1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm địa lí tự nhiên và vấn đề sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

106 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QuảngNam có diện tích che phủ thuộc loại lớn nhất cả nước, nhưng đang có sựchuyển đổi đất rừng sang nhiều mục đích khác rất phức tạp, gây ra mất rừngảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thá

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệtkhông gì có thể thay thế được, là môi trường sống, là địa bàn phân bố cáckhu dân cư, là nơi xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, an ninh quốcphòng Đất đai có giới hạn về không gian nhưng vô hạn về thời gian sửdụng Để phát huy tiềm năng sẵn có, hướng tới sử dụng hợp lí tài nguyên đấtđai và bảo vệ môi trường, đồng thời thực hiện được các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội (KT - XH) cần thiết phải nghiên cứu hiện trạng và biến động

sử dụng đất đai

Nghiên cứu điều kiện tự nhiên là cơ sở cho việc đề xuất những biệnpháp khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên nói chung và việc sửdụng hợp lí đất đai nói riêng Hơn nữa, đất là một trong những hợp phần của

tự nhiên, nó phản ánh những đặc điểm chung của nham thạch, địa hình, khíhậu, thủy văn, sinh vật và con người Giữa chúng có quan hệ qua lại chặt chẽ

và khi một thành phần nào đó bị thay đổi thì các thành phần còn lại cũng bịbiến đổi theo Do đó, vấn đề sử dụng hợp lí đất một khu vực liên quan chặtchẽ đến các đặc điểm địa lí tự nhiên của khu vực đó Sự nghiên cứu đặcđiểm địa lí tự nhiên của khu vực là căn cứ cho vấn đề quy hoạch và sử dụnghợp lí lãnh thổ theo hướng phát triển bền vững

Tỉnh Quảng Nam là một tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ QuảngNam có diện tích che phủ thuộc loại lớn nhất cả nước, nhưng đang có sựchuyển đổi đất rừng sang nhiều mục đích khác rất phức tạp, gây ra mất rừngảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái và mục tiêu an sinh xã hội của tỉnh.Với một tỉnh có sự phân hóa tự nhiên đa dạng từ vùng núi xuống đồng bằng

hạ lưu sông như tỉnh Quảng Nam, thì việc sử dụng đất đai vùng đồi núikhông chỉ làm thay đổi cảnh quan tự nhiên vùng đồi núi mà còn tác độngđến các quá trình tự nhiên diễn ra ở vùng đồi núi liên kết với vùng đồngbằng

Trang 3

Chính vì vậy, việc nghiên cứu: “Đặc điểm địa lí tự nhiên và vấn đề

sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam” là một vấn đề cấp thiết, có ý

nghĩa lớn trong công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và môi trườngtheo hướng phát triển bền vững

2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở phân tích đặc điểm địa lí tự nhiên, ảnh hưởng của các yếu

tố tự nhiên đến sử dụng đất và biến động sử dụng đất đồi núi của tỉnh QuảngNam, từ đó xác định các vấn đề tồn tại và đề xuất về hướng giải quyết cácmâu thuẫn trong vấn đề sử dụng đất của tỉnh Quảng Nam

3 Nhiệm vụ giải quyết

Để thực hiện những mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ

- Biến động sử dụng đất đồi núi tỉnh Quảng Nam năm 2005 - 2010

- Xác định các mâu thuẫn trong mục đích sử dụng đất và đề xuấthướng sử dụng đất đai khu vực đồi núi tỉnh Quảng Nam Chú ý tới các khuvực hồ thủy điện, các khu vực chuyển đổi từ đất rừng sang đất dành chonông nghiệp, thủy sản

4 Giới hạn đề tài

- Giới hạn về không gian nghiên cứu:

+ Nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên chỉ giới hạn ở phần đất liền củatỉnh Quảng Nam

+ Về biến động sử dụng đất chỉ giới hạn ở diện tích đất đồi núi trênđịa bàn 9 huyện miền núi: Tây Giang, Nam Giang, Đông Giang, Phước Sơn,Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức và Nông Sơn

- Giới hạn về nội dung:

+ Giới hạn ở vấn đề sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

Trang 4

+ Chỉ thể hiện sự chuyển đổi về diện tích sử dụng đất đồi núi cho cácmục đích sử dụng đất (đất rừng cho: lâm nghiệp, đất nông nghiệp, hồ chứathủy điện, khu khai thác khoáng sản), không đi sâu chuyển đổi cơ cấu câytrồng.

+ Chỉ thể hiện biến đổi sử dụng đất đồi núi tỉnh Quảng Nam ở 2 thờiđiểm năm 2005 – 2010

+ Không đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng đất đến biến đổimôi trường

5 Lịch sử nghiên cứu đề tài

5.1 Các công trình nghiên cứu về địa lí địa phương, địa lí tự nhiên tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh thuộc khu vực Trung Trung Bộ của Việt Nam,nằm trong vùng chuyển tiếp giữa khu vực Trường Sơn ở phía Bắc và địakhối Kon Tum ở phía Nam Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và phân bố rấtphức tạp Sự phân bố địa hình với cấu trúc sơn văn phức tạp đã tạo nên đặcđiểm tự nhiên riêng biệt của Quảng Nam

Tài liệu viết về Quảng Nam còn chưa nhiều Vài năm trở lại đây, donhu cầu phát triển kinh tế- xã hội và sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước nên cónhiều công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Nam hơn

Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về địa lí địa phương, địa lí

tự nhiên tỉnh Quảng Nam phục vụ cho những mục đích nhất định ở mức độ khác nhau, liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến đề tài nghiên cứu mà tác giả thu thập, xử lí, kế thừa, chọn lọc trong khi thực hiện đề tài

Trong giáo trình Địa lí tự nhiên Việt Nam (tập 2: phần khu vực) của

nhóm tác giả: Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thị Kim Chương, Đặng Văn Hương, Nguyễn Thục Nhu (năm 2005), Quảng Nam thuộc vùng Nam Trung Bộ nên lịch sử địa chất của tỉnh gắn liền với lịch sử phát triển địa chất của vùng Lịch sử địa chất của vùng là lịch sử của địa khối kết tinh cổ Kon Tum và đới uốn nếp Hecxini Nam Trung Bộ

Trong Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam của nhóm tác giả: Phạm Hoàng

Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, năm 1997, Quảng Nam nằm trong vùng cảnh quan Duyên hải Nam Trung Bộ, được hình thành chủ yếu trên địa hình núi thấp Lịch sử hình thành khu vực tỉnh Quảng Nam gắn liền với lịch sử hình thành vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Trang 5

Theo Địa Lí Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam (tập 4: Các Tỉnh Và Thành Phố Duyên Hải Nam Trung Bộ Và Tây Nguyên) của tác giả Lê Thông.

Khu vực Quảng Nam đã được nêu khái quát đặc điểm về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nói chung và đặc điểm đất đai QuảngNam nói riêng

Trong tác phẩm Quảng Nam thế và lực mới trong thế kỉ XXI của nhà

NXB chính trị Quốc Gia (năm 2004) đã nêu một cách khái quát vị trí địa lí,đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh, những cơ hội và thách thức phát triển KT -

XH tỉnh trong giai đoạn mới

Một số công trình khoa học nghiên cứu điều kiện tự nhiên của tỉnh, cụthể:

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài nhánh: Môi trường nông thôn tỉnh

Quảng Nam của đề tài "Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp” của Bộ Khoa học và Công

nghệ Báo cáo đã khái quát tình hình KT - XH tỉnh Quảng Nam, nguyênnhân giải pháp

Dự án: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện tự nhiên, môi trường và phát triển kinh tế – xã hội ở Trung Trung Bộ Việt Nam (địa bàn tỉnh Quảng Nam)” của Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Viện

Địa lí Dự án bao gồm nhiều chuyên đề với mục tiêu nghiên cứu khác nhau.Song, đự án đã khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Quảng Nam,phân tích đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến thành phần tự nhiêncũng như hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh, giải pháp thích ứng với biến đổikhí hậu

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu cấp khu vực thấp hơn trên địabàn tỉnh Quảng Nam như:

Đặc điểm thạch học, khoáng vật, thạch địa hóa các thành tạo magma xâm nhập vùng A Hội – Phước Hảo (Tây Bắc Khâm Đức) tỉnh Quảng Nam

của tác giả Huỳnh Trung, Bùi Thế Vinh, Đinh Quốc Tuấn

Tài nguyên nước mặt vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu của tác giả Lê Văn Hoàng, Lê Văn Thăng, Hồ Đắc

Trang 6

Thái Hoàng, đăng trên tạp chí khoa học công nghệ – kinh tế sinh thái số 40,tháng 10 năm 2011.

Nghiên cứu, xác định nguyên nhân gây lũ lụt đồng bằng hạ lưu sông Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam của tác giả Nguyễn Đức Thành (năm 2011)

Luận văn thạc sĩ khoa học Trường Đại học khoa học Tự nhiên Khoa môi trường

Phát triển nông nghiệp ở tỉnh Quảng Nam của tác giả Nguyễn Thị

Thanh Mai (năm 2010) Luận văn thạc sĩ trường khoa học xã hội và nhân văn

Phân vùng nguy cơ lũ lụt tại lưu vực sông Vu Gia, tỉnh Quảng Nam bằng ứng dụng công nghệ GIS và thuật toán AHP của nhóm tác giả Lê

Hoàng Tú, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Duy Liêm, Nguyễn Kim Lợi (năm2013), đăng trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội, chuyên ngành

Các Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 29, Số 3 64‐72

Cơ sở địa lí cho phát triển nông – lâm nghiệp các huyện ven biển tỉnh Quảng Nam của tác giả Bùi Thị Thu (năm 2013) Luận án tiến sĩ Trường

Đại học Quốc Gia Hà Nội – Trường Đại học khoa học tự nhiên Hà Nội

Thiên tai trượt lở sạt đất ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và một số phương pháp dự báo của tác giả Ngô Cảnh Tùng – Viện Thủy Công – Viện

Khoa học Thủy lợi Việt Nam, đăng trên tạp chí Địa Kĩ Thuật – Số 3/2010

5.2 Các công trình về nghiên cứu về sử dụng đất tỉnh Quảng Nam

Các công trình nghiên cứu về sử dụng đất tỉnh Quảng Nam chưa

nhiều Trong dự án: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến điều kiện

tự nhiên, môi trường và phát triển kinh tế – xã hội ở Trung Trung Bộ Việt Nam (địa bàn tỉnh Quảng Nam)”, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Viện Địa lí đã dành chuyên đề số 16: Xác định các giải pháp thích ứng (chia

sẻ tổn thất, giảm sạt lở đất, điều chỉnh quy hoạch, sử dụng đất) ở các khu vực nghiên cứu cụ thể của tỉnh Quảng Nam và vùng Trung Trung Bộ do

nhóm tác giả Nguyễn Đình Kì và nnk (năm 2011) Trong chuyên đề này tác

gải đã khái quát đặc điểm tự nhiên (địa hình, thủy văn), hiện trạng sử dụng đất năm 2010, đề xuất kế hoạch sử dụng đất năm 2015 và quy hoạch sử dụng đất năm 2020 Đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở địa phương.

Tóm lại, điều kiện tự nhiên và một số vấn đề liên quan đến sử dụngđất tỉnh Quảng Nam nhìn chung đã được một số tác giả trình bày trong một

số công trình nghiên cứu Tùy từng công trình nghiên cứu mà vấn đề trên

Trang 7

được xem xét, khai thác ở mức độ khái quát hay cụ thể Song có thể khẳngđịnh rằng nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên và vấn đề biến động sử dụngđất đồi núi tỉnh Quảng Nam thì chưa đề tài nào đặt vấn đề nghiên cứu.

