Song làm thế nào để hoạt động sinh kế của người dân có thể phát triển bền vững ở vùng đệm VQG TamĐảo thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu để có thể hiểu rõ sự thích ứngcủa
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ, SINH KẾ BỀN VỮNG 6
1.1 Cơ sở lý luận 6\
1.2 VQG Tam Đảo và vùng đệm 11
1.2.1 Vị trí địa lý 14
1.2.2 Địa hình 14
1.2.3 Thổ nhưỡng 17
1.2.4 Khí hậu 17
1.2.5 Thủy văn 18
1.2.6 Thực vật 18
1.2.7 Động vật 19
1.2.8 Vùng đệm VQG Tam Đảo 21
CHƯƠNG II SỰ THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG ĐỆM VQG TAM ĐẢO 21
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội - văn hóa của người dân ở Vùng đệm VQG Tam Đảo 21
2.1.1 Kinh tế 21
2.1.2 Xã hội 22
2.1.3 Văn hóa 27
2.2 Sinh kế của người dân ở Vùng đệm VQG Tam Đảo trước khi thành lập VQG 30
2.2.1 Nông nghiệp 30
2.2.2 Lâm nghiệp 31
2.2.3 Thủy sản 31
2.2.4 Nguồn cung cấp từ rừng tự nhiên 32
2.3 Sinh kế của người dân ở Vùng đệm VQG Tam Đảo sau khi thành lập VQG 34
2.3.1 Ngành Nông – Lâm - Thủy Sản 34
2.3.2 Ngành Công nghiệp – Xây dựng - tiểu thủ công nghiệp 35
2.3.3 Ngành Du lịch - Dịch vụ - Thương mại 36
2.4 Những biến đổi sinh kế của người dân ở Vùng đệm VQG Tam Đảo 37
Trang 22.4.1 Hoạt động dịch vụ du lịch 37
2.4.2 Phát triển nghề chữa bệnh 39
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG ĐỆM VQG TAM ĐẢO 41
3.1 Các qui hoạch liên quan 41
3.1.1 Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tam Đảo đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 41
3.1.2 Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn quốc gia Tam Đảo giai đoạn 2010 – 2020 45
3.2 Một số giải pháp phát triển sinh kế bền vững của người dân ở Vùng đệm VQG Tam Đảo 46 3.2.1 Giải pháp về nguồn vốn 46
3.2.2 Giải pháp kỹ thuật 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
Danh mục bảng Bảng 1 Khí hậu vùng Tam Đảo 17
Bảng 2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn Huyện 21
Bảng 3 Một số chỉ tiêu về y tế trên địa bàn Huyện 22
Bảng 4 Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Tam Đảo 23
Danh mục hình Hình 1 Khung sinh kế bền vững của DFID (2000) 10
Hình 2 Bản đồ hành chính khu vực nghiên cứu 13
Hình 3 Bản đồ địa hình Tam Đảo 17
Hình 4 Bản đồ hiện trạng kinh tế - xã hội – văn hóa 27
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
VQG Tam Đảo nằm trên dãy núi Tam Đảo được thành lập theo Quyết định136/TTg, ngày 6/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án khả thi đầu tư xâydựng Vườn quốc gia Tam Đảo trên cơ sở nâng cấp và mở rộng rừng cấm quốc gia TamĐảo được thành lập theo Quyết định số 41/TTg ngày 24 tháng 1 năm 1977 của Thủtướng Chính phủ Theo đó Vườn quốc gia Tam Đảo có tổng diện tích tự nhiên là 36.883
ha và diện tích vùng đệm là 15.515 ha
Người dân sinh sống ở đây từ rất lâu đời, gồm có 6 dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Dao,Sán Chay, Nùng và Hoa Trong thời gian từ 1996 trở về trước (trước khi có quyết địnhthành lập VQG Tam Đảo), người dân ở đây thường xuyên vào rừng khai thác các sảnphẩm như: măng, tổ kiến, mật ong, củi Đồng bào các dân tộc sinh sống ở đây cho rằng
"mọi thứ đều do rừng đẻ ra" nên gặp gì khai thác nấy
Từ sau khi thành lập Vườn quốc gia, người dân không được phép vào rừng khaithác nữa, do chính sách quản lý và kiểm soát lâm sản chặt chẽ Người dân thị trấn TamĐảo cho biết, dân địa phương nếu ai làm nhà thì phải làm đơn xin phép Sở nông nghiệp
và kiểm lâm và cũng chỉ được phép khai thác khoảng từ 2 đến 3 m3 gỗ Tuy nhiên, việckhai thác gỗ để làm nhà đã bị cấm hoàn toàn trong thời gian gần đây; số lượng động vậthoang dã ngày càng ít nên việc săn bắt đã giảm nhiều
Người dân vùng đệm VQG Tam Đảo ngoài sản xuất nông nghiệp họ phải tự đikiếm việc làm hoặc đi làm thuê Sản xuất nông nghiệp trong vùng còn gặp rất nhiều khókhăn, đất canh tác lại manh mún bạc màu, nên sản lượng lương thực qui thóc bình quânđầu người ở mức rất thấp
Người dân ở đây vẫn lén lút khai thác các tài nguyên từ rừng, đặc biệt là phongtrào bắt côn trùng quý như: bướm, xén tóc để bán cho khách nước ngoài với giá rấtcao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học của VQG Tam Đảo Vì vậy,
kể từ sau khi thành lập VQG Tam Đảo, hoạt động sinh kế của người dân nơi đây đã cónhiều thay đổi để phù hợp hơn với cuộc sống thực tại Nhiều loại hình sinh kế cũ đã mất
đi, thay vào đó là những phương thức mưu sinh mới được hình thành Song làm thế nào
để hoạt động sinh kế của người dân có thể phát triển bền vững ở vùng đệm VQG TamĐảo thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu để có thể hiểu rõ sự thích ứngcủa họ trước những biến đổi, đồng thời để giúp chính quyền địa phương nơi đây cónhững chiến lược, chính sách và giải pháp tối ưu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát:
Trang 5Nghiên cứu, đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân vùng đệm VQG Tam Đảothời điểm trước và sau khi thành lập VQG Từ đó đưa ra các giải pháp hữu ích cho ngườidân sống ở khu vực này.
