Với cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội nóichung, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng và thực trạng tổ chức bộmáy cơ quan tham mưu giúp việc hiện
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
=============
VÕ VĂN NAM
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
=============
VÕ VĂN NAM
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn: TS LÊ ANH TUẤN
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự định hướng, giúp đỡ của thầy hướng dẫn Các số liệu, kết quả in trong luận văn là khách quan, trung thực.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
VÕ VĂN NAM
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bảnthân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của quý thầy, cô giáo vàcủa nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trước hết tôi xin gửi tới quý thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xãhội, lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc với sự quantâm, giảng dạy, chỉ bảo tận tình, chu đáo của quý thầy cô, đến nay tôi đã hoàn
thành luận văn, đề tài:“Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông”.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
TS Lê Anh Tuấn, đã quan tâm giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này trong thời gian qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội,Khoa luật đã trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập vànghiên cứu đề tài luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, 10 tháng 5 năm 2019
Học viên
VÕ VĂN NAM
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 7
1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội 7
1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội 10
1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội 10
1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội 13
1.2.3 Tổ chức và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội 16
Tiểu kết chương 19
Chương 2: THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG TỪ QUỐC HỘI KHÓA XII (2007-2011) ĐẾN NAY 22
2.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông 22
2.2 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay 23
2.3 Thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ Quốc hội khóa XII (2007-2011) đến nay 24
2.3.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2007 – 2011) 24
2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2011 – 2016) 25
2.3.3 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIV tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2016 – 2021) 25
2.4 Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ khóa XII đến nay 27
Trang 62.4.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật 27
2.4.2 Hoạt động giám sát 29
2.4.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri 38
2.4.4 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân 41
2.4.5 Quan hệ công tác của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh 43
2.4.6 Một số nhận xét về hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương trong thời gian qua 44
2.5 Một số tồn tại, hạn chế 46
2.5.1 Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Đăk Nông còn những tồn tại, hạn chế sau 46
2.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 48
2.5.3 Một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông 51
Tiểu kết chương Error! Bookmark not defined Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG 53
3.1 Về cơ cấu Đại biểu Quốc hội 56
3.2 Hoàn thiện các quy định về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội 58
3.3 Về bộ máy giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội 60
3.4 Phương hướng về tổ chức và hoạt động Đoàn đại biểu Quốc hội từ thực tiễn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông 62
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐBQH: Đại biểu Quốc hội
ĐĐBQH: Đoàn đại biểu Quốc hộiHĐND: Hội đồng nhân dân
PGS-TS: Phó giáo sư, tiến sỹ
TXCT: Tiếp xúc cử tri
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Trang 8MỞ ĐẦU + Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam
xác định “Nhà nước Việt Nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ
của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [2, tr.27] Quan
điểm này đã được thể chế hóa qua các bản Hiến pháp và gần đây nhất Hiến pháp
2013 tiếp tục khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyềnlực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp [Điều 2 - Hiến pháp 2013]
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải cải cách toàn diện Bộmáy nhà nước Trong đó việc đổi mới Quốc hội rất quan trọng, vì Quốc hội là cơquan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiệu quả hoạt động của Quốc hộiđược bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy banthường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đạibiểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và hiệu quả của sự phối hợp hoạt động vớicác cơ quan, tổ chức hữu quan
Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức vàhoạt động của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chứccủa các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươnghoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Nhiệm
vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do Luật tổchức Quốc hội và Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại
Trang 9biểu Quốc hội quy định Hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội đónggóp quan trọng vào hiệu quả hoạt động chung của Quốc hội và các cơ quan củaQuốc hội mà đại biểu Quốc hội trong Đoàn là thành viên Thực tế cho thấy, hoạtđộng của các Đoàn đại biểu Quốc hội đã góp phần tạo nên thành công và chấtlượng cho các kỳ họp Quốc hội Tuy nhiên, với thực trạng pháp luật về Đoàn đạibiểu Quốc hội hiện nay và thực tế thi hành pháp luật liên quan đến Đoàn đại biểuQuốc hội ở tỉnh Đăk Nông đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần làmsáng tỏ Đoàn đại biểu Quốc hội có phải là một cơ quan của Quốc hội hay không?Nếu không phải là cơ quan của Quốc hội thì Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quangì? Với cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội nóichung, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng và thực trạng tổ chức bộmáy cơ quan tham mưu giúp việc hiện nay có thể bảo đảm cho các Đoàn đại biểuQuốc hội thực hiện được tốt nhiệm vụ, quyền hạn mà Luật quy định hay không?
Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu đề tài “Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông” là rất cần thiết.
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức, hoạt động củaĐoàn đại biểu Quốc hội qua thực tiễn của tỉnh Đăk Nông, từ đó tìm giải pháp, đềxuất các kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểuQuốc hội nói chung và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng
+ Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có rất nhiều các nghiên cứu, các đề tài khoa học về Quốc hội và các cơquan của Quốc hội Tuy nhiên, hiện mới chỉ có một vài nghiên cứu về chức năng,vai trò và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; Một số bài viết về Đoàn đạibiểu Quốc hội của các cán bộ tại Văn phòng Quốc hội được đăng tải rải rác ở cáctạp chí và sách báo khác nhau Trong các giáo trình Hiến pháp hay các sáchchuyên khảo về Quốc hội thì phần về Đoàn đại biểu Quốc hội cũng chỉ chiếm mộtdung lượng rất nhỏ (chỉ một vài trang thậm chí là nửa trang) Có 01 luận vănThạc sỹ về “Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời kỳ đổimới” của Trần Văn Tám
Trang 10Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể có hệthống và khá toàn diện về tổ chức, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội; từ đóđưa ra phương hướng, giải pháp cụ thể hoàn thiện hình thức tổ chức, phương thứchoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đoànđại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạtđộng của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội.
Các tài liệu đã thu thập được:
- Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung và Hiến pháp ban hành năm 2013
- Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc của Đảng cộng sản ViệtNam
- Luật tổ chức Quốc hội; Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội…
- Sách chuyên khảo Quốc hội trong Nhà nước Pháp quyền – GS.TS
- Các bài viết về Quốc hội của các tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung; TS Nguyễn Sỹ Dũng; TS Trần Ngọc Đường; TS Bùi Xuân Đức…
- Quốc hội Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn – Văn phòng Quốchội
- Báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông Khoá XII, XIII
+ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, tổ chức, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội từ nhiệm kỳ Quốc hộikhóa XII (2007-2011) cho đến nay
- Đánh giá thực trạng hoạt động của hình thức Đoàn đại biểu Quốc hộiqua hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ đầu nhiệm kỳ khóaXII (2007-2011) đến nay (tỉnh Đăk Nông được thành lập vào ngày 01 tháng 01năm 2004, theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm
2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk thành 2 tỉnh Đăk Lăk và
Trang 11+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên, có hệ thống về tổ chức vàhoạt động của Đoàn ĐBQH qua thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đoàn ĐBQHtỉnh Đăk Nông, từ đó chỉ ra những vấn đề lớn về lý luận và thực tiễn hoạt động;
đề xuất các kiến nghị cụ thể về tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hộinói chung và của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nói riêng
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định về địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội
+ Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin; tưtưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụngcác phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê
và tổng hợp; phương pháp phân tích quy phạm cũng được tác giả vận dụng đểphân tích, bình luận một số quy định pháp luật
+ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Mục đích: Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Đoàn ĐBQH qua thựctiễn tỉnh Đăk Nông từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật, đổi mới tổ chức
và hoạt động của Đoàn ĐBQH nói chung và của Đắk Nông nói riêng phù hợp vớiđặc điểm cụ thể của tỉnh Đắk Nông
Trang 12động của tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong giai đoạn hiệnnay Kết quả nghiên cứu trên có thể áp dụng trong quá trình tổ chức và hoạt độngcủa Đoàn đại biểu Quốc hội.
Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Luận chứng và luận cứ trình bày ở luậnvăn có thể dùng làm tài liệu tham khảo và các kiến nghị tác giả luận văn đề xuất
có thể áp dụng trong quá trình nghiên cứu để sửa đổi Quy chế hoạt động của Đạibiểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội; Sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội
+ Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.3 Nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội
Tiểu kết chương
Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI
BIỂU QUỐC HỘI – QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂUQUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG KHÓA XII (NHIỆM KỲ 2007 – 2011)ĐẾN NAY
2.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông
2.2 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay
2.3 Thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông nhiệm kỳkhóa XII đến nay
2.3.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh ĐăkNông (Nhiệm kỳ 2007 – 2011)
2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIII tỉnh ĐăkNông (Nhiệm kỳ 2011 – 2016)
Trang 132.3.3 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIV tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2016 – 2021).