6 Phương pháp luận và phương pháp

6.1 Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện dựa trên các quan điểm cụ thể sau:

6.1.1 Quan điểm hệ thống

Đây là quan điểm bao trùm nhất, chung nhất, phổ biến và cơ bản nhất

để xác định phương pháp tư duy và tiếp cận mọi vấn đề Các hệ thống đều

có cấu trúc để thực hiện chức năng, đó là cấu trúc đứng, cấu trúc ngang vàcấu trúc động lực Vì thế, tiếp cận hệ thống là tiếp cận cấu trúc để hiểu vàđiều chỉnh chức năng

Trong tự nhiên, mọi sự vật hiện tượng không phải ở trạng thái tĩnh tại,

cô lập mà là một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh Chúng có mối quan hệchặt chẽ với nhau, khi một thành phần nào đó bị biến đổi thì các thành phầnkhác, thậm chí là cả hệ thống đó cũng bị thay đổi Một trong các nhân tố cókhả năng làm hệ thống tự nhiên bị thay đổi mạnh nhất, nhanh nhất chính làcon người Con người với các hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng củamình đã tác động ngày càng lớn vào tự nhiên trong đó có các hệ sinh thái

Khi vận dụng quan điểm hệ thống vào đề tài đòi hỏi phải xem xét khuvực đồi núi tỉnh Quảng Nam như là một hệ thống với nhiều hợp phần, bộphận khác nhau Trong hệ thống đó có sự tác động qua lại, phản ứng dâytruyền giữa các hợp phần tự nhiên làm cho hệ thống ở trong trạng thái cânbằng động Chính mối liên hệ thống nhất nội hệ thống (mối quan hệ cấu trúcđứng) đó đã tạo ra đặc điểm địa lí chung về địa lí tự nhiên của vùng đồi núi

và của tỉnh Quảng Nam Đồng thời, chúng ta phải xem xét mối quan hệngoại hệ thống (cấu trúc ngang của hệ thống) thể hiện mối quan hệ giữavùng đồi núi và vùng đồng bằng trong tỉnh Quảng Nam, ảnh hưởng của sửdụng đất vùng đồi núi đến vùng đồng bằng Khi nghiên cứu đặc điểm địa lícủa tỉnh Quảng Nam cần đặt Quảng Nam trong khu vực Nam Trung Bộ để

Trang 8

xem xét ảnh hưởng của các vùng xung quanh đối với sự hình thành đặc điểmchung và sự phân hóa địa lí tự nhiên của tỉnh Quảng Nam Hơn nữa, nghiêncứu sự biến đổi chức năng, hoạt động của hệ thống theo thời gian (cấu trúcđộng lực) chính là sự biến đổi hoạt động theo chu kì, nhịp điệu của cảnhquan, đó là thuộc tính cấu trúc của hệ thống, còn những biến đổi loại hình sửdụng đất tại Quảng Nam có thể làm thay đổi cấu trúc của hệ thống tự nhiênQuảng Nam theo hướng tốt (tiến hóa) hoặc bất lợi (thoái hóa) Qua đó,chúng ta có những điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của tỉnh một cách hợplí.

Cụ thể đề tài phải nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm các hợp phần: địachất – địa mạo, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật liên quanđến sử dụng và bảo vệ đất đồi núi Đặc biệt nghiên cứu sự biến động sửdụng đất theo thời gian làm cơ sở thực tiễn đối với vấn đề sử dụng hợp lí đấtđồi núi tỉnh Quảng Nam Mối quan hệ tác động qua lại giữa các hợp phần đótạo nên cấu trúc hệ thống lãnh thổ tỉnh Quảng Nam

6.1.2 Quan điểm tổng hợp

Đây là quan điểm truyền thống khi nghiên cứu địa lí, được thể hiện cảtrong nội dung và phương pháp nghiên cứu Quan điểm này xem tự nhiên làmột hệ thống, thống nhất và hoàn chỉnh, trong đó các thành phần có quan hệhữu cơ với nhau Sự tác động của con người vào một thành phần tự nhiênnào đó có thể gây ra những biến động lớn trong hoạt động của toàn tổng thể

và ảnh hưởng tới các hệ thống lớn hơn

Khi nghiên cứu các thành phần tự nhiên phải đặt chúng trong mốiquan hệ với các thành phần khác của địa tổng thể Từ những nghiên cứu rờirạc của các thành phần, từng bộ phận của khu vực nghiên cứu chúng ta phảitổng hợp lại, nhìn nhận và đánh giá chúng trong toàn bộ địa tổng thể trênlãnh thổ Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể xem xét và đưa ra các đề xuấtđiều chỉnh cho phù hợp với toàn bộ hệ thống Tuy nhiên quan điểm nàykhông nhất thiết phải nghiên cứu tất cả các thành phần, mà chúng ta có thểlựa chọn các nhân tố đóng vai trò chủ đạo, là những nhân tố có vai trò quyếtđịnh đến những thuộc tính cơ bản của tổng thể Khi nghiên cứu chúng ta cần

Trang 9

phải chú ý tới vai trò của nhân tố trội Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm cácthành phần tự nhiên và mối quan hệ giữa chúng, cần tìm ra nhân tố chủ đạo,chi phối đặc điểm chung tự nhiên lãnh thổ khu vực nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu đã vận dụng quan điểm này vào các vấn đề:

Trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm và mối quan hệ giữa các hợpphần tự nhiên, tìm ra nhân tố chủ đạo, chi phối đặc điểm chung của tự nhiênlãnh thổ tỉnh Quảng Nam Qua đó, xác định đặc điểm chung của địa lí tựnhiên tỉnh Quảng Nam

Trong các hợp phần của tổng thể tư nhiên, đất được coi là sản phẩmcủa sự tác động tương hỗ của các thành phần tự nhiên và con người theo thờigian Như vậy, theo quan điểm này chúng ta cần nghiên cứu đất như là sảnphẩm tổng hợp của các nhân tố tự nhiên và con người Do các thành phần tựnhiên là một hệ thống có mối quan hệ mật thiết qua lại với nhau do đó,chúng ta cần nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến các thànhphần khác của tự nhiên

6.1.3 Quan điểm lãnh thổ

Khi nghiên cứu bất cứ một đối tượng, hiện tượng tự nhiên hay kinh tế

xã hội đều phải gắn với một lãnh thổ cụ thể nào đó Đối tượng đó nằm trongmối quan hệ tác động không gian và phân hóa, phụ thuộc vào các thành phầnkhác nằm trong lãnh thổ đó Những đặc điểm đó sẽ tác động đến sự phátsinh, phát triển và biến động của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế xã hội củalãnh thổ đó Các đối tượng nghiên cứu không tách rời với lãnh thổ mà cómối liên hệ với các lãnh thổ xung quanh cả trên phương diện tự nhiên và KT

- XH Khi nghiên cứu địa lí phải gắn với lãnh thổ, đặt lãnh thổ nghiên cứutrong một không gian lớn hơn để xem xét đối tượng một cách khoa học vàchính xác Sự thay đổi của một thành phần tự nhiên nào đó trong lãnh thổnày cũng có liên quan đến các lãnh thổ khác

Quán triệt quan điểm lãnh thổ trong nghiên cứu đề tài đòi hỏi phải xácđịnh cụ thể phạm vi nghiên cứu phải đặt phạm vi nghiên cứu tỉnh QuảngNam trong không gian vùng, miền lớn hơn để thấy được mặt thuận lợi cũngnhư mặt khó khăn của địa phương về mặt tự nhiên, KT - XH đối với việc sử

Trang 10

dụng đất Từ đó đề xuất những kiến nghị nhất định góp phần sử dụng hợp lítài nguyên đất Qua đó, thúc đẩy KT - XH của khu vực nghiên cứu.

6.1.4 Quan điểm lịch sử - phát sinh

Mỗi một tổng thể tự nhiên có quá trình phát sinh phát triển và biến đổikhông ngừng Nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên một khu vực cần phải dựatrên quan điểm này vì các thành phần tự nhiên của cảnh quan được hìnhthành dưới tác động lâu dài của quá trình nội lực và ngoại lực Bên cạnh đó,

sự tác động của con người đối với tự nhiên ngày càng lớn, làm chúng bị biếnđổi mạnh Hơn nữa, theo quan này, khi nghiên cứu và đánh giá đất đai cầnxem xét diễn biến các quá trình đã xảy ra trong quá khứ có tầm quan trọngđặc biệt Đất là một thể thống nhất và tổng hòa các mối quan hệ tương tácgiữa con người và tự nhiên Sự tác động tổng hợp đó sẽ quyết định các quátrình hình thành các loại đất chính Mỗi vùng địa lí tự nhiên sẽ có quá trìnhhình thành đất khác nhau trên cơ sở của sự tác động tương hỗ giữa các nhân

tố hình thành đất Hiên trạng sử dụng đất và mô hình sản xuất ở hiện tại vàtrong quá khứ là tấm gương phản ánh lịch sử hình thành đất, trên cơ sở đánhgiá hiện trạng sử dụng đất đưa ra đề xuất sử dụng hợp lí tài nguyên đất đaitại khu vực nghiên cứu

6.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm này có ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu địa lí tự nhiên phục

vụ cho khai thác và sử dụng hợp lí lãnh thổ

“phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” Mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững là thỏa

mãn yêu cầu căn bản của con người, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản líhữu hiệu hệ sinh thái, đảm bảo tương lai ổn định Mục tiêu đó có tính đadiện, thống nhất, toàn bộ Muốn phát triển bền vững phải lồng ghép được 3thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: phát triển kinh tế, ổn định xãhội và bảo vệ môi trường

Vận dụng quan điểm này trong nghiên cứu đề tài đặc biệt chú ý đếnvấn đề sử dụng hợp lí đất đai Thông qua xác lập các yêu cầu và đưa ra một

Trang 11

số đề xuất trong việc quản lí đất lâm – nông nghiệp có khả năng cho hiệuquả về KT - XH và góp phần bảo vệ môi trường.

6.2 Các phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp truyền thống, rất quan trọng đối với tất cả cácngành nghiên cứu thiên nhiên, nhất là đối với địa lí tự nhiên tổng hợp.Thông qua đó giúp cho tác giả có cái nhìn thực tế hơn và giúp phát hiệnnhững nội dung nghiên cứu, bổ sung cùng với nguồn tài liệu thu thập được.Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đi thực tế địa bàn nghiên cứu, tìmhiểu, chụp ảnh các yếu tố tự nhiên ở một số địa điểm

6.2.2 Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu

Quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã thu thập, kế thừa có chọn lọccác tài liệu, số liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu

- Các tư liệu và bản đồ (Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh QuảngNam năm 2005 và năm 2010)

- Các tư liệu, số liệu thống kê liên quan đến đặc điểm địa lí tự nhiên,vấn đề biến động sử dụng đất

Trên cơ sở tư liệu thu thập được, đề tài phân tích, xử lí số liệu bằngcác phương pháp truyền thống của địa lí và phương pháp tính toán, thống kê

và hệ thông tin địa lí

6.2.3 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp thông dụng, cần thiết không thể thiếu được trongnghiên cứu các đối tượng địa lí, đặc biệt là các đối tượng địa lí tự nhiên.Nghiên cứu bản đồ, thành lập bản đồ là việc bắt đầu, cũng là việc kết thúccủa quá trình nghiên cứu địa lí, thể hiện mọi kết quả nghiên cứu của cáccông trình Bản đồ cho phép chúng ta xác định rõ ràng, cụ thể phạm vinghiên cứu Thể hiện mối quan hệ giữa đối tượng nghiên cứu với các đốitượng khác trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu tỉnh Quảng Nam Các bản đồhành chính, bản đồ địa hình, độ dốc, bản đồ đất, bản đồ cảnh quan và bản đồhiện trạng sử dụng đất được tác giả sử dụng nhằm giải quyết nhiệm vụ đềtài, tăng thêm sức thuyết phục cho những luận điểm tác giả đưa ra

Trang 12

Ngoài ra, trong luận văn của mình tác giả còn sử dụng các biểu đồ thểhiện cho cơ cấu sử dụng đất của tỉnh và khu vực đồi núi tỉnh Quảng Nam.

6.2.4 Phương pháp phân tích tiếp cận hệ thống, đánh giá tổng hợpPhương pháp này được áp dụng khi phân tích cấu trúc cảnh quan, mốiquan hệ giữa các hợp phần tự nhiên trong cấu trúc đứng và cấu trúc ngangcủa các đơn vị cảnh quan trên lãnh thổ nhằm xác định tính ổn định và tínhbiến động của chúng Đánh giá tổng hợp giá trị kinh tế của tài nguyên thiênnhiên và điều kiện tự nhiên của tổng thể lãnh thổ cho mục tiêu KT - XH, môhình hoá các hoạt động giữa tự nhiên với KT - XH, phục vụ việc dự báo cho

sự biến đổi của môi trường, điều chỉnh các tác động của con người, xâydựng cơ sở cho việc quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

6.2.5 Phương pháp hệ thông tin địa lí

Hệ thông tin địa lí (Geographic Information System – GIS) với sự hỗtrợ đắc lực của các phần mềm máy tính, nhất là phần mềm MapInfo, ArcGIS, phần mềm xử lí ảnh Phương pháp này thực hiện có hiệu quả việc thuthập, cập nhật, phân tích và tổng hợp các thông tin về đối tượng trên các lớpthông tin nhằm tìm ra những đặc điểm, tính chất chung của đối tượng để tạo

ra lớp thông tin mới, trình bày dữ liệu dưới dạng các bản đồ phục vụ việcđánh giá cảnh quan

Trong luận văn của mình, tác giả đã sử dụng phần mềm MapInfo, ArcGIS để biên tập các bản đồ: hành chính, địa hình (độ cao, độ dốc), chồng xếpcác bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và 2010 Phân tích ảnh hưởngđặc điểm địa lí tự nhiên của tỉnh đối với vấn đề sử dụng đất và biến độnghiện trạng sử dụng đất đồi núi tỉnh Quảng Nam (trong năm 2005 và 2010).Qua đó, xác lập yêu cầu sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

7 Những đóng góp của đề tài

- Phân tích đặc điểm các hợp phần tự nhiên tỉnh Quảng Nam, sự phân hóa cảnh quan tự nhiên tỉnh Quảng Nam và ảnh hưởng của nó đến vấn

đề sử dụng đất đồi núi

Trang 13

- Thể hiện sự biến động sử dụng đất đồi núi tỉnh Quảng Nam và đề xuất hướng sử dụng hợp lí đất đồi núi.

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về nghiên cứu sử dụng hợp lí đất đồi núitỉnh Quảng Nam

Chương 2: Đặc điểm địa lí tự nhiên và vấn đề sử dụng đất tỉnh QuảngNam

Chương 3: Biến động sử dụng đất đồi núi và đề xuất hướng sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

Trang 14

Sơ đồ Cấu trúc nội dung nghiên cứu

Cấu trúc nội dung nghiên cứu

Mục đích & nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan :

- Các công trình nghiên cứu về địa lí địa phương – ĐLTN và SD đất tỉnh Quảng Nam

- Cơ sở khoa học về SD hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam.

- CSDL về tự nhiên, KT - XH, HTSD đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

- Phương pháp nghiên cứu

Biến động SD đất đồi núi và đề xuất hướng

SD hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

* Vị trí địa lí và ý nghĩa đối với:

- Địa chất, kiến tạo

- Địa hình (đặc điểm chung, độ

cao, độ dốc, sự phân hóa địa hình)

- Khí hậu (đặc điểm chung, các

yếu tố khí hậu: t o , lượng mưa, tương quan nhiệt ẩm, phân mùa)

- Thủy văn (đặc điểm chung,

mạng lưới sông ngòi, lượng nước, thủy chế)

- Sinh vật (thực vật, động vật)

- Thổ nhưỡng: các loại đất,

nhóm đất theo đá mẹ (diện tích, đặc điểm phân bố)

* S ự phân hóa lãnh thổ tự nhiên với vấn đề SD đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

* Biến động sử dụng đất đồi núi tỉnh Quảng Nam (năm 2005 – năm 2010)

* Nguyên nhân và hệ quả của biến động sử dụng đất đồi núi tỉnh Quảng Nam Nam

* Xác định yêu cầu về

sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

* Đề xuất hướng sử dụng hợp lí đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

Đăc điểm ĐLTN & vấn đề SD đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

Cấu trúc nhịp điệu mùa  SD

Trang 15

Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu

Bản đồ

cảnh quan

Số liệu khí hậu

Số liệu thủy văn

Tư liệu sinh vật

Bản đồ HTSD Đất đồi núi 2010

Bản đồ HTSD Đất đồi núi 2005

Địa chất – kiến tạo

Đặc điểm chung địa hình

Đặc điểm thủy văn &

mạng lưới thủy văn

Đặc điểm chung khí hậu

Hệ thực vật, động vật

Nhóm đất theo Đá mẹ

Sự phân hóa tự nhiên

Phân hóa đặc điểm tự nhiên, nhịp điệu mùa

Địa chất – nham thạch

Đặc điểm các loại đất, nhóm đất

Phân cấp

Độ cao,

Độ dốc

Phân tích ảnh hưởng đến sự hình thành đất &

SD đất đồi núi

Biến động Đất đồi núi

2005 - 2010

Nguyên nhân,

hệ quả

Sự phân hóa địa hình

Phân tích các yếu tố Khí hâu

Phân tích các yếu tố Thủy văn

Biện pháp quản

Yêu cầu

sử dụng đất đồi núi

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG HỢP LÍ ĐẤT

TỈNH QUẢNG NAM 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1.Một số khái niệm cơ bản về nghiên cứu địa lí tự nhiên

- Thể tổng hợp địa lí tự nhiên (địa tổng thể)

Theo N.I.Mikhailov: “Thể tổng hợp địa lí tự nhiên là một bộ phận

của môi trường địa lí, là một lãnh thổ đồng nhất và phát sinh trong nhữngnét chung, trên đó do ảnh hưởng của các quá trình tự nhiên vốn có của nó

mà hình thành một cấu trúc cá thể nhưng hoàn toàn có quy luật của cácthành phần cấu tạo nên thể tổng hợp – cấu tạo địa chất, địa hình, nướctrên mặt và nước ngầm, thổ nhưỡng và các sinh quần Mỗi một thể tổnghợp trong số đó được phân biệt với các thể tổng hợp bên cạnh bởi nhữngranh giới địa lí”(1955)

Bên cạnh định nghĩa của N.I.Mikhailov còn có các định nghĩa khác

về thể tổng hợp địa lí tự nhiên như: Ixatrenko (1965), V.I Prokaev (1967),V.X Preobrajenxki (1966) Tuy chưa có sự thống nhất hoàn toàn về địnhnghĩa song tất cả các định nghĩa đều phản ánh rằng các thể tổng hợp địa lí

tự nhiên thuộc về các đơn vị lãnh thổ khu vực (cá thể) Nhưng thể tổnghợp địa lí tự nhiên là một khái niệm chung đối với mọi đơn vị cá thể cũngnhư kiểu loại Thể tổng hợp địa lí tự nhiên là một hệ thống có động lực cógiới hạn trong không gian và có sự thống nhất biện chứng của các thànhphần cấu tạo nên nó Mỗi một thể tổng hợp địa lí tự nhiên là một bộ phận

của lớp vỏ địa lí và có liên hệ chặt chẽ với nó [12]

Tổng hợp thể tự nhiên không phải là một tập hợp đơn giản, mà làmột phức hợp các yếu tố tạo nên một thực thể vật chất phức tạp có tínhtoàn vẹn và thống nhất Nó được coi là một hệ thống không gian và thờigian của các hợp phần địa lí có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân

bố và phát triển như một thể thống nhất [11]

Đồng nghĩa với thuật ngữ tổng thể tự nhiên, người ta thường sử

dụng "tổng thể địa lí" hay "địa tổng thể", tuy nhiên, thuật ngữ "địa tổng thể” rộng hơn, nó không những sử dụng cho các đối tượng địa lí tự nhiên,

mà cả các đối tượng địa lí KT - XH

- Cảnh quan

Khái niệm cảnh quan được sử dụng lần đầu tiên vào đầu thế kỷ

XIX Cảnh quan có nghĩa là phong cảnh (tiếng Đức – Landschaft) Khái

niệm cảnh quan được X.V Kalexnik đưa ra năm 1959 như sau: “Cảnhquan địa lí là một bộ phận của bề mặt đất, về mặt định tính, khác hẳn vớicác bộ phận khác, được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và là một

sự tập hợp các đối tượng, các hiện tượng tác động lẫn nhau một cách cóquy luật và thống nhất trong bản thân nó, được biểu hiện một cách điểnhình trên một không gian rộng lớn và có quan hệ không tách rời về mọimặt với lớp vỏ địa lí” [4]

Trang 17

Mặc dù đã hình thành khoa học về cảnh quan nhưng thuật ngữcảnh quan, tùy theo từng công trình nghiên cứu cụ thể vẫn được xem xéttheo 3 quan điểm sau:

+ Quan điểm xem cảnh quan là những cá thể địa lí không lặp lại trongkhông gian và là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lí tự nhiên, có nội dungxác định và chỉ tiêu rõ ràng Cảnh quan thể hiện sự tương hỗ của các hợpphần tự nhiên và các yếu tố thành tạo trên một lãnh thổ nhất định [80, tr.11].Quan niệm này được thể hiện trong các nghiên cứu của L.X Berg,A.A.Grigoriev (1957), X.V Kalexnik (1947-1959), A.G Ixatsenko (1965,1989), N.A.Xonlxev (1949), Vũ Tự Lập

+ Quan điểm cảnh quan là một khái niệm chung, có thể dùng chomọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kì cấp lãnh thổ nào Như vậy,khái niệm cảnh quan tương đương với thuật ngữ thể tổng hợp địa lí tựnhiên hay cảnh quan tự nhiên Các tác giả nghiên cứu theo quan điểm nàygồm có F.N Milkov, D.L Armand, P.X Kuzonhexov, V.P Prokaev

+ Quan điểm cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại Theo hướngnghiên cứu này có các tác giả B.B Polunov, K.K Markov, A.I Pereman

và N.A Gvoxdexki Cảnh quan là sự phối hợp, thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ Các đặc tính chung và riêng được thể hiện rõ ràng Quan điểm này cho rằng

cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổnghợp lãnh thổ tự nhiên Mỗi cấp phân vị được coi là một đơn vị cảnh quan

và được phân chia dựa vào hệ thống chỉ tiêu đặc trưng theo trật tự logic

từ trên xuống dưới Những đơn vị cảnh quan cấp thấp được coi là nhữngđơn vị cơ sở và phải thể hiện rõ và tập trung nhất các biểu hiện phân hóamang tính địa đới và phi địa đới, ảnh hưởng của các hoạt động của conngười và biểu hiện sự phân dị của lãnh thổ Quan điểm này đã được vậndụng nhiều trong các nghiên cứu cảnh quan của các tác giả trong và ngoàinước

Về bản chất, cảnh quan là một tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa cótính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất Chính điều đó đòi hỏi các nhàđịa lí khi nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phải xuất phát từ quan điểmtổng hợp và quan điểm hệ thống

- Cấu trúc cảnh quan

Một trong những đặc điểm thể hiện tính đa dạng cảnh quan lãnh

thổ là sự đa dạng trong cấu trúc cảnh quan Theo Kalexnik (1978): "Cấu trúc cảnh quan là tính tổ chức của các bộ phận cấu thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng thái theo thời gian (được xem như là cấu trúc không gian và thời gian của địa hệ)” Như vậy, nghiên cứu cấu trúc

cảnh quan bao gồm cả việc nghiên cứu cấu trúc không gian (cấu trúcthẳng đứng, cấu trúc ngang) và cấu trúc động lực của cảnh quan

Trang 18

Cấu trúc thẳng đứng của cảnh quan là mối liên hệ, quan hệ tác độngtương hỗ giữa các thành phần cấu tạo của cảnh quan, phụ thuộc vào hướngthay đổi của các thành phần cấu tạo trong quá trình phát triển cũng như vàotuổi và lịch sử phát triển của thể tổng hợp Cấu trúc thẳng đứng gồm cácthành phần cấu tạo nên cảnh quan là: Đá mẹ, địa hình cùng với lớp vỏphong hoá và thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, sinh vật và mối quan hệtương hỗ giữa chúng với nhau Các hợp phần này không phải là nhữngthành phần rời rạc mà giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ tạo nên tínhthống nhất trong cảnh quan Cấu trúc đứng thường phức tạp và kém đồngnhất ở các đơn vị lớn và đồng nhất hơn ở các đơn vị nhỏ Đơn vị cảnhquan tồn tại càng lâu thì cấu trúc của các thành phần cấu tạo sẽ càng đầy

đủ và độ dày theo chiều thẳng đứng sẽ càng lớn Độ dày của cấu trúcđứng trong các cảnh quan có khác nhau do: hình thành trong đới tích tụhay rửa trôi, do sườn thoải hay dốc, do điều kiện khí hậu nóng và ẩm haykhô và lạnh…

Vì vậy, khi nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên khu vực QuảngNam cần phải xem xét đồng thời tất cả các hợp phần thành tạo cảnh quantrong mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng Phân tích đặc điểm địa lí

tự nhiên đó tới việc thành tạo đất của tỉnh và yêu cầu sử dụng hợp lí đấtđồi núi tỉnh Quảng Nam Qua đó, đề xuất hướng sử dụng hợp lí tàinguyên đất đồi núi tỉnh Quảng Nam