3 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây trong quá trình thực hiện
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp:
Đây là phương pháp được sử dụng nhằm thu thập và xử lý tài liệu sau khi đã thuthập được từ nhiều nguồn khác nhau
Phương pháp khảo sát thực địa:
Phương pháp này không thể thiếu được trong quá trình triển khai đề tài, khảo sátthực tế, làm việc với các bên liên quan, thu thập bổ trợ các tư liệu, thông tin hữu ích từcác nguồn ở địa phương
Phương pháp bản đồ, viễn thám và GIS:
Trong quá trình nghiên cứu lãnh thổ, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan tới Địa Lý thì cần phải sử dụng phương pháp này để thể hiện một cách trực quan và tổng hợp các vấn đề nghiên cứu Từ đó, dễ dàng đưa ra được các giải pháp hữu ích mang tính khả thi cao
Nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ, SINH KẾ BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận
- Sinh kế
Khái niệm sinh kế đã được nhiều học giả trên thế giới quan niệm khác nhau Sinh
kế theo nghĩa thông thường là những cách thức mà con người kiếm sống và đáp ứngnhững nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, ở, mặc, sinh hoạt tinh thần…
Dưới góc độ Nhân học, ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩmnghiên cứu của R.Chamber những năm 1980 Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơntrong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward,… Có nhiềucách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng khái niệmsinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộgia đình
Trong nhiều nghiên cứu của mình F Ellis cho rằng một sinh kế bao gồm nhữngtài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), nhữnghoạt động và cơ hội tiếp cận đến các tài sản và các hoạt động đó (đạt được thông qua cácthể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cánhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000)
Trong đó khái niệm của học giả Robert H Lavenda được sử dụng nhiều hơn cả,
ông quan niệm rằng: “ Khi nói đến sinh kế là hàm ý con người phải làm gì để có được
của cải vật chất như lương thực, quần áo, chỗ ở nhằm duy trì cuộc sống”
Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) thì cho rằng: sinh kế bao gồm khả năng, nguồn
lực (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người
Các khái niệm trên có thể thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt độngcủa con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của conngười như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, lao động, trình độ phát triểncủa khoa học công nghệ Như vậy, sinh kế là tất cả các nguồn lực (gồm các nguồn lực vậtchất và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người
Nhân học sinh kế có điểm khác biệt với kinh tế học: Kinh tế học nghiên cứu cáckhía cạnh của vật chất với mục tiêu là tiết kiệm và lợi nhuận Nhân học sinh kế không
Trang 7nhuận, tại sao người ta làm thế, bản sắc văn hóa của chủ thể có các hoạt động sinh kế,mối quan hệ giữa các loại hình sinh kế….