2.4 Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ khóa XII đến nay
2.4.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật
2.4.2 Hoạt động giám sát
2.4.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri
2.4.4 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân
2.4.5 Quan hệ công tác của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh
2.4.6 Một số nhận xét về hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương trong thời gian qua
2.5 Một số tồn tại, hạn chế
2.5.1 Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Đăk Nông còn những tồn tại, hạn chế sau
2.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
2.5.3 một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của Đoàn
ĐBQH tỉnh Đăk Nông
Tiểu kết chương
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG 3.1 Về cơ cấu đại biểu Quốc hội
3.2 Về hoàn thiện các quy định về Quốc hội và hoạt động của Quốc hội.3.3 Về bộ máy giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội
3.4 Phương hướng về tổ chức và hoạt động Đoàn đại biểu Quốc hội từ thực tiễn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI1.1 Sự cần thiết phải có Đoàn đại biểu Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lựcnhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thựchiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đấtnước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, bởi vì Quốc hội là cơquan duy nhất được nhân dân trực tiếp bầu ra Trong hệ thống cơ quan nhà nước,nhân dân còn trực tiếp bầu ra đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Nhưng Hộiđồng nhân dân chỉ là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dântừng địa phương bầu ra Chính việc Quốc hội do cử tri trong toàn quốc bầu ra từnhững đại diện của mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên đất nước
đã tạo ra cho Quốc hội ưu thế đặc biệt, hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác trong
ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan, bảo đảm chất
Trang 15lượng các quyết định; quy trình thường xuyên được cải tiến hoàn thiện hơn Cácnghị quyết của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước về cơ bản đã cụthể hoá kịp thời và đúng đắn đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảođảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Chất lượng các báo cáo thẩm tra của các cơquan Quốc hội ngày càng được nâng cao, có chính kiến rõ ràng hơn, mang tínhphản biện hơn làm cơ sở các đại biểu Quốc hội thảo luận, biểu quyết; nhiều nộidung được đưa vào trong các Nghị quyết của Quốc hội Các đại biểu Quốc hội đã
có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, thể hiện trách nhiệmcao trước cử tri và nhân dân cả nước Quốc hội thực hiện chức năng quyết địnhcác vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng đầy đủ hơn những nội dung thuộcthẩm quyền, có tính chất thường xuyên hơn và dần đi vào nền nếp Quy trình thảoluận, xem xét, quyết định bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theochế độ hội nghị và quyết định theo đa số Chất lượng các quyết định của Quốc hộiđược nâng lên Các quyết định của Quốc hội được các ngành, các cấp nghiêmchỉnh triển khai và có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,thực sự là cơ sở quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, góp sứccùng các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụcủa mình
Trong hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hộiđược Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định mộtcách rõ ràng cụ thể (Điều 37): Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Tòa án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước quy định tại khoản 1Điều 13 của Luật này thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụtrách hoặc theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Giám sát văn bảnquy phạm pháp luật quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật này; Giám sátchuyên đề; Tổ chức hoạt động giải trình những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồngdân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách; Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tốcáo, kiến nghị của công dân; Kiến nghị về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với ngườigiữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Trang 16Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức vàhoạt động của Quốc hội nước ta Hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ra đờingay từ kỳ họp thứ ba của Quốc hội Khóa I và tồn tại từ đó cho đến nay Theoquy định của pháp luật hiện hành, Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đạibiểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đượcchuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, do đó không nêncoi Đoàn đại biểu Quốc hội là một cơ quan của Quốc hội hay một cấp tổ chứctrong Quốc hội, nhưng thực tế chưa phải mọi ý kiến đã thống nhất trong việc phânbiệt Đoàn đại biểu Quốc hội có phải là cơ quan hay tổ chức độc lập trong Quốchội, cũng như trong việc nhìn nhận khách quan vị trí, vai trò và chức năng củaĐoàn đại biểu Quốc hội.