Cấu trúc ngang của cảnh quan được xác định bởi số cấp phân vị và

số lượng cá thể của mỗi cấp Chính số lượng này phản ánh mức độ phứctạp, tính đa dạng, tính không đồng nhất của cảnh quan Mỗi cấp phân vị

có một cấu trúc ngang riêng, đồng thời mỗi một cá thể cùng một cấp phân

vị cũng có đặc điểm cấu trúc riêng Nghiên cứu cấu trúc ngang là nghiêncứu sự phân hoá phức tạp theo không gian lãnh thổ của các đơn vị cảnhquan theo hệ thống phân vị từ cao xuống thấp và mối quan hệ giữa cácđơn vị cảnh quan trong các cấp phân loại trong quá trình nghiên cứu cấutrúc ngang của cảnh quan thì địa chất, địa hình đóng vai trò chủ chốt Tạikhu vực tỉnh Quảng Nam, phân tích cấu trúc ngang có ý nghĩa lớn trongviệc quy hoạch sử dụng hợp lí đất đai của tỉnh đặc biệt là đất đồi núi

Trong phân tích cấu trúc cảnh quan cấu trúc thẳng đứng và cấu trúcngang của cảnh quan có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, không thể táchrời, nếu cấu trúc thẳng đứng càng không đồng nhất (thành phần cấu tạocàng phức tạp) thì cấu trúc ngang càng đa dạng do tính phân hoá lớn vàcàng phải có các biện pháp cụ thể trong sử dụng lãnh thổ

- Cấu trúc động lực

Bất cứ một cảnh quan nào cũng được tổ chức theo không gian vàthời gian, trong mối liên hệ bên trong giữa các bộ phận cấu thành Bảnchất của cảnh quan được thể hiện ở cách thức liên hợp của các bộ phậncấu thành cảnh quan, đó là sự hoạt động của cảnh quan theo thời gian dựa

Trang 19

trên cơ sở hoạt động động lực, các quá trình trao đổi vật chất năng lượngdiễn ra trong cảnh quan.

Cấu trúc thời gian của cảnh quan được thể hiện thông qua tính nhịpđiệu, đây là đặc điểm cơ bản của tất cả các quá trình địa lí tự nhiên Tínhnhịp điệu là một mặt không thể tách rời với sự phát triển đi lên của cảnhquan

Các loại nhịp điệu của cảnh quan là: nhịp điệu ngày, nhịp điệu mùa

và nhịp điệu nhiều năm Trong đó, nhịp điệu ngày và mùa được nghiêncứu nhiều hơn, đặc biệt là nhịp điệu mùa Đây là một trong các chỉ tiêuchủ yếu để phân loại cảnh quan, vì mỗi thành phần của cảnh quan có độnhạy cảm với tính nhịp điệu khác nhau nên mức độ biểu hiện cũng khácnhau có thể nhanh, chậm, mạnh hoặc yếu… Cũng như vòng tuần hoàn vậtchất và năng lượng, sự lặp lại của các hiện tượng, các quá trình khôngphải là khép kín mà theo hình xoáy trôn ốc phát triển của vỏ cảnh quan

1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên một khu vực dựa trên phân tích cấu trúc cảnh quan

Đặc điểm địa lí tự nhiên của một khu vực hình thành bởi các yếu tố:địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, nước, sinh vật và mối liên hệ tác động qualại giữa chúng trong thời gian Khi nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của mộtkhu vực chúng ta không chỉ nghiên cứu rời rạc từng nhân tố mà cần có sựtổng hợp Chính vì vậy, nghiên cứu đặc điểm tự nhiên một khu vực chính lànghiên cứu cấu trúc của cảnh quan (cấu trúc đứng, cấu trúc ngang và cấutrúc động lực)

- Mối quan hệ giữa các hợp phần cảnh quan (cấu trúc đứng cảnh quan) quy định đặc điểm chung địa lí tự nhiên của khu vực, thể hiện tính thống nhất của cảnh quan.

Nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên là nghiên cứu cấu trúc đứng củacảnh quan vì khi nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của một khu vực chính lànghiên cứu các nhân tố thành tạo cảnh quan: địa hình, khí hậu, thủy văn, đất,sinh vật và các mối liên hệ giữa chúng Khi nghiên cứu các nhân tố nàychúng ta không chỉ nghiên cứu từng nhân tố đơn lẻ mà cần phải biết xem xétchúng trong một hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh Trong hệ thống đóchúng vai trò ra sao, có sự liên hệ, tác động qua lại với nhau như thế nàotrong quá trình hình thành đặc điểm địa lí tự nhiên của khu vực đó Chínhmối liên hệ tác động qua lại rất phức tạp đó đã hình thành nên những đặcđiểm riêng biệt của từng khu vực Vì thế, xác định cấu trúc thẳng đứng củacảnh quan khu vực nào đó chính là xác định sự tham gia của các thànhphần tự nhiên vào quá trình phát sinh và phát triển của các cảnh quan Khinghiên cứu đặc điểm tự nhiên một khu vực phải tổng hợp, xem xét, đánh giácác nhân tố xem nhân tố nào là nhân tố trội, chủ yếu hình thành nên đặcđiểm riêng biệt của khu vực nghiên cứu

Trang 20

Trong tự nhiên, địa hình với đặc tính bảo thủ của mình có vai tròchủ đạo trong sự hình thành cảnh quan Tuy nhiên trong quá trình pháttriển của cảnh quan, vai trò chủ đạo luôn luôn thuộc về những thành phầncấu tạo năng động, tiến bộ Mặc dù vậy, sự tác động tương hỗ giữa cácthành phần cấu tạo địa lí rất đa dạng và phức tạp Vì thế, việc phân ra cácthành phần cấu tạo chủ đạo hay phụ thuộc chỉ có tính chất tương đối, chỉ

có ý nghĩa trong một thời điểm chứ không phải cả lịch sử phát triển củacảnh quan

- Sự phân hóa cảnh quan (cấu trúc ngang cảnh quan): phân vùng

và phân loại cảnh quan, thể hiện tính đa dạng về địa lí tự nhiên của khu vực.

Cấu trúc ngang bao gồm các địa tổng thể đồng cấp hay khác cấp tạo nên một đơn vị địa lí nhất định cùng mối quan hệ phức tạp giữa các địa tổng thể đó với nhau Theo tác giả Vũ Tự Lập, Khu vực tỉnh Quảng Nam thuộc xứ Đông Dương, thuộc miền Nam Trung Bộ và Nam bộ, Khu Công Tum Nam Ngãi (B1) Bao gồm 10 kiểu cảnh quan khác nhau

Như vậy, cấu trúc ngang nói lên tính không đồng nhất của địa tổngthể Địa tổng thể càng lớn, càng thuộc cấp phân vị cao càng có cấu trúcngang phức tạp

Nội dung của nghiên cứu cấu trúc ngang:

+ Tìm hiểu số lượng cấp dưới đang xét, số lượng cá thể mỗi cấp, đặctrưng của từng cá thể hay từng kiểu loại về mặt hình thái, diện tích, cấu trúc,động lực

+ Tìm hiểu mối quan hệ giữa các cá thể hay các kiểu loại, đánh giávai trò của chúng trong việc hình thành địa tổng thể

- Cấu trúc động lực: nhịp điệu theo thời gian của cảnh quan.

Khi nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên của khu vực không chỉ lànghiên cứu cấu trúc đứng, cấu trúc ngang, mà còn phải quan tâm nghiêncứu sự hình thành, phát sinh, phát triển của lãnh thổ đó theo thời gian

Nghiên cứu điều kiện địa lí tự nhiên theo cấu trúc động lực chính lànghiên cứu sự thay đổi đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu theo thờigian: nhịp điệu mùa, nhịp điệu năm Trong đó, nhịp điệu mùa đóng vaitrò quan trọng nhất

Các quá trình địa lí tự nhiên trong cảnh quan đều có tính chất nhịp điệu.Tính nhịp điệu là một mặt không thể tách rời với sự phát triển đi lên của cảnhquan Muốn tìm hiểu cấu trúc cảnh quan thì nghiên cứu nhịp điệu mùa cótầm quan trọng đặc biệt Nó là một trong các chỉ tiêu chủ yếu để phân loạicảnh quan (mỗi đới cảnh quan đều đặc trưng bởi một chế độ mùa riêngcho mình) Tính nhịp điệu mùa không phải là sự lặp lại đơn giản của mộthiện tượng Bởi mỗi một vòng chu kì, nhịp điệu, không phải là vòng khép

Trang 21

kín mà theo hình xoáy trôn ốc của sự phát triển Mỗi một chu kì tiếp theođều bắt đầu trên cơ sở có một biến đổi ít nhiều của chu kì trước

Những biến đổi về chế độ nhiệt ẩm theo mùa là cơ sở động lực củacác quá trình thiên nhiên theo mùa Do đó, nghiên cứu động lực cảnh quantheo mùa cần bắt đầu từ chế độ nhiệt ẩm Nhiệt độ bao gồm bức xạ vànhiệt bình lưu xâm nhập vào Sự tổn thất nhiệt do bốc hơi từ mặt đất, thựcvật và tuyết do hô hấp; quang hợp; trao đổi nhiệt nhiễu động với lớpkhông khí sát mặt đất Độ ẩm trong cảnh quan được cung cấp bởi mưa, sựngưng tụ trong đất, dòng chảy, băng, tuyết tan Về chế độ ẩm phải nghiêncứu cán cân nước nhằm đánh giá về số lượng động lực của sự xâm nhập

và tiêu ẩm, lượng trữ ẩm trong cảnh quan

Bên cạnh đó, nghiên cứu cấu trúc động lực là tìm hiểu động lựcphát triển cảnh quan Động lực phát triển cảnh quan phụ thuộc các yếu tốcủa tự nhiên (năng lượng bức xạ mặt trời, chế độ nhiệt, cơ chế hoạt độngcủa gió mùa, ) và hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Nhịp điệu

và xu thế biến đổi của nó phụ thuộc sự luân phiên tác động của chế độmùa vào lãnh thổ Tác động này làm biến đổi cảnh quan qua sự gia tăngcác quá trình tích tụ và trao đổi vật chất - năng lượng trong nó, cả nhữngtác động kìm hãm hay thúc đẩy các quá trình tự nhiên Tuy nhiên, yếu tốđộng lực có tính chất quyết định nhất đến biến đổi cảnh quan là các hoạtđộng khai thác lãnh thổ của con người Tác động của con người nếu theohướng tích cực (trồng và bảo vệ rừng, xây hồ chứa, ) tạo ra cân bằng tựnhiên, tăng sinh khối cảnh quan, cải thiện tốt môi trường khu vực Nếu lànhững tác động tiêu cực (phá rừng, làm thoái hoá đất, hoạt động kinh tếquá mức, ) làm biến đổi, suy thoái cảnh quan theo chiều hướng xấu

Cơ sở lí luận trên được vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm địa lí tự nhiên tỉnh Quảng Nam Trên cơ sở phân tích đặc điểm các nhân tố tự nhiên của khu vực và mối liên hệ giữa chúng, xác định nhân tố trội trong quá trình hình thành đất của khu vực tỉnh Sự phân hóa của cảnh quan kết hợp với tính nhịp điệu mùa, diễn thể sinh thái đã đặt ra các yêu cầu

về sử dụng hợp lí đất đồi núi của tỉnh Qua đó, việc phân tích cấu trúc cảnh quan còn là cơ sở để đưa ra các đề xuất sử dụng hợp lí đất đồi núi của tỉnh Quảng Nam.

1.2 Cơ sở lí luận về sử dụng hợp lí đất đai

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Đất, đất đai

a Đất

Trang 22

Thổ nhưỡng hay gọi là đất, là một thành phần của lớp vỏ địa lí,phân bố ở bề mặt các lục địa Đây là nơi tiếp xúc, thâm nhập và tác độngqua lại của tất cả các thành phần tự nhiên, vì thế đất có thành phần vậtchất, cấu trúc phức tạp và đa dạng nhất trong lớp vỏ địa lí.

Cuối thế kỉ XIX, lần đầu tiên khái niệm về đất trên cơ sở phát sinhhọc mới được đề xuất bởi nhà thổ nhưỡng học người Nga V.V.Docusaev

(1846 – 1903): “Đất là một vật thể tự nhiên hoàn toàn độc lập, là sản phẩm của hoạt động tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, tuổi và địa hình địa phương”.

