Mục tiêu của đề tài: Đánh giá được mặt tích cực và các tác động xấu về kinh tếxã hội và môi trường của hệ thống công trình KSL vùng TGLX; Đề xuất được các giải pháp khoa họccông nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu những tác động bất lợi của hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây; Nội dung nghiên cứu của đề tài: Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng của hệ thống công trình KSL vùng TGLX. Xây dựng các tiêu chí và bộ công cụ tính toán phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá tác động ảnh hưởng. Đánh giá tác động của hệ thống công trình KSL vùng TGLX sau khi đưa vào vận hành. Phân tích bối cảnh tương lai và đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống. Đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm nhẹ các tác động bất lợi của hệ thống công trình KSL vùng TGLX. Xây dựng cơ sở dữ liệu của đề tài.
Trang 1ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Cơ quan chủ trì đề tài: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI MIỀN NAM
Chủ nhiệm đề tài: TS TÔ VĂN THANH
Với sự cộng tác của: Viện Kỹ thuật Biển, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kiên
Giang, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kiên Giang, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh An Giang,
Các cán bộ tham gia:
GS.TS Lê Sâm, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
GS.TS Tăng Đức Thắng, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
TS Phạm Ngọc, Trường Đại học Quốc tế
TS Nguyễn Duy Khang, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
TS Hoàng Quốc Tuấn, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế NN
TS Phan Thanh Lâm, Viện Nghiên cứu NTTS 2
PGS.TS Trịnh Công Vấn, Viện Đổi mới Công nghệ Thủy lợi Mê Công ThS Doãn Văn Huế, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
ThS Phạm Thế Vinh, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
ThS Phan Qúy Anh Tuấn, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
ThS Nguyễn Lê Duy, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
ThS Tống Đình Quyết, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
ThS Cao Quang Vinh, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
ThS Nguyễn Văn Lân, Hội Khoa học Thủy lợi TP.HCM
Và các cán bộ thuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nghiên cứu đánh giá các tác động tích cực và những tồn tại, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả về kinh tế-xã hội và môi trường của hệ thống công trình KSL vùng TGLX” hoàn thành với nguồn kinh phí từ Bộ Khoa học và Công nghệ Trong
quá trình thực hiện nhóm nghiên cứu đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của các cơ quan quản lý KHCN: Ban chủ nhiệm KC.08/11-15, Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, Vụ Khoa học tự nhiên và xã hội ; các cơ quan địa phương vùng TGLX: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ,… các tỉnh Kiên Giang, tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là cơ quan chủ quản
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam là cơ quan chủ trì thực hiện đã dành cho đề tài những điều kiện thuận lợi và sự kiểm tra đôn đốc thường xuyên giúp cho Ban chủ nhiệm đề tài hoàn thành đúng tiến độ
Tập thể cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Phát triển công nghệ Thủy lợi thuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam là đơn vị trực tiếp triển khai đã cùng với các đối tác là Viện Kỹ thuật biển, Trường Đại học quốc tế thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Viện đổi mới công nghệ thủy lợi Mê Công, và các cán bộ khoa học trong và ngoài Viện bằng lao động sáng tạo, nhiệt tình và quyết tâm đã giúp cho đề tài hoàn thành các nội dung nghiên cứu và các sản phẩm theo đơn đặt hàng
Nhóm Thực hiện Đề tài xin trân trọng cám ơn các cơ quan đơn vị, các cá nhân đã giúp đỡ cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ được giao./
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI KC08.20/11-15
TS TÔ VĂN THANH
Trang 3TÓM LƯỢC ĐỀ TÀI KC08.20/11-15
Tên đề tài: “Nghiên cứu đánh giá các tác động tích cực và những tồn tại, đề
xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường của hệ thống công trình kiểm soát lũ vùng Tứ giác Long Xuyên”
Mã số: KC08.20/11-15
Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
Chủ nhiệm đề tài: TS TÔ VĂN THANH
Thời gian thực hiện: 32 tháng, từ 05/2013 đến 12/2015
Địa bàn: vùng TGLX nằm trong ĐBSCL với phía Bắc giáp với biên giới Việt
Nam-CPC; phía Đông giáp với sông Hậu; phía Nam giáp QL80; phía Tây giáp vịnh Thái Lan, thuộc phần lớn hai tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần nhỏ thuộc thành phố Cần Thơ
Tổng kinh phí thực hiện: 6.100.000.000 đồng (Sáu tỷ một trăm triệu đồng) Mục tiêu của đề tài:
- Đánh giá được mặt tích cực và các tác động xấu về kinh tế-xã hội và môi trường của hệ thống công trình KSL vùng TGLX;
- Đề xuất được các giải pháp khoa học-công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu những tác động bất lợi của hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây;
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
- Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng của hệ thống công trình KSL vùng TGLX
- Xây dựng các tiêu chí và bộ công cụ tính toán phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá tác động ảnh hưởng
- Đánh giá tác động của hệ thống công trình KSL vùng TGLX sau khi đưa vào vận hành
- Phân tích bối cảnh tương lai và đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống
- Đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm nhẹ các tác động bất lợi của hệ thống công trình KSL vùng TGLX
- Xây dựng cơ sở dữ liệu của đề tài
Trang 4Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Phương pháp kế thừa chọn lọc các kinh nghiệm, tri thức, cơ sở dữ liệu từ các nghiên cứu đã có;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích đa tiêu chí;
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn;
- Phương pháp khảo sát thực địa, đo đạc hiện trường, lấy mẫu phân tích;
- Phương pháp phân tích thống kê và tổng hợp số liệu/tài liệu;
- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế;
- Phương pháp mô phỏng mô hình;
- Phương pháp chuyên gia và hội thảo;
- Phương pháp phân tích ảnh viễn thám;
- Phương pháp đánh giá tác động môi trường;
Sản phẩm của đề tài:
- Bộ số liệu, dữ liệu, kết quả đo đạc khảo sát;
- Báo cáo đánh giá hiện trạng và dự báo về hiệu quả phòng chống thiên tai của
- Công bố bài báo khoa học và đào tạo;
Những ứng dụng kết quả nghiên cứu:
- Về khoa học: Sản phẩm chính của đề tài là các báo cáo, bản đồ, số liệu đánh giá hiện trạng và dự báo về hiệu quả phòng chống thiên tai, đánh giá mức độ và nguyên nhân các tác động của hệ thống công trình KSL tới kinh tế - xã hội và môi trường của khu vực,… Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ (công trình và phi công trình) nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu các tác động bất lợi phục vụ vận hành và khai thác đa mục tiêu hệ thống công trình KSL vùng TGLX đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai
Trang 5- Về thực tiễn: (i) Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ áp dụng trực tiếp cho hai tỉnh An Giang, Kiên Giang theo thỏa thuận đồng ý ứng dụng kết quả của đề tài, (ii) Sản phẩm của đề tài sẽ được các cơ quan chức năng của Bộ ngành Trung ương và các tỉnh sử dụng để tham khảo khi ra quyết định đầu tư các dự án, định hướng và xây dựng các kế hoạch sản xuất, (iii) Sản phẩm của đề tài sẽ được các cơ quan nghiên cứu, trường đại học làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khác có liên quan
- Về bài báo khoa học và đào tạo sau đại học:
+ Bài báo khoa học:
• Tô Văn Thanh “Hệ thống công trình KSL vùng TGLX – Những phát sinh và tồn tại trong quá trình vận hành khai thác” (Tạp chí Khoa học
và Công nghệ Thủy lợi số 19, tháng 12-2013)
• Tô Văn Thanh “Thoát lũ cho ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng từ nhìn nhận 2 trận lũ lớn năm 2000 và 2011” (Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 20, tháng 4-2014)
• Pham Ngoc, Pham Thi Hoa, To Van Thanh “A review of flood control system in Long Xuyen Quadrangle, Mê Công Delta, Vietnam”
Proceedings of the 19th IAHR-APD Congress 2014, Hanoi, Vietnam
• Phạm Ngọc, Tô Văn Thanh “Đánh giá thành tựu và tồn tại của hệ thống KSL vùng TGLX sau hơn 15 năm vận hành” Tạp chí Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, số 22/2015
+ Đào tạo:
• 02 Thạc sỹ trong nước (Tống Đình Quyết, Đặng Thị Thúy Hằng)
• 01 Nghiên cứu sinh (Đặng Minh Chương)
• 02 chuyên gia được đào tạo mô hình MIKE11 (Tống Đình Quyết, Cao Quang Vinh), 01 chuyên gia được đào tạo xử lý ảnh viễn thám (Tống Đình Quyết) và tính toán tổn thương, rủi ro (Cao Quang Vinh)
Trang 6MỤC LỤC
ĐƠN VỊ VÀ CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC ĐỀ TÀI KC08.20/11-15 iii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH MỤC CÁC BẢNG xv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xix
MỞ ĐẦU 1 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu đề tài 2
2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài 2
3 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3
3.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4
1.1.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài 4
1.1.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 10
1.1.3 Những vấn đề còn tồn tại mà đề tài cần giải quyết 16
1.2 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 18
1.2.1 Vị trí địa lý 18
1.2.2 Đơn vị hành chính các cấp thuộc vùng TGLX 19
1.2.3 Đặc điểm địa hình 20
1.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 21
1.2.5 Đặc điểm khí tượng 22
1.2.6 Hệ thống sông, kênh, rạch chính vùng TGLX 25
1.2.7 Điều kiện nguồn nước và chế độ thủy văn dòng chảy 26
1.2.8 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội vùng TGLX 30
1.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KSL VÙNG TGLX 45
1.3.1 Diễn biến một số trận lũ lớn ở hạ du sông Mê Công từ năm 1978 đến nay 45
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống KSL vùng TGLX 51
Trang 7CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG KSL ĐẾN KINH TẾ -
XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG TGLX 57
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 57
2.2 TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
2.2.1 Thu thập số liệu 58
2.2.2 Lựa chọn bộ tiêu chí và chỉ thị đánh giá 70
2.2.3 Phân tích và đánh giá các tác động 73
2.3 CÁC TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH KSL ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG TGLX 80
2.3.1 Hệ thống KSL góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng 80
2.3.2 Hệ thống KSL góp phần đảm bảo ổn định phát triển sinh kế và an sinh xã hội87 2.3.3 Hiệu quả tích cực trong công tác phòng chống và giảm thiệt hại do lũ 89
2.3.4 Phát triển cơ sở hạ tầng mạnh mẽ và tương đối đồng bộ 96
2.3.5 Cải tạo môi trường đất và nước 99
2.3.6 Tác động của hệ thống KSL đến chế độ thủy văn dòng chảy 116
2.4 NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI CỦA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH KSL VÙNG TGLX 126
2.4.1 Những tác động tiêu cực của hệ thống KSL TGLX 126
2.4.2 Những khiếm khuyết và hạn chế nội tại của hệ thống KSL 135