Sinh kế tộc người: Sinh kế tộc người là cách thức kiếm sống của một tộc người(ethnic), do tộc người đó sáng tạo ra, duy trì cùng với quá trình tồn tại và phát triển củatộc người đó, mang những bản sắc riêng, đặc điểm riêng biệt Sinh kế tộc người luônnằm trong mối quan hệ chặt chẽ với các thành tố văn hóa khác
Ở Việt Nam hiện nay có 54 tộc người thiểu số sinh sống ở vùng miền núi khắp cảnước Tuy các mức độ, cách thức sinh kế, loại hình sinh kế có sự khác nhau nhưng đềuthống nhất ở 5 loại hình sinh kế chung:
Nhóm loại hình sinh kế liên quan đến kinh tế sản xuất: gồm 4 loại hình:
+ Trồng trọt: Đây là hoạt động quan trọng và then chốt, đảm bảo nguồn lươngthực thực phẩm chủ yếu cho con người Sinh kế trồng trọt gồm nương rẫy, ruộng vàvườn
+ Chăn nuôi: là loại hình sinh kế quan trọng thứ hai nhưng chỉ mang tính bổ trợ,đảm bảo lương thực, đảm bảo cho các hoạt động nghi lễ, tín ngưỡng
+ Nghề thủ công: Ít hình thành làng thủ công, phần lớn chỉ là nghề thủ công giađình, có quy mô nhỏ Các loại hình nghề thủ công thường thấy: đan lát, dệt, rèn, làmgốm…
+ Trao đổi mua bán: Là loại hình kinh tế ít phát triển ở các tộc người thiểu sốmiền núi với hình thức trao đổi hàng – hàng trong làng hoặc hàng – tiền – hàng ở cácphiên chợ
Nhóm loại hình sinh kế liên quan đến kinh tế chiếm đoạt: gồm 01 loại hình làkinh tế khai tác nguồn lợi tự nhiên
Vai trò hoạt động của từng loại hình sinh kế có sự khác nhau, mức độ và tỉ lệ đảmbảo cuộc sống cũng có sự khác nhau
Ngày nay, do nhiều yếu tố tác động như: Luật (Luật đất đai, Luật bảo vệ môitrường, luật bảo vệ rừng….) chính sách kinh tế - xã hội, tác động của kinh tế thị trường,vấn đề di dân nên các loại hình sinh kế kể trên có sự biến đổi như suy giảm nương rẫy,phát triển mạnh ruộng nước và đa dạng loại hình vườn, phát triển về chăn nuôi gia súc
Trang 8lớn với cách thức và phương pháp chăn nuôi thay đổi, nhiều nghề thủ công truyền thống
bị suy giảm hay thậm chí bị biến mất, phát triển trao đổi hàng hóa… Bên cạnh 5 loạihình trên còn có thêm nhiều loại hình sinh kế mới như: trồng cây ăn quả, trồng cây côngnghiệp lâu năm, đi làm thuê, đi xuất khẩu lao động…
- Biến đổi sinh kế
Biến đổi được hiểu là quá trình vận động, phát triển của tất cả các xã hội (biến đổi
xã hội) Biến đổi có tư cách như là ‘thích nghi’ khi các thay đổi phụ thuộc bối cảnh xuất
hiện ở dạng biểu lộ của các biến thể riêng biệt mà không thay thế chính thức cho các mốiquan hệ chức năng giữa các biến thể và bối cảnh bộc lộ Biến đổi có tư cách như là
‘chuyển đổi’ khi các mối quan hệ giữa các biến thể thay thế cho những biến đổi định tính
suy ra trong cấu trúc đồng bộ như một tổng thể (Minnegal & Dwyer 1997; 2001) Nhữngbiến đổi thích nghi không chắc là để tiếp tục tồn tại nếu các tình huống trở về với mộthiện trạng trước đó hoặc thay đổi lại một lần nữa Các biến đổi chuyển đổi thì có vẻ là đểtồn tại trong các hoàn cảnh bị biến đổi và chắc chắn là để cung cấp một cơ sở nền tảngcho các phản ứng thích nghi mới với những tình huống nảy sinh
Trong nghiên cứu nhân học, Raymond Firth đã khẳng định rằng: ‘có một sự khácbiệt được chỉ ra giữa biến đổi cấu trúc (trong đó các yếu tố cơ bản của xã hội thay đổi)
và biến đổi chi tiết, trong đó hành động xã hội khi không chỉ đơn thuần lặp đi lặp lại,không thay đổi các dạng thức xã hội cơ bản’
Thuật ngữ ‘biến đổi xã hội’ là ở nghĩa rộng, biến đổi sinh kế ở một nghĩa hẹp.Những thay thế đối với các hệ thống sinh kế hoặc sản xuất sẽ luôn luôn chứa đựng sựthay thế cho một hoặc nhiều về kích cỡ và kết cấu của nhóm công việc, và việc lên kếhoạch đối với các nhiệm vụ theo thời gian và không gian (Dwyer 1986) Vì vậy, biến đổisinh kế không thể không xảy ra dưới tác động của quá trình giao lưu, hội nhập và pháttriển
- Sinh kế bền vững
Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) xác định sinh kế bền vững với định nghĩa như
sau: “ Sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể vượt qua những biến động trong cuộc
sống hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại
và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên”.
