Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài là bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết đị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT KINH DOANH
- -BÀI BÁO CÁO MÔN HỌC TƯ PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: VIỆC CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA
TOÀ ÁN NƯỚC NGOÀI, TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
GVHD : ThS Nguyễn Thị Hằng NHÓM SV : 02
Thành phố Hồ Chí Minh, 2018
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG……….3
1 Khái niệm về bản án, quyết định dân sự……… 3
2 Khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự………4
3 Đặc điểm của pháp luật công nhận và cho thi hành án……….4
4 Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành án………5
PHẦN 2: PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH ÁN TẠI VIỆT NAM ……….5
1 Về công nhận và thi hành bản án của tòa án nước ngoài……….5
2 Về công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài……….9
PHẦN 3: BÀI TẬP TÌNH HUỐNG………12
1 Tình huống 1………12
2 Tình huống 2……… ………… 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14
Trang 3PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG
1 Khái niệm về bản án, quyết định dân sự
Trong tư pháp quốc tế việc xác định Toà án có thẩm quyền tài phán cũng đồng nghĩa với việc xác định quốc tịch của phán quyết do toà án đó ban hành Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và nguyên tắc quyền tài phán lãnh thổ mà phán quyết của toà án một quốc gia sẽ được sác định là phán quyết của toà án nước ngoài tại một quốc gia khác Vậy quốc tịch được xác định căn cứ vào lãnh thổ nơi phán quyết được ban hành và tiêu chí luật toà án tức là nơi có trụ sở toà án là nơi pháp luật của quốc gia đó được áp dụng giải quyết Như vậy, phán quyết của toà án là phán quyết của toà án nước ngoài nếu nó được xem xét bởi một quốc gia khác không ban hành phán quyết đó
Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài là bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản
án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài và bản án, quyết định khác của Toà án nước ngoài mà theo pháp luật của Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự
Về cơ bản, khái niệm “Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài” phù hợp với phạm vi công nhận tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, theo
đó, các bản án, quyết định được công nhận là các bản án, quyết định dân sự hoặc phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự Trong một số hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các quốc gia còn có sự phân biệt giữa bản án, quyết định dân sự mang tính chất tài sản và bản án, quyết định dân sự không mang tính chất tài sản Đối với bản án, quyết định không mang tính chất tài sản, các quốc gia có xu hướng đương nhiên công nhận mà không phải thông qua một thủ tục đặc biệt nào (ví dụ: Hiệp định Tương trợ tư pháp với Nga) Do đó, thông thường các bản án, quyết định có yêu cầu công nhận tại Việt Nam là các bản án, quyết định dân sự mang tính chất tài sản, và sau khi được công nhận
có thể phải áp dụng những biện pháp cưỡng chế thi hành nếu người phải thi hành không
tự nguyện thi hành
Phán quyết của trọng tài nước ngoài hay quyết định của trọng tài nước ngoài được quy định trong công ước New York về công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài Theo đó thì những phán quyết trọng tài dược tuyên tại lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, những phán quyết trọng tài không được coi là phán quyết trong nước của quốc gia nơi việc công nhận
và thi hành được yêu cầu Cụ thể ở đây thì quyết định của trọng tài nước ngoài là quyết
Trang 4định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan
hệ pháp luật kinh doanh, thương mại, lao động
2 Khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự
Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài là hành vi cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia thừa nhận giá trị pháp lý của bản án, quyết định dân sự của một quốc gia khác và làm bản án, quyết định dân sự đó có hiệu lực cưỡng chế thi hành trên thực tế ở lãnh thổ quốc gia đó
Có nghĩa là việc tòa án của một nước se em xét và thừa nhận hiệu lực pháp lý của bản án, quyết định của Tòa án nước khác và cho phép thi hành trên lãnh thổ nước mình bản án, quyết định dân sự đó
Yêu cầu công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự thường có ba loại:
Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của toà án nước ngoài
Đơn yêu cầu không công nhận hiệu lực thi hành của bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài
Đơn yêu cầu công nhận hiệu lực thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài là yêu cầu bổ sung trong một vụ kiện khác
3 Đặc điểm của pháp luật công nhận và cho thi hành án
Chỉ được đặt ra sau khi bản án,quyết định dân sự đó đã có hiệu lực pháp luật Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt, bản án, quyết định dân sự cần phải thi hành ngay mới được xem xét cho thi hành khi bản án, quyết định dân sự về thực chất vụ việc chưa có hiệu lực
Không chỉ đặt ra khi bên thi hành bản án, quyết định dân sự không tự nguyện thi hành mà trong cả những trường hợp đương sự có yêu cầu không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự đó thì Tòa án vẫn can thiệp để quyết định công nhận và cho thi hành hay không công nhận và không cho thi hành Công nhận và cho thi hành bản
án, quyết định của tòa án thủ tục xem xét phải tuân theo pháp luật quốc gia nơi bản án, quyết định dân sự đó được yêu cầu Bản án, quyết định dân sự chỉ được xem xét công
Trang 5nhận và cho thi hành nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện trong Điều ước quốc tế cũng như pháp luật quốc gia
Yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có nội dung khá rộng Nội dung tranh chấp trong bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài bao gồm các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng, trong lĩnh vực thương mại và tranh chấp về quyền nhân thân…Và với tư cách là một văn bản viết, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài khi được công nhận hiệu lực thi hành được coi là nguồn chứng cứ, chứng minh
4 Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành án
Đảm bảo khả năng thi hành các bản án,quyết định dân sự đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên cũng như đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người thi hành bản án cũng như tránh tình trạng cùng một vụ việc mà được xét xử hai lần
Về phương diện chính trị, thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia, thể hiện quyền tài phán độc lập của mỗi quốc gia cũng như thể hiện sự tôn trọng,thiện chí của quốc gia với quốc gia khác,thể hiện chính sách bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ của cá nhân,tổ chức nước mình mà còn cả lợi ích của cá nhân,tổ chức nước ngoài
Thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam
PHẦN 2: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH ÁN TẠI VIỆT NAM
1 Về công nhận và thi hành bản án của tòa án nước ngoài
1.1 Phạm vi quyết định/bản án của Tòa án nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành
BLTTDS mới đã có những sửa đổi bổ sung theo hướng tích cực, đưa các quy định về công nhận và thi hành bản án nước ngoài đến gần với chuẩn mực của các nước phát triển trên thế giới Theo Điều 423 BLTTDS2015 quy định như sau:
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sảntrong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa
Trang 6án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại;
c) Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.
Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.
Như vậy, từ chính những quy định trong BLTTS 2015, có thể thấy nguyên tắc xem xét công nhận và cho thi hành án được thể hiện khá rõ:
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước mà Việt Nam và nước đó đã kí kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành
Ngoài ra Tòa án Việt Nam có thể xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải kí kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó
Tuy nhiên, những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mặc dù đáp ứng được
các yêu cầu trên nhưng vẫn bị tòa án Việt Nam không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các trường hợp tại điều 439 BLTTDS 2015, cụ thể là:
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó
Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của
Trang 7Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ
Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân
sự đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật này
Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa
án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành
Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam
Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2 Thủ tục công nhận và thi hành án Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành: Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này để yêu cầu công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó (Điều 432)
Bao gồm các bước được quy định tại Bộ Luật TTDS 2015 (Điều 432 -450)
Bước 1: Gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án đến Bộ Tư
pháp hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Bộ luật TTDS
2015 Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án,
Trang 8quyết định cùng là thành viên Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu liên quan
Bước 2: Thụ lý hồ sơ : Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến, Tòa án căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Luật TTDS 2015 để xem xét, thụ lý hồ sơ và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp
Bước 3: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu : Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu
cầu, Tòa án có quyền yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm chưa rõ trong đơn; yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ.Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý Trong thời hạn này, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; mở phiên họp xét đơn yêu cầu
Bước 4: Mở phiên họp xét đơn yêu cầu Thành phần Hội đồng xét đơn
yêu cầu gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định Tòa án chỉ được kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Bộ luật TTDS 2015, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản
án, quyết định đó.Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định của Bộ luật TTDS 2015
Trang 92 Về công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
2.1 Phạm vi phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Do nhu cầu toàn cầu hóa nền kinh tế, thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ dẫn đến việc sử dụng Trọng tài nước ngoài để giải quyếtcác tranh chấp trong nước hoặc tranh chấp mang tính quốc tế càng được sử dụng rộng rãi hơn Vì vậy, việc cần công nhận phán quyếtcủa Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam là nhu cầu tất yếu.Theo đó, Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế và các Hiệp định song phương về việc công nhận và thi hành phán quyết Trọng tàinước ngoài cũng như bổ sung và ghi nhận nội dung này tại hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam Giá trị của việc công nhận phán quyếtcủa trọng tài nước ngoài tại Việt Nam là cho phép một phán quyết trọng tài của một tổ chức Trọng tài được thành lập theo quy định củapháp luật trọng tài nước ngoài được tuyên phán một cách hợp lệ và hợp pháp tại nơi không phụ thuộc là trong hay ngoài lãnh thổ ViệtNam sẽ được coi như một phán quyết có hiệu lực tại Việt Nam khi đảm bảo các điều kiện nhất định Theo điều 424 Bộ Luật TTDS 2015:
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.
c) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và
có hiệu lực thi hành.
d) Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam”
Khác với các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, pháp luật Việt Nam chỉ xem xét công nhận và cho thi hành đối với các phán quyết của Trọng tài thương
Trang 10mại nước ngoài Tức là, các phán quyết của Trọng tài nước ngoài giải quyết các tranh chấp thương mại mới là đối tượng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
Việc xem xét công nhận và cho thi hành phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:
Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nướcngoài mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và chothi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam
và nước đó phải lý kết hoặcgia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phánquyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụngtrọng tài và có hiệu lực thi hành
Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại ViệtNam được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được chấp nhận nếu theo quy định của pháp luật ViệtNam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không được chấp nhận nếu việc công nhận và cho thi hành tạiViệt Nam trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Tuy nhiên, cũng giống như bản án của toà án nước ngoài, cũng có những trường hợp không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài, theo điều 459 BLTTDS 2015
cụ thể như sau:
Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên
Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng