mạnh của 4 rung, xóc, lắc, nhiều người bị say sóng, ăn uống hạn chế, sức khỏe giảm sút dẫn đến năng suất và chất lượng lao động bị ảnh hưởng
Hệ thống thời tiết phía Nam chịu tác động của áp thấp mùa hạ Châu Á
và dải áp thấp xích đạo, đặc trưng của loại hình thời tiết này là gió mùa Tây Nam và thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 trong năm Nó chính là nguyên nhân hình thành nên các cơn áp thấp nhiệt đới và bão Loại hình thời tiết này tuy không tác động liên tục nhưng gây nhiều nguy hiểm tới các hoạt động hàng hải và các hoạt động khác trên biển
Hệ thống thời tiết phía Tây chịu tác động của áp thấp nóng Hệ thống này ảnh hưởng từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau, trong thời gian này thường có giông bão, mưa rào, sương mù, lốc, vòi rồng Dạng thời tiết này đặc biệt nguy hiểm cho hoạt động của ngành hàng hải và lao động sản xuất trên biển
Hệ thống thời tiết phía Đông chịu tác động mạnh mẽ của hai hệ thống
là lưới cao áp cận nhiệt đới và nhiễu dông nhiệt đới như bão, áp thấp, sóng dông , thường tác động tới vùng biển nước ta từ tháng 5 đến tháng 11, nhưng mạnh nhất từ tháng 8 đến tháng 9
Loại hình thời tiết này cũng trực tiếp đe dọa các hoạt động của các ngành kinh tế biển của nước ta, đồng thời làm ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động trên biển của thuyền viên, thậm chí còn đe dọa cả an toàn sinh mạng của họ [31], [32]
Thủy triều, dòng chảy, nhiệt độ nước biển, độ mặn nước biển và sóng biển Trong các yếu tố này mức độ của sóng biển có ảnh hưởng lớn nhất đến các hoạt động hàng hải, các hoạt động sản xuất trên biển khác cũng như sức khỏe người đi biển Sóng biển chủ yếu do gió, bão tạo thành, vì thế chế độ sóng cũng không đồng nhất mà bị 5 phân hóa theo từng khu vực, theo từng mùa như chế độ gió
Trang 28Vùng biển nước ta chịu tác động của các loại gió mùa như: gió mùa Đông- Bắc, gió mùa Đông- Nam, gió mùa Tây- Nam Độ cao của sóng trung bình khoảng 1m, vào dịp gió mùa mà có biển động, độ cao sóng có thể lên tới 3- 4m và trong giông bão độ cao sóng cực đại có thể lên tới 5 - 6m, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các tàu thuyền trên biển
Tóm lại, vùng biển Việt Nam vừa mang đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, lại vừa mang đặc điểm của khí hậu hải dương vừa nóng,
ẩm, nhiều gió, áp thấp, vừa nhiều giông bão Sóng biển có độ cao trung bình lớn Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất trên biển, sóng lớn hơn có thể gây ra say sóng đối với nhiều người làm ảnh hưởng đến nhiều hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể và khả năng lao động của
họ Sóng trong giông bão có thể đe doạ an toàn sinh mạng của các lao động
biển [31], [32]
Lao động trên biển, con người chịu tác động trực tiếp của nhiệt độ không khí nóng vào mùa hè và lạnh vào mùa đông Về mùa hè, ngoài các bức xạ trực tiếp từ mặt trời chiếu xuống, người lao động trên biển còn phải chịu sức nóng gián tiếp từ các tia bức xạ từ mặt nước phản chiếu lên cộng với sức nóng do các máy móc hoạt động toả ra Chính điều này làm cho nhiệt
độ bên trong con tàu tăng lên từ 50C đến 1000C, cũng làm cho cơ thể luôn phải trong trạng thái điều nhiệt cao, gánh nặng thân nhiệt tăng làm ảnh hưởng đến nhiều hoạt động chức năng của cơ thể như chức năng điều nhiệt, chức năng tuần hoàn, chức năng bài tiết, hô hấp, tiêu hóa Mặt khác, nhiệt