2.5 KẾT LUẬN 145
2.5.1 Tổng hợp những tác động hệ thống KSL đến kinh tế - xã hội và môi trường:145 2.5.2 Những tồn tại khiếm khuyết của hệ thống: 149
2.5.3 Những phát sinh từ phát triển kinh tế - xã hội trong vùng: 149
CHƯƠNG 3: KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH KSL ĐỐI VỚI CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI TRONG TƯƠNG LAI 151
3.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 151
3.2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 151
3.3 CÁC KỊCH BẢN PHÁT TRIỂN THƯỢNG NGUỒN ĐẾN NĂM 2050 152
3.3.1 Lưu vực sông Mê Công 152
3.3.2 Các phát triển trên lưu vực 155
3.3.3 Tiềm năng và phương hướng phát triển 156
3.3.4 Phân tích tác động tổng thể 157
3.4 TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH - NƯỚC BIỂN DÂNG (ĐẾN NĂM 2050) 159
3.4.1 Mưa nội vùng 159
3.4.2 Triều biển 161
3.5 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH KSL ĐỐI VỚI CÁC KỊCH BẢN BĐKH 162
Trang 83.5.1 Tác động đến dòng chảy kiệt 162
3.5.2 Tác động đến xâm nhập mặn 162
3.5.3 Tác động đến lũ 163
3.6 NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH CÁC KỊCH BẢN BĐKH - NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN NĂM 2050 165
3.6.1 Tác động đến dòng chảy kiệt 165
3.6.2 Tác động đến xâm nhập mặn 166
3.6.3 Tác động đến lũ 167
3.7 KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA CÁC CÔNG TRÌNH THEO QUY HOẠCH ĐBSCL VỚI VẤN ĐỀ KSL VÀ XÂM NHẬP MẶN 169
3.7.1 Khả năng đáp ứng của hệ thống tới KSL 169
3.7.2 Khả năng đáp ứng của hệ thống với vấn đề kiểm soát mặn 171
3.8 KẾT LUẬN 173
3.8.1 Khi xét đến BĐKH 173
3.8.2 Khi xét đến biến động thượng lưu 173
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ GIẢM THIỂU CÁC TÁC ĐỘNG BẤT LỢI CỦA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH KSL VÙNG TGLX 176
4.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 176
4.1.1 Bối cảnh ngành và thể chế 176
4.1.2 Kế hoạch phát triển ĐBSCL (MDP) 177
4.1.3 Tác động của các bậc thang thủy điện trên dòng chính hạ lưu sông Mê Công đến dòng chảy, môi trường, kinh tế xã hội vùng ĐBSCL 182
4.1.4 Giải pháp thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp của các tỉnh vùng TGLX185 4.1.5 Các kết quả điều tra và đánh giá về chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng thích nghi 189
4.1.6 Quan điểm của đề tài về giải pháp KSL vùng TGLX trong điều kiện hiện nay và tương lai đến năm 2030 194
4.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 196
4.3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH KSL 198
4.3.1 Đặt vấn đề 198
4.3.2 Giải pháp công trình đối với tuyến KSL tràn biên giới 199
4.3.3 Giải pháp công trình đối với tuyến KSL từ sông Hậu 218
4.3.4 Giải pháp công trình đối với tuyến ven biển Tây 233
4.3.5 Giải pháp hệ thống kênh thoát lũ ra biển Tây 240
4.3.6 Giải pháp thủy lợi phục vụ chuyển đổi sản xuất 241
4.3.7 Nghiên cứu giải pháp bảo vệ rừng phòng hộ ven biển vùng TGLX 246
4.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHI CÔNG TRÌNH 252
Trang 94.4.1 Chuyển đổi hệ thống canh tác gắn với bố trí thời vụ phù hợp điều kiện từng
tiểu vùng ở TGLX 252
4.4.2 Chuyển đổi canh tác lúa Thu Đông sang NTTS đối với việc KSL vùng TGLX 255
4.4.3 Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp trên cơ sở các ô bao chống lũ 273
4.4.4 Thay đổi nhận thức về lũ 275
4.4.5 Quản lý thiên tai do lũ theo tính dễ bị tổn thương 275
4.5 KẾT LUẬN 299
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 301
1 KẾT LUẬN 301
2 KIẾN NGHỊ 309
TÀI LIỆU THAM KHẢO 312
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1-1: Lưu vực hệ thống sông Mississippi và khu vực chịu ảnh hưởng lũ hàng năm 5
Hình 1-2: Vị trí các cống đập trên Thượng Mississippi 5
Hình 1-3: Lãnh thổ Bangladesh và châu thổ sông Hằng 7
Hình 1-4: Hệ thống đê chống lũ dọc sông Danube (Ucraina) 8
Hình 1-5: Hệ thống đê sông vùng ĐBSH 11
Hình 1-6: ĐBSCL và các vùng ngập lũ năm 2000 12
Hình 1-7: Bản đồ ranh giới hành chính khu vực TGLX 18
Hình 1-8: Bản đồ vị trí vùng TGLX trong ĐBSCL 19
Hình 1-9: Bản đồ địa hình vùng TGLX 20
Hình 1-10: Bản đồ thổ nhưỡng vùng TGLX 21
Hình 1-11: Đẳng trị lượng mưa trung bình nhiều năm vùng TGLX 25
Hình 1-12: Dân số các tỉnh An Giang và Kiên Giang thuộc TGLX 31
Hình 1-13: Tỷ lệ gia tăng dân số các tỉnh An Giang và Kiên Giang thuộc TGLX 32
Hình 1-14: Diễn biến nguồn lao động ở tỉnh Kiên Giang 33
Hình 1-15: Diễn biến nguồn lao động ở tỉnh An Giang 34
Hình 1-16: GDP (%) tỉnh An Giang theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế 35
Hình 1-17: GDP (%) tỉnh Kiên Giang theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế 35
Hình 1-18: Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh An Giang và Kiên Giang 37
Hình 1-19: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 vùng TGLX 40
Hình 1-20: Tổng hợp sản lượng NTTS vùng TGLX 42
Hình 1-21: Tổng hợp diện tích NTTS vùng TGLX 42
Hình 1-22: Những hình ảnh về ngập lũ ở TGLX năm 2000 (ảnh vệ tinh Modis) 49
Hình 1-23: Những hình ảnh về ngập lũ ở TGLX năm 2011 (ảnh vệ tinh Modis) 50
Hình 1-24 Sơ đồ bố trí các nhóm công trình KSL TGLX 56
Hình 2-1: Sơ đồ tiếp cận chung của nội dung nghiên cứu 57
Hình 2-2: Bản đồ vị trí các điểm phát phiếu điều tra, khảo sát 59
Hình 2-3: Hình ảnh người dân tham gia phỏng vấn và điền phiếu điều tra 59
Hình 2-4: Bản đồ cao độ số khu vực TGLX với độ phân giải 15mx15m 60
Hình 2-5: Bản đồ cao độ số khu vực Châu Đốc với độ phân giải 5mx5m 61
Hình 2-6: Mặt cắt đại diện sông Tiền và sông Hậu 61
Hình 2-7: Vị trí đo mặt cắt ngang khu vực TGLX 62
Hình 2-8: Hiện trạng hệ thống đê bao tỉnh An Giang 63
Hình 2-9: Hiện trạng hệ thống đê bao tỉnh Kiên Giang 64
Hình 2-10: Sơ hoạ một số trạm khí tượng chính vùng ĐBSCL 65
Hình 2-11: Hệ thống trạm thuỷ văn đo tăng cường vùng TGLX 66
Hình 2-12: Hệ thống trạm thuỷ văn đo tăng cường vùng TGLX 66
Hình 2-13: Mực nước tại các vị trí khảo sát 67
Hình 2-14: Sơ họa vị trí thu mẫu nước trên kênh rạch vùng TGLX 68
Hình 2-15: Sơ họa vị trí thu mẫu nước trên ruộng vùng TGLX 68
Hình 2-16: Sơ họa vị trí thu mẫu nước ven biển vùng TGLX 68
Hình 2-17: Vị trí lấy mẫu chất lượng nước trên kênh nội đồng tháng 4/2012 69
Hình 2-18: Sơ đồ các bước lựa chọn tiêu chí và chỉ thị đánh giá tác động 71
Trang 11Hình 2-19: Một số hình ảnh tham vấn ý kiến chuyên gia tại các cơ quan chuyên ngành
tại các tỉnh Kiên Giang và An Giang năm 2014 72
Hình 2-20: Kết quả khảo sát tham vấn ý kiến chuyên gia về tiêu chí đánh giá 73
Hình 2-21: Sơ đồ phân chia lưu vực trong mô hình NAM 74
Hình 2-22: Sơ đồ thuỷ lực toàn ĐBSCL 75
Hình 2-23: Sơ đồ thuỷ lực vùng TGLX 76
Hình 2-24: Bố trí các công trình trên ô bao trong sơ đồ thuỷ lực 76
Hình 2-25: Mô phỏng mực nước lũ tại trạm Tân Châu 78
Hình 2-26: Mô phỏng mực nước lũ tại trạm Châu Đốc 78
Hình 2-27: Mô phỏng mực nước mùa kiệt tại trạm Long Xuyên 79
Hình 2-28: Mô phỏng mặn tại trạm Xẻo Rô 79
Hình 2-29: Mô phỏng chỉ số BOD tại trạm Tri Tôn 79
Hình 2-30: Mô hình đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 80
Hình 2-31: Tổng GDP tỉnh An Giang và Kiên Giang (1995-2012) 81
Hình 2-32: Cơ cấu GDP ngành Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản tỉnh Kiên Giang 82
Hình 2-33: Cơ cấu GDP ngành Nông - Lâm nghiệp và Thủy sản tỉnh An Giang 82
Hình 2-34: Hiện trạng sử dụng đất vùng TGLX 1995 – 2014 (ảnh viễn thám) 84
Hình 2-35: Diện tích đất hoang hóa và đất nông nghiệp vùng TGLX (1995-2014) 84
Hình 2-36: Đồ thị chỉ số sức sản xuất tính toán cho TGLX (đường liên tục màu xanh) và cho ĐBSCL (đường chấm đỏ) 85
Hình 2-37: Tổng hợp sản lượng NTTS vùng TGLX 85
Hình 2-38: Tổng hợp diện tích NTTS vùng TGLX 85
Hình 2-39: Bản đồ ngập lũ năm 2000 với điều kiện địa hình 2013 91
Hình 2-40: Bản đồ ngập lũ năm 2000 trong trường hợp chưa có công trình 91
Hình 2-41: Ảnh chụp vệ tinh ngập lũ năm 2000 92
Hình 2-42: Diện tích ngập theo huyện lũ năm 2000 với điều kiện địa hình 2013 92
Hình 2-43: Diện tích và phần trăm diện tích ngập theo độ sâu trên tổng diện tích 92
Hình 2-44: Diện tích ngập theo độ sâu lũ năm 2000 với địa hình năm 2000 và 2013 93
Hình 2-45: Thời gian ngập lũ trên 1 m trước và sau khi xây dựng công trình KSL 93
Hình 2-46: Bản đồ ngập với lũ thấp năm 2012 94
Hình 2-47: Diện tích ứng với pH > 6 trước và sau khi xây dựng công trình 101
Hình 2-48: Diện tích ứng với pH trước và sau khi xây dựng công trình 101
Hình 2-49: Phân bố pH khi chưa xây dựng công trình 102
Hình 2-50: Phân bố pH khi đã xây dựng công trình 102
Hình 2-51: Quan hệ giữa giá trị pH và mực nước lũ max 104
Hình 2-52: Biểu đồ diện tích xâm nhập mặn theo nồng độ qua các năm 104
Hình 2-53: Phân bố nồng độ mặn trong vùng TGLX qua các năm 105
Hình 2-54: Phân bố nồng độ mặn năm ít nước trong vùng TGLX trường hợp chưa có hệ thống KSL 106
Hình 2-55: Phân bố nồng độ mặn năm 2005 TGLX trường hợp có hệ thống KSL 107
Hình 2-56: Phân bố hiện trạng nồng độ mặn năm 2000 trong vùng TGLX 108
Hình 2-57: Thay đổi diện tích mặn trường hợp có và chưa có hệ thống KSL 108
Hình 2-58: Phân bố hàm lượng phù sa vùng TGLX [48] 110
Hình 2-59: Bản đồ phân bố nồng độ BOD vùng TGLX khi có hệ thống KSL 113
Hình 2-60: Bản đồ phân bố nồng độ BOD vùng TGLX khi chưa có hệ thống KSL 114
Trang 12Hình 2-61: Diện tích ứng với nồng độ BOD trong trường hợp có và chưa xây dựng hệ
thống KSL 115
Hình 2-62: Tổng lượng lũ thực đo theo các tuyến vùng TGLX 118
Hình 2-63: Phân bố tổng lượng lũ thực đo vào TGLX năm 2000 và 2011 118
Hình 2-64: Mực nước lũ năm 2012 và mô phỏng với các trường hợp khác nhau 120
Hình 2-65: Mực nước lũ năm 2000 và mô phỏng với các trường hợp khác nhau 121
Hình 2-66: Tổng lượng lũ theo các tuyến vùng TGLX 121
Hình 2-67: Tổng lượng lũ theo các tuyến vùng TGLX 122
Hình 2-68: Mực nước lớn nhất mô phỏng năm 2005 khi có hệ thống KSL 123
Hình 2-69: Mực nước lớn nhất mô phỏng năm 2005 khi chưa có hệ thống KSL 124
Hình 2-70: Phân bố dòng chảy trong trường hợp hiện nay và chưa có hệ thống KSL 126 Hình 2-71: Bản đồ tính dễ tổn thương hiện trạng vùng TGLX ứng với lũ năm 2000 128
Hình 2-72: Bản đồ ngập lụt ứng với một số kịch bản 129
Hình 2-73: Hàm lượng HCBVTV tại các cửa thoát lũ vào mùa mưa 10/95 131
Hình 2-74: Sơ họa mặt cắt kênh bị bồi lắng và mặt cắt thiết kế 137
Hình 2-75: Đầu các cửa vào, kênh dẫn bị nhà cửa lấn chiếm 138
Hình 2-76: Cây cối và lau sậy đang xâm chiếm kênh rạch vùng TGLX 139
Hình 2-77: Sạt lở đê bao và đập tạm là những cản trở khả năng tải lũ của kênh 139
Hình 2-78: Cửa thoát cầu kênh 10 và cầu kênh B (Tân Hiệp) bị lấn chiếm, thu hẹp 140
Hình 3-1: Bản đồ vị trí của vùng ĐBSCL trong lưu vực Mê Công 153
Hình 3-2: Tổng hợp biến đổi dòng chảy kiệt đến Kratie theo các nguồn khác nhau 158
Hình 3-3: Mực nước mô phỏng tại các điểm với lũ lớn 163
Hình 3-4: Mực nước mô phỏng tại các điểm với lũ thấp 163
Hình 3-5: Tổng lượng lũ theo các tuyến vùng TGLX 164
Hình 3-6: Thời gian ngập hiện nay và xét đến biến đổi khí hậu 165
Hình 3-7: Phân bố xâm nhập mặn khi xét đến BĐKH và giảm thượng lưu 166
Hình 3-8: Mực nước mô phỏng tại các điểm khu vực với lũ lớn 167
Hình 3-9: Mực nước mô phỏng tại các điểm khu vực với lũ thấp 167
Hình 3-10: Tổng lượng lũ theo các tuyến vùng TGLX 168
Hình 3-11: Thời gian ngập hiện nay và xét đến BĐKH 169
Hình 3-12: Mực nước mô phỏng tại các điểm khu vực ĐBSCL với lũ năm 2000 169
Hình 3-13: Mực nước lớn nhất ĐBSCL với lũ năm 2011 các trường hợp tính 170