Trang 9Trong các nghiên cứu về sinh kế thì khung sinh kế bền vững của DFID – 2000 là
khung sinh kế được sử dụng nhiều nhất hiện nay và trở thành một công cụ phổ biếntrong các nghiên cứu phát triển, cũng như các chính sách và kế hoạch phát triển
Nguồn: DFID (2000)
Hình 1 Khung sinh kế bền vững của DFID (2000)
H N S
- Tăng thu nhập
- Tăng sự ổn định
- Giảm rủi ro
- Nâng cao an toàn lương thực
- Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
TÀI SẢN SINH KẾ
CHIẾN LƯỢC SINH KẾ
Thể chế và chính sách
Thể chế quản lý:
- Các cấp
chính quyền
- Đơn vị tư nhân
Trang 10Khung sinh kế bền vững, chủ yếu lấy con người làm trung tâm và bao gồm 4yếu tố: bối cảnh dễ bị tổn thương, một ngôi sao 5 cánh, thể chế, chính sách và cácchiến lược sinh kế Các yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ với nhau để tạo ra các hiệuquả sinh kế bền vững Kết quả sinh kế sẽ phản ánh hướng lựa chọn phát triển của từnglĩnh vực cụ thể Có thể thấy, đây là một công cụ để các nhà quản lý và những ngườidân cùng nghiên cứu, đánh giá nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý, vừa thỏa mãn đượcyêu cầu của sự phát triển với việc nhấn mạnh sự tham gia của người dân, đặt con ngườilàm trung tâm của hoạt động phát triển và coi giảm nghèo là kết quả chính, vừa đảmbảo an ninh môi trường.
Thực tế, khung sinh kế trên có thể áp dụng rộng rãi cho bất cứ đối tượng nào và
ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đặc biệt hiệu quả là áp dụng trong phát triển nôngthôn, đối với rừng và khu bảo tồn thiên nhiên, khung sinh kế được phân tích thông quaviệc tìm hiểu những vấn đề kinh tế - xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên dựa trênnền tảng sự phát triển của loài người Cần có những phân tích cụ thể đối với từng loạirừng và khu bảo tồn thiên nhiên sao cho phù hợp với bối cảnh xã hội và trình độ củangười dân, cũng như khả năng đáp ứng các nguồn lực hỗ trợ để đảm bảo mục tiêuchung của công tác bảo tồn và sinh kế Khi tiến hành phân tích khung sinh kế bền vữngcần xác định rõ những tác nhân chính ảnh hưởng đến sinh kế: những nguồn lực quantrọng đối với sinh kế địa phương; chất lượng những nguồn lực; ai sử dụng và có quyềnquyết định những nguồn lực này; đánh giá những rủi ro, biến động của phương thứcsinh kế; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các dự án phát triển ở cả ba mặtkinh tế, xã hội và môi trường địa phương
Trang 11+ Vốn tài chính: Những nguồn tài chính có sẵn để con người tiếp tục sinh kế,bao gồm cả tiết kiệm và tận dụng.
1.2 VQG Tam Đảo và vùng đệm
Theo nhiều tài liệu dãy núi Tam Đảo hình thành cách đây 230 triệunăm vàogiữa kỷ Trias do hoạt động của núi lửa phun trào dung nham làm nhiều đợt chồng lênnhau Dãy núi này chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nằm trên địa bàn
ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với chiều dài khoảng 80 km và rộng từ
10 đến 15 km
Tam Đảo là tên của 3 đỉnh Thiên Thị, Thạch Bàn và Phú Nghĩa nổi lên trên biểnmây trắng trong dãy núi Tam Đảo Dãy Tam Đảo rộng từ 10 - 15km, chạy dài trên 80kmtheo hướng Tây Bắc - Đông Nam trên địa bàn 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và TuyênQuang, cách thủ đô Hà Nội 75 km về phía Bắc1
Tài nguyên rừng quốc gia Tam Đảo rất phong phú và đa dạng với trên 2.000 loàithực vật và hàng trăm loài động vật, côn trùng tạo nên tính đa dạng sinh học cao; trong
số đó có nhiều loài quí hiếm và đặc hữu không chỉ riêng cho Tam Đảo còn cho ViệtNam Vườn quốc gia Tam Đảo gắn liền với 2 khu nghỉ mát nổi tiếng khu nghỉ mát TamĐảo và Khu danh thắng Tây Thiên và một loạt hệ thống đền, chùa cổ được xây dựng từthế kỷ XX để thờ cúng những người có công dựng nước và giữ nước
1 Giới thiệu VQG Tam Đảo – www.tamdaonp.com.vn
Trang 12Hình 2 Bản đồ hành chính khu vực nghiên cứu
Trang 13VQG Tam Đảo được thành lập theo Quyết định 136/TTg, ngày 6/3/1996 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Tam Đảo trên
cơ sở nâng cấp và mở rộng rừng cấm quốc gia Tam Đảo được thành lập theo Quyết định
số 41/TTg ngày 24 tháng 1 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó Vườn quốc giaTam Đảo có tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha và diện tích vùng đệm 15.515 ha.vớicác nhiệm vụ chính sau đây:
Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng trên núi Tam Đảo
Bảo vệ nguồn gen các loài động, thực vật rừng quý hiếm Đặc biệt là cácloài động, thực vật đặc hữu và cảnh quan thiên nhiên
Thực hiện công tác nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và dịch vụ khoa
học; tạo môi trường tốt phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, du lịch vànghỉ mát
Tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục phổ cập cho nhân dân lòng yêu
thiên nhiên và ý thức bảo vệ rừng
Thực hiện vai trò giữ và điều tiết nước của khu vực đầu nguồn, góp phần
cải thiện môi sinh cho vùng đồng bằng, trung du bắc bộ và thủ đô Hà Nội
Tham gia tổ chức việc tham quan du lịch và nghỉ mát
Góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân trong vùng đệm
Vườn quốc gia Tam Đảo được chia thành 3 phân khu chức năng sau đây:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
+ Diện tích 17.295 ha,
+ Ranh giới: Tính từ độ cao 400 m (so với mặt nước biển) trở lên;
- Phân khu phục hồi sinh thái:
+ Diện tích là 17.286 ha;
- Phân khu nghỉ mát, du lịch:
+ Diện tích: 2.302 ha (bao gồm cả diện tích đất thị trấn Tam Đảo) + Nằm ở sườn núi Tam Đảo thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 141.2.1 Vị trí địa lý
VQG Tam Đảo nằm trải dài từ 21o21’- 21o42’ độ vĩ Bắc và từ 105o23’- 105o44’ độkinh Đông, nằm trên địa phận của 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang.Đây là dãy núi lớn dài 80 km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Phía Bắc giáp xã Quân Chu;
Phía Nam giáp xã Hướng Đạo;
Phía Đông giáp xã Minh Quang;
Phía Tây giáp xã Tam Quan
Phía Đông Bắc khu Tam Đảo giới hạn bởi quốc lộ 13A, từ ranh giới huyện PhổYên - Đại Từ (Thái Nguyên) đến Đèo Khế (Tuyên Quang) Phía Tây Nam là đường ôtômới mở kéo dài từ quốc lộ 13A chỗ gần chân Đèo Khế dọc chân núi Tam Đảo đến xã
Mỹ Khê, ranh giới huyện Bình Xuyên và huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc)
Trung tâm VQG Tam Đảo cách Thủ đô Hà Nội 75 km về phía Tây Bắc và cáchThành phố Vĩnh Yên 13 km về phía Bắc
1.2.2 Địa hình
Tam Đảo là phần cuối của dãy núi cánh cung thượng nguồn sông Chảy Đặc điểmđịa hình sườn Tam Đảo là các dãy núi nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dày bởinhiều dông phụ hầu như vuông góc vói dông chính Các suối ở vùng Đông Bắc đều đổvào sông Công tạo nên vùng bồn địa Đại Từ Bên sườn Tây Nam, các lưu vực suối đều
đổ vào sông Phó Đáy
Núi Tam Đảo chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm trên 20 đỉnh núiđược nối với nhau bằng đường dông sắc, nhọn Nó như một bức bình phong chắn giómùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng Các đỉnh có độ cao trên dưới 1000 m Đỉnh caonhất là Tam Đảo Bắc (ranh giới giữa 3 tỉnh) cao 1.592 m Ba đỉnh núi nổi tiếng của TamĐảo là Thiên Thị (1.375 m), Thạch Bàn (1.388 m) và Phù Nghĩa (1.300 m) Chiều ngangcủa khối núi rộng 10 – 15 km, sườn rất dốc và chia cắt mạnh Độ dốc bình quân từ 160-
35o, nhiều nơi độ dốc trên 35o Độ cao của núi giảm nhanh về phía Đông Bắc xuống lòngchảo Đại Từ tạo nên những mái dông đứng Hướng Đông Nam có xu hướng giảm dầnđến giáp địa phận Hà Nội
Địa hình Tam Đảo được chia thành 4 kiểu địa hình chính:
Trang 15- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối có độ cao tuyệt đối dưới 100m,
độ cao tương đối trên 10m Độ dốc dưới 7o Đây là vùng dưới chân núi và vensông suối
- Đồi cao trung bình có độ cao tuyệt đối 100 - 400m, độ cao tương đối trên 25m
Độ dốc từ cấp hai trở lên Phân bố chung quanh núi, tiếp giáp với đồng bằng
- Núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 400 - 700m, độ cao tương đối trên 400m Độ dốctrên cấp 3, phân bố giữa địa hình đồi núi cao đồi cao và trung bình
- Núi trung bình có độ cao tuyệt đối trên 700, độ cao tương đối trên 700m Phân bố
ở phần trên của khối núi Các đỉnh dông đều sắc nhọn và hiểm trở
Trang 16Hình 3 Bản đồ địa hình Tam Đảo
Trang 171.2.3 Thổ nhưỡng
Trong quá trình điều tra lập địa 4 loại đất chính ở Tam Đảo đã được phát hiện là:
Đất Feralit mùn vàng nhạt phân bố ở độ cao trên 700 m
Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố ở các sườn núi độ cao từ 400 – 700 m
Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau như: Shale, Mica,Phillite và đá cát Phân bố ở độ cao từ 100 – 400 m
Đất phù sa dốc tụ phân bố dưới chân núi và các thung lũng hẹp ven sông suối lớn.Loại đất này có thành phần cơ giới trung bình, tầng dày, độ ẩm cao, màu mỡ được sửdụng để trồng lúa và các loại hoa màu
1.2.4 Khí hậu
Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới gió mùa Điều kiện khí tượng thuỷvăn ở mỗi khu vực là có sự khác biệt Có thể coi trạm khí tượng Tuyên Quang và VĩnhYên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây, trạm Đại từ đặc trưng cho sườn phía Đông,trạm Thị trấn Tam Đảo ở độ cao 900 m đặc trưng cho khí hậu vùng cao Lượng mưatrung bình hàng năm đạt đến 2.800 mm và tập trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng
10 với khoảng 90% tổng lượng mưa của năm Các số liệu đo được tại các trạm được thểhiện trong bảng sau:
Bảng 1 Khí hậu vùng Tam Đảo Trạm
Yếu tố
Tuyên
Nhiệt độ bình quân năm (0oc) 22,9 22,9 23,7 18,0
Lượng mưa bình quân năm (mm) 1.641,4 1.906,2 1.603,5 2.630,3
Lượng mưa cực đại trong ngày
Trang 18Nguồn: Số liệu Dự án thành lập VQG Tam Đảo
1.2.5 Thủy văn
VQG Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sông chính: ở phía đôngbắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía tây nam của khối núi nằm trongđường phân thủy của sông Đáy
Hầu hết các sông suối bên trong Vườn quốc gia đều dốc và chảy xiết, mạng lướisông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống chân núi, lưu lượng nước lớn Khi xuống tới cácchân núi, suối thường chảy dọc theo các chân thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùngđồi và vùng đồng bằng Sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thuỷ, chỉ
có khả năng làm thuỷ điện nhỏ Việc đắp đập tạo hồ được thực hiện ở nhiều nơi quanhchân núi để phục vụ sản xuất
1.2.6 Thực vật
Vườn Quốc gia Tam Đảo có 5 kiểu rừng chính2:
1) Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ cao dưới 800m Do ảnhhưởng của độ dốc nên kiẻu rừng này còn thấy trên độ cao 900-1000m Trong đó có3nhiều loài gỗ quí có giá trị kinh tế: Chò Chỉ, Giổi Re và Trường Mật
2) Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi thấp phân bố ở độ cao từ800m trở lên Thực vật bao gốm các loài thuộc họ: Re, Giẻ, Chè, Mộc Lan và Sau Sau
Độ ẩm không khí ở đây luôn luôn cao nên rất thuận lợi cho rêu và địa y phát triển ở độcao trên 1000m thường gặp các loài thuộc ngành thực vật hạt trần: Thông nàng, thôngtre, pơmu và sam bông
3) Rừng lùn trên đỉnh núi là kiểu phụ rừng đặc thù của kiểu rừng kín thường xanhmưa ẩm á nhiệt đới núi thấp được hình thành trên đỉnh dông dốc hay các đỉnh núi cao,đất xương xẩu, tránh nắng gió và có mây mù thường xuyên bao phủ Ở kiểu rừng nàycây gỗ thường có kích thước bé nhở với thân xoắn, vặn Đất dưới tán rừng mỏng nhưng
có tầng thảm thực vật dày có khi tới một m như ở đỉnh Rùng Rình Thực vật gồm giổinhung, hồi núi, gối thuốc và các loài cây thuộc họ đỗ quyên
Trang 194) Rừng tre nứa là loại rừng phục hồi sau nương rầy hoặc khai thác Tre nứa mọcxen vào rừng cây gỗ đã bị chặt phá, nhiều nơi tre nứa mọc át các loài cây gỗ nhỏ trởthành rừng thuần tre nứa mật độ cao dưới 500m thường là nứa, 500-800 thường là giang
và từ 800 trở lên chủ yếu là vầu và sặt gai
5) Rừng phục hồi sau nương rẫy thường gồm các loài cây gỗ ưa sáng, mọc nhanh:
Ba Bét, Ba soi, Bồ cu vẽ, Thẩu tấu, Dền, Dung và Màng tang
Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 904 loài thuộc 478 chi, 213 họ thựcvật bậc cao Trong đó:
Ngành thông đất: 2 loài, 1 chi, 1 họ
11 loài ở mức bị đe doạ (T)
14 loài chưa biết rõ mức nguy cấp (K)
Có 42 loài thực vật được coi là đặc hữu của Vườn Quốc gia Tam Đảo
1.2.7 Động vật
Khu hệ động vật hoang dã Vườn Quốc gia Tam Đảo gồm 307 loài Trong đó có:
Thú: 64 loài thuộc 48 giống
Chim: 239 loài thuộc 140 giống
Bò sát: 76 loài của 46 giống
Lưỡng cư: 28 loài của 11 giống
Côn trùng: 437 loài của 271 giống thuộc 46 họ và 7 bộ