độ giữa trong và ngoài con tàu lại chênh nhau rất nhiều làm cho khả năng điều nhiệt của cơ thể khi di chuyển giữa trong và ngoài tàu trở nên rất khó
khăn và dễ bị cảm cúm [31], [32]
1.3.2 Điều kiện lao động trên tàu vận tải biển viễn dương
Trong suốt thời gian hoạt động trên biển, con tàu vừa là nơi lao động, phương tiện lao động, đồng thời vừa là nơi ở, sinh hoạt, vui chơi giải trí 24/24 giờ trong ngày của thuyền viên Vì vậy, người lao động phải chịu đồng
Trang 29thời nhiều tác động của môi trường trên tàu đến sức khoẻ không những trong lúc lao động mà ngay cả lúc nghỉ ngơi, thậm chí cả trong giấc ngủ, những yếu tố đó bao gồm:
Môi trường vi khí hậu trên tàu:
Môi trường vi khí hậu gồm các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn và thường xuyên đến sức khoẻ người thuyền viên Trên các tàu đi biển, hiện nay mặc dù công nghệ đóng tàu đã rất nhiều tiến bộ, các phòng sinh hoạt, phòng ở đã được thông gió và lắp đặt hệ thống điều hòa không khí, nhưng vẫn có những khu vực rất nóng đó là khu vực buồng máy Nhiệt độ trên tàu biển; Theo nhiều tác giả, trong buồng máy của tàu biển, nhiệt độ thường xuyên rất cao, trung bình vào khoảng 400C [32], [63], [66]
Với các tàu không có hệ thống điều hoà không khí, trong khoang tàu nhiệt độ luôn cao hơn ở ngoài boong, nhất là vào mùa hạ, còn đối với những tàu có điều hoà không khí, sự chênh lệch nhiệt độ giữa trong và ngoài tàu lại lại tăng lên đáng kể Sự chênh lệch nhiệt độ khá cao giữa buồng máy với các
vị trí khác trên tàu, giữa trong và ngoài tàu, và người lao động phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác một cách đột ngột làm cho quá trình điều nhiệt luôn phải thay đổi, cơ thể khó thích nghi hơn với môi trường có nhiệt
độ luôn thay đổi, nên dễ phát sinh các bệnh đường hô hấp [27]
Thông gió trên các tàu biển:
Thông gió hiện nay, các tàu biển thuộc đội tàu quốc gia đang được hiện đại hoá theo các Công ước hàng hải quốc tế, do đó về cơ bản tiêu chuẩn thông gió trên các con tàu này đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Tuy nhiên, các tàu vận tải nội địa, đánh bắt hải sản thuộc khu vực tư nhân, các thành phần kinh tế khác do tàu công suất nhỏ, tận dụng các con tàu cũ, quá hạn sử dụng để khai thác do đó hầu hết không đảm bảo các tiêu chuẩn thông gió cũng như các tiêu chuẩn vệ sinh khác Vấn đề này quan trọng nhất là với các lao động trong buồng máy, nơi nhiệt độ, độ ẩm cao kết hợp với hơi xăng
Trang 30dầu càng làm ảnh hưởng nhiều đến sức chịu đựng và khả năng làm việc của người lao động
Độ ẩm không khí trên tàu:
Các tàu vận tải lớn nói chung do có hệ thống điều hoà không khí khá đảm bảo nên độ ẩm tương đối ổn định Trái lại, các loại tàu nhỏ, lạc hậu hoặc các tàu cá chỉ có thông gió tự nhiên nên ẩm độ tuỳ thuộc hoàn toàn vào môi trường tự nhiên của biển
Các yếu tố vật lý:
Trong y học lao động người ta phân loại âm thanh theo tần số như sau:
Âm thanh có tần số dưới 300 Hz: gọi là âm tần số thấp; Âm thanh có tần số
từ 300 - 1000 Hz: gọi là âm tần số trung bình; Âm thanh có tần số trên 1000
Hz (≥85dBA): gọi là âm tần số cao Đ
Đây là vấn đề nan giải nhất trên các loại tàu biển hầu như không thể khắc phục được mà những người lao động biển chỉ còn cách phải chung sống Các nghiên cứu về ô nhiễm tiếng ồn trên các tàu biển cho thấy: ngay cả khi tàu ở trong cảng chỉ có các máy đèn hoạt động thì mức độ ô nhiễm tiếng
ồn cũng lên đến ≥ 85dBA, nhiều chỗ đã vượt tiêu chuẩn cho phép (trên 85 dBA) Trong khi hành trình trên biển tàu phải chạy tất cả các máy chính thì tiếng ồn còn cao hơn nhiều lần và diễn ra liên tục suốt ngày đêm
Với tiếng ồn tần số trung bình thường gây giảm sức nghe Với tiếng
ồn tần số cao (>1000Hzt) và cường độ cao (≥85dBA) trước tiên thường gây suy giảm sức nghe và sau đó nếu kéo dài thời gian tiếp xúc sẽ dẫn đến điếc nghề nghiệp Với tần số thấp, tiếng ồn trên tàu biển tuy ở mức tần số thấp <
500 Hzt không gây điếc nghề nghiệp nhưng tác động đến cơ thể lại liên tục
từ ngày này qua ngày khác, gây ra trạng thái căng thẳng hệ thần kinh, chứng rối loạn thần kinh chức năng: đau đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi Rối loạn thần kinh có thể tạo ra những lo âu kéo dài, giảm trí nhớ, tăng huyết áp, loét dạ dày - tá tràng… Điều đó làm suy giảm sức khỏe thuyền
Trang 31viên, làm tăng sự sai sót hay thiếu chính xác trong công việc, dễ gây tai nạn
[30], [32]
Ngoài ra, nếu tiếng ồn kết hợp với rung chuyển sẽ có tác dụng “hiệp đồng” làm tăng tác hại của nhau lên nhiều lần Hai yếu tố ồn và rung trên tàu biển là những tác nhân có hại nhất tác động đến sức khỏe thuyền viên Nếu làm việc trên tàu từ 5- 10 năm dưới tác động của tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn (trên 85dBA) thì sẽ xuất hiện tổn thương thính giác
Rung, lắc trên tàu biển:
Dưới tác động máy tàu khi vận hành hết công suất, cộng với tác dụng của sóng biển làm cho tàu bị chòng chành, người lao động bị rơi vào tư thế bất lợi nên cơ thể luôn phải thực hiện các phản xạ để điều chỉnh tư thế, nên đòi hỏi người thuyền viên phải có chức năng tiền đình và tiểu não vững vàng
Tác động của rung lắc lên chức năng của các cơ quan trong cơ thể tuỳ thuộc vào biên độ, gia tốc và tần số của rung chuyển:
Rung chuyển tần số rất thấp (< 2Hzt); Thường hay gặp trong chuyển động của tàu, xe, máy bay kết hợp với gia tốc và vận tốc thấp thường đưa đến chứng bệnh đặc thù mà người ta thường gọi là chứng bệnh say do chuyển động (Motion Sickness) Rung chuyển tần số thấp (2 - 20Hzt); Hay gặp trong hoạt động của các loại máy xây dựng, tác động chủ yếu là đau cột sống, đau thần kinh tọa, rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh cơ (giảm khả năng phản xạ)…
Rung chuyển tần số cao (20-1000 Hz): Đây là loại rung chuyển cục
bộ, tác động trực tiếp vào các bộ phận cơ thể thực hiện các thao tác lao động hàng ngày như tay, chân hậu quả gây ra các tổn thương đặc trưng có tính chất nghề nghiệp mà người ta gọi là bệnh rung chuyển nghề nghiệp Rung, lắc ảnh hưởng xấu lên hệ thống tuần hoàn và thần kinh cũng như hệ thống xương khớp
Trang 32Hiện nay, người ta cũng quan sát thấy rung, lắc ảnh hưởng đến các thành phần sinh hóa của máu Nhiều tác giả cho rằng rung, lắc làm tăng tác dụng có hại của tiếng ồn lên chức năng cơ thể Đây là rung toàn thân, tần số thấp, là nguyên nhân gây rối loạn tiền đình với biểu hiện say sóng
Chiếu sáng trên tàu biển:
Con người nhận biết thông tin về sự vật, hiện tượng của tự nhiên và xã hội chiếm 80% bằng con đường thị giác Trong lao động người ta đưa ra tiêu chuẩn ánh sáng cho từng loại hình lao động theo các mức độ đòi hỏi chính xác khác nhau
Trong lao động, ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất lao động, chất lượng lao động và an toàn lao động Ánh sáng không đảm bảo còn gây ra tình trạng nhức mắt, mỏi mắt, giảm thị lực, nhức đầu và nhiều khi là nguyên nhân gây tai nạn lao động [31], [32]
Sóng điện từ và sóng siêu cao tần:
Tác dụng của các loại sóng này chủ yếu ảnh hưởng đến sức khoẻ của điện báo viên, các sỹ quan điều khiển và những người khai thác hệ thống Rada của tàu (Rada dẫn đường, Rada tránh va, vô tuyến điện ) Các loại bức
xạ này, ngoài tác dụng sinh nhiệt làm tăng thân nhiệt còn tác động trực 15 tiếp lên các bộ phận khác của cơ thể, đặc biệt nhạy cảm với các mô có nhiều nước như thuỷ tinh thể, tinh hoàn, ruột, gan, thần kinh [31], [66]
Các yếu tố hóa học: Trong quá trình lao động trên tàu, các thuyền viên
còn phải tiếp xúc với nhiều tác nhân hoá học độc hại khác như, nồng độ hơi xăng dầu cao hơn 4 lần tiêu chuẩn cho phép Bên cạnh đó, chất hun trùng được sử dụng để bảo quản hàng hoá chuyên chở trên tàu cũng gây ngột ngạt, khó chịu cho đoàn thuyền viên Khói tàu và các sản phẩm plastic dùng trong công nghiệp đóng tàu cũng góp phần làm tăng cảm giác khó chịu cho đoàn thuyền viên
Trang 33Các yếu tố sinh học: Thuyền viên có nguy cơ mắc các dịch bệnh nguy
hiểm nếu tiếp xúc với các động vật, côn trùng tồn tại trên tàu như chuột, gián, ruồi, muỗi mang mầm bệnh
Ngoài ra còn có nguy cơ tiếp xúc với những người mang mầm bệnh nguy hiểm như vi rút viêm gan B, C, HIV/AIDS Đây là các yếu tố nguy cơ cao đối với sức khỏe của đoàn thuyền viên
Sự thay đổi đột ngột qua các vùng khí hậu khác nhau: Ngày nay, vận
tải viễn dương chịu tác động rất nhiều từ sự phát triển nhanh của công nghệ đóng tàu, các tàu biển ngày càng hiện đại, tốc độ di chuyển của con tàu cũng ngày càng nhanh [67], [68]
Nó có thể di chuyển qua các vùng địa lý, qua các đại dương có khí hậu
và múi giờ rất khác nhau trong một thời gian rất ngắn; Sự thay đổi đột ngột này làm cho cơ thể khó có thể thích nghi ngay được và hậu quả là những thuyền viên có sức khoẻ không tốt hoặc kém khả năng thích nghi sẽ bị các rối loạn chức năng của cơ thể, dễ mắc một số bệnh về mũi họng, thần kinh và nếu kéo dài tình trạng này sẽ có ảnh hưởng bất lợi đến tình trạng sức khoẻ, bệnh tật như mắc chứng bệnh mất ngủ, dễ cảm cúm, viêm mũi họng, dẫn đến giảm khả năng lao động của người thuyền viên
Điều kiện vi xã hội trên tàu: Trong cuộc hành trình trên biển thuyền
viên bị cách biệt với đời sống xã hội thường ngày trên đất liền
Mọi sinh hoạt, lao động của họ đều bị giới hạn trong khoảng không gian chật hẹp của con tàu Mặt khác, môi trường vi xã hội trên tàu biển là môi trường đặc biệt, chỉ có một giới (xã hội đồng giới), tạo ra gánh nặng về thần kinh tâm lý cho người thuyền viên Chính vì vậy, đã làm cho các thuyền viên bị mất cân bằng về mặt tâm lý, dễ phát sinh các bệnh rối loạn thần kinh chức năng, rối loạn tâm lý và các rối loạn hành vi tâm thần
Nhiều tác giả cho rằng trong các loại gánh nặng về tâm lý- xã hội của nghề đi biển đó là người thuyền viên phải chịu đựng: Sự cô lập với đất liền trong thời gian tàu hành trình trên biển; Sự xa cách lâu ngày với gia đình, xã