Hình 3-14: Mực nước lớn nhất ĐBSCL với lũ năm 2011 170
Hình 3-15: Mực nước lớn nhất ĐBSCL với lũ năm 2012 171
Hình 3-16: Phân bố xâm nhập mặn trong trường hợp xây dựng các công trình 172
Hình 4-1: Bốn kịch bản phát triển có thể diễn ra tập trung vào quy hoạch không gian và đa dạng hóa 178
Hình 4-2: Tổng hợp các động lực kinh tế xã hội chính của từng kịch bản 179
Hình 4-3: Vùng sản xuất lúa vụ ba có thể chuyển sang phát triển thủy sản nước ngọt 192 Hình 4-4: Chuyển đổi tiếp cận từ KSL sang quản lý lũ 196
Hình 4-5: Sơ đồ nghiên cứu các giải pháp công trình 198
Hình 4-6: Tuyến không gian thoát lũ 200
Hình 4-7: Bản đồ tuyến không gian thoát lũ 201
Hình 4-8: Hệ thống công trình trong vùng không gian thoát lũ 203
Hình 4-9: Hiện trạng sử dụng đất trong vùng không gian thoát lũ 203
Trang 13Hình 4-11: Mực nước tại Xuân Tô vàTri Tôn ứng với các trường hợp mở rộng không
gian thoát lũ 205
Hình 4-12: Mực nước mô phỏng khi xây dựng không gian thoát lũ 2000 m 206
Hình 4-13: Mực nước tại Xuân Tô vàTri Tôn ứng với các trường hợp mở rộng không gian thoát lũ 206
Hình 4-14: Lưu lượng qua không gian thoát lũ rộng 2000 m khi mô phỏng với lũ năm 2000 206
Hình 4-15: Mực nước tại hai đầu không gian thoát lũ - phía biên giới và biển Tây - không gian thoát lũ 2000 m 207
Hình 4-16: Đường mực nước lớn nhất dọc tuyến không gian thoát lũ với lũ 2000 207
Hình 4-17: Lưu lượng qua không gian thoát lũ với khẩu độ 1.000 m và mở không gian thoát lũ sau ngày 25/8 207
Hình 4-18: Mực nước mô phỏng tại Tri Tôn khi xây dựng không gian thoát lũ 1.000 m liên thông với TGLX 208
Hình 4-19: Mực nước mô phỏng tại các điểm khi xây dựng không gian thoát lũ 1.000m liên thông với TGLX 208
Hình 4-20: Lưu lượng trên kênh Đào đoạn tiếp giáp với không gian thoát lũ 208
Hình 4-21: Mực nước thượng lưu và hạ lưu cống Trà Sư 209
Hình 4-22: Mực nước một số vị trí 209
Hình 4-23: Phương án tuyến nâng cấp đập Trà Sư, Tha La 216
Hình 4-24: Mặt bằng cống Trà Sư - phương án nâng cấp 217
Hình 4-25: Cắt dọc, ngang cống Trà Sư - phương án nâng cấp 217
Hình 4-26: Phối cảnh cống Trà Sư - phương án nâng cấp 217
Hình 4-27: Các hướng lũ vào ra vùng TGLX 219
Hình 4-28: Vị trí cụm công trình KSL sông Hậu vào vùng TGLX 221
Hình 4-29: Hình ảnh xây dựng hệ thống đê bao tỉnh An Giang 222
Hình 4-30: Hiện trạng một số cửa kênh ven sông Hậu đổ nước vào TGLX 224
Hình 4-31: Hướng lũ theo các tuyến vùng TGLX 225
Hình 4-32: Tổng lượng theo tuyến trước và sau khi xây dựng các cống ven sông Hậu 225
Hình 4-33: Vị trí các điểm trích mực nước lớn nhất 226
Hình 4-34: Mực nước lũ năm 2000 kịch bản có và không có cống ven sông Hậu 227
Hình 4-35: Mực nước lũ năm 2000 trong nội đồng TGLX với kịch bản có và không có cống ven sông Hậu 227
Hình 4-36: Bản đồ ngập trong trường hợp có cống ven sông Hậu 228
Hình 4-37: Phân bố mặn trong vùng trường hợp có công trình ven biển Tây 234
Hình 4-38: Phân bố mặn trong vùng trường hợp chưa có công trình ven biển Tây 235
Hình 4-39: Kiến nghị bổ sung các công trình phân ranh mặn/ngọt 236
Hình 4-40: Mô phỏng phân bố nguồn nước kịch bản HT tháng 5 năm 2005 238
Hình 4-41: Tổng lượng nước thoát ra biển qua các kênh trong 5 tháng mùa kiệt 238
Hình 4-42: Phối cảnh công trình cống kênh Cụt, TP Rạch Giá - tỉnh Kiên Giang 239
Hình 4-43: Nạo vét kênh đổ ngay 2 bờ sau mùa lũ đất nạo vét trở lại kênh 240
Hình 4-44: Sơ họa quá trình thực hiện công tác nạo vét và tái sử dụng vật liệu 241
Hình 4-45: Hình ảnh cống hở bố trí trong các ô bao triệt để 242
Hình 4-46: Hình ảnh cống ngầm trong vùng dự án 242
Hình 4-47: Mức nước max giờ trong ngày năm 2000 tại Châu Đốc 243
Trang 14Hình 4-48: Mực nước max ngày từ T6 đến T11 năm 2000 trạm Châu Đốc 244
Hình 4-49: Ô bao tính toán điển hình tại Châu Phú 245
Hình 4-50: Đê chắn sóng tách rời bao gồm các rọ đá tại bờ biển Tây, tỉnh Cà Mau và đê chắn sóng bằng đá đổ tại Hà Tiên tỉnh Kiên Giang 248
Hình 4-51: Bảo vệ bãi biển bằng túi Geotubes tại tỉnh Bạc Liêu 249
Hình 4-52: Gây bồi tạo bãi trên đê biển Tây bằng hàng cọc ly tâm giảm sóng 249
Hình 4-53: Kết cấu đê ngầm phá sóng bằng cừ BTCT dự ứng lực 250
Hình 4-54: Hàng rào phá sóng bằng cừ tràm và cọc tre 250
Hình 4-55: Cắt ngang và cắt dọc tường mềm giảm sóng 250
Hình 4-56: Mặt bằng bố trí hàng rào chữ T bảo vệ bờ biển 251
Hình 4-57: Sử dụng đất ở TGLX từ năm 2011 đến năm 2014 (giải đoán ảnh vệ tinh) 255 Hình 4-58: Vòng đời các loài cá sông Mê Công 258
Hình 4-59: Mùa vụ khai thác thủy sản nội địa vùng ĐBSCL [56] 259
Hình 4-60: Tương quan giữa sản lượng khai thác và mực nước lũ max hàng năm tại Châu Đốc [56] 259
Hình 4-61: Bản đồ ngập lớn nhất năm 2000 vùng TGLX 260
Hình 4-62: Tương quan giữa sản lượng khai thác và sản lượng lúa hàng năm [56] 260
Hình 4-63: Thiết kế lại ruộng nuôi TCX luân canh lúa 266
Hình 4-64: Dự đoán mức ngập lũ tối đa trong năm 2030 ở ĐBSCL 272
Hình 4-65: Hiện trạng sử dụng đất và mức ngập lụt ở vùng TGLX 272
Hình 4-66: Điểm thực hiện mô hình nuôi TCX ( ) luân canh với trông lúa Đông Xuân 273
Hình 4-67: Đề xuất chuyển đổi hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng thích nghi 274
Hình 4-68: Mô hình xây dựng HTX nông nghiệp trên cơ sở cùng chung lợi ích và rủi ro 274
Hình 4-69: Các bước xác định tính dễ tổn thương 277
Hình 4-70: Bản đồ độ sâu ngập lụt do lũ năm 2000 vùng TGLX 278
Hình 4-71: Bản đồ nguy cơ lũ theo độ sâu ngập do lũ năm 2000 vùng TGLX 279
Hình 4-72: Bản đồ lộ diện các nhóm đất năm 2011 282
Hình 4-73: Một số hình ảnh trong cuộc điều tra khảo sát tại An Giang 283
Hình 4-74: Bản đồ thể hiện khả năng chống chịu của người dân theo cấp huyện 286
Hình 4-75: Bản đồ tính dễ tổn thương hiện trạng vùng TGLX ứng với lũ năm 2000 287
Hình 4-76: Bản đồ tính dễ tổn thương hiện trạng vùng TGLX ứng với lũ năm 2011 288
Hình 4-77: Cứu hộ đê bao tại An Giang và ngập lụt ở TP Cần Thơ 291
Hình 4-78: Sơ đồ phương pháp tính toán thiệt hại tiềm ẩn 293
Hình 4-79: Các đường cong thiệt hại ứng với các nhóm đất nông nghiệp 294
Hình 4-80: Ngập lũ năm 2000 - ảnh chụp vệ tinh 295
Hình 4-81: Sản xuất lúa vụ ba năm 2006 và nguy cơ thiệt hại 295
Hình 4-82: Sản xuất lúa vụ ba năm 2012 và nguy cơ thiệt hại 295
Hình 4-83: Bản đồ sử dụng đất năm 2006 vùng TGLX 296
Hình 4-84: Bản đồ rủi ro nếu xảy ra lũ năm 2000 với sản xuất năm 2006 296
Hình 4-85: Bản đồ sử dụng đất năm 2012 297
Hình 4-86: Bản đồ rủi ro nếu xảy ra lũ năm 2000 với sản xuất năm 2012 297
Trang 15DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-1: Nhiệt độ trung bình tháng(oC) ở một số trạm đo trong vùng 22
Bảng 1-2: Ẩm độ tương đối trung bình (%) ở một số trạm đo trong vùng 23
Bảng 1-3: Tốc độ gió trung bình (m/s) ở một số trạm đo trong vùng 23
Bảng 1-4: Lượng bốc hơi (mm) bình quân (Pitche) 23
Bảng 1-5: Số giờ nắng (giờ) bình quân tại một số trạm trong vùng 24
Bảng 1-6: Lượng mưa (mm) bình quân tháng ở một số trạm (1961-2007) 24
Bảng 1-7: Lưu lượng lớn nhất (max) ra vào vùng TGLX (m3/s) 28
Bảng 1-8: Lưu lượng tối đa (max) của lũ vào và ra vùng TGLX (m3/s) 29
Bảng 1-9: Dân số các huyện tỉnh An Giang thuộc TGLX 30
Bảng 1-10: Dân số các huyện tỉnh Kiên Giang thuộc TGLX 31
Bảng 1-11: Tỷ lệ gia tăng dân số 31
Bảng 1-12: Mật độ dân số các huyện tỉnh An Giang thuộc TGLX 32
Bảng 1-13: Mật độ dân số các huyện tỉnh An Giang thuộc TGLX 33
Bảng 1-14: GDP (%) tỉnh An Giang theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế 35
Bảng 1-15: GDP (%) tỉnh Kiên Giang theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế 35
Bảng 1-16: Giá trị sản xuất công nghiệp 36
Bảng 1-17: Các cửa thoát ra biển Tây[66] 52
Bảng 1-18: Tổng hợp cống thoát lũ, ngăn mặn ven biển Tây vùng TGLX 53
Bảng 2-1: Hiện trạng hệ thống đê bao tỉnh An Giang 62
Bảng 2-2: Hiện trạng hệ thống cống tỉnh An Giang 63
Bảng 2-3: Hiện trạng hệ thống đê bao tỉnh Kiên Giang 64
Bảng 2-4: Hiện trạng hệ thống cống tỉnh Kiên Giang 64
Bảng 2-5: Tổng nhu cầu nước vùng TGLX (triệu m3) 70
Bảng 2-6: Tiêu chí và chỉ thị sử dụng trong đánh giá tác động 72
Bảng 2-7: Kết quả tính trị số tương quan, sai số tại các trạm thủy văn quốc gia 78
Bảng 2-8: Tổng GDP tỉnh An Giang và Kiên Giang 81
Bảng 2-9: Cơ cấu và giá trị xuất khẩu tỉnh An Giang và Kiên Giang trên 2 mặt hàng lúa và thủy sản giai đoạn 1996-2011 86
Bảng 2-10: Bảng kết quả điều tra “mức độ ổn định trong sản xuất” từ các hộ sản xuất lúa 87
Bảng 2-11: Kết quả điều tra ảnh hưởng của dự án đến sản xuất từ các hộ sản xuất lúa 87 Bảng 2-12: Kết quả điều tra ảnh hưởng của dự án đến sản xuất từ các hộ làm dịch vụ 88
Bảng 2-13: Kết quả điều tra ảnh hưởng của dự án đến sản xuất từ các hộ thuộc ngành thủy sản 88
Bảng 2-14: Kết quả điều tra “mức độ ổn định trong sản xuất” từ các hộ trong ngành thủy sản 88
Bảng 2-15: Mức độ giảm ngập tại các huyện thuộc tỉnh An giang nằm trong vùng TGLX nếu lũ năm 2000 với hệ thống đê bao hiện nay 94
Bảng 2-16: Mức độ giảm ngập lũ các huyện của tỉnh An Giang thuộc vùng TGLX năm 2011 nhờ hệ thống đê bao 95
Bảng 2-17: Lũ lụt thiệt hại trong tỉnh An Giang trong giai đoạn 1994-2011 95
Trang 16Bảng 2-18: Hiện trạng hệ thống đê bao tỉnh An Giang 96
Bảng 2-19: Hiện trạng hệ thống cống tỉnh An Giang 97
Bảng 2-20: Hiện trạng hệ thống kênh tỉnh An Giang 97
Bảng 2-21: Hiện trạng hệ thống đê bao tỉnh Kiên Giang 98
Bảng 2-22: Hiện trạng hệ thống cống tỉnh Kiên Giang 98
Bảng 2-23: Hiện trạng hệ thống kênh tỉnh Kiên Giang 98
Bảng 2-24: Mạng lưới đường tỉnh của các tỉnh vùng ngập lũ 98
Bảng 2-25: Bảng kết quả điều tra về “mức độ nhiễm phèn” 103
Bảng 2-26: Bảng kết quả điều tra về “mức độ nhiễm phèn” từ các hộ NTTS 103
Bảng 2-27: Bảng kết quả điều tra về “mức độ nhiễm phèn” từ các hộ làm dịch vụ 103
Bảng 2-28: Diện tích xâm nhập mặn theo kịch bản chưa có hệ thống KSL năm 2005 106 Bảng 2-29: Diện tích xâm nhập mặn theo kịch bản có công trình năm 2005 108
Bảng 2-30: Bảng kết quả điều tra về “mức độ nhiễm mặn” từ mẫu phiếu nông nghiệp 109
Bảng 2-31: Bảng kết quả điều tra về “mức độ nhiễm mặn” từ mẫu phiếu dịch vụ 109
Bảng 2-32: Bảng kết quả điều tra về “mức độ nhiễm mặn” từ mẫu phiếu thủy sản 110
Bảng 2-33: Bảng kết quả điều tra về “mức độ ô nhiễm của nước” từ mẫu phiếu “nông nghiệp” 111
Bảng 2-34: Bảng kết quả điều tra về “mức độ ô nhiễm của nước” từ mẫu phiếu “dịch vụ” 111
Bảng 2-35: Bảng kết quả điều tra về “mức độ ô nhiễm của nước” từ mẫu phiếu “thủy sản” 112
Bảng 2-36: Diện tích phân bố nồng độ BOD5 trên các huyện vùng TGLX trong trường hợp có hệ thống KSL năm 2005 (ha) 113
Bảng 2-37: Diện tích phân bố nồng độ BOD5 trên các huyện vùng TGLX trong trường hợp chưa có hệ thống KSL năm 2005 (ha) 115
Bảng 2-38: Mực nước tại các trạm năm 1996, 2000 và 2011 117
Bảng 2-39: Địa hình tính toán trong các mô phỏng 119
Bảng 2-40: Mực nước mô phỏng tại một số vị trí năm 2005 123
Bảng 2-41: Kết quả mô phỏng dòng chảy theo tuyến trong tháng 5 năm 2005 trong trường hợp đã xây dựng hệ thống KSL 124
Bảng 2-42: Diện tích rừng tỉnh Kiên Giang thuộc TGLX chuyển đổi thành các hình thức sử dụng đất khác (ha) 130
Bảng 2-43: Các loài cá có nguy cơ biến mất, ít bắt gặp 132
Bảng 2-44: Những loài có nguy cơ khai thác rất cao, sản lượng ngày một giảm sút nghiêm trọng 132
Bảng 2-45: Sản lượng khai thác thủy sản tỉnh An Giang 2003 – 2009 (tấn) 133
Bảng 2-46: Tổng hợp lưu lượng vào, ra trước và sau công trình KSL TGLX 135
Bảng 2-47: Kết quả khảo sát bồi lắng phù sa trên các kênh phía sông Hậu 137