Những loài động vật đặc hữu của miền Bắc Việt Nam gặp ở Vườn Quốc gia TamĐảo có 23 loài Trong đó:
Trang 20Thú: 8 loài
Bò sát: 1 loài
Lưỡng cư: 1 loài
Những loài động vật quí hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam, 1992 gặp ở Vườn Quốcgia Tam Đảo gồm 56 loài Trong đó:
Mức đang nguy cấp (E): 5 loài thú, 1 loài bò sát, 1 lưỡng cư và 1 côn trùng
Mức sẽ nguy cấp (V): 12 loài thú, 4 bò sát và 1 lưỡng cư
Mức Hiếm (R): 4 loài thú, 2 loài chim, 5 bò sát và 2 loài lưỡng cư
Mức bị đe doạ (T): 1 loài thú, 7 loài chim, 7 loài bò sát và 3 loài lưỡng cư
Những loài động vật quí hiếm có tên trong phụ lục CITES có 8 loài:
Thú: 4 loài ( 3 loài ở phụ lục 1 và 1 loài ở phụ lục 2)
Bò sát: 4 loài (1 loài ở phụ lục 1 và 3 loài ở phụ lục 2)
Trang 21Những loài quí hiếm có tên trong Red List của IUCN gặp ở Vườn Quốc gia TamĐảo gồm 18 loài:
14 loài thú (EN: 1 loài, LR: 2 loài, VU: 11 loài)
3 loài bò sát (EN: 1 loài, LR: 2 loài)
1 lưỡng cư (VU)
1.2.8 Vùng đệm VQG Tam Đảo
Vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo gồm 23 xã, thị trấn thuộc 7 huyện, thịxã: Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên, TP Vĩnh Yên, Lập Thạch(Vĩnh Phúc), SơnDương (Tuyên Quang), Đại Từ (Thái Nguyên) Vùng đệm bao gồm 183.996 nhân khẩu,mật độ dân số trung bình là 209 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số bình quân là 1,66% Thànhphần dân cư gồm 6 dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Dao và Hoa Người dân ở vùng đệm thườngsống tập trung ở các bãi bằng gần nguồn nước ven chân núi hoặc ven các trục đườnggiao thông Người dân các dân tộc thiểu số có truyền thống khai thác tài nguyên rừng từlâu đời đã tạo nên sức ép đáng kể đối với công tác bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia
CHƯƠNG II SỰ THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN Ở VÙNG ĐỆM VQG TAM ĐẢO
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội - văn hóa của người dân ở Vùng đệm VQG Tam Đảo
2.1.1 Kinh tế
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế- xã hộicủa tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và của huyện Tam Đảo nói riêng, huyện Tam Đảo đã đạtđược các kết quả kinh tế khả quan, giá trị sản xuất tăng bình quân 18,22%, giá trị tổngsản phẩm trên địa bàn tăng bình quân 18,53%/năm
Bảng 2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn Huyện
Triệu đồng
Nông - lâm nghiệp, thủy sản 798.992 1.969.802 1.019.057 996.256 1.016.77
4Công nghiệp – xây dựng 280.856 386.108 412.847 502.735 563.063Thương nghiệp – dịch vụ 368.836 490.540 567.336 724.646 901.040
Trang 22Sự biến động trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện theo xu hướng trên do xuấtphát điểm của công nghiệp và xây dựng thấp, sau khi tái lập huyện, các công trình xâydựng được tăng cường, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được triển khai
Nhìn chung, trên toàn huyện Kinh tế nhà nước có qui mô rất nhỏ, kinh tế tập thểchưa được củng cố và phát triển Sản xuất nông lâm nghiệp vẫn mang tính tự cấp, tự túc
là chủ yếu Sản xuất hàng hóa trong nông, lâm nghiệp và thủy sản mới bước đầu pháttriển trong những năm gần đây Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác thấp Cácngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Ngành trồng trọt vẫnchiếm tỷ trọng rất cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, các lĩnh vực chăn nuôi,thuỷ sản, lâm nghiệp chưa phát triển tương ứng với tiềm năng
Bảng 3 Một số chỉ tiêu về y tế trên địa bàn Huyện
Trang 23Hoạt động y tế tập trung vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiêm chủng phòng ngừadịch bệnh, khám chữa bệnh phục vụ nhân dân tại địa phương và làm tốt chương trình mụctiêu y tế quốc gia Đến năm 2010, trên địa bàn huyện đã hoàn thành 100% chuẩn y tế quốcgia giai đoạn I và là huyện hoàn thành sớm nhất chương trình xây dựng chuẩn y tế quốcgia Mặc dù cơ sở vật chất đã được đầu tư, 100% các trạm y tế đã có bác sỹ, song trangthiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh đang được tiếp tục đầu tư đáp ứng nhu cầukhám chữa bệnh cho nhân dân, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết phục vụ phát triển dulịch của Huyện.