Mặc dù sự nhìn nhận và đánh giá về Đoàn đại biểu ở các thời kỳ có khácnhau, nhưng thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội nửa thế kỷ qua chothấy, hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương có vị trí, vai tròquan trọng và không thể thiếu được trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội.Điều 3 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 nhấn mạnh “ Hiệu quả hoạt động củaQuốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt độngcủa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội,Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội ” Báo cáo tổng kết nhiệm kỳQuốc hội Khóa XII (2007 – 2011) cũng khẳng định:
“Quốc hội khóa XII có 63 Đoàn đại biểu Quốc hội Từ thực tiễn hoạt độngcho thấy, mô hình tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội là tương đối phù hợp với yêucầu, nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay, bảo đảm tiến hành các hoạt động của đạibiểu Quốc hội tại địa phương và các kỳ họp Quốc hội… Thông qua Đoàn, hoạtđộng của đại biểu Quốc hội được phát huy, mở rộng quan hệ với cử tri, đồng thờitạo điều kiện để các đại biểu Quốc hội hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm
vụ được giao Trên thực tế, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã ngày càng thực hiện
có hiệu quả hơn nhiệm vụ xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp côngdân, theo dõi đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân…;
Trang 17giữ mối quan hệ công tác và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan
ở địa phương, ở trung ương và các hoạt động tại kỳ họp Quốc hội, góp phần quantrọng vào kết quả hoạt động chung của Quốc hội”
Báo cáo công tác nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII (2011 - 2016) tiếp tụckhẳng định: “ Các Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XIII được bảo đảm cơ cấu, sốlượng hợp lý; tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động phùhợp với chức năng, nhiệm vụ của Đoàn; thực hiện tốt việc phối hợp công tác vớicác cơ quan của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan, tổ chức hữu quan ởtrung ương và địa phương Thông qua Đoàn đại biểu Quốc hội, hoạt động của đạibiểu Quốc hội được phát huy, quan hệ gắn bó với cử tri được tăng cường, tạo điềukiện để các đại biểu Quốc hội lắng nghe, tiếp thu, phản ánh ý kiến cử tri trong quátrình tham gia xây dựng luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân…; góp phần
để đại biểu làm tốt vai trò người đại biểu Nhân dân”
1.2 Địa vị pháp lý và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội
1.2.1 Sự hình thành và phát triển chế định Đoàn đại biểu Quốc hội
Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I, Đoàn đại biểu Quốc hội đã được hìnhthành theo các đơn vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hội đượcbầu trong một đơn vị hành chính liên hệ với Đoàn chủ tịch kỳ họp hoặc trao đổi ýkiến trong nhóm về những vấn đề liên quan đến kỳ họp, làm cho kỳ họp Quốc hộiđược tiến hành thuận lợi Mục đích ban đầu khi thành lập Đoàn đại biểu Quốc hội
là để phục vụ hoạt động Quốc hội được tốt hơn trong kỳ họp, nhưng quá trìnhphát triển cho thấy, Đoàn đại biểu Quốc hội không chỉ tồn tại và phát huy tácdụng trong kỳ họp mà còn tồn tại và phát huy tác dụng ở ngoài kỳ họp Do Quốchội nước ta hoạt động không thường xuyên, đại biểu Quốc hội đa số là kiêmnhiệm, công tác và sinh sống chủ yếu tại địa phương nên hình thức tổ chức Đoànđại biểu Quốc hội tỏ ra thích hợp để giữa hai kỳ họp, đại biểu Quốc hội ở địaphương có thể thông qua Đoàn liên hệ với lãnh đạo Quốc hội ở Trung ương, liên
hệ với các đại biểu Quốc hội trong cùng một địa phương và liên hệ với cử tri tạiđịa phương mình Đây chính là những lý do khách quan dẫn đến Đoàn đại biểu
Trang 18Quốc hội vẫn tồn tại và phát triển song song với các cơ cấu, tổ chức khác củaQuốc hội.