Bảng 2-48: Kết quả khảo sát bồi lắng phù sa trên các kênh phía Vĩnh Tế 138
Bảng 2-49: Tỷ lệ co hẹp giữa chiều rộng kênh và chiều rộng cống thoát lũ 141
Bảng 2-50: Bảng tổng hợp các tác động của hệ thống công trình KSL đến các thành phần kinh tế - xã hội và môi trường vùng TGLX 146
Bảng 3-1: Các kịch bản mô phỏng tính toán 152
Bảng 3-2: Phân bố diện tích lưu vực Mê Công 154
Trang 17Bảng 3-3: Tổng hợp biến đổi dòng chảy kiệt đến Kratie theo các nguồn khác nhau (%)
158
Bảng 3-4: Kịch bản chung cho dòng chảy đến Kratie theo các giai đoạn 158
Bảng 3-5: Tổng lượng mưa trung bình (mm) 160
Bảng 3-6: Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 kịch bản B2 160
Bảng 3-7: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp (cm) 161
Bảng 3-8: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) 161
Bảng 3-9: Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao (cm) 161
Bảng 3-10: Mực nước mô phỏng tại một số vị trí năm 2005 và xét đến BĐKH 162
Bảng 3-11: Tổng lượng lũ và tổng lưu lượng theo tuyến vùng TGLX 164
Bảng 3-12: Mực nước mô phỏng tại một số vị trí năm 2005 và xét đến BĐKH (m) 165
Bảng 3-13: Diện tích xâm nhập mặn khi xét đến BĐKH và giảm thượng lưu (ha) 166
Bảng 3-14: Tổng lượng lũ và tổng lưu lượng theo tuyến vùng TGLX 168
Bảng 4-1: Đặc trưng của kịch bản kinh tế xã hội cao và thấp 177
Bảng 4-2: Số lượng người nông dân quan tâm đến việc lựa chọn chuyển đổi cây trồng ở vùng dự án 190
Bảng 4-3: Khảo sát mức độ ủng hộ việc chuyển đổi cây trồng ở vùng dự án 191
Bảng 4-4: Số lượng người nông dân quan tâm đến việc lựa chọn cây trồng 191
Bảng 4-5: Mức độ ủng hộ việc chuyển đổi cây trồng khảo sát ngoài vùng TGLX 191
Bảng 4-6: Các mô hình sản xuất có thể chuyển đổi 192
Bảng 4-7: Đánh giá các hệ thống canh tác đã được nông dân chuyển đổi thành công 193 Bảng 4-8: Diện tích theo ranh giới hành chính trong vùng không gian thoát lũ 200
Bảng 4-9: Tóm tắt hiện trạng hạ tầng kỹ thuật và sử dụng đất trong vùng không gian thoát lũ 201
Bảng 4-10: Các tổ hợp kích thước công trình với bài toán mùa lũ 211
Bảng 4-11: Các tổ hợp kích thước công trình với bài toán mùa kiệt 211
Bảng 4-12: Diễn biến mực nước max, lưu lượng max tại một số vị trí ở các phương án 212
Bảng 4-13: Diễn biến mực nước max, lưu lượng max tại một số vị trí ở các phương án 213
Bảng 4-14: Diễn biến mực nước max, lưu lượng max tại một số vị trí ở các phương án 213
Bảng 4-15: Diễn biến mực nước max, lưu lượng max tại một số vị trí ở các phương án 214
Bảng 4-16: Diễn biến lưu lượng bình quân tháng II các phương án tính 214
Bảng 4-17: Diễn biến lưu lượng bình quân tháng IV các phương án tính 215
Bảng 4-18: Dòng chảy cực đại thực đo qua cầu cống trên tuyến biên vào 1 (chưa tính đến dòng lũ tràn mặt lộ qua các thời kỳ) 219
Bảng 4-19: Thống kê các cửa lấy nước trên tuyến vào 2 (QL91) vùng TGLX 220
Bảng 4-20: Thống kê năng lực 8 kênh trục đề xuất làm cống KSL từ phía sông Hậu 221 Bảng 4-21: Thống kê hiện trạng đê bao thuộc vùng ảnh hưởng của 8 kênh trục đề xuất làm cống KSL từ phía sông Hậu 222
Bảng 4-22: Năng lực thoát lũ của 8 kênh với kịch bản lũ năm 2000 223
Bảng 4-23: Năng lực thoát lũ của 8 kênh với kịch bản lũ năm 2011 223
Bảng 4-24: Tổng lượng lũ và tổng lưu lượng theo tuyến vùng TGLX 225
Bảng 4-25: Vị trí các điểm nghiên cứu 226
Trang 18Bảng 4-26: So sánh diện tích ngập trước và sau khi xây cống ven sông Hậu 228
Bảng 4.27: So sánh diện tích ngập trước và sau khi xây cống ven sông Hậu (tiếp) 229
Bảng 4-28: Kết quả mô phỏng dòng chảy theo tuyến năm 2005 khi chưa xây cống 229
Bảng 4-29: Kết quả mô phỏng dòng chảy theo tuyến năm 2005 khi xây dựng các cống 230
Bảng 4-30: Mực nước mô phỏng tại một số vị trí năm 2005 230
Bảng 4-31: Bảng ước tính chi phí phương án xây cống 232
Bảng 4-32: Thống kê các công trình KSL đề xuất bổ sung 236
Bảng 4-33: Xác định khẩu độ tràn cần thiết 244
Bảng 4-34: Quy mô cửa tháo nước tương ứng với diện tích ô bao 244
Bảng 4-35: Chi phí đầu tư xây dựng công trình 245
Bảng 4-36: Phân loại các công trình bảo vệ bờ biển theo hình dạng 248
Bảng 4.37: Phân loại các công trình bảo vệ bờ biển theo chức năng 248
Bảng 4-38: Đề xuất các hệ thống canh tác chuyển đổi - Lịch thời vụ và kết quả của công trình thủy lợi 254
Bảng 4-39: Diện tích - năng suất - sản lượng lúa đến năm 2020, 2030 256
Bảng 4-40: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2009-2020 257
Bảng 4-41: Kết quả quan trắc chất lượng nước vùng bên ngoài KBVCQ Trà Sư [57] 261
Bảng 4-42: Thành phần loài thực vật và động vật nổi vùng bên ngoài KBVCQ Trà Sư 262
Bảng 4-43: Lịch mùa vụ nuôi TCX luân canh lúa 266
Bảng 4-44: Phân tích hiệu quả kinh tế-môi trường các mô hình đề xuất NTTS 270
- Bảng 4-45: Bảng định lượng mức độ nguy cơ lũ 278
Bảng 4-46: Các loại đất chính và mức độ tổn thương 280
Bảng 4-47: Mức độ lộ diện của các nhóm sử dụng đất 280
Bảng 4-48: Phân loại mức độ tổn thương theo mật độ dân số 282
Bảng 4-49: Định lượng điểm cho các câu hỏi của phiếu điều tra xã hội học 283
Bảng 4-50: Ma trận tính toán độ dễ bị tổn thương do lũ 286
Bảng 4-51: Diện tích vùng dễ bị tổn thương theo địa phương năm 2000 287
Bảng 4-52: Diện tích vùng dễ bị tổn thương theo địa phương năm 2011 289
Bảng 4-53: Phân loại các nhóm thiệt hại do lũ 290
Bảng 4-54: Bảng tổng hợp thống kê chi phí sản xuất lúa tính cho 1 ha 293
Bảng 4-55: Quan hệ độ sâu ngập với mức độ thiệt hại các nhóm đất nông nghiệp 294
Bảng 4-56: Thiệt hại với kịch bản lũ năm 2000 sản xuất năm 2006 298
Bảng 4-57: Thiệt hại với kịch bản lũ năm 2000 sản xuất năm 2012 298
Trang 19GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
GIS Geographical Information System - Hệ thống thông tin địa lý GIZ Cơ quan Hợp tác Phát triển Đức
GSTSH Giữa sông Tiền sông Hậu
IMF International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế
JICA Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản
MDP Mekong Delta Plan - Kế hoạch phát triển ĐBSCL
Trang 20TX Thị xã
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 21MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tứ giác Long Xuyên (TGLX) trước đây vốn là vùng hoang hóa, nhiễm phèn nặng, ngay từ buổi ban đầu ít người đến khai phá do thường xuyên phải đối mặt với tình trạng chua phèn, mặn, lũ lụt và nhiều nơi thiếu nước ngọt vào mùa khô Hàng năm, lũ
từ thượng nguồn đổ về làm ngập vùng TGLX từ 4 đến 5 tháng, với độ ngập từ 0,5÷3,5m gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản cho người dân
Để khai phá vùng đất hoang hóa này, từ năm 1987 Nhà nước đã cho triển khai thực hiện Chương trình khai thác tổng hợp vùng TGLX, hệ thống thủy lợi trong vùng từng bước được đầu tư xây dựng Đặc biệt, sau các trận lũ lớn liên tục từ năm 1994 đến năm 1996, hệ thống tiêu thoát lũ ra biển Tây được hình thành, trong đó có trục T3, T4, T5 và T6 chuyển nước từ kênh Vĩnh Tế qua vùng Bắc Hà Tiên đổ về kênh Rạch Giá-Hà Tiên, mở thêm các kênh nhánh nối kênh Rạch Giá-Hà Tiên với biển Tây như: Tuần Thống, T6, Lung Lớn; nạo vét mở rộng kênh Vĩnh Tế, xây dựng các cống ngăn mặn-thoát lũ phía biển Tây và các công trình cống, đập kiểm soát dòng lũ tràn từ CPC và từ sông Hậu chảy vào TGLX
Đến nay, hệ thống công trình KSL tràn biên giới và các công trình thoát lũ ở vùng TGLX được xây dựng với mục tiêu chính là KSL tháng Tám, hạ mực nước lũ chính vụ, làm chậm đỉnh lũ vùng TGLX, điều tiết một phần lũ tràn qua vùng Tứ giác
Hà Tiên ra biển Tây để cải tạo môi trường nước và đất vùng này, đồng thời lấy nước lũ nhiều phù sa với nguồn thủy sản phong phú từ sông Hậu vào vùng TGLX
Hệ thống công trình kiểm soát lũ (KSL) vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX) được Nhà nước đầu tư xây dựng và đi vào vận hành từ năm 1999 đã phát huy tác dụng, thực hiện nhiệm vụ thoát lũ, xổ phèn, kiểm soát mặn, dẫn ngọt; góp phần cải tạo đất, khai hoang mở rộng diện tích sản xuất; tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo; tạo địa bàn bố trí dân cư xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã hội của 14 huyện, thị, thành phố của tỉnh Kiên Giang, An Giang, và thành phố Cần Thơ trên diện tích gần 5.000 km2
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu đồng bằng cũng đã hạn chế dòng chảy tự nhiên, và hệ quả của việc này là làm cho mực nước lũ cao hơn Các công trình cơ sở hạ tầng có thể gia tăng khả năng ảnh hưởng của lũ tới cộng đồng dân cư Việc xây dựng các đê bao đã giúp cải thiện sinh kế và thúc đẩy các chương trình bê tông, nhựa đường hóa hệ thống giao thông trong vùng Điều này giúp giao thương hàng hóa thuận tiện hơn, đặc biệt là trong mùa lũ, từ đó mang lại lợi ích cho phát triển
Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay, quy mô của hệ thống công trình KSL vùng TGLX tiếp tục được bổ sung bởi các cống trên đê biển (nhằm tăng khẩu độ tiêu thoát và lấy nước mặn phục vụ NTTS); hệ thống đê bao, bờ bao, đường giao thông
ở vùng lũ không ngừng được xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo, Tuy nhiên hệ thống công trình cũng còn những bất cập, tồn tại và chịu tác động bất lợi nảy sinh trong quá
Trang 22trình vận hành như: biến đổi khí hậu - nước biển dâng, xây dựng thủy điện ở thượng nguồn, KSL biên giới, vận hành đập Trà Sư, Tha La, sản xuất lúa vụ ba, ô nhiễm môi trường, Nhằm đáp ứng mục tiêu khai thác có hiệu quả đối với hệ thống công trình KSL vùng TGLX, rất cần có một nghiên cứu tổng thể, khoa học đánh giá toàn diện về năng lực phục vụ, tính hợp lý trong vận hành, làm rõ những ảnh hưởng, tác động của hệ thống công trình này đến các lĩnh vực của đời sống xã hội vùng TGLX, nhằm có được những thông tin đa chiều phản ánh đúng về thực trạng hiệu quả mang lại, những bất lợi đưa đến của hệ thống công trình thủy lợi đã được đầu tư, cũng như dự báo được diễn biến lũ lụt, nguy cơ bất lợi đối với sản xuất, an sinh xã hội của người dân vùng nghiên cứu trong thời gian tới, để đưa ra các giải pháp phù hợp thích ứng nhằm phát huy tốt hiệu quả, công năng và giảm thiểu những tác động xấu của hệ thống công trình đối với
sự phát triển bền vững vùng kinh tế quan trọng của Tổ quốc, đặc biệt là trong điều kiện
có sự biến đổi dòng chảy do phát triển ở thượng nguồn và trước nguy cơ biển đổi khí hậu-nước biển dâng
Trước tính cấp thiết nêu trên, năm 2013 Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao cho
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá các tác động tích cực và những tồn tại, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả về kinh tế-xã hội và môi trường của hệ thống công trình kiểm soát lũ vùng Tứ Giác Long Xuyên” mã số KC.08.20/11-15, thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà
2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng của hệ thống công trình KSL vùng TGLX;
- Xây dựng các tiêu chí và bộ công cụ tính toán phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá tác động ảnh hưởng;
- Đánh giá tác động của hệ thống công trình KSL vùng TGLX sau khi đưa vào vận hành;
- Phân tích bối cảnh tương lai và đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống;
- Đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và giảm nhẹ các tác động bất lợi của hệ thống công trình KSL vùng TGLX;
- Xây dựng cơ sở dữ liệu của đề tài
Trang 233 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vùng TGLX nằm trong ĐBSCL với phần lớn diện tích thuộc hai tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần nhỏ thuộc TP Cần Thơ:
- Tỉnh An Giang: gồm 07 huyện (TX, TP) là: TX Châu Đốc, TP Long Xuyên, các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và Tri Tôn - Tịnh Biên
- Tỉnh Kiên Giang gồm 07 huyện (TX, TP) là: TX Hà Tiên, TP Rạch Giá, các huyện Giang Thành, Kiên Lương, Hòn Đất và 2 xã (Mong Thọ A, Thạnh Lộc) huyện Châu Thành, 5 xã (Tân Hiệp A, Tân Hiệp B, Tân An, Tân Thành, Tân Hội) huyện Tân Hiệp
- TP Cần Thơ gồm phần phía Bắc Quốc lộ 80 (kênh Cái Sắn) huyện Vĩnh Thạnh Trong đó có 3 xã (Thạnh An, Thạnh Lợi, Thạnh Thắng) và phần ranh giới phía Bắc thị trấn Vĩnh Thạnh, Bắc thị trấn Thạnh An và phần phía Bắc của các xã Thạnh
Mỹ, Thạnh Quới, Vĩnh Trinh, Thạnh Tiến thuộc huyện Vĩnh Thạnh
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống công trình KSL vùng TGLX: các công trình KSL tràn biên giới Việt Nam-Cămpuchia (đập cao su Tha La, Trà Sư…), các công trình KSL ven sông Hậu, các công trình ven biển Tây, hệ thống kênh trục thoát lũ, hệ thống đê bao, đường giao thông
- Chế độ thủy văn thủy lực trong hệ thống sông/kênh vùng TGLX nói chung, và chế độ dòng chảy lũ nói riêng, trước và sau khi có hệ thống KSL Môi trường đất
và nước vùng TGLX
- Một số lĩnh vực kinh tế xã hội hưởng lợi từ dự án: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản…vùng TGLX
3.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp kế thừa chọn lọc các kinh nghiệm, tri thức, cơ sở dữ liệu từ các nghiên cứu đã có;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích đa tiêu chí;
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn;
- Phương pháp khảo sát thực địa, đo đạc hiện trường, lấy mẫu phân tích;
- Phương pháp phân tích thống kê và tổng hợp số liệu/tài liệu;
- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế;
- Phương pháp mô phỏng mô hình;
- Phương pháp chuyên gia và hội thảo;
- Phương pháp phân tích ảnh viễn thám;
- Phương pháp đánh giá tác động môi trường
Trang 24CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài
So với các hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên, lũ là một trong những hiện tượng vừa có tính phổ biến, vừa mang tính thời đại Lũ hầu như xuất hiện trên mọi vùng của quả đất, chỉ trừ những vùng sa mạc nóng bỏng ở Châu Phi, hoang mạc và thảo nguyên vùng Châu Á
Lũ thường có hai mặt đó là lợi và hại Nếu như lũ lụt đem đến cho con người nhiều nguồn lợi mà vì nó, con người có thể phát triển và hòa thuận với thiên nhiên hơn, thì lũ cũng mang lại những thảm họa khôn lường, là bước cản lớn của thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia trên trái đất Lũ là nơi cung cấp nguồn nước cho sự sống và hoạt động của con người Lũ còn là nơi cung cấp phù sa cho ruộng đồng, phiêu sinh vật, tôm cá và các loài thủy sinh khác Tuy vậy, lũ cũng luôn giận dữ với những cơn đại hồng thủy nuốt chửng hàng ngàn, hàng triệu sinh linh, cuốn trôi những gì mà bao thế hệ con người tạo dựng trên đường đi của nó [1]
Xét về mặt hại, lũ luôn là mối đe dọa thường xuyên, bên cạnh động đất và núi lửa mà con người phải gánh chịu Theo số liệu thống kê, hơn nửa các thảm họa thiên nhiên trên thế giới là lũ lụt Trong các thập kỷ qua, các trận lũ lớn đã gây ra gần 7 triệu người chết, hơn 3 tỷ người dân bị ảnh hưởng và gây thiệt hại khoảng 441 tỷ USD [2]
Kinh nghiệm chế ngự lũ lụt của loài người đã có từ thời tiền sử Từ rất lâu trước công nguyên, tại Ai Cập, Trung Quốc và các khu vực khác trên thế giới, nhiều công trình thủy lợi đã được xây dựng để phục vụ mục đích tưới và phòng ngừa thủy hại
2000 năm trước Công nguyên, để giảm mực nước ngập mùa lũ phía hạ lưu sông Nil, người Ai Cập đã dùng biện pháp phân lũ vào khu lòng chảo Fayum nổi tiếng (nay là ốc đảo Fayum), nơi có hồ Karun Vùng lòng chảo trũng này nằm cách Cairo 60 km, phía
bờ Tây sông Nil Sông Nil được nối với vùng trũng bằng kênh đào (là nhánh sông được đào sâu thêm) Vào mùa lũ nước chảy từ sông Nil qua kênh vào làm ngập vùng trũng này Khi lũ rút, nước từ vùng trũng chảy ngược lại sông Nil [3]
Tại vùng Lưỡng Hà, thời kỳ quốc gia Babilon, người xưa đã chống lũ bằng cách phân một phần nước lũ sông Efrat vào vùng trũng tự nhiên Hobbani với hồ Al-Hobbani qua kênh nối đặc biệt Nước được tích vào vùng trũng sau đó được dùng để tưới ruộng
Vào thiên nhiên kỷ thứ 3 trước công nguyên, trên sông Oront ở Sirya đã xây dựng đập ngăn Homsk nhằm bảo vệ vùng hạ lưu sông trước nguy cơ ngập úng
Nhiều thế kỷ gần đây, đặc biệt là trong thế kỷ XX, yếu tố con người là một trong những nguyên nhân chính làm tăng tần suất và sức mạnh phá hoại của lũ lụt Trong số
đó, phải kể đến là nạn phá rừng (làm tăng dòng chảy tối đa có thể lên đến 250÷300%);
Trang 25canh tác nông nghiệp bất hợp lý bởi sự lạm dụng máy móc, thiết bị hạng nặng làm mặt đất bị nén dẫn đến định mức tưới thay đổi Tốc độ đô thị hóa nhanh làm tăng diện tích
bề mặt không thấm nước (nhựa đường, bê tông,…) dẫn đến dòng chảy bề mặt từ các khu vực đô thị và trên lưu vực đó tăng lên; sự phát triển kinh tế của vùng đồng bằng ngập lũ tác động lên dòng chảy tự nhiên làm gia tăng đáng kể lưu lượng dòng chảy lũ tràn Ngoài ra, một trong những nguyên nhân chính trực tiếp dẫn đến sự hình thành của
lũ lụt có cả sự sai sót trong việc thực hiện các biện pháp KSL dẫn đến các công trình đê, đập bị vỡ gây ra thảm họa [4]
1.1.1.1 Những hệ thống công trình KSL điển hình trên thế giới
Trong thời đại ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới dù phát triển hay kém phát triển, từ Đông sang Tây,… ở những nơi thường xảy ra lũ lụt đều xây dựng hệ thống công trình KSL nhằm bảo vệ sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội, giảm thiểu thiệt hại do lũ mang đến Dưới đây là một số ví dụ:
Ở Mỹ: lũ lụt thường xuyên xảy ra tại lưu vực các con sông lớn Điển hình là lưu
vực Sông Mississippi Đây là một trong những con sông lớn nhất, có tầm chiến lược nhất nước Mỹ Sông dài 4.070 km từ Bắc Minnesota xuống vùng châu thổ tại Vịnh Mehicô Nơi đây, đã xảy ra nhiều cơn lũ lớn với sức tàn phá khủng khiếp gây thiệt nặng
nề về tài sản và người ở các thành phố nằm dọc ven sông này [5]
Để ứng phó với lũ, Chính phủ Mỹ đã xây dựng nhiều công trình KSL, với hệ thống đê bao, kênh thoát lũ, hồ điều hòa, cống, âu thuyền, đập ngăn sông,… trên toàn tuyến sông Thượng Mississippi là đoạn sông có nhiều công trình thủy lợi nhất, từ St.Paul đến St.Louis được kiểm soát, vận hành như chuỗi kênh đào bằng 29 cống đập Vùng Hạ Mississippi đã được xây hệ thống đê bao, kênh phân lũ vào các hồ điều tiết là Arkabutla, Sardis, Enid và Grenada
Trang 26Mississippi, hệ thống đê điều được nâng cấp sau lũ năm 1993 với kinh phí 10 tỷ đô-la
đã ngăn chặn thiệt hại đáng kể Vào các trận lũ sau đó các năm 1995, 1997, 2001,… thiệt hại kinh tế do lũ lụt đã giảm rất nhiều [6]
Tuy nhiên, hệ thống KSL và đê bao hiện nay vẫn không tránh khỏi nhiều bất cập
về một số mặt Đất bị co ngót và lún sụt, xói lở bờ vùng cửa sông gia tăng và biển xâm thực do thiếu phù sa bồi đắp Nguy cơ tổn thất do bão tăng do các cồn, đảo có hiệu ứng chắn bão sóng thần bị biến mất vì thiếu phù sa bồi đắp Lũ vẫn chưa được ngăn chặn triệt để, thiệt hại kinh tế do lũ trung bình mỗi năm vẫn còn lên đến hơn 6 tỷ đô-la Mỹ [6]
Tại Bangladesh (Sông Hằng): Bangladesh là vùng tam giác châu nhận nước
mưa nhiều nhất trên thế giới, 92% nước mưa của ba lưu vực có tổng diện tích 1,5 triệu
km2 của ba sông chính trong khu vực là Brahmaputra, Sông Hằng và Meghna thuộc ba nước Bhutan, Ấn Độ và Nepal chảy về hạ lưu là Bangladesh, trước khi đổ ra Vịnh Bengal [7]
Trước đây, khi chưa có công trình KSL ở thượng nguồn, trong khi rừng ở đó đang bị tàn phá nặng nề nên hàng năm nước lũ tràn vào nhiều khu vực của Bangladesh gây xói lở đất đai, lụt lội
Hiện nay, Bangladesh đã có tổng cộng khoảng 13.000 km đê, gồm 9.000 km đê sông và 4.000 km đê biển Khoảng 30% diện tích cả nước, với khoảng 35 triệu dân được bảo vệ Nhờ có đê biển, thiệt hại do bão trong thập niên qua được giảm thiểu Sản lượng lúa tăng 1,9 lần so với khi không có hệ thống KSL Nhờ hệ thống KSL và dẫn thủy, Bangladesh sản xuất đủ lương thực nuôi 135 triệu dân [8]
Tuy nhiên, ngoài những lợi ích nói trên, nhiều bất cập vẫn tồn tại khi vận hành
hệ thống chống lũ ở Bangladesh Cụ thể:
- Các đê bằng đất do thi công kém nên hay bị vỡ, lũ lụt vẫn xảy ra vì cường suất lũ của sông trở nên mạnh hơn do nạn phá rừng ở đầu nguồn
- Vùng đất thấp xa sông thiếu phù sa bồi đắp, trở nên bạc màu, nền đất bị lún sụt
- Môi trường sinh thái bị mất cân bằng, vùng rừng ngập mặn Sunderbans bị ảnh hưởng
- Hệ thống đê điều ngăn lũ do chưa được phân bố đồng đều, ngăn lụt được ở vùng này thì làm gia tăng lụt ở vùng khác gây bức xúc xã hội
- Lòng sông rạch hạ lưu bị cạn do lượng lắng đọng phù sa tăng, cản trở giao thông thủy
- Quan điểm của cộng đồng địa phương không được quan tâm khi hoạch định, nên ngày nay nhiều mâu thuẫn giữa dân và chính quyền xảy ra Vì dân quá nghèo, không thể canh tác lúa cao sản cần nhiều phân bón và thuốc diệt sâu bọ, nên một
số nông dân phá đê tái tạo lụt như trước kia để canh tác lúa nổi, mặc dầu năng suất kém hơn (nhưng lợi hơn)
Trang 27Hình 1-3: Lãnh thổ Bangladesh và châu thổ sông Hằng
Ngày nay, Bangladesh vẫn tiếp tục chương trình trị thủy với các hệ thống đê điều, nhưng đồng thời tìm giải pháp khắc phục các yếu điểm kể trên Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Á Châu và các chuyên viên thủy lợi ngày nay lắng nghe ý kiến của người dân để vừa phối hợp kỹ thuật tân tiến trong xây dựng đê điều với kinh nghiệm cổ truyền ngàn năm của nông dân trong vấn đề sống còn của họ [7]
Tại Châu Âu: chế ngự lũ lụt từ các con sông xuyên biên giới được thể hiện rõ
nhất ở các quốc gia có sông Danube chảy qua Sông Danube là sông dài thứ hai ở châu
Âu (sau sông Volga ở Nga) Sông bắt nguồn từ vùng Rừng Đen của Đức, tuần tự chảy qua các nước: Đức, Áo, Slovakia, Hungary, Croatia, Serbia, Bulgaria, Romania, Moldova và Ukraina [9]
Các quốc gia lưu vực sông này cũng thường xuyên phải đối mặt với nạn lũ lụt tại những vùng đất thấp Trong số đó, Ucraina là nước trong lưu vực sông Danube có nhiều sông nhánh lớn nhất (Tisza, Prut và Sibet và bản thân Danube) Hiện tại, nước này cũng đang phải chịu vấn nạn lũ lụt khá trầm trọng Một trong các nguyên nhân gia tăng tổn thất do lũ lụt là sự gia tăng định cư hay canh tác tại các vùng ngập lũ thường xuyên trước kia Diện tích chịu ngập lụt là 165 ngàn km2 (hơn 27% diện tích cả nước)
Để chống lũ, bảo vệ các khu dân cư, đến giữa thế kỷ 20, Ucraina đã xây dựng hệ thống công trình thuỷ lợi ngăn lũ dọc sông Danube tổng chiều dài lên đến 239 km Bao gồm 215 km đê, 13 cống kiểm soát mực nước các hồ ven sông Danube Tổ hợp công trình này đã ngăn lũ cho Reni, Izmail, Kilya, Volkovo và hơn 40.000 ha đất nông nghiệp, đường giao thông cấp quốc gia, 10 km đường ống khí đốt Nga-Rumani-Thổ Nhĩ Kỳ, 10 km đường truyển tải điện Moldovia-Rumani-Bulgaria
Mặc dù vậy, nghiên cứu của Cơ quan quản lý Tài nguyên nước Odessa năm 2005-2006 trong khuôn khổ dự án TACIS “Cảnh báo tình huống khẩn cấp và biện pháp phòng chống lũ lụt tại vùng hạ lưu Danube”, cho thấy các công trình KSL hiện có dọc theo bờ sông tại Ucraina không thể bảo vệ khu vực trong trường hợp lũ cực đoan Sau trận lũ năm 2006, Chính quyền Ucraina đã rà soát các công trình chống ngập lũ đang có nguy cơ hỏng hóc vùng lưu vực Danube thuộc Ucraina, xây dựng củng cố các tuyến đê
Trang 28đã xuống cấp nghiêm trọng, nâng cấp tuyến đê chưa đủ cao trình, rà soát nâng cấp sửa chữa và thiết lập quy trình vận hành mới cho các hệ thống công trình, xác định lại trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý còn đang lỏng lẻo Phối hợp với nước láng giềng Rumani và tham gia chương trình hành động chống lũ của các nước EU Các trận lũ từ năm 2007 đến nay, những thiệt hại đã được ngăn chặn khá triệt để cho thấy các kết quả ban đầu của các biện pháp khắc phục [10]
Hình 1-4: Hệ thống đê chống lũ dọc sông Danube (Ucraina)
Ngoài những hiệu quả tích cực về phòng lũ như: giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ và
mở rộng sản xuất, phát triển hạ tầng, bố trí dân cư,… hệ thống công trình KSL cũng để lại những hệ lụy không nhỏ ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, làm thay đổi chế
độ dòng chảy nước mặt lẫn nước ngầm, biến dạng hệ sinh thái, gây ô nhiêm môi trường đất và nước,…
Đối với sông đa quốc gia biện pháp phòng lũ xuyên biên giới không thể thiếu sự phối hợp ăn ý giữa các nước khác nhau và cần tính đến quyền lợi tất cả các khu vực thượng lưu cũng như hạ lưu sông
1.1.1.2 Những nghiên cứu có liên quan đến nội dung của đề tài
Như đã nêu ở trên, chúng ta khó có thể chế ngự hoàn toàn được lũ lụt (đặc biệt là các sông lớn và sông xuyên biên giới), các công trình KSL có thể giảm được phần lớn những thiệt hại tại vùng được bảo vệ, nhưng cũng có thể gia tăng ngập lụt tại nơi khác,
và gây ra rất nhiều những tác động xấu đến đến môi trường sinh thái Do đó chiến lược KSL trước kia có xu hướng được thay thế bằng chiến lược quản lý tổng hợp các nguồn
Trang 29thiên niên và sống như một phần của thiên nhiên” [13] Trong những năm qua, nhằm hướng tới quản lý bền vững các nguồn tài nguyên nước, các nhà khoa học đã xây dựng các phương pháp để đánh giá (định lượng) được hiệu quả, cũng như tiên lượng được những tác động của các dự án (công trình) KSL đến kinh tế-xã hội cũng như môi trường Dưới đây là một vài nghiên cứu điển hình
Nhóm tác giả của Hiệp hội Vật lý Hoa kỳ, K Palanisami và K William Easter (1984), đã tiến hành đánh giá lại dự án KSL ở phía Bắc Dakota (bao gồm đập BalDhill
và hồ Ashtabula), bắt đầu vận hành từ năm 1952 Các chỉ số được dùng để đánh giá bao gồm: chỉ số xây dựng, chỉ số giá nông nghiệp và chỉ số giá tiêu dùng trong đô thị để đánh giá lại khả năng hưởng lợi cho lĩnh vực bao gồm các vùng đô thị, các ngành nông nghiệp và thủy sản Phương pháp được sử dụng đó là mở rộng bài toán phân tích lợi ích-chi phí (Cost-Benefit) Theo kết quả đã được đánh giá trước đó (do Hiệp hội các kỹ
sư Hoa Kỳ thực hiện theo cách tính cổ điển) cho thấy 92% lợi nhuận đến từ việc hỗ trợ nguồn nước và 8% từ việc KSL, nhưng theo cách tính mới này, kết quả cho thấy rằng việc KSL đem lại 72% nguồn lợi và việc cung cấp nước không đem lại lợi ích gì Thêm vào đó, các tác giả cũng chỉ ra rằng những đánh giá trước đây dựa trên các thông tin không phù hợp, bỏ qua các lợi ích đem lại từ ngành thủy sản và giải trí chiếm đến 28% tổng nguồn lợi Tuy nhiên, phương pháp phân tích trong nghiên cứu này cũng còn một
số giới hạn đó là chưa đánh giá một cách chi tiết về lợi ích và chi phí về thu nhập của các tầng lớp khác nhau và các vùng miền khác nhau [14]
Roy Brouwer và Remco van Ek (2004), thuộc Viện Nghiên cứu Quốc gia về Quản lý tích hợp nguồn nước và Xử lý nước thải Hà Lan, đã phát triển quy trình đánh giá tác động tổng hợp kinh tế, xã hội và sinh thái của các phương án KSL thông qua trường hợp nghiên cứu tại đồng bằng Rhine và Meuse (Hà lan) Việc đánh giá các tác động sinh thái, kinh tế và xã hội đã được thực hiện theo cách tích hợp thông qua việc phân tích chi phí-lợi ích (Cost-Benefit Analysis, CBA) và phân tích đa tiêu chí (Multi-creteria Analysis, MCA) Các phương pháp này đưa ra các kết quả khác nhau Mặc dù các chính sách KSL lụt truyền thống thông qua việc gia cố đê là một lựa chọn hiệu quả, nhưng việc đầu tư vào thay thế chính sách KSL lụt bằng việc thay đổi sử dụng đất và vùng đồng bằng ngập lũ phục hồi được xem là hợp lý dựa trên cơ sở của cả hai phương pháp CBA và MCA, bao gồm cả lợi ích sinh thái và kinh tế-xã hội được bổ sung trong thời gian dài Kết quả của phương pháp MCA ảnh hưởng nhiều đến các chỉ số chất lượng do các tác động xã hội dự kiến đối với việc thay đổi sử dụng đất và vùng ngập lũ Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn còn mặt hạn chế là chưa đánh giá tích hợp mối tương quan cụ thể về các vấn đề khác nhau do tác động của cả hai phương pháp phân tích lợi ích-chi phí và phân tích đa tiêu chí, và các vấn đề khác nhau do sự khác biệt về kiến thức và thông tin về những tác động này[15] Đây là phương pháp cần được xem xét và
áp dụng có cải tiến cho đề tài
Richard J Dawson và cộng sự (2011) đã đánh giá (định lượng) hiệu quả của các giải pháp phi công trình như quy hoạch không gian sử dụng đất, bảo hiểm và xây dựng khả năng tự khôi phục sau lũ (flood resilient construction) Nhóm tác giả đã phát triển
mô hình mô phỏng sử dụng đất và phân tích rủi ro lũ dài hạn với cách tiếp cận tích hợp các kịch bản biến đổi khí hậu và kinh tế-xã hội Phương pháp này đã được ứng dụng
Trang 30cho một trường hợp nghiên cứu ở cửa sông Thames (nước Anh), nơi có hệ thống công trình chống lũ, ngăn triều với 185 dặm tường chắn lũ và 35 cống lớn, 400 cống nhỏ[16]
Mostafa Ahmadvand và Ezatollah Karami (2008), thuộc trường Đại học Shiraz University (Iran), đã sử dụng cách tiếp cận so sánh quan hệ nhân quả để đánh giá tác động xã hội của dự án mở rộng vùng KSL đồng bằng Gareh-Bygone ở Iran Thu thập thông tin bao gồm số liệu thực đo và số liệu lưu trữ, số liệu điều tra vùng nông thôn (PRA) với 202 hộ dân tại các làng có và không có dự án Các chỉ tiêu xã hội dùng để đánh giá bao gồm: chất lượng cuộc sống, mức độ hài lòng của người dân,… (bao gồm 2 khía cạnh: tổ chức thành viên và sự tín nhiệm), điều kiện kinh tế nông thôn, nông nghiệp, duy trì các nguồn lực xã hội, sự phát triển cấu trúc xã hội [17]
Chương trình giảm thiểu thiệt hại do lũ tại Canada (FDRP), khởi động năm
1975, đánh dấu sự bắt đầu thay đổi chính sách quốc gia từ biện pháp công trình KSL truyền thống, như đê, đập sang các biện pháp phi công trình bao gồm bản đồ hóa và phân vùng ngập lũ Trước đây, các đánh giá thực hiện chương trình không đi sâu vào khía cạnh phân tích lợi ích-chi phí Rob de Loe và Danuta Wojtanowski (2000), Đại học Guelph (Canada), đã đánh giá một cách hệ thống các lợi ích và chi phí của chương trình Sử dụng phương pháp khảo sát điều tra delphi 2 giai đoạn và tham vấn hội đồng
50 chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên môn liên quan Phạm vi đánh giá lợi ích-chi phí rộng lớn được xác định liên quan đến bốn lĩnh vực (bảo vệ môi trường, quy hoạch
sử dụng đất, quản lý đồng bằng ngập lũ và “vấn đề khác”) Hội đồng Chuyên gia đánh giá rằng, những lợi ích như cải tiến quản lý quy hoạch khu vực chịu nguy cơ lũ và bảo
vệ các yếu tố môi trường quan trọng có thể coi như thành quả của Dự án Ngược lại, hầu hết các chi phí bổ sung như: gia tăng chi phí cho đơn vị thiết kế-không được xem là quan trọng cho dự án Nghiên cứu đi đến kết luận rằng quyết định của chính phủ liên bang về “cuốn gói” sáng kiến quản lý vùng đồng bằng ngập lũ phi công trình-dựa trên lập luận rằng đó là sáng kiến thuộc lĩnh vực hẹp-là điều đáng tiếc [18]
Tóm lại: để đánh giá và dự báo được hiệu quả và tác động của một dự án
(chương trình) KSL, chúng ta cần phải dựa việc phân tích định lượng các mục tiêu, tiêu chí bao hàm các thành phần kinh tế-xã hội và môi trường sinh thái Cách tiếp cận mới hiện nay là việc mở rộng bài toán phân tích lợi ích và chi phí, trong đó các yếu tố kinh
tế, xã hội và môi trường đều cố gắng lượng hóa bằng tiền
1.1.2 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
1.1.2.1 Những hệ thống công trình KSL điển hình ở Việt Nam
Việt Nam đã có kinh nghiệm lâu đời trong việc phòng chống và thích ứng với lũ lụt Điển hình là người dân Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) xây dựng hệ thống đê cao kiến cố để chống lũ, người dân ĐBSCL học cách sống chung với lũ, chi tiết được trình bày dưới đây
- Ở ĐBSH: trung bình hàng năm nơi đây hứng chịu 4 trận bão từ biển Đông đổ
bộ vào, gây mưa lũ ở vùng núi cao đổ xuống đồng bằng từ tháng 5 đến tháng 10 Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu, nạn phá rừng trầm trọng ở
Trang 31đầu nguồn cũng như ở đồng bằng, đặc biệt với tốc độ đô thị hóa lớn hiện nay, tình hình
lũ lụt ở ĐBSH còn rất trầm trọng
Hình 1-5: Hệ thống đê sông vùng ĐBSH
Để bảo vệ sản xuất và các khu dân cư, hệ thống phòng lũ sông Hồng-sông Thái Bình đã được xây dựng gồm: (i) hệ thống đê sông, đê biển, (ii) hệ thống hồ chứa điều tiết lũ ở thượng nguồn, (iii) hệ thống kênh phân lũ thoát nước, (iv) các vùng ngập làm chậm lũ xung quanh Việt Trì và Phả Lại, (v) hệ thống quan trắc cảnh báo
- Ở ĐBSCL: là phần cuối cùng của châu thổ sông Mêkông, giáp với biển Đông
và vịnh Thái Lan, có diện tích khoảng 3,9 triệu ha ĐBSCL là vùng đất thấp, khá bằng phẳng, thường bị ngập lụt hàng năm khoảng 3÷5 tháng vào mùa lũ
Trước đây, ĐBSCL luôn bị ngập nặng vào mỗi mùa lũ Khu ngập bao gồm hầu hết vùng Đồng Tháp Mười và phần lớn vùng TGLX với cấp độ nhẹ hơn Diện tích ngập
lũ hàng năm của ĐBSCL khoảng 1,6÷1,8 triệu ha đối với năm lũ lớn, với thời gian ngập
lũ từ 3÷4 tháng ảnh hưởng lớn đối với canh tác nông nghiệp, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của dân cư Mặt khác, lũ cũng đem lại nhiều lợi ích về nguồn thủy sản nước ngọt, bồi bổ phù sa cho ruộng, dòng chảy lũ có tác dụng làm vệ sinh đồng ruộng, thau chua rửa phèn, diệt côn trùng, chuột bọ,… có hại cho mùa màng
Từ sau trận lũ năm 1996 đến nay, được sự đầu tư của Nhà nước, hàng loạt các công trình KSL đã được xây dựng ở Đồng Tháp Mười (ĐTM) và TGLX góp phần hạn chế tác hại của lũ, đặc biệt là ở vùng TGLX Những công trình đã xây dựng như: đập cao su Tha La, Trà Sư, kênh Vĩnh Tế và tràn Xuân Tô, hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây, kênh Tân Hóa-Lò Gạch, các kênh thoát lũ vùng Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp cùng với hệ thống đê và bờ bao ngăn lũ với tổng chiều dài khoảng 13.000 km, trong đó 7.000 km bờ bao chống lũ tháng 8 để bảo vệ lúa Hè Thu, đã phát huy hiệu quả trong việc KSL và phát triển sản xuất trong vùng
Trận lũ năm 2000 và 2001 mực nước lũ đầu vụ trong nội đồng giảm từ 30÷40
cm (vùng TGLX), một số khu vực dân cư đã ổn định không phải chạy lũ, mức độ thiệt hại về người và của đã giảm xuống rất nhiều Điều đó cho thấy rằng, KSL ĐBSCL là
Trang 32hướng đi đúng đắn và đã đạt những thành quả đáng kể, giúp ổn định và phát triển kinh tế-xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng trong vùng ngập lụt Cùng với hệ thống KSL là các cụm dân cư được hình thành theo chương trình dân cư vùng ngập lũ,
hệ thống giao thông kết hợp thủy lợi đã kết nối các khu dân cư với hệ thống giao thông liên huyện, liên tỉnh và quốc gia, tạo thành địa bàn sinh sống vững chắc, an toàn và chủ động trong vùng ngập lũ
Hình 1-6: ĐBSCL và các vùng ngập lũ năm 2000
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống công trình KSL ở ĐBSCL và ĐBSH cũng đã bộc lộ một số hạn chế, gây ra những tác động xấu đến phát triển bền vững kinh tế-xã hội và môi trường, có thể thấy được là:
- Lượng phù sa sụt giảm: phù sa vào được đồng ruộng giảm đi nhiều, gây lắng đọng trong lòng sông, bờ đê dẫn đến thu hẹp dòng chảy làm tốc độ chảy mạnh hơn khi có lũ gây xói mòn bờ và phá đê Đáy sông ngày càng cạn, tạo các cồn và bải bồi ở cửa sông, làm khả năng thoát lũ chậm
- Đê phải nâng ngày càng cao và to hơn, hễ củng cố nơi này thì nạn đê vỡ xảy ra nơi khác, lũ lụt vẫn xảy ra
- Nguồn lợi thủy sản khác trên đồng ruộng và sông bị giảm
- Môi trường bị suy giảm Để bù đắp vào việc thiếu phù sa do giảm lụt mang vào đồng ruộng, người dân phải sử dụng lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, phân bón
vô cơ, hữu cơ gây ô nhiễm nguồn nước
1.1.2.2 Các nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến nội dung của đề tài
Là vùng đất giàu tiềm năng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, nhưng do nằm cuối lưu vực sông lớn nên TGLX đã phải đối mặt với nhiều bất lợi nảy sinh về nguồn nước, như lũ, hạn, chua phèn và xâm nhập mặn, Để giải quyết những vấn đề đã có nhiều nghiên cứu về lũ, về môi trường, về quản lý sử dụng tài nguyên nước, về các giải pháp công trình KSL để phát huy hiệu quả sản xuất, phòng
H
ậu Giang
Trang 33tránh thiên tai, bảo vệ môi trường, Dưới đây là một số đề tài, dự án nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp quản lý hệ thống công trình KSL TGLX nhằm nâng cao hiệu quả thoát lũ và chủ động phân phối nước ngọt, kiểm soát xâm nhập mặn” do Nguyễn Ân Niên chủ nhiệm, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam
chủ trì (2001-2004) [19], đã đánh giá khả năng làm việc của hệ thống thoát lũ biển Tây, phân tích những mặt mạnh, yếu của hệ thống, sử dụng công cụ là các mô hình toán với các phần mềm mạnh để tìm lời giải cho các giải pháp quản lý hiệu quả công trình Đã
sơ bộ lập các giải pháp kỹ thuật đề án “Hiện đại hóa công tác quản lý vận hành hệ thống KSL TGLX”, trên cơ sở các công trình hiện có và đề xuất công trình dự kiến hoàn
thành trong tương lai, tác giả đã đề xuất một sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống về mùa kiệt
và mùa lũ đáp ứng mục tiêu hiện đại hóa công tác quản lý vận hành các công trình thủy lợi vùng TGLX Vấn đề thay đổi mô hình canh tác trong vùng nghiên cứu đã được đề cập sơ bộ Đây là kết quả quý giá mà đề tài cần tham khảo, kế thừa và bổ sung trong quá trình nghiên cứu
Đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ ĐBSCL” do Trần Như Hối chủ nhiệm, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì
(2003-2005) [20], đã tổng kết hiện trạng đê bao, bờ bao vùng ngập lũ ĐBSCL, nghiên cứu trên mô hình toán về hệ quả thuỷ lực của các loại công trình thuộc hệ thống công trình KSL bao quát các trường hợp đặt ra, và có nhiều thông tin cần thiết để đánh giá các phương án bờ bao nhằm định ra phạm vi các vùng bao, quy mô kích thước bờ bao
và cao trình vượt lũ cho các loại công trình theo phương án chọn Nghiên cứu và thử nghiệm các công nghệ thiết kế thi công đê bao Đề tài cũng đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các mô hình bao đê và chọn lựa mô hình bao đê thích hợp đối với nhiệm vụ KSL tại các nơi có hình thức canh tác lúa khác nhau nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ
Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu nhận dạng toàn diện về lũ, dự báo và KSL ĐBSCL”, do Tô Văn Trường - Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam chủ trì (2002-
2004) Đề tài đã nghiên cứu phân tích hệ thống, kết hợp các lý luận hiện đại về quản lý
lũ, cải tiến mô hình quản lý lũ, cải tiến mô hình dự báo lũ và mô hình thủy lực, xây dựng mô hình quản lý lũ chung sống với lũ một cách chủ động ở ĐBSCL Đề tài đã nêu
ra sự cần thiết phát triển công nghệ nhận dạng và dự báo lũ bằng mô hình tổng hợp dòng chảy thượng nguồn từ mưa, mô hình truyền lũ trên sông, các mô hình thủy văn thủy lực kết hợp với công nghệ GIS
Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu kiểm soát quản lý lũ ven biên giới”, do Tô
Văn Trường-Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam chủ trì, đã xác định cơ sở khoa học cho giải pháp quản lý lũ ven biên giới; Đề xuất giải pháp quản lý lũ để phát triển bền vững vùng ven biên giới Việt Nam-CPC và giảm nhẹ thiên tai vùng ĐBSCL phù hợp với chiến lược KSL toàn ĐBSCL và chiến lược KSL hạ lưu vực Mêkông, phù hợp với chiến lược phát triển tài nguyên nước ĐBSCL và chiến lược phát triển tài nguyên nước
hạ lưu vực Mêkông, phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể lưu vực Mê Công của
uỷ hội sông Mê Công Quốc tế và chiến lược quản lý lưu vực sông của Việt Nam [21]
Trang 34Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp để các ngành và địa phương liên quan xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch (đặc biệt là quy hoạch KSL và giảm nhẹ thiên tai, quy hoạch phát triển thuỷ lợi, quy hoạch phát triển dân cư và cơ sở hạ tầng,…) của ngành và địa phương mình, cũng như giúp các cơ quan chức năng có cơ sở điều chỉnh sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam-CPC nhất là giải quyết các vấn đề xuyên biên giới
Đề tài cấp Nhà nước “Đề xuất các giải pháp quản lý xây dựng đê bao và đường giao thông nhằm giảm thiểu tác hại của lũ xuyên biên giới Việt Nam-Cămpuchia”, năm
2009-2010, do Đặng Thanh Lâm làm chủ nhiệm, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam chủ trì, đã giải quyết các vấn đề về lũ biên giới, nhất là các giải pháp đê bao và đường giao thông hợp lý cho vùng này Nghiên cứu này được thực hiện trên diện hẹp, quan tâm chủ yếu đến lũ [22]
Đề tài KHCN cấp nhà nước KC08-18 “Nghiên cứu xâm nhập mặn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng ven biển ĐBSCL” do Lê Sâm-Viện Khoa học Thủy lợi miền
Nam chủ trì (2001-2005) [23], trên cơ sở kết quả điều tra mặn, đã làm rõ quy luật diễn biến và tác động của xâm nhập mặn vùng ven biển ĐBSCL; xác định ranh giới các vùng có độ mặn khác nhau, nghiên cứu đề xuất và phân vùng canh tác phù hợp thực trạng diễn biến mặn, nghiên cứu dự báo, cảnh báo tác động của xâm nhập mặn do nhu cầu mở rộng diện tích nuôi tôm, kiến nghị cụ thể một số vùng khó khăn về nước ngọt, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả nên chuyển sang nuôi thủy sản nước mặn vào mùa khô, trồng lúa về mùa mưa để tạo một môi trường sản xuất ổn định và bền vững Ngoài
ra, đề tài cũng đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện, nâng cấp, từng bước hiện đại hóa các hệ thống công trình kiểm soát mặn phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tại các vùng ảnh hưởng mặn của ĐBSCL gồm vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ, vùng cửa sông Cửu Long (từ Tiền Giang đến Sóc Trăng), vùng ven biển Bạc Liêu, Cà Mau và vùng ven biển Tây (Kiên Giang) Một số vấn đề được lưu ý là khả năng thiếu nước ngọt vào vụ Đông Xuân ở một số vùng ven biển (do mặn xâm nhập) và do đó phải thay đổi mô hình sản xuất ở những nơi này Đối với hệ thống cống thoát lũ ra biển Tây vùng TGLX đảm nhiệm nhiệm vụ ngăn chặn xâm nhập mặn vào mùa khô, đề tài đã có nghiên cứu cho đến thời điểm năm 2005 về hiệu quả của các cống trong vai trò ngăn mặn Đây là kết quả quý giá mà đề tài có thể kế thừa và tham khảo trong quá trình nghiên cứu
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ một số mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở ĐBSCL” do Lê Sâm
làm chủ nhiệm-Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì (2004-2005) [24], đã nghiên cứu một số mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với các vùng sinh thái ở ĐBSCL Trên cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống thủy lợi nội đồng trên các vùng sinh thái, đề tài đã đề xuất nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, xây dựng sơ
đồ, thiết lập một số mô hình thủy lợi nội đồng điển hình phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất cho các vùng sinh thái đặc trưng Đề tài đã phân ĐBSCL thành 3 vùng sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn và đi vào đánh giá hiện trạng hệ thống thuỷ lợi về mức
độ phù hợp, những tồn tại về mặt cấp và thoát nước Những đánh giá này đối với hệ thống công trình thủy lợi vùng TGLX sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho đề tài
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ đánh giá và quản
lý nguồn nước hệ thống thủy lợi có cống ngăn mặn ở ĐBSCL” do Tăng Đức Thắng làm
Trang 35chủ nhiệm-Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam chủ trì (2003-2005)[25], đã nêu được một
số nguyên lý cơ bản về đánh giá và quản lý tài nguyên nước ven biển, nhấn mạnh vai trò của nguồn nước mặn, nước lợ, nước thải, nước mang mầm bệnh, vai trò của các hệ thống thủy lợi điều tiết, kiểm soát nguồn nước trong việc cải thiện chất lượng nước ven biển Đây là những cơ sở quan trọng cho việc đánh giá tác động, hiệu quả hệ thống thủy lợi ven biển ĐBSCL trong đó có hệ thống thoát lũ biển Tây vùng TGLX là đối tượng nghiên cứu của đề tài này
Đề tài của Ủy Ban Mê Công Việt Nam (2007) “Nghiên cứu các mặt tác động trong nước và xuyên biên giới của hệ thống đê bao, bờ bao ĐBSCL”, do Tăng Đức
Thắng làm chủ nhiệm, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì [26], đã nghiên cứu về diễn lũ trên châu thổ Mê Công (từ Kratie ra biển) và các tác động của hệ thống đê bao,
bờ bao đến dâng nước phía CPC và một số tác động như phân bố phù sa trên ĐBSCL,
sự gia tăng dòng chảy (vận tốc) ở cuối các kênh thoát lũ và gây nên xói lở (như ở Tiền Giang), Các kết luận, cơ sở dữ liệu của nghiên cứu này cũng là nguồn thông tin quan trọng cho đề tài
Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn nước tương thích các kịch bản phát triển công trình ở thượng lưu để phòng chống hạn
và xâm nhập mặn ở ĐBSCL”, do Nguyễn Quang Kim làm chủ nhiệm, trường Đại học
Thủy lợi chủ trì (2011) [27], đã đánh giá tác động của các yếu tố ở thượng lưu đến dòng chảy hiện tại và tương lai, đề xuất được chiến lược phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn ĐBSCL ứng với các kịch bản khai thác thượng lưu Đề tài đã chỉ ra khả năng thay đổi rất lớn của dòng chảy về ĐBSCL do thay đổi sản xuất và phát triển thủy điện thượng lưu sông Mêkông; do đó làm thay đổi về chế độ thủy văn, thủy lực trên đồng bằng Nghiên cứu cũng chỉ ra một số tác động đến các mô hình sản xuất hiện nay, trong
đó có thay đổi mô hình thời vụ trên các vùng
Đề tài cấp Bộ “Cơ sở khoa học thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng”
do Nguyễn Sinh Huy làm chủ nhiệm, Viện Thủy lợi Môi trường thuộc Trường ĐHTL (2010) chủ trì [28], đã chỉ ra nhiều vấn đề trên ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD Khi nước biển dâng khoảng 30 cm, nhìn chung chưa có ảnh hưởng nhiều, ngoại trừ vùng ven biển phải điều chỉnh một số mô hình sản xuất Khi nước biển dâng đến 75 cm trở lên, nhiều vấn đề lớn đã nảy sinh: (1) ngập lũ nặng, kéo dài; (2) xâm nhập mặn vào đồng bằng sâu hơn đáng kể; (3) giải pháp ứng phó với NBD đã được đề nghị (hệ thống tiêu thoát úng ngập, các công trình ngăn mặn theo tiến trình NBD, bố trí mô hình sản xuất nông nghiệp, thủy sản cần được điều chỉnh và thay đổi, )
Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu các giải pháp thủy lợi nhằm khai thác bền vững vùng Bán đảo Cà Mau”, (2008-2011) [29], do Tăng Đức Thắng làm chủ nhiệm, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì, đã giải quyết các vấn đề về thủy lợi cho Bán đảo thích ứng với nguồn nước, đất và sản xuất cho hiện trạng và tương lai, xét đến BĐKH-NBD Nghiên cứu đã xem xét chi tiết các bài toán dòng chảy (lũ, kiệt) và chất lượng nước (mặn, ô nhiễm thải bẩn sinh hoạt, công nghiệp, chua đầu mùa mưa, lan truyền bệnh thủy sản) cho Bán đảo (mô hình Bán đảo); đồng thời cũng nghiên cứu tổng thể Châu thổ (để làm biên cho Bán đảo, nhất là khi xét các tác động trên lưu vực Mê Công) Một số kết luận về khả năng nguồn nước về ĐBSCL, ảnh hưởng BĐKH-NBD
Trang 36đến tiêu thoát trên đồng bằng, phân bổ các nguồn nước với chất lượng khác nhau trên Bán đảo đã được giải quyết khá chi tiết Thêm vào đó, khả năng tiêu thoát lũ, mưa cho ĐBSCL (và Bán đảo) khi NBD ở mức cao đã được xem xét Giải pháp sử dụng các cửa tiêu phía biển Đông từ Mỹ Thanh đến Gành Hào có công trình kiểm soát đã được đề xuất, cho thấy hiệu quả tiêu tốt, nhất là khi NBD cao, các cửa phía biển Tây mất dần khả năng tiêu Các kết quả của nghiên cứu này có thể cung cấp phương pháp luận, công
cụ (mô hình toán lũ, kiệt, mặn), số liệu và các kết luận khoa học cho đề tài này
Những nghiên cứu trong nước đề cập ở trên đã đạt được nhiều kết quả tốt, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển thủy lợi ở ĐBSCL nói chung và TGLX nói riêng, những kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài trước đây sẽ là những tham khảo
có giá trị mà tập thể tác giả sẽ phát triển và nghiên cứu sâu hơn trong đề tài này
Tuy nhiên, các đề tài, dự án nêu trên chủ yếu vẫn thiên về các giải pháp tính toán
hệ thống công trình thủy lợi hướng mục tiêu chính cho sản xuất nông nghiệp mà tập trung chủ yếu cho cây lúa, và với nhiệm vụ công trình đều là ngăn mặn, thoát lũ, trữ ngọt Tính toán hệ thống trên bình diện một khu vực lớn, chưa đi sâu vào đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc về những ảnh hưởng, tác động tích cực cũng như bất lợi đối với
sự phát triển kinh tế xã hội và môi trường đối với vùng nghiên cứu
1.1.3 Những vấn đề còn tồn tại mà đề tài cần giải quyết
Kể từ khi đi vào vận hành đến nay (năm 1999), quy mô của hệ thống công trình KSL vùng TGLX tiếp tục được bổ sung bởi các cống trên đê biển (nhằm tăng khẩu độ tiêu thoát và lấy nước mặn phục vụ NTTS); hệ thống đê bao, bờ bao, đường giao thông
ở vùng lũ không ngừng được xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo cũ Ngoài ra, hiện nay đang có nhiều dự án đầu tư xây dựng về thủy lợi, giao thông, xây dựng, đang và sẽ triển khai, như là:
- Các công trình kiểm soát mặn, tiêu thoát lũ: cống Hà Giang (trên kênh Hà Giang, khẩu độ 25 m), cống Vàm Răng (trên kênh Vàm Răng, khẩu độ 30 m), các cống
281, 282, 284, trên đê biển Hòn Đất-Kiên Lương, đã được xây dựng và đi vào vận hành;
- Các dự án xây dựng cống lớn trên trục thoát lũ chính của vùng TGLX ra biển Tây như: sông Kiên (khẩu độ 40 m đang thi công); kênh Nhánh (khẩu độ 50 m)
và Kênh Cụt (khẩu độ 66 m) đã hoàn thành công đoạn lập dự án đầu tư;
- Tuyến đê biển Hòn Đất-Kiên Lương (từ cống số 2 đến Chùa Hang dài 74 km) đang được nâng cấp để ứng phó với nước biển dâng và kết hợp làm đường giao thông ven biển;
- Dự án xây dựng cống Cái Lớn-Cái Bé tuy không nằm trong TGLX nhưng cũng
có mối liên quan, ảnh hưởng tương tác đến KSL, mặn và ngọt; các dự án về chống sạt lở bờ, khôi phục rừng phòng hộ ven biển Tây cũng đang được triển khai,
- Tuyến đê biển Rạch Giá với mục tiêu giữ lại nguồn nước ngọt (hàng tỷ mét khối hàng năm) đổ ra vịnh Rạch Giá để điều tiết, phân phối phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt trong bối cảnh ngày càng khan hiếm nguồn nước ngọt vào mùa khô;
Trang 37biển dâng, đang được Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Nông nghiệp & PTNT nghiên cứu;
- Việc có nên xây dựng 8 cống bờ Tây sông Hậu để chủ động hơn trong KSL vào TGLX vẫn đang là một đề tài tranh cãi cần phải nghiên cứu
- Việc bùng phát canh tác lúa vụ 3 (lúa thu đông) trong thời gian qua, ở ĐBSCL nói chung, vùng TGLX nói riêng, đang trở thành vấn đề thời sự
- Vấn đề KSL vùng biên giới thuộc khu vực TGLX nhằm điều tiết lũ hợp lý cho phép sản xuất 2 đến 3 vụ ăn chắc, cải tạo môi trường và bảo vệ cơ sở hạ tầng trong vùng đang được các địa phương và cơ quan hữu quan hết sức quan tâm
- Đập cao su Trà Sư, Tha La đóng ở cao trình +3,80m là hơi thấp, nên khi mực nước tại Châu Đốc vượt quá cao trình +3,80m làm lũ tràn qua đập với lưu lượng đáng kể làm giảm tác dụng ngăn lũ đầu vụ của đập Mặt khác, khi mở thì lưu lượng nhất thời tập trung qua hai cửa này quá lớn làm xói mòn khu đất lớn ở hạ lưu, làm đồng ruộng bị bạc màu Ngoài ra, việc thao tác hai công trình này vẫn chưa được tính toán kỹ, nên xảy ra lũ năm 2011 đã phát sinh những mâu thuẫn khó giải quyết: nếu đóng đập sẽ làm tăng mực nước lũ bên CPC, nếu mở đập, lũ tràn vào TGLX làm ngập nhiều khu đang canh tác trồng lúa chưa kịp thu hoạch
ở An Giang và Kiên Giang;
- Quan trọng không kém, là việc vận hành của cả hệ thống công trình sau nhiều năm đã ảnh hưởng đến hệ môi trường sinh thái ven biển gây nên những tình trạng xói lở bờ kênh, bờ biển, bồi lắng trên kênh rạch và ô nhiễm môi trường ở vùng biển Rạch Giá, đầm nước mặn Đông Hồ Với hơn 200 km đường biển, vùng ven biển Kiên Giang hằng năm nhận khoảng 15 tỷ m3 nước từ thượng nguồn đổ ra, mang theo phù sa, nước thải, chất thải (của sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt thượng nguồn), nước phèn từ các vùng đất phèn TGLX, Hà Tiên Chính vì vậy, vịnh Rạch Giá là một trong những nơi cạn nhất (đáy biển ven bờ -1,00m đến -2,00m) bị ô nhiễm nặng nề Điều này đã làm thay đổi hệ sinh thái mặn ven biển Tây, ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài thủy sinh vật, đặc biệt
là dải rừng ngập mặn ven biển
Trong khi đó, vấn đề sử dụng nước, xây dựng các công trình thủy điện ở các quốc gia thượng lưu sông Mê Công có thể làm thay đổi dòng chảy, hệ sinh thái môi trường, ở hạ lưu; Nguy cơ biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể gây nên những thảm họa khó lường, những tính toán về thủy lực cho thấy, nếu trận lũ năm 2000 xảy ra trên nền mức nước biển dâng 0,5 m thì có thể đã là một thảm họa đối với ĐBSCL
Ngoài ra, còn nhiều hạn chế, bất cập, tác động xấu đến phát triển kinh tế-xã hội, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường do hệ thống công trình mang lại mà chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ lưỡng và xác định chính xác Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới ổn định đời sống của người dân, tới hoạch định chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của vùng TGLX
Trang 381.2 TỔNG QUAN VÙNG NGHIấN CỨU
1.2.1 Vị trớ địa lý
Vựng TGLX nằm ở vị trớ từ 9o57’ữ10o12’ vĩ độ Bắc và 104o40’ữ105o35’ kinh độ Đụng, đất đai thuộc phần lớn hai tỉnh An Giang, Kiờn Giang và một phần nhỏ thuộc phớa Bắc huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ, cú phạm vi ranh giới như sau:
K.
à Gi g
K. N
g r- ờn g
K ên
h T
K ên
h T 4
K/. T
ri Tô
n
K. M -ờ i C hâ u
P hú
K.
a Th ê
K.
hắ c
ần Đ ao
K. R
ạc h
Gi á
Lo ng Xu n
K. N
C hó c
K. Ki
C Sắ n K.
a Th ê K/. T
10 15'
10 30'
10 45'
cam pu chia
biển tây
S ô n g
H ậu
tri tôn
long xuyên
núi sập
hòn đất kiên l-ơng
K. N
g r- ờn g
K ên
h T
K ên
h T 4
K/. T
ri Tô
n
K. M -ờ i C hâ u
P hú
K.
a Th ê
K.
hắ c
ần Đ ao
K. R
ạc h
Gi á
Lo ng Xu n
K. N
C hó c
K. Ki
C Sắ n K.
a Th ê K/. T
10 15'
10 30'
10 45'
cam pu chia
biển tây
S ô n g
H ậu
tri tôn
long xuyên
núi sập
hòn đất kiên l-ơng
Hỡnh 1-7: Bản đồ ranh giới hành chớnh khu vực TGLX
- Phớa Bắc giỏp Vương quốc CPC
- Phớa Nam giỏp Quốc lộ 80 (kờnh Cỏi Sắn) từ ngó ba Lộ Tẻ đến TP Rạch Giỏ
- Phớa Đụng giỏp sụng Hậu Giang
- Phớa Nam-Tõy Nam giỏp vịnh Thỏi Lan
Tổng diện tớch tự nhiờn của vựng TGLX là 494.903,58 ha (điều tra thống kờ ngày 01/01/2010), trong đú: An Giang 242.597,43 ha (chiếm 49,02%), tỉnh Kiờn Giang 239.723,09 ha (chiếm 48,44%) và TP Cần Thơ 12.583,06 ha (chiếm 2,58%)
Trang 39VỊ TRÍ VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
øm Luông cửa Co
å Chiên cửa C ung Ha àu
An
K Ta ønh-Lo ø Gạch
K Hồng Ngự
K Đồng Tiến
K.Dương VănDương
K.Nguyễn Văn Tiếp
K An Phong- Mỹ Hòa
Kênh 61
K Ph ước Xuye ân
K Mạc Cần D ung
K Xa
ø No
K Thị Đội Ô M ôn
á - Long
Xu ye ân
K. T
Hồ rừng
U Minh Hạ
Hồ rừng U Minh Thượng
TX.TRÀ VINH
TX.BẠC LIÊU TX.SÓC TRĂNG
TP.CÀ MAU TP.LONG XUYÊN
Trung tâm hành chính cấp tỉnh Biên giới quốc gia
Địa giới tỉnh Quốc lộ Sông ngòi, kênh rạch Vùng điều tra
G H I C H Ú
QL
QL
QL QL.1A
QL 80
QL 61
QL.1A
QL.1A
TP.CẦN THƠ
TX.CHÂU ĐỐCQL 91 QL.91
QL
QL 30
QL 91
QL
QL 1A
QL 53
K. Ca én
K. Ba ê
K.
To ân
K. No âng øng
B
LONG AN
TIỀN GIANG ĐỒNG THÁP
HẬU GIANG
AN GIANG
KIÊN GIANG
VĨNH LONG
Hình 1 VỊ TRÍ VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN
TRONG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
øm Luông cửa Co
å Chiên cửa C ung Ha àu
An
K Ta ønh-Lo ø Gạch
K Hồng Ngự
K Đồng Tiến
K.Dương VănDương
K.Nguyễn Văn Tiếp
K An Phong- Mỹ Hòa
Kênh 61
K Ph ước Xuye ân
K Mạc Cần D ung
K Xa
ø No
K Thị Đội Ô M ôn
á - Long
Xu ye ân
K. T
Hồ rừng
U Minh Hạ
Hồ rừng U Minh Thượng
TX.TRÀ VINH
TX.BẠC LIÊU TX.SÓC TRĂNG
TP.CÀ MAU TP.LONG XUYÊN
Trung tâm hành chính cấp tỉnh Biên giới quốc gia
Địa giới tỉnh Quốc lộ Sông ngòi, kênh rạch Vùng điều tra
G H I C H Ú
QL
QL
QL QL.1A
QL 80
QL 61
QL.1A
QL.1A
TP.CẦN THƠ
TX.CHÂU ĐỐCQL 91 QL.91
QL
QL 30
QL 91
QL
QL 1A
QL 53
K. Ca én
K. Ba ê
K.
To ân
K. No âng øng
B
LONG AN
TIỀN GIANG ĐỒNG THÁP
HẬU GIANG
AN GIANG
KIÊN GIANG
VĨNH LONG Hình 1
Hình 1-8: Bản đồ vị trí vùng TGLX trong ĐBSCL
1.2.2 Đơn vị hành chính các cấp thuộc vùng TGLX
- Tỉnh An Giang cĩ 07 đơn vị hành chính tương đương cấp huyện là: thị xã Châu Đốc, TP Long Xuyên, huyện Châu Phú, huyện Châu Thành, huyện Thoại Sơn, huyện Tri Tơn và huyện Tịnh Biên
- Tỉnh Kiên Giang cũng gồm 07 đơn vị: TX Hà Tiên, TP Rạch Giá, các huyện Giang Thành, huyện Kiên Lương, huyện Hịn Đất và huyện Châu Thành (cĩ 2 xã: Mong Thọ A, Thạnh Lộc), huyện Tân Hiệp (cĩ 5 xã: Tân Hiệp A, Tân Hiệp B, Tân An, Tân Thành, Tân Hội)
- TP Cần Thơ gồm phần phía Bắc Quốc lộ 80 (kênh Cái Sắn) huyện Vĩnh Thạnh Trong đĩ cĩ 3 xã (Thạnh An, Thạnh Lợi, Thạnh Thắng) và phần ranh giới phía Bắc thị trấn Vĩnh Thạnh, Bắc thị trấn Thạnh An và phần phía Bắc của các xã Thạnh
Mỹ, Thạnh Quới, Vĩnh Trinh, Thạnh Tiến thuộc huyện Vĩnh Thạnh
Trang 401.2.3 Đặc điểm địa hình
Vùng TGLX có hai khối địa hình rõ rệt Khối thứ nhất là toàn đồng bằng, chiếm 87% diện tích đất tự nhiên của Tứ giác có cao trình bình quân +l,00m, với độ nghiêng tổng hợp l cm/km theo hướng về phía Nam Cần Thơ và ra biển Tây Khối thứ hai là đồi núi, chiếm 13% diện tích tứ giác với nhiều đỉnh cao trên 700 m, đây là nơi địa hình đất cao, án ngự ngay đầu phía Bắc TGLX có vai trò chi phối khí hậu và thủy văn, đặc biệt
là đối với dòng chảy trong các trận lũ lớn
Nhìn chung, địa hình vùng TGLX tương đối thấp và khá bằng phẳng, xu thế chung thấp dần từ Đông (1,5÷2,0 m) sang Tây (0,4÷0,6 m) và từ Bắc (1,0÷1,5 m) xuống Nam (0,6÷0,8 m)
Đại bộ phận các kênh, rạch chính trong khu vực này đều có hướng Đông Tây Nam, nối từ sông Hậu ra biển Tây, thông qua kênh RG-HT và sông Giang Thành như: Vĩnh Tế, Tri Tôn, Mười Châu Phú, Ba Thê, Kiên Hảo, Rạch Giá - Long Xuyên, Cái Sắn,
Bắc-Hình 1-9: Bản đồ địa hình vùng TGLX