Sau này, nhiều nhà thổ nhưỡng đã nêu ra các định nghĩa khác nhau

về đất, trong đó có định nghĩa về đất của V.R.Viliam (1863 – 1930) cho ta

nhận thức đầy đủ hơn về đất: “Đất là lớp tơi xốp ở bề mặt lục địa, có khả năng cho thu hoạch thực vật Độ phì là một tính chất hết sức quan trọng

của đất, là đặc trưng cơ bản của đất” [4]

Theo Food And Agriculture Organization (FAO): “Đất (soil) là một vật thể tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con

người” [8]

b Đất đai

Theo FAO: “Đất đai (land) là một vùng đất xác định về mặt địa lí,

là một thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kì cóthể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó nhưlà: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật cư trú, nhữnghoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tínhnày ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vùng đất đó của con ngườihiện tại và trong tương lai Nói cách khác, đất đai là một vùng đất có ranhgiới, vị trí cụ thể và các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh

tế và xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủyvăn, động vật, thực vật và hoạt động sản xuất của con người

- Duy trì và nâng cao sự phục vụ sản xuất (tính sản xuất)

- Giảm mức độ nguy cơ cho sản xuất (tính ổn định)

- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên (tính bảo vệ)

Trang 23

- Có thể đứng vững được nền kinh tế (tính kinh tế)

- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội (tính chấp nhận được)

b Khả năng đất đai

Khả năng đất đai là tiềm năng của đất đai cho các loại hình sử dụnghay các hoạt động quản lí cụ thể Nó không nhất thiết phải là loại sử dụngtốt nhất hay có lợi ích nhất Việc phân loại đất đai chủ yếu dựa vào cácyếu tố tự nhiên thể hiện các hạn chế (những đặc điểm của đất đai gây trởngại cho việc sử dụng đất)

Các hạn chế bao gồm:

- Hạn chế lâu dài: là những hạn chế khó khắc phục bằng các biệnpháp cải tạo thông thường (độ dốc, độ dày từng đất, thành phần cơ giớiđất…)

- Hạn chế tạm thời: có thể cải tạo bằng các biện pháp chăm sóc,quản lí (hàm lượng dinh dưỡng, khả năng điều tiết nước…)

Việc phân loại khả năng đất đai chủ yếu dựa vào hạn chế lâu dài vàcác chỉ tiêu xác định giới hạn khả năng đất đai là khác nhau ở các quốcgia

d Suy thoái đất

Đất là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá được hình thành trongthời gian hàng triệu năm Suy thoái đất là sự suy giảm chất lượng đát theothời gian do tác động riêng hoặc đồng thời của các nhân tố tự nhiên vàcủa con người Ở miền đồi núi nước ta nói chung và đất đồi núi tỉnhQuảng Nam nói riêng, sử dụng đất đai không hợp lí là tác nhân chủ yếulàm suy thoái tài nguyên đất Trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ẩm giómùa, các hiện tượng suy thoái đất thường xuyên xảy ra ở nước ta và tỉnhQuảng Nam là: xói mòn đất, trượt lở, lũ, lũ quét, lũ ống

e Loại hình sử dụng đất

Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đấtcủa một vùng đất với những phương thức quản lí sản xuất trong các điềukiện kinh tế – xã hội và kĩ thuật xác định Những loại hình này có thểhiểu theo nghĩa rộng là các loại hình quản lí sử dụng đất, các loại hình sửdụng đất chính hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn với khái niệm các kiểu

sử dụng đất tùy theo cấp độ quy hoạch sử dụng đất Trong quy hoạch tổngthể sử dụng đất lãnh thổ, các loại hình quản lí sử dụng đất được xác địnhnhư: đất lâm nghiệp gồm có: loại hình rừng phòng hộ, rừng đặc dụng,rừng sản xuất; đất nông lâm kết hợp; đất nông nghiệp sản xuất Trong quy

Trang 24

hoạch sử dụng đất cụ thể hơn, các loại hình sử dụng đất chính là sự phânnhánh chính của sử dụng đất như nông nghiệp nhờ mưa, nông nghiệpthủy lợi, đồng cỏ chăn thả gia súc… Kiểu sử dụng đất là một loại sử dụngđất đai, được mô tả chi tiết theo các thuộc tính nhất định để đánh giá cácyêu cầu sử dụng đất và để lập kế hoạch đầu tư cần thiết trong sản xuấtnông lâm nghiệp, kiểu sử dụng đất được hiểu khái quát là những hìnhthức sử dụng đất đai để sản xuất một hay một nhóm cây trồng, vật nuôitrong chu kì một hay nhiều năm.

g Quy hoạch sử dụng đất đai

Là tổng hợp các kết quả đánh giá đất đai theo yêu cầu sử dụng haycác kết quả phân loại khả năng sử dụng đất đai với các nghiên cứu về tìnhhình kinh tế xã hội, thị trường để đề xuất các phương hướng sử dụng đấtđai hợp lí

1.2.2.Đất là một hợp phần liên quan đến các hợp phần trong tổng thể lãnh thổ tự nhiên - các nhân tố hình thành đất

Đất là một thực thể tự nhiên được hình thành do tác động qua lạicủa các nhân tố bên ngoài khác nhau, là sản phẩm tác động tương hỗkhăng khít, chặt chẽ giữa các thành phần vô cơ với thành phần hữu cơthông qua hai quá trình đại tuần hoàn địa chất và tiểu tuần hoàn sinh vật.V.V Đôcusaev cho rằng: "thổ nhưỡng là lớp vỏ ngoài hoặc lớp bề mặtnham thạch, biến hoá một cách tự nhiên dưới tác động tương hỗ của cácnhân tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và tuổi khu vực" Năm nhân tốnày không tác động riêng rẽ trong quá trình hình thành thổ nhưỡng màkết hợp với nhau một cách chặt chẽ

Hình 1.1: Đất được hình thành và phát triển do tác động

của các yếu tố hình thành đất

Nhân tố

đá mẹ

Nhân tố địa hình

Nhân tố khí hậu

Nhân tố sinh vật

Nhân tố thời gian Đất được hình

thành và phát triển

Trang 25

1.2.2.1 Đá mẹ

Các loại đá nằm trong thiên nhiên chịu tác dụng lí học, hoá học vàsinh học dần dần bị phá huỷ thành một sản phẩm được gọi là mẫu chất.Trong mẫu chất mới chỉ có các nguyên tố hoá học chứa trong đá mẹ sinh

ra nó, còn thiếu một số thành phần quan trọng như chất hữu cơ, đạm,nước vì thế thực vật thượng đẳng chưa sống được Trải qua một thờigian dài nhờ tác dụng của sinh vật tích luỹ được chất hữu cơ và đạm, thựcvật thượng đẳng sống được, có nghĩa là đã hình thành thổ nhưỡng Nhưvậy có thể nói nguồn gốc ban đầu của đất là từ đá mẹ

Ví dụ ở nước ta có đất nâu đỏ trên đá bazan, đất nâu đỏ trên đá vôi,đất vàng đỏ trên phiến thạch sét hoặc đá biến chất như phiến thạch mica,Gơnai [3]

Đá mẹ là cơ sở vật chất ban đầu và cũng là cơ sở vật chất chủ yếutrong sự hình thành đất Đá mẹ là nền móng và bộ khung của một côngtrình tự nhiên phức tạp hình thành nên đất Thành phần và đặc tính lí hoáhọc của thổ nhưỡng phụ thuộc rất nhiều vào thành phần và tính chất líhoá học của đá mẹ hay có thể nói: đá mẹ là nguồn cung cấp vật chất vô

cơ cho đất, quyết định thành phần khoáng vật, thành phần hoá học, cơgiới của đất, ảnh hưởng tới tính chất của đất Các loại đá mẹ khác nhau cóthành phần khoáng vật và hoá học khác nhau, do vậy trên các loại đá mẹkhác nhau hình thành nên các loại đất khác nhau Chính vì vậy, mỗi khixét đặc tính của một loại đá nào, cần phải xem xét cả những đặc điểm địachất của vùng đó

Ví dụ:

– Đất hình thành trên đá mẹ là granít có độ dầy tầng đất từ mỏngđến trung bình, thành phần cơ giới nhẹ, tỉ lệ sạn, cát cao và nghèo cácchất dinh dưỡng

– Đất hình thành trên đá mẹ là bazan có tầng đất đất rất dầy, thànhphần cơ giới nặng và chứa nhiều các chất dinh dưỡng

– Đất hình thành trên đá diệp thạch, đá vôi… sẽ chứa nhiều sét Đấthình thành từ những sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ có tính chấtchua như granit, riôlit thì đất cũng mang tính chua…

Trong việc nghiên cứu, phân loại đất vùng đồi núi Việt Nam chúng

ta thường dựa vào cơ sở đầu tiên là đá mẹ

Màu sắc của đất cũng được quyết định bởi đá mẹ Đất phát triểntrên các sản phẩm phong hóa của các đá thạch anh sẽ có màu xám tro; đấtphát triển trên các đá sa thạch thường có màu vàng nhạt; đất phát triểntrên đá vôi sẽ có màu nâu, đen, đỏ hoặc vàng…

Những thành phần và tính chất của đất chịu ảnh hưởng của đá mẹđược biểu hiện rõ nhất ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành đất, vềsau chúng có thể bị biến đổi do các quá trình hóa học và sinh học xảy ratrong đất

Trang 26

Đá mẹ hình thành đất được chia làm ba loại chính: Đá mắc ma, đábiến chất và đá trầm tích.

Đá mắc ma: được hình thành do quá trình đông đặc và nguội dần

của những khối mắc ma nóng chảy Đá mắc ma có hai loại là đá mắc maxâm nhập và đá mắc ma phun trào Nếu dung dịch mắc ma đông cứngdưới sâu (trong vỏ Trái Đất) tạo đá mắc ma xâm nhập, ngược lại dungdịch macma phun trào ra phía ngoài mặt vỏ Trái Đất rồi đông cứng lại thìtạo nên đá mắc ma phun trào Đá macma có nhiều loại khoáng vật khácnhau, có kiến trúc và cấu tạo phức tạp Trong vỏ Trái Đất đá nằm ở nhiềuthể: tường mạch, nền, trụ, nấm, lớp phủ, vòm phủ Những loại đá mắc

ma thường gặp là; Pecmatit, Granit, Liparit và Poocfia thạch anh,Sienit…

Đá trầm tích: được tạo thành do kết quả của quá trình tái trầm tích

các sản phẩm phong hóa của đá khác hoặc do sự tích tụ, lắng đọng củaxác hữu cơ Nó có đặc điểm là phân lớp, kiến trúc hạt, kích thước hạtkhác nhau, thành phần khoáng vật đơn giản hơn các đá khác Những loại

đá trầm tích thường gặp: Đá cát, đá bột cát, đá phiến sét, đá hỗn hợp.Những loại đá trầm tích hóa học và sinh học là: đá vôi, đá phiến apatit,than bùn, than đá

Đá biến chất: Đá biến chất là đá được hình thành do đá macma, đá

trầm tích bị biến đổi mạnh mẽ trong điều kiện nhiệt độ cao và áp suất lớn

Nguyên nhân tạo nhiệt độ cao và áp suất lớn là các hoạt động địachất diễn ra trong vỏ Trái Đất như hoạt động macma, hoạt động kiến tạo

Những loại đá biến chất thường gặp là: Gơnai, đá hoa, Quăczit,amphibolite, đá phiến kết tinh và đá phiến philit Ở Việt Nam đá gơ – nai

và đá phiến thạch kết tinh là nền nham thạch chính của lớp đá mẹ hìnhthành đất feralit đỏ vàng

1.2.2.2 Địa hình

Địa hình là nhân tố hình thái rất đặc biệt có ảnh hưởng rất quantrọng đến sự hình thành và phân bố của tài nguyên đất Độ cao, hướngdốc, trạng thái bề mặt của địa hình ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ và độ

ẩm của đất Độ dốc, hướng gió ảnh hưởng đến cường độ bốc hơi nước tùytheo điều kiện địa hình Địa hình còn tạo nên sự phân hóa khí hậu do đócũng ảnh hưởng đến sự tạo thành và sự phân bố của đất

Trong quá trình hình thành đất, địa hình ảnh hưởng rất lớn đến sựtác động của các nhân tố khác như:

- Sự di chuyển vật chất của vỏ phong hóa: Địa hình ảnh hưởngtới sự hình thành đất thông qua độ dốc của nó và tác động của trọng lực.Lớp trên cùng của thổ nhưỡng bị bào mòn dần và một khối lượng vật chất

bị vận chuyển xuống nơi thấp hơn do tác động của các dòng chảy trênmặt Ở những nơi địa hình càng dốc (vùng núi cao, vùng cao ở các đồngbằng…) thì quá trình bào mòn, xói mòn đất diễn ra càng mạnh, đặc biệtkhi lớp phủ thực vật bị mất đi hoặc do con người tiến hành những biện

Trang 27

pháp canh tác thiếu khoa học Ngược lại, trong các thung lũng ở vùng đồinúi hoặc vùng trũng ở đồng bằng diễn ra quá trình tích luỹ các chất.Chính tác động đó khiến cho tầng đất ở những khu vực này dày hơn ởvùng cao hơn và cả ở các sườn Quá trình di chuyển vật chất này có ýnghĩa rất lớn trong sự phân bố lại vật chất của thổ nhưỡng.