Trang 34hội, bạn bè, người thân; Khó khăn trong việc sử dụng thời gian rỗi rãi trên tàu; Sự xa cách vợ, bạn tình và nói chung là người khác giới đã gây ra cho người thuyền viên cảm giác căng thẳng về tình dục Dẫn đến hậu quả khi tới cảng bất chấp cả sức khoẻ họ sẵn sàng sinh hoạt tình dục với gái làng chơi, nên rất dễ lây nhiễm các bệnh truyền qua đường tình dục (STD)
Những người lo sợ bệnh tật thì họ có thể thủ dâm hoặc sinh hoạt đồng giới, dẫn đến làm tăng tỷ lệ mắc chứng bệnh rối loạn hành vi và tâm thần Ngoài ra người thuyền viên còn bị tách biệt khỏi cộng đồng xã hội, chính trị
và văn hóa ở trên đất liền, thiếu thông tin, đây cũng là gánh nặng thần kinh - tâm lý đáng kể
Để duy trì hoạt động liên tục của con tàu trên biển, đoàn thuyền viên bắt buộc phải thực hiện chế độ đi ca (mỗi người lao động làm 2 ca trong một ngày, mỗi ca là 4 giờ), khoảng thời gian nhàn rỗi họ dành để ngủ một phần, phần còn lại thực chất là thời gian dư thừa Khi rảnh rỗi, một người lao động trên đất liền thường tham gia vào các hoạt động như phục vụ gia đình, vui chơi giải trí, quan hệ xã hội, nhưng ở trên tàu biển người thuyền viên không
có điều kiện làm những việc này Mặc dù, hiện nay nhiều con tàu hiện đại được trang bị khá đầy đủ phương tiện tập luyện, vui chơi, giải trí, nhưng những người sống và làm việc trên tàu cũng không thể thay đổi được không gian, nơi ở, môi trường cũng như những người sống xung quanh mình khi con tàu đang trong hành trình trên biển [30]
Tất cả thời gian của họ tuân thủ theo thời gian biểu khá đơn điệu, nhàm chán: ăn, ngủ, chơi, và chờ đến lượt đi ca vì vậy gây nên một trạng thái tâm lý bất ổn định, đời sống tẻ nhạt và dễ dẫn đến các hoạt động tiêu cực, thiếu lành mạnh như cờ bạc, nghiện thuốc lá, rượu và họ thường cho phép mình “xả hơi” ngay khi tàu được cập bến
Ngoài ra, vấn đề tổ chức lao động trong hành trình trên biển cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người lao động Việc tổ chức lao động khi tàu hành trình trên biển thường theo quy định rất chặt chẽ và nghiêm ngặt
Trang 35giống như của quân đội Các hoạt động của họ thường đơn điệu và buồn tẻ, lặp đi lặp lại, gây buồn chán Kết quả tạo nên tình trạng căng thẳng về tâm sinh lý, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe thuyền viên
Điều kiện dinh dưỡng trên tàu:
Chế độ dinh dưỡng cũng có ảnh hưởng khá nhiều đến sức khỏe thuyền viên Vấn đề cung cấp và bảo quản lương thực, thực phẩm nước uống cho các chuyến vượt biển dài ngày luôn là mối quan tâm hàng đầu của đoàn thuyền viên Ngày nay, việc cung cấp lương thực, thực phẩm, nước uống cho người đi biển đã được có tiến bộ vượt bậc Nhưng việc bảo quản chất lượng các loại thực phẩm vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là việc bảo quản các thực phẩm tươi sống như rau xanh, hoa quả, thịt
Vệ sinh môi trường trên tàu:
Ở những con tàu đang hoạt động trên biển, điều kiện để xử lý, giữ gìn
vệ sinh tàu khó khăn hơn nhiều so với khi tàu cập bến hay so với trên đất liền Điều đó càng rõ hơn trên các loại tàu nhỏ khi mà nơi ở cũng là nơi sinh hoạt, lao động, tất cả bó hẹp trong khuôn khổ 4 bức tường sắt của con tàu, điều kiện vệ sinh môi trường không được đảm bảo, nhiều tàu không thực hiện nghiêm chế độ 3 diệt theo định kỳ nên trên tàu thường xuyên có các côn trùng và động vật truyền bệnh Việc giữ gìn vệ sinh trên tàu biển khó khăn