+ giáo dục
Có thể đánh giá huyện Tam Đảo rất chú trọng công tác đầu tư cho giáo dục Tuycòn gặp nhiều khó khăn về đầu tư cho giáo dục, chính quyền huyện cùng với người dân đãrất nỗ lực hết sức để đáp ứng cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ quản lý, giáo viên để đápứng nhu cầu học tập của con em trong huyện Số trường đạt chuẩn các cấp tiểu học vàtrung học cơ sở có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.Tuy nhiên, cần xem xét và quan tâm đến các trường mầm non Hiện tại, toàn huyện mớichỉ có một trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Bảng 4 Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Tam Đảo
Trang 24Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tam Đảo, năm 2012
+ cơ sở hạ tầng
Do nằm ở vùng đệm thấp (dưới chân núi) nên hệ thống đường giao thông TamĐảo tương đối thuận tiện Có 6 tuyến đường bộ liên tỉnh, ngoài ra con có các tuyếnđường sắt và đường thuỷ Với sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng cao, cùng với sựquan tâm của Đảng và Nhà nước cho vùng đệm, hệ thống đường giao thông được nângcấp Ngoài đường liên tỉnh, liên huyện, ở các xã đã có đường cấp phối nối liền giữa các
xã, các thôn Các xã Hồ Sơn, Đạo trù, Thị trấn Tam đảo đều có đường giao thông vàođến tận thôn, thuận lợi cho du lịch và buôn bán Phương tiện vận chuyển cũng rất đadạng, từ phương tiện vận chuyển thô sơ như xe quệt, xe bò, xe ngựa, đến nay người dânthường dùng công nông, ô tô để chuyên chở các mặt hàng nông thổ sản Do trong vùng
có điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải nên đây cũng chính là một trong nhữngnguyên nhân kích thích việc khai thác lâm thổ sản khiến tài nguyên rừng ngày càng cạnkiệt
Vòng quanh chân núi Tam Đảo có một số hồ, đập nước đã được xây dựng nhằm
dự trữ nước và tưới tiêu cho nông nghiệp trong vùng như hồ Xạ Hương, hồ Làng Hà I.Ngoài các hồ, đập trong vùng còn được hỗ trợ bởi các con suối có đầu nguồn từ rừngTam Đảo Tuy nhiên với các nguồn đã có này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nướctưới cho nông nghiệp
Các huyện, thị đều có lưới điện quốc gia 35KV hoặc 10KV tới xã, thị trấn Toàn
bộ các xã trong vùng đều có điện sử dụng thông qua mạng lưới phân phối điện là cáctrạm hạ thế và mạng đường dây hạ thế Ngoài ra, tại một số cơ sở có nhu cầu phải sửdụng điện liên tục đã trang bị các trạm phát hoặc máy phát điện (dự phòng) Một số thôn,
Trang 25bản sát chân núi Tam Đảo còn có nguồn thủy điện nhỏ do các hộ gia đình tự xây dựng,cung cấp điện cho sinh hoạt hàng ngày: thắp sáng, chạy ti vi
Nước cho sinh hoạt trong vùng gồm có 3 nguồn: nước mưa, nước mặt, nướcngầm Nhân dân trong vùng, trong đó có nhân dân 2 xã nghiên cứu là Hồ Sơn và Đạotrù, chủ yếu sử dụng nước cho sinh hoạt hàng ngày từ giếng đào Một số ít dân cư vensông hoặc tại các thôn vùng trũng không đào được giếng (nguồn nước không đảm bảo vệsinh), phải dùng nước sông hoặc giếng tập thể phục vụ cho nhu cầu hàng ngày Ngườidân các thôn, xã giáp chân núi Tam Đảo sử dụng nguồn nước được dẫn từ các khe suốitrong rừng
Trong toàn vùng, mạng lưới phát thanh, truyền hình, bưu chính viễn thông về cơbản đã được phủ kín và rất thuận lợi, trong đó một số nơi đã được tăng cường các tổngđài tự động có thể liên lạc trong nước và quốc tế thuận tiện Tại ba địa điểm tiến hànhnghiên cứu, hầu hết các hộ gia đình đã có tivi và đài rađio, vì vậy người dân có thể tiếpcận thông tin trong nước cũng như trên thế giới một cách dễ dàng