Bên cạnh đó, lượng nước trong đất cũng phụ thuộc địa hình; vùngcao thường thiếu nước, quá trình ôxi hoá diễn ra mạnh; Vùng trũngthường dư ẩm, quá trình khử chiếm ưu thế kết quả ở các địa hình khácnhau hình thành nên các loại đất khác nhau

Do vậy quá trình hình thành đất sẽ không đồng nhất ở tất cả cácdạng địa hình Thậm chí, trong cùng một khu vực đất ở những địa hìnhcao thấp khác nhau có những đặc điểm khác nhau về thành phần hóa học,

độ PH, độ ẩm…

- Địa hình còn ảnh hưởng tới sự hình thành và phân bố của cácloại đất theo đai cao thông qua yếu tố khí hậu và sinh vật Càng lên caonhiệt độ càng giảm dần cứ lên cao 100 m, nhiệt độ giảm 0.6o C, đồng thời

ẩm độ tăng lên Khi lên cao các điều kiện khí hậu đều thay đổi theo quyluật: tổng xạ tăng lên theo độ cao vì độ dày của khí quyển giảm, khôngkhí loãng hơn so với bức xạ nhiệt của mặt đất Cán cân nhiệt ở khu vựcmiền núi cao thường thấp hơn khu vực dưới thấp, khí hậu thường lạnhhơn nên quá trình hình thành đất diễn ra chậm Tuy nhiên biên độ nhiệtlớn giữa ngày và đêm cũng làm giảm đi các hoạt động sinh học của thựcvật và vi sinh vật Vì vậy, ở khu vực miền núi cao thổ nhưỡng thường cótầng mùn thô rất dày

1.2.2.3 Khí hậu

Nhân tố khí hậu được coi là nhân tố tiên phong, giữ vai trò độnglực trong quá trình hình thành đất Chính các yếu tố của khí hậu như:nhiệt độ, lượng mưa và các chất khí (oxi, cácbonic, nitơ ) đã phá hủy đágốc thành những sản phẩm phong hóa, từ đó hình thành nên đất Khí hậuquyết định chế độ nhiệt ẩm của đất Các chế độ này có ảnh hưởng đến cácquá trình phong hoá và di chuyển vật chất trong đất

Khí hậu ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất thông qua haihướng:

+ Ảnh hưởng trực tiếp: khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến quá trìnhhình thành đất thông qua các yếu tố nhiệt và ẩm Chế độ nhiệt và ẩm ảnhhưởng đến quá trình phong hoá đá và nhiều quá trình diễn ra trong đấtnhư : khoáng hoá, mùn hoá, rửa trôi, xói mòn chịu sự tác động rõ rệtcủa khí hậu

Chế độ nhiệt ở một mức độ đáng kể quyết định cường độ của cácquá trình cơ học, địa hóa và sinh học diễn ra trong đất Do các đá vàkhoáng vật không phải cấu tạo bởi cùng một chất mà nó là sản phẩm củamột tập hợp các chất khác nhau Chính sự không đồng nhất đó mà khinhiệt độ thay đổi đặc biệt khi biên độ nhiệt càng lớn thì các chất đó có sự

Trang 28

giản nở vì nhiệt khác nhau làm cho các đá và khoáng vật đều bị nứt nẻ.

Đó là điều kiện thuận lợi cho quá trình phong hóa cơ học và hóa học diễn

ra Bên cạnh đó, chế độ nhiệt không đồng nhất ở các vùng khác nhaucũng làm cho các phản ứng hóa học xảy ra trong thổ nhưỡng cũng có sựchênh lệch đáng kể

Chế độ nước cũng ảnh hưởng rõ rệt đến thổ nhưỡng Sự tồn tại củanước là một trong những điều kiện quan trọng của quá trình lí, hóa, sinhhọc xảy ra trong đất Các dòng chảy trên mặt thường vận chuyển các vậtchất ở tầng trên của thổ nhưỡng Những vùng có lượng mưa lớn hơnlượng bốc hơi, lượng nước thừa sẽ di chuyển trên mặt đất và thấm sâuxuống đất tạo nên các quá trình xói mòn và rửa trôi Các nguyên tố kiềmtrong đất rất dễ bị rửa trôi, do vậy, ở những nơi có lượng mưa càng lớn thìđất bị hoá chua càng mạnh

VD: Với đặc điểm của một nước nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiềunhư nước ta, loại đất hình thành chủ yếu là đất feralit Loại đất này có đặcđiểm chua (do chất kiềm: K, Ca, Na bị rửa trôi mạnh), ít mùn, các chấtchủ yếu trong đất là sắt và nhôm trong nhiều trường hợp còn hình thànhkết von, đá ong hóa

Mối tương quan giữa lượng mưa và độ chua được thể hiện ở bảngsau

Bảng 1.1: Ảnh hưởng của lượng mưa đến độ chua của đất

(Theo Jenny – Bán đảo Mabrikia)

Lượng mưa hàng

năm (mm)

Nhiệt độ(oC)

H+

(me/100g đất)

Tổng cationkiềm trao đổi(me/100g đất)

hưởng gián tiếp của khí hậu tới đất thông qua chuỗi tác động: “Khí hậu

Sinh vật (đặc biệt thực vật)  Đất” Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng

trực tiếp đến tính chất, cường độ phát triển của giới sinh vật và đến tất cảchức năng mà sinh vật hoàn thành trong đất Chính giới sinh vật (đặc biệt

là thực vật) ảnh hưởng đến đặc tính lí hóa của đất (độ thoáng khí, độ xốp,

độ PH…) Điều kiện khí hậu còn quyết định một quy luật quan trọng củađịa lí thổ nhưỡng, đó là tính địa đới Mối quan hệ của khí hậu và các kiểuđất đã được các nhà thổ nhưỡng học chú ý từ lâu

Trong hoàn cảnh nào đó, ở một chừng mực nào đó, trong các nhân

tố hình thành đất thì nhân tố khí hậu gần như quyết định hơn những nhân

Trang 29

tố khác Nhưng quá trình hình thành đất vẫn là kết quả tác động đồng thờicủa các nhân tố đã được kể ở trên.

1.2.2.4 Sinh vật

Sự hình thành đất trên bề mặt Trái Đất chỉ bắt đầu khi sự sống xuấthiện Bất cứ loại đá nào dù có bị phá huỷ và bị phong hoá sâu sắc đến đâucũng chưa phải là đất Chỉ có sự tác động tương hỗ lâu dài của đá mẹ vớisinh vật (đặc biệt là thực vật) trong những điều kiện khí hậu nhất địnhmới tạo nên những chất lượng riêng, làm cho đất khác với đá gốc Có thểnói, sinh vật là nguồn gốc thành phần hữu cơ của đất Bằng những hoạtđộng sinh sống của mình, sinh vật tham gia vào sự phân huỷ, sự hìnhthành chất mùn, chất có liên quan đến tính chất căn bản của thổ nhưỡng

Tham gia vào quá trình hình thành đất có nhiều loại sinh vật khácnhau nằm trong 3 ngành chính là: thực vật màu xanh, động vật và vi sinhvật

+ Vai trò của thực vật:

Thực vật là nguồn cung cấp chất hữu cơ chủ yếu cho mẫu chất vàđất (khoảng 4/5 lượng hữu cơ trong đất) Trong hoạt động sống của mình,các loài thực vật hút nước và các chất khoáng trong mẫu chất và đất, đồngthời nhờ quá trình quang hợp tạo thành các chất hữu cơ trong cơ thể Saukhi chết, xác của chúng rơi vào mẫu chất và đất bị phân giải trả lại cácchất lấy từ đất và bổ sung thêm cácbon, nitơ tạo thành chất hữu cơ trongmẫu chất Sự tích luỹ chất hữu cơ làm cho mẫu chất xuất hiện độ phì vàchuyển thành đất Dây truyền đất – cây – đất diễn ra liên tục trong tựnhiên làm cho độ phì đất tăng dần Nhờ khả năng đồng hóa các bon củathực vật xanh, hàng năm chúng có thể tạo ra một khối lượng khổng lồ vậtchất hữu cơ (Theo ước tính của FAO, con số này có thể đạt 53 tỉtấn/năm) [4]

Cùng với nhân tố khí hậu, lớp phủ thực vật có vai trò quyết địnhđến chiều hướng của quá trình hình thành đất Do đó, đất có đặc điểm,tính chất riêng biệt tùy theo sự phân bố của từng loại cây Một số loàithực vật được dùng làm cây chỉ thị cho một số tính chất của đất Ví dụ:cây sim, cây mua là cây chỉ thị cho đất chua, cây sú vẹt chỉ thị của đấtmặn

Động vật sống trong đất có nhiều loài như: giun, kiến, mối Giunđất có vai trò rất lớn trong sự tạo độ phì đất Theo Russell, một hecta đấttốt có thể có tới 2.500.000 cá thể các loại giun Giun ăn đất, phân giun là

Trang 30

các hạt kết viên bền vững làm cho đất tơi xốp Khi chết xác chúng đượcphân giải cung cấp nhiều nitơ và các chất khoáng cho đất [3]

Động vật góp phần bổ sung chất hữu cơ và làm tăng độ phì đất

+ Vai trò của vi sinh vật

Tập đoàn vi sinh vật trong đất rất phong phú với nhiều chủng loạikhác nhau Về số lượng có thể có tới hàng trăm triệu con trong một gamđất

Các kết quả nghiên cứu cho thấy rất nhiều quá trình diễn ra trongđất có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của tập đoàn vi sinh vật đất.Quá trình phân giải xác hữu cơ, quá trình hình thành mùn, quá trìnhchuyển hoá đạm trong đất, quá trình cố định đạm từ khí trời trải quanhiều phản ứng, nhiều giai đoạn, mỗi phản ứng đều có sự tham gia củamột loài sinh vật cụ thể

Hầu hết các loài vi sinh vật đều sinh sản theo cách tự nhân đôi nênlượng sinh khối tạo ra trong đất lớn, sau khi chết xác các loài vi sinh vật

bị phân giải góp phần cung cấp chất hữu cơ và tạo độ phì đất

Như vậy, sau khi sự sống xuất hiện, giới sinh vật đã có những tácđộng sâu sắc về nhiều mặt tới mẫu chất để chuyển mẫu chất thành đất,sinh vật tiếp tục tác động với đất để đất ngày càng phát triển Nói cáchkhác nếu không có sinh vật thì chưa có đất, vì vậy các nhà khoa học chorằng sinh vật là yếu tố quyết định trong sự hình thành đất

1.2.2.5 Thời gian

Sự hình thành thổ nhưỡng là một quá trình lâu dài Trong quá trìnhlâu dài đó, đất phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển kế tiếp nhau Trongtừng giai đoạn, tính chất của đất cũng khác nhau Thời gian hình thànhđất được hiểu là tuổi của khu vực mà đất được hình thành (tuổi đất) Đất

có tuổi càng cao, thời gian hình thành đất càng dài thì sự phát triển củađất càng rõ rệt Tính chất lí học, hóa học, độ phì nhiêu của đất phụ thuộcnhiều vào tuổi của đất Thời gian hình thành đất dài hay ngắn ảnh hưởngđến mức độ biến đổi lí học, hóa học và sinh học trong đất

Tuổi của đất được chia làm hai loại: tuổi tuyệt đối và tuổi tươngđối

Tuổi tuyệt đối được tính từ khi một loại đất được hình thành chođến ngày nay Tuổi tuyệt đối được tính bằng lượng cacbon hữu cơ trongđất hay là tuổi mùn của đất Để xác định tuổi của mùn, người ta dùngphương pháp đo lượng đồng vị phóng xạ cacbon C12 có 2 đồng vị phóng

xạ là C13 và C14, trong cơ thể sống của thực vật tỉ lệ C13 và C14 là một hằng

số và giống trong khí quyển Sau khi chết C14 không bền và bị phân huỷgiảm dần, từ lượng C14 còn lại trong mùn dựa vào chu kì bán phân rã của

C14, tính được tuổi của mùn trong đất Bằng phương pháp trên, Devries(1958) đã xác định tuổi của đất vàng (hoàng thổ) ở Úc từ 32–42 ngànnăm

Trang 31

Tuổi tương đối của đất là sự chênh lệch về giai đoạn phát triển giữacác loại đất có cùng tuổi tuyệt đối Nó được dùng để đánh giá sự pháttriển và biến đổi diễn ra trong đất nên không tính được bằng thời gian cụthể Dựa vào hình thái đất để có các nhận xét về hình thành và phát triểncủa đất Ví dụ: Sự phân tầng chưa rõ của phẫu diện thường gặp ở nhữngloại đất mới được hình thành Sự hình thành kết von hoặc đá ong trongmột số loại đất đỏ vàng chứng tỏ đất đã phát triển tới mức cao (già hơn)

so với đất cùng loại chưa có kết von

1.2.2.6 Con người

Con người là một trong những nhân tố hình thành đất nhưng khôngphải đối với mọi loại đất Vì sự phát sinh, phát triển của đất đã diễn ratrước khi con người xuất hiện trên Trái Đất

Đối với một số loại đất, nhân tố con người đóng vai trò rất quantrong trong quá tình hình thành chúng Nếu ảnh hưởng của những nhân tố

tự nhiên tới đất xuất hiện một cách tự phát thì con người, trong quá trìnhhoạt động kinh tế của mình lại tác động vào đất một cách có định hướngnhất định Con người có thể làm cho quá trình hình thành đất bị gián đoạnhoặc thay đổi hướng phát triển tương ứng với nhu cầu phát triển củamình VD: Đất phù sa, đất xám bạc màu, đất mặn, đất phèn sau một thờigian sử dụng gieo trồng lúa nước sẽ hình thành nên đất lúa nước

Con người đã có những tác động rất sâu sắc đối với các vùng đấtđược sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Sự tác động vềnhiều mặt trong quá trình sử dụng đất đã làm biến đổi nhiều vùng theocác hướng khác nhau, hình thành nên một số loại đất đặc trưng

Những tác động tốt của con người như: Bố trí cây trồng phù hợpvới tính chất đất; xây dựng các công trình thuỷ lợi; đắp đê ngăn lũ vànước mặn; bổ sung chất dinh dưỡng trong đất bằng các loại phân bón;bảo vệ đất; cải tạo tính chất xấu của đất làm cho đất biến đổi theo chiềuhướng tốt dần lên Ngược lại, những tác động xấu như: Bố trí cây trồngkhông phù hợp; bón phân không đầy đủ; chặt phá rừng làm nương rẫy;không thực hiện tốt các biện pháp chống thoái hoá đất sẽ làm cho đấtbiến đổi theo chiều hướng xấu

Tóm lại, quá trình hình thành đất không phải là kết quả tác độngcủa một nhân tố riêng rẽ nào cả mà nó là kết quả của quá trình tác độngtổng hợp, đồng thời của các nhân tố tự nhiên, nhân tố thời gian và conngười Các nhân tố hình thành đất là các thành tố của một hệ thống hoànchỉnh Sự thay đổi một nhân tố này sẽ dẫn đến sự thay đổi của các nhân tốcòn lại Chính vì vậy, khi sử dụng đất con người cần xem xét kĩ lưỡng,đặt nó trong mối quan hệ với các hợp phần khác

Cơ sở lí luận về sử dụng đất hợp lí nêu trên được đề tài vận dụng vào phân tích ảnh hưởng của đặc điểm địa lí tự nhiên đến sự hình thành

và phân bố đất tỉnh Quảng Nam, qua đó tác động đến tình hình sử dụng đất và vấn đề sử dụng hợp lí đất tỉnh Quảng Nam

Trang 32

1.2 Cơ sở thực tiễn về sử dụng đất tỉnh Quảng Nam

1.2.1.Tình hình kinh tế – xã hội liên quan đến sử dụng đất

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên hải Nam Trung

Bộ, được tái lập từ tháng 1 năm 1997, được tách ra từ tỉnh Quảng Nam –

Đà Nẵng với diện tích toàn tỉnh: 10.438,37 km2, với dân số: 1.450,1nghìn người (niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam 2012), chiếm khoảng3,15% diện tích tự nhiên và 1,63% dân số của cả nước

Về đơn vị hành chính, Tính đến 31/12/2012: Tỉnh Quảng Nambao gồm 18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: 16 huyện (ĐôngGiang, Tây Giang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, NamGiang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Thăng Bình, Tiên Phước, Bắc Trà My,Nam Trà My, Núi Thành, Phú Ninh, Nông Sơn) và 02 thành phố (Tam

Kỳ, Hội An) Trong đó có 9 huyện miền núi Tổng diện tích khu vực miền núi

là diện tích 776.069,12 ha, chiếm 74,34% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh.Dân số năm 2012 đạt 292.800 người, chiếm 20,19% dân số toàn tỉnh (niêngiám thống kê tỉnh Quảng Nam 2012)

1.2.1.1.Đặc điểm dân cư, sự phân bố dân cư và nguồn lao động

a Dân số và sự gia tăng dân số

Theo niêm giám thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2012, dân sốQuảng Nam đạt 1.450,1 nghìn người với mật độ dân số là 139 người/

km2 Tỉ lệ gia tăng dân số của tỉnh có xu hướng giảm dần Từ năm 2000 tỉ

lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh đạt: 1,438% và duy trì ở mức trên 1% đếnnăm 2009 (đạt 1,22%) từ năm 2010 đến nay tỉ lệ gia tăng tự nhiên giảmcòn ở mức 0,855% Như vậy, Quảng Nam là một tỉnh có quy mô dân sốtrung bình, cơ cấu dân số trẻ và đa phần trong độ tuổi lao động

Hiện nay, trên toàn tỉnh gồm các dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Cơ Tu,

Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor và một số tộc người thiểu số mới di cư đếncùng chung sống Trong đó có 4 tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người

Cơ Tu, người Cor, người Giẻ Triêng, người Xê Đăng sự phong phú đadạng về thành phần dân tộc và vị trí trung tâm giao thoa văn hóa của cácluồng văn hóa trong khu vực Đông Nam Á đã tạo tiền đề thuận lợi choQuảng Nam là một trung tâm văn hóa của khu vực

a Phân bố dân cư và nguồn lao động

* Sự phân bố dân cư

Sự phân bố dân cư của tỉnh Quảng Nam được thể hiện trong bảng

số liệu thống kê sau:

Bảng 1.2: Diện tích, dân số và mật độ dân số tỉnh Quảng Nam

STT Đơn vị hành chính Diện tích

( km 2 )

Dân số trung bình (nghìn người)

Mật độ dân số (Người/ km 2 )

Trang 33

4 Huyện Đông Giang 812,63 24,2 30

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2012)

Sự phân bố dân cư tỉnh Quảng Nam có sự thay đổi rõ rệt Khu vựcmiền núi gồm các huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, PhướcSơn, Nông Sơn và Nam Trà My, Bắc Trà My Vùng này có diện tích rộngchiếm khoảng 65,26% toàn tỉnh Song mật độ dân số ở đây thấp (khoảng

30 người/ km2) và phân bố rải rác Vùng trung du gồm các huyện ĐạiLộc, Quế Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, có mật độ dân số khoảng 193người/ km2 gấp 6,4 lần vùng miền núi Vùng hạ lưu ven biển trải rộngtrên địa bàn 6 huyện, thành phố: Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, ThăngBình, Tam Kỳ, Phú Ninh và Núi Thành với phần lớn hoạt động kinh tế xãhội tập trung ở đây Vùng này có diện tích hẹp, chỉ chiếm khoảng 18%tổng diện tích Quảng Nam, nhưng dân số đông đúc (mật độ dân số 706người/ km2)

Về tỉ lệ dân thành thị và nông thôn , Số lượng dân thành thị củatỉnh tăng từ 251,4 nghìn người (năm 2007) lên 276,6 nghìn người (năm2012) Trong 5 năm dân số thành thị đã tăng 25,2 nghìn người Song songvới đó, tỉ lệ dân thành thị cũng có sự thay đổi Năm 2010 tỉ lệ dân thànhthị đạt 18,91%, trong khi đó tỉ lệ dân nông thôn ở mức cao 81,09% Năm

2012 tỉ lệ dân thành thị có tăng lên đạt 19,08% (276,6 nghìn người) và tỉ

lệ dân nông thôn đạt 80,92% (1173,5 nghìn người) Qua số liệu thống kêtrên ta thấy Quảng Nam là một tỉnh có tỉ lệ đô thị hóa còn ở mức thấp vàdân sống ở nông thôn là chủ yếu Trong tương lai, sự hình thành các khucông nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế mở Chu Lai cùng với quátrình phát triển kinh tế nhằm đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp trướcnăm 2020, quá trình đô thị hóa sẽ được đẩy nhanh trong thời gian tới

Như vậy, phân bố dân cư tại Quảng Nam không đồng đều giữamiền núi với đồng bằng, giữa thành thị và nông thôn Sự khác biệt đó làm

Trang 34

cho Quảng Nam không tận dụng được nguồn sức mạnh nội tại cho pháttriển kinh tế ở các vùng đất tiềm năng song thiếu nguồn nhân lực laođộng Bên cạnh đó, sự tập trung đông đúc dân cư vùng đồng bằng và đôthị tạo ra áp lực ngày càng lớn lên môi trường tự nhiên.

*Nguồn lao động

Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào Với số lượng lao động

từ 15 tuổi trở lên ngày càng tăng: năm 2008 Quảng Nam có 808,3 nghìnngười; năm 2010: 838,7; năm 2011: 849,4; đến năm 2012 số lượng laođộng đạt trên 866,9 người (chiếm 59,8% dân số toàn tỉnh) Trong đó, laođộng ở nông thôn chiếm tỉ lệ cao 81,51%; lao động thành thị chiếm18,49% (năm 2012)

Chất lượng nguồn lao động đang được cải thiện đáng kể Tỉ lệ laođộng đã qua đào tạo nghề đang hoạt động trong các thành phần kinh tếchiếm năm 2008 đạt 10,71% thì đến năm 2012 đã đạt 14,35% (trong đó,lao động đã qua đào tạo tại thành thị là 29,4%, ở nông thôn đạt 11%)

Như vậy, hoạt động kinh tế liên quan đến biến động sử dụng đấtchủ yếu ở Quảng Nam là sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp

1.3.1.2.Tình hình phát triển kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế

Theo Cục thống kê Quảng Nam năm 2012, tổng sản phẩm trên địabàn tỉnh theo giá hiện hành đạt 38.005 tỉ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tếtăng 11,2%, thấp hơn kế hoạch đề ra (kế hoạch 12,5%) Song, đây là tốc

độ tăng cao so với tốc độ tăng trưởng của chung của cả nước Nhìnchung, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và những khó khănchung của đất nước…tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Nam lànhững dấu hiệu tích cực để phát triển bền vững hơn trong tương lai

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng côngnghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông – lâm – ngưnghiệp Tuy nhiên năm 2012, công nghiệp có tốc độ tăng thấp, nôngnghiệp tăng cao, nên tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế có chậm lại, đãchuyển dịch 1,63% cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp sang cho côngnghiệp xây dựng và dịch vụ Cụ thể là cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp

từ 21,42% năm 2011 xuống 19,79% năm 2012; công nghiệp xây dựngtăng từ 40,25% lên 41,03%; dịch vụ tăng từ 38,33% lên 39,18% Đếnnăm 2013, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực vànhanh hơn tốc độ chuyển dịch của năm 2012 Trong đó, khu vực I chiếm17,22% (giảm 2,57%); khu vực II chiếm 42,26% (tăng 1,23%); khu vựcIII chiếm 40,52% (tăng 1,34%) So với 2 năm 2011 – 2012, tốc độ chuyểndịch cơ cấu kinh tế có nhanh hơn (năm 2013: 2,57%; năm 2012: 1,64%;năm 2011: 1,01%)

Như vậy, cơ cấu kinh tế ở khu vực I đã tăng chậm hơn các khu vựckinh tế còn lại, đồng thời tăng thấp hơn so với những năm trước đây,

Trang 35

chứng tỏ cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch mạnh và tích cực theohướng hiện đại phù hợp với mục tiêu Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Bảng 1.3: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế

*Nông nghiệp – lâm – ngư nghiệp

Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp ngày càng tăng và ổnđịnh Theo thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2012, tổng sản phẩm của nông– lâm – ngư nghiệp theo giá hiện hành, năm 2011 đạt 6.833 tỉ đồng, năm

2012 đạt 7.519 tỉ đồng

Về nông nghiệp: nông nghiệp tỉnh tăng trưởng khá Giá trị sản xuấtnông nghiệp tăng từ 2.671.808 triệu đồng (năm 2005) lên đến 8.746.851triệu đồng (năm 2012) Giá trị sản xuất nông nghiệp trong thời gian 7năm đã tăng đến 3,3 lần Trong cơ cấu nông nghiệp cũng đang có sựchuyển biến: cơ cấu ngành trồng trọt có xu hướng giảm dần song cònchậm và chưa ổn định (từ 66,78% năm 2005 còn 66,63% năm 2012),ngành chăn nuôi có xu hướng tăng dần Trong cơ cấu cây trồng đã có sựchuyển đổi một số cây trồng, vật nuôi, mô hình sản xuất có hiệu quả,nhiều mô hình canh tác đạt giá trị Các loại cây có giá trị kinh tế cao như:quế, sâm Ngọc Linh, dược liệu v.v ngày càng được phát triển Tổng đàngia súc ổn định và tăng trưởng đều hàng năm

Trong nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ đã được chútrọng, nhất là giống mới đã được đưa vào sản xuất, góp phần tăng năngsuất cây trồng Nhiều chương trình đầu tư cho lĩnh vực nông thôn đãđược tập trung như: điện khí hóa nông thôn, gia cố hệ thống thuỷ lợi, kiên

cố hoá kênh mương, cứng hoá giao thông nông thôn, các công trìnhphòng chống thiên tai, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế thuỷ sản, pháttriển hợp tác xã đã góp phần nâng cao thu nhập, tạo được việc làm chongười dân, đời sống nông thôn được cải thiện đáng kể

Trang 36

Về lâm nghiệp: Diện tích rừng hiện có của tỉnh ngày càng tăng từ47.583 ha (năm 2006) lên 516.700 ha (năm 2012) Tuy nhiên, diên tíchrừng tự nhiên có xu hướng giảm, diện tích rừng trồng tăng đều hàng năm.Thực hiện khá tốt việc đóng cửa rừng đối với việc khai thác rừng tự nhiêntheo chủ trương của Tỉnh Uỷ và Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh; quản

lí tốt lâm sản, hạn chế nạn cháy rừng, công tác khoanh nuôi tái sinh rừngđược tăng cường Song trong thời gian gần đây, hiện trạng khai thác rừngdiễn ra còn khá phức tạp Điều này đã góp phần tạo nên sự biến động hiệntrạng sử dụng đất đồi núi của tỉnh và ảnh hưởng tới môi trường khu vựcđồng bằng

Về thuỷ sản: Năm 2012, sản lượng thủy sản đạt 82.320 tấn tăng8,73% so với năm 2011 (75.708 tấn) và tăng 30% so với năm 2008(64.841 tấn) Trong đó, ngành nuôi trồng thủy sản, năm 2012 đạt diện tích7.000 ha, sản lượng thu hoạch là 18.840 tấn, tăng 54,45% so với năm

2008 Sản lượng khai thác là 63.480 tấn tăng 20,6% so với năm 2008 Giá

trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2012 đạt 19,53 triệu USD Giá trị

sản xuất thủy sản đạt 3.902 tỉ đồng Số lượng tàu khai thác cũng tăng lêntrong đó có 175 tàu có công suất từ 90CV trở lên có khả năng đánh bắt xabờ

*Công nghiệp – xây dựng

Trong cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam, công nghiệp còn chiếm tỉ lệtrung bình 41,03% Năm 2012 giá trị sản xuất công nghiệp đạt43.523.105 triệu đồng (trong đó ngành công nghiệp chế tạo đóng góp37.692.941 triệu đồng), tăng 20,73% so với năm 2011; giá trị sản xuấtngành xây dựng đạt 4.228.478 triệu đồng Giá trị sản xuất công nghiệptheo giá thực tế thuộc khu vực nhà nước chiếm 6,9%, khu vực ngoài quốcdoanh chiếm 70,92% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm22,18% Giá trị sản xuất công nghiệp nhà nước vẫn giữ nhịp độ tăngtrưởng khá; một số ngành tăng cao như ngành chế biến thực phẩm và thứcuống, công nghiệp, sản xuất chất khoáng phi kim loại, ngành may mặc Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nướcngoài tăng mạnh; một số ngành chiếm tỉ trọng lớn và có mức tăng trưởngcao như công nghiệp khai khoáng, gạch men, vật liệu xây dựng, côngnghiệp chế biến thực phẩm, thức uống, thuỷ sản chế biến, dệt, làng nghề,hàng thủ công mỹ nghệ Trong tương lai, Tỉnh sẽ phát triển mạnh vềnhiều mặt, phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp vào giai đoạn 2015 –2020

Số lượng lao động trong công nghiệp – xây dựng ngày càng tăng.Quảng Nam phát triển công nghiệp khá đa dạng bao gồm các ngành khaikhoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp điện Nó đã gópphần tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Nam làmột trong số rất ít địa phương trong cả nước có cả sân bay, cảng biển,đường sắt và quốc lộ, là nơi triển khai mô hình Khu kinh tế mở đầu tiên

Trang 37

trong cả nước với những chính sách ưu đãi đầu tư hấp dẫn Do đó đã thuhút các nhà đầu tư kể cả đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khukinh tế mở Chu Lai; các nhà máy được xây dựng và đi vào hoạt động sảnxuất ở các khu, cụm công nghiệp, việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhànước được tập trung, đã tạo sự chuyển biến đáng kể về phát triển côngnghiệp

* Dịch vụ

Hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ và kinh tế đối ngoại đạtđược những kết quả tốt, giá trị các ngành dịch vụ tăng Tổng kim ngạchxuất khẩu ước đạt 486,41 triệu USD, trong đó xuất khẩu địa phương đạt163,46 triệu USD Giá trị nhập khẩu có xu hướng giảm Hoạt động dulịch, dịch vụ vẫn giữ được tốc độ tăng nhanh và ổn định Khu đô thị cổHội An và thánh địa Mỹ Sơn là trung tâm du lịch của vùng đã và đang thuhút được lượng khách trong nước và quốc tế tăng nhanh, lưu trú dài ngàyhơn Ngoài ra, Quang Nam còn có bãi biển dài, đẹp; những làng nghềtruyền thống với văn hóa đặc sắc hứa hẹn tạo nhiều cơ hội phát triểnngành kinh tế du lịch

1.3.2 Khái quát chung về tình hình sử dụng đất

Trong giai đoạn 2005 – 2010, tình hình sử dụng đất tỉnh Quảng

Nam và khu vực miền núi như sau:

Bảng 1.4: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất tỉnh Quảng Nam phân theo

loại hình sử dụng đất trong năm 2005 và năm 2010

Nhóm đất

Diện tích (ha) cơ cấu(%) Diện tích(ha) cơ cấu(%) Diện tích(ha) cơ cấu(%) Đất nông nghiệp 668.320,67 63,05 760.149,64 71,71 802.636,19 76,89 Đất phi nông nghiệp 90.541,47 8,54 171.035,46 16.13 91.946,98 8,81 Đất chưa sử dụng 301.197,92 28,41 128.874,6 12.16 149.253,79 14,3%.

Tổng 1.060.060,06 100,00 1.060.059,7 100,00 1.043.836,96 100,00

(Nguồn: thống kê từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Quảng Nam năm 2005, năm 2010 và niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2012)

Trang 38

Hình 1.2: Biểu đồ: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Quảng Nam năm 2005,

2010 và năm 2012 theo loại hình sử dụng đất

Như vậy, trong giai đoạn 2005 – 2010, sự biến động đất QuảngNam diễn ra khá mạnh Diện tích đất nông nghiệp tăng 91.828,97 ha(tăng 8,66%), đất phi nông nghiệp tăng 80.493,99 ha (tăng 7,59%) vàdiện tích đất chưa sử dụng bị thu hẹp giảm 172.323,32 ha (giảm 16,26%),còn lại 12,16% diện tích đất tự nhiên của toàn Tỉnh So với năm 2010, cơcấu sử dụng đất năm 2012 của tỉnh có thay đổi đôi chút, tỉ lệ đất nôngnghiệp tăng khoảng 5,18%, đất chưa sử dụng tăng trở lại nhưng khôngđáng kể, đất phi nông nghiệp bị giảm

Tỉnh Quảng Nam có 16 huyện và 02 thành phố; trong đó có 9 huyệnmiền núi Đất đồi núi Quảng Nam có diện tích 785.373,68 ha, chiếm74,09% diện tích tự nhiên tỉnh Quảng Nam Tình hình sử dụng đất đồi núiQuảng Nam hiện nay khá phức tạp đặc biệt từ năm 2005 đến nay Sựchuyển đổi mục đích sử dụng đất tại đây chủ yếu là tăng diện tích đấtdành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp, giảmdần diện tích đất chưa sử dụng Trong dó, đất lâm nghiệp đang có sựchuyển đổi mạnh sang các mục đích sử dụng khác: đất nông nghiệp, đấtphi nông nghiệp (đất ở, đất dành cho các dự án thủy điện, đất dành cho cơ

sở hạ tầng giao thông ), nhiều nơi bị biến thành đất trống do hoạt độngkhai thác lâm nghiệp

Với một tỉnh có độ dốc tương đối lớn, độ dốc thay đổi nhanh khi đi

từ miền núi xuống đồng bằng, khu vực trung du nhỏ hẹp nhiều chỗ không

có vùng chuyển tiếp, có nhiều khu vực thích hợp cho các dự án thủy điện.Những năm gần đây, Quảng Nam là khu vực có tình hình chuyển đổi đất

từ đất rừng sang các loại hình sử dụng đất khác diễn biến rất phức tạp.Khi những chính sách quan tâm phát triển KT - XH khu vực đồi núi đượctriển khai, hàng loạt các dự án thủy điện được khởi động, các chươngtrình xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng đi vào thực hiện, hơn nữa các

Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng

Trang 39

hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên rừng trên địa bàn tiếp tục diễn

ra thì hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Quảng Nam sẽ thay đổi rất mạnh,đặc biệt là khu vực miền núi Điều này sẽ được nghiên cứu cụ thể trong

chương III

Trang 40

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ VẤN ĐỀ

SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Vị trí địa lí và giới hạn

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc khu vực Nam Trung Bộđược chính thức tái lập vào ngày 01 tháng 01 năm 1997 Tỉnh có tọa độđịa lí từ 108o26’16” đến 108o44’04” độ kinh đông và từ 15o23’38” đến

15o38’43” độ vĩ bắc Tỉnh có diện tích: 10.438,37 km2, với dân số:1.450,1 nghìn người (theo niên giám thống kê 2012 – tỉnh Quảng Nam)

Quảng Nam có vị trí tiếp giáp như sau:

– Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế

– Phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum

– Phía Tây giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

– Phía đông giáp biển Đông

Đơn vị hành chính:

Năm 1997, tỉnh Quảng Nam có 14 huyện gồm cáchuyện: Giằng, Hiên, Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, QuếSơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My, Núi Thành và 2 thịxã: Tam Kỳ (tỉnh lị) và Hội An

Ngày 16 tháng 8 năm 1999, huyện Giằng được đổi tên thànhhuyện Nam Giang Ngày 20 tháng 6 năm 2003, chia huyện Trà My thành

2 huyện: Bắc Trà My và Nam Trà My; chia huyện Hiên thành 2huyện: Đông Giang và Tây Giang

Ngày 5 tháng 1 năm 2005, chia thị xã Tam Kỳ thành thị xã Tam

Ý nghĩa của vị trí địa lí:

- Đối với sự hình thành đặc điểm tự nhiên:Vị trí địa lí với tọa độ

địa lí và mối quan hệ với các lãnh thổ kề bên đã tạo nên đặc điểm chung

về địa lí tự nhiên của tỉnh Quảng Nam như sau:

- Về mặt địa chất – địa mạo: Quảng Nam nằm ở vị trí chuyển tiếp

giữa đới uốn nếp Trường Sơn ở phía Bắc và địa khối Kon Tum ở phíaNam, địa hình khu vực nghiên cứu phát triển có sự phân hoá tương phảntheo cả hai chiều Bắc – Nam và Đông – Tây

Ngày đăng: 05/09/2019, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w