do khoảng không gian trong tàu quá chật hẹp, nơi sinh hoạt và hoạt động sản xuất liền kề nhau, ý thức giữ gìn vệ sinh của thuyền viên chưa cao, công tác
3 diệt (diệt ruồi muỗi, diệt gián, diệt chuột) gần như không được thực hiện trên các tàu hoặc nếu có thực hiện cũng chỉ mang tính chiếu lệ Những điều kiện này làm cho tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng của các thuyền viên khá cao
Như vậy, tất cả các yếu tố môi trường khí hậu tự nhiên, điều kiện lao động, môi trường vi xã hội, các điều kiện vật chất, tinh thần trên tàu đều có
xu hướng bất lợi cho sức khỏe của người lao động biển, nếu tình trạng bất lợi này kéo dài sẽ gây ra những rối loạn chức năng tâm sinh lý, nặng hơn sẽ trở
Trang 36thành những bệnh lý, ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và khả năng lao động của thuyền viên [31], [56]
1.4 Sinh lý lao động và phòng chống mệt mỏi
1.4.1 Sinh lí lao động
Đặc trưng của lao động là tiêu hao trí tuệ và thể lực Đối với các lao động tư duy trí óc, những biến đổi sinh lý trong lao động thường khó xác định, sự mệt mỏi thường khó định lượng hơn Tiếng khi đó các lao động thể lực thường dễ đo đạc các biểu hiện thông qua các phản ứng sinh lý, sinh hoá, các chỉ số tương đối rõ ràng Lao động thể lực với đặc trưng của nó là hiện tượng vận cơ tăng lên phù hợp với yêu cầu lao động
Vấn đề cơ bản ở đây là tiêu hao năng lượng để đáp ứng yêu cầu của các thao tác trong sản xuất Công và năng lượng là vấn đề mấu chốt làm thay đổi, đáp ứng của tế bào tham gia dây chuyền hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, ví dụ: muốn có năng lượng phải có cơ chất, phải có oxy để đốt cháy Năng lượng sinh ra một phần ở dạng công một phần ở dạng nhiệt Nhiệt làm nóng cơ thể, cơ quan điều hoà thân nhiệt của cơ thể phải đáp ứng theo Tổ chức cơ cần năng lượng để hoạt động, bắt buộc hệ thống tuần hoàn,
hô hấp phải hoạt động tăng theo để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng Quá trình hoạt động cơ sinh ra các sản phẩm, các chất trung gian kéo theo sự hoạt động đáp ứng của hệ thống tiết niệu, thần kinh [47], [48] Các biến đổi sinh lý của các cơ quan chức năng trong cơ thể trong điều kiện lao động là những biến đổi nhằm đáp ứng với các yếu tố môi trường và tính chất lao động Các đáp ứng này ở mỗi cơ quan trong cơ thể có khác nhau, với mức độ
và sự biểu hiện ra ngoài có thể quan sát được [86], [94]
Hệ thống tuần hoàn: Do nhu cầu cung cấp oxy, các chất dinh dưỡng
và đào thải các hợp chất trung gian, các chất thải sau các phản ứng sinh lý, sinh hoá ở tổ chức, hệ thống tuần hoàn cần phải có những thích ứng phù hợp đặc biệt là cho hoạt động cơ bắp Sự hoạt động của tim tăng lên cả về tần số lẫn cường độ làm gia tăng lượng máu bóp từ tim Khi yên tĩnh lưu lượng này
Trang 37là 3 - 4 lít/ phút, khi làm việc nặng 10 lít/ phút, lao động nặng đặc biệt 30 -
Trong lao động số mao mạch hoạt động này có thể tăng lên đến 300,
cơ chế của hiện tượng này là do sự gia tăng bài xuất Adrenalin kích thích tim
và gây co lách Các sản phẩm trung gian như axit lactic, axit cacbonic cũng
có khả năng làm giãn mạch, tăng lưu thông máu [47], [49]
Hệ hô hấp: Do nhu cầu cung cấp oxy nên hệ hô hấp cũng hoạt động
tăng lên, nhịp độ và biên độ hô hấp đều tăng
Bình thường nhịp hô hấp khoảng 20 lần/ phút Trong lao động có thể tăng lên 40 lần phút Biên độ hô hấp bình thường là 400 - 500ml Trong lao động biên độ hô hấp có thể tăng lên 1 lít Do nhu cầu cung cấp oxy thường khác nhau trong lao động nên đáp ứng của hệ hô hấp cũng thay đổi CO2 và phản xạ thần kinh có vai trò quan trọng đối với các đáp ứng của hệ hô hấp trong lao động
Lao động nhẹ 0,12 - 0,2 lít không khí/ phút/ kg cân nặng
Lao động nặng 0,3 - 0,5 lít không khí/ phút/ kg cân nặng
Như vậy người lao động thể lực sống bình thường cần 6 lít không khí/ phút Lao động nặng cần tới 15 - 20 lít trong 1 phút Trong quá trình lao động do tiêu thụ nhiều oxy và thải nhiều cacbonic nên khả năng trao đổi khí phế nang mao mạch cũng tăng lên, hệ số sử dụng oxy cũng tăng lên (bình
Trang 38thường = 0,3) Thương số hô hấp cũng tăng lên (R=1 trong khí thở ra) Khi nào dự trữ glucogen giảm thì R có thể tụt xuống (0,7 - 0,6) [49], [49]
Hệ thống nội môi: Trong lao động các thành phần hữu hình trong máu
tăng do phản xạ co lách đẩy máu ra ngoài biên Hiện tượng mất nước do bài tiết mồ hôi cũng làm máu cô đặc Lao động càng nặng thì lượng bạch cầu toan tính càng giảm, thậm chí hết Lượng đường huyết bình thường trong máu là 0,8 - l,2g/ lít Lao động càng nặng kéo dài thì lượng đường càng giảm
có khi xuống 0,6 - 0,5g/ lít, song ăn uống nghỉ ngơi đường huyết lại hồi phục Thông thường dự trữ đường trong máu là 300 - 500g Nếu lượng này giảm làm cho lượng đường huyết tụt xuống quá có thể dẫn đến hôn mê Các sản phẩm trung gian, đặc biệt là axit lactic thường tăng lên có khi lên hàng chục lần (bình thường 0,015g%, trong lao động 0,1 - 0,2g%, nếu tăng lên tới
0,4g% các cơ ở vùng đó sẽ không co được)
Hệ bài tiết: Do bài tiết mồ hôi nhiều nên lượng nước tiểu giảm, hiện
tượng giãn mạch ngoại biên làm cho lượng máu qua thận giảm đi tuỳ theo cường độ lao động và sự mệt mỏi lao động, nhiệt độ môi trường và điều kiện lao động kết hợp với hiện tượng điều hoà thân nhiệt làm cho lượng mồ hôi được thoát ra có khi tới 3 hoặc 4 lít trong một ca lao động Trong mồ hôi thành phần chính là nước (0,98), chỉ còn lại 0,02 là muối vô cơ vàsản phẩm chuyển hoá, tuy vậy người lao động trong môi trường nóng mất mồ hôi nhiều sẽ gây mất cả nước lẫn điện giải, là tiền đề cho các rối loạn sinh lý
bệnh lý [49], [65]
Hệ thần kinh: Diễn biến của hoạt động thần kinh trong lao động là một
quá trình “ức chế thụ động - Hưng phấn - ức chế bảo vệ” Từ ức chế thụ động lúc mới bắt tay vào công việc sau đó có thể nhanh chóng thích nghi, hệ thần kinh chuyển sang giai đoạn hưng phấn, làm việc thoải mái, năng suất lao động cao Quá trình hưng phấn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào sức khoẻ
và công việc cũng như môi trường lao động Sau quá trình hưng phấn là sự mệt mỏi của thần kinh biểu hiện bằng hiện tượng ức chế, giảm tốc độ dẫn
Trang 39truyền, ngưỡng đáp ứng thần kinh tăng lên Người ta gọi hiện tượng ức chế này là ức chế bảo vệ [49], [65]
Tiêu hao năng lượng và oxy trong lao động: Trong lao động đặc biệt
là lao động cơ bắp huy động nhiều oxy để cung cấp chohoạt động sinh năng lượng là một quá trình đáp ứng hết sức năng động của cơ thể Do hệ thống
cơ chiếm đến 42% trọng lượng cơ thể nên lao động cơ bắp có thể tăng tiêuhao năng lượng lên hàng nghìn Kcal/ 24 giờ Hoạt động của cơ chia ra làm hai giai đoạn
Giai đoạn đầu không cần sự có mặt của oxy vì chủ yếu là hiện tượng giải phóngcác dây nối giàu năng lượng như ATP, ADP cho năng lượng và axit lactic
Giai đoạn sau là giai đoạn chuyển hoá axit lactic cho năng lượng, giải phóng CO2 và H2O
Giai đoạn này cần đủ oxy như vậy việc cung cấp oxy tuỳ thuộc vào sự tiêu hao năng lượng và cũng là do nhu cầu hoạt động cơ bắp Quá trình sinh năng lượng sẽ kéo theo hiện tượng gia tăng các hoạt động hô hấp và thần kinh Thông thường năng lượng được sinh ra chủ yếu dưới dạng nhiệt (70%) nên nó sẽ làm cho nhiệt độ của thể tăng lên Trong lao động nặng oxy cũng thường không đủ nên có hiện tượng nợ oxy trong giai đoạn hồi phục
[49], [65]
Trên cơ sở năng lượng tiêu hao nhiều hay ít, người ta chia hoặc phân loại lao động ra các mức độ như sau: lao động vừa, lao động nặng, lao động rất nặng, lao động nặng đặc biệt (năng lượng tiêu hao từ 200 - 3500 Kcal) Riêng lao động trí óc, lao động căng thẳng thần kinh tâm lý thì không dựa vào lượng năng lượng tiêu hao để đánh giá
Trong quá trình lao động có rất nhiều cơ quan bị chi phối gây ra những biến đổi sinh lý lao động đặc thù cần xem xét thêm thông qua các chỉ
số sinh lý, sinh hoá khác nhau Ví dụ: hệ thần kinh thực vật, hệ tiêu hoá, các giác quan [47], [57]
Trang 401.4.2 Mệt mỏi trong lao động
Mệt mỏi là trạng thái mất cân bằng sinh lý tạm thời của cơ thể, nó được coi như hiện tượng bắt đầu có những rối loạn các phản ứng sinh lý, sinh hoá của cơ thể trong lao động song nếu được nghỉ ngơi sẽ trở lại bình thường không để lại di chứng gì Trạng thái mệt mỏi được biểu hiện bằng dấu hiệu khó chịu, uể oải, chức năng sinh lý mất cân bằng, năng suất lao động giảm dễ xảy ra tai nạn lao động [15], [30]
Mệt mỏi các khí quan riêng biệt do những biến đổi cục bộ ở bộ não không có ý nghĩa toàn thân như: nhìn lâu mỏi mắt, vận cơ tĩnh đơn điệu, viết nhiều mỏi tay Trạng thái mệt mỏi này dễ cải thiện khi ta thay đổi vận động sang bộ phận khác
Mệt mỏi toàn thân thường gặp trong lao động thể lực nặng mà cơ thể phải huy động khối lượng cơ hoạt động nhiều
Mệt mỏi não lực là hiện tượng giảm khả năng hoạt động của tín hiệu thứ hai làm cho khả năng tư duy bị suy giảm Các triệu chứng thông thường
là nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ, trương lực cơ giảm, suy nhược mạch, suy nhược thần kinh thực vật Mệt mỏi tâm sinh lý, tinh thần; Thường gặp ở những lao động kỹ thuật phức tạp đòi hỏi sự căng thẳng về tâm lý khách quan, trách nhiệm Ví dụ: lái xe, đánh máy chữ, trực vô tuyến, ra đa [39],
[40]
1.4.3 Cơ chế của mệt mỏi
Về cơ chế phát sinh mệt mỏi còn có nhiều quan điểm khác nhau: Có tác giả cho rằng mệt mỏi được hình thành do hiện tượng tiêu hao dự trữ đường Trong thực tiễn lao động nặng nhọc vận cơ nhiều thường làm cho đường huyết giảm ở ngưỡng thấp bởi glucogen không kịp phân huỷ, hậu quả của quá trình này làm cho cơ phải hoạt động thường xuyên ở trạng thái tiết kiệm đường glucoza và hiện tượng mệt mỏi xuất hiện dần dần Nhiều tác giả cho rằng mệt mỏi sinh ra do hiện tượng nhiễm độc cơ, tế bào bởi các sản phẩm chuyển hoá trung gian Trong thực tế lượng axit lactic thường là