Theo quy định của Hiến pháp, cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm Quốchội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Tuy nhiên, các luật về tổchức Quốc hội theo các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đều có nhữngquy định về vị trí, vai trò và chức năng của Đoàn đại biểu Quốc hội Cụ thể là:
- Luật tổ chức Quốc hội năm 1960 quy định:
Đại biểu Quốc hội có thể họp thành các đoàn đại biểu địa phương theođơn vị tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương Trong mỗi kỳ họp củaQuốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội trao đổi ý kiến về những vấn đề cần thiếtcủa kỳ họp Giữa hai kỳ họp Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội giữ mối quan
hệ với Ủy ban thường vụ Quốc hội [14, Điều 3]
Với nội dung này, Đoàn đại biểu Quốc hội tuy được xác định trong cơcấu, tổ chức của Quốc hội nhưng không phải là một cơ cấu, tổ chức mang tínhchất bắt buộc; nội dung hoạt động của Đoàn chủ yếu là trao đổi những vấn đề cầnthiết trong kỳ họp Theo Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, các Đoàn đại biểuQuốc hội còn có quyền giới thiệu người ra ứng cử chức danh Chủ tịch, Phó Chủtịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký
và các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội để Quốc hội bầu
- Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 quy định:
Đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vịhành chính tương đương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương và cử raTrưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động của Đại biểu Quốc hộitại các đơn vị bầu cử Các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốchội giữ quan hệ với Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Nhà nước Mỗi năm hai lần,các Đoàn đại biểu Quốc hội thông báo cho Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng Nhànước và Ủy ban Mặt trận tổ quốc ở địa phương về hoạt động của các Đại biểuQuốc hội ở địa phương [16, Điều 71]
Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981 đã mở rộng hơn
Trang 19quyền của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giới thiệu các chức danh để Quốchội bầu: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội; Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư
ký và các Ủy viên Hội đồng Nhà nước; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Chánh ánTòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Chủ tịch,các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên của Hội đồng dân tộc; Chủ nhiệm vàcác thành viên khác của Ủy ban thường trực của Quốc hội
Nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội còn được quy địnhtrong Quy chế về Đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành Khác với Luật tổchức Quốc hội năm 1960, thì ở thời kỳ này Đoàn Đại biểu Quốc hội được xácđịnh là hình thức tổ chức bắt buộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, nội dunghoạt động của Đoàn chủ yếu là tổ chức hoạt động cho đại biểu Quốc hội trongthời gian giữa hai kỳ họp, khác với giai đoạn trước chủ yếu tổ chức hoạt độngtrong kỳ họp, còn ngoài kỳ họp bảo đảm mối liên hệ giữa Đại biểu Quốc hội vớilãnh đạo Quốc hội ở trung ương
Qua kinh nghiệm của các nhiệm kỳ Quốc hội mà đặc biệt là nhiệm kỳQuốc hội khóa VIII (1987-1992) cho thấy, việc tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội ởđịa phương là cần thiết, đã phát huy tác dụng tích cực trong thực tế Ghi nhậnthực tế này, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992 một lần nữa khẳng định lại vị trícủa Đoàn đại biểu Quốc hội, theo đó:
Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộctrung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội cóTrưởng đoàn, có thể có Phó Trưởng Đoàn để tổ chức hoạt động của Đoàn, giữmối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan chínhquyền địa phương, Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các cơ quan, tổ chức khác ở địaphương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội Mỗi đoàn
có thể có từ một đến hai đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách [18, Điều 48]
- Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 tiếp tục khẳng định:
Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại
Trang 20tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoànhoặc Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Trưởng đoàn
và Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốchội của Đoàn và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn Đoàn đại biểuQuốc hội có trụ sở làm việc Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan thammưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểuQuốc hội tại địa phương Kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội do ngânsách nhà nước bảo đảm [Điều 43]
Với quy định này, có thể nói Đoàn đại biểu Quốc hội như một cơ quanđộc lập tại địa phương, có bộ máy, trụ sở làm việc riêng, có con dấu và kinh phíhoạt động hàng năm
Vị trí, vai trò, chức năng và phương thức hoạt động của Đoàn đại biểuQuốc hội còn được quy định cụ thể trong Nội quy kỳ họp Quốc hội và trong Quychế về hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội So sánh vớicác quy định của pháp luật qua các thời kỳ về Đoàn đại biểu Quốc hội, tôi nhậnthấy:
+ Vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc giới thiệu bầu các chức danh trong bộ máy nhà nước ở trung ương không được tiếp tục duy trì;
+ Từ một chủ thể không bắt buộc, Đoàn đại biểu Quốc hội là một chủ thểpháp lý bắt buộc trong cơ cấu, tổ chức của Quốc hội, tuy không phải là cơ quanhay một cấp tổ chức trong Quốc hội;
+ Điểm mới so với các quy định trước đây là mỗi Đoàn đại biểu Quốc hội
có thể có từ một đến nhiều Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Quy địnhnày thể hiện hướng từng bước chuyển Quốc hội dần sang chế độ hoạt độngthường xuyên, trong đó có bộ phận Đại biểu Quốc hội chuyên trách
+ Quy định của pháp luật qua các thời kỳ có xu hướng dần dần làm choĐoàn đại biểu Quốc hội thành một tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn độc lập, hoạtđộng thường xuyên ở địa phương
1.2.2 Vị trí, vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội
Trang 21Về mặt lý luận, hầu như các ý kiến đều thống nhất cho rằng Đoàn đại biểuQuốc hội không phải là cơ quan của Quốc hội, không phải là cấp quản lý đại biểu.Đoàn đại biểu Quốc hội chỉ là hình thức tổ chức cho đại biểu Quốc hội hoạt động,nếu quá nhấn mạnh vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương sẽ không đềcao được trách nhiệm của cá nhân đại biểu Quốc hội và có thể biến diễn đàn củaQuốc hội thành diễn đàn của các Đoàn đại biểu Quốc hội; có ý kiến cho rằng hìnhthức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội "tiềm ẩn rủi ro xung đột lợi ích giữa cácnhóm đại biểu ở các địa phương, giữa địa phương và trung ương" Tuy nhiên, vềmặt thực tiễn, trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, có thể thấy nhiệm vụ,quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được thể hiện thành 2 nhóm : (1) Nhómnhiệm vụ quyền hạn trong việc tổ chức, điều phối, hỗ trợ các hoạt động của đạibiểu Quốc hội; (2) Nhóm nhiệm vụ quyền hạn độc lập nhân danh Đoàn ĐBQH,tập thể ĐBQH trong một số hoạt động như giám sát, xây dựng pháp luật,… Vềmặt tổ chức, Đoàn đại biểu Quốc hội có các yếu tố của một pháp nhân: có TrưởngĐoàn, Phó Trưởng đoàn, có trụ sở, kinh phí hoạt động, con dấu và Văn phònggiúp việc.
Nếu không phải là một cơ quan hay một cấp tổ chức trong Quốc hội, thìĐoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức gì? Để làm rõ vấn đề này, theo tôi, cần xuấtphát từ nguyên tắc cơ bản, đó là Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tất cảquyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nướcthông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí vànguyện vọng của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân Xuất phát từ nguyêntắc này, Quốc hội được tổ chức theo hướng không có sự phân chia, đối lập, tranhgiành quyền lực, lợi ích giữa các nhóm Đại biểu Quốc hội Các Đại biểu Quốc hội
do nhân dân bầu ra, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốchội, kết hợp hài hòa quyền lợi của nhân dân địa phương và quyền lợi của cả nước.Đại biểu Quốc hội cũng như các cơ quan của Quốc hội được lập ra đều nhằm mụcđích thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, ngoài
ra không còn mục đích nào khác
Trang 22Ở những nước theo chế độ đa đảng và những nơi Nhà nước được tổ chứctheo nguyên tắc phân quyền, Quốc hội là nơi tập hợp các nhóm nghị sĩ đại diệncho các đảng phái chính trị có quyền lợi và mục đích khác nhau Các nghị sĩ hoạtđộng chuyên nghiệp, có văn phòng riêng, có thư ký giúp việc, hưởng lương vàđược đảm bảo đầy đủ các phương tiện, điều kiện làm việc Ở Quốc hội các nướctheo chế độ đa đảng, các nghị sĩ tập hợp trong các phe, nhóm theo đảng pháichính trị, các phe nhóm này chính là tổ chức của các nghị sĩ, không phải là cơquan hay một cấp tổ chức trong Quốc hội nhưng nó phản ánh sự phân bố lựclượng chính trị trong Quốc hội, thường có ảnh hưởng và thế lực rất lớn trongQuốc hội cũng như trên chính trường.
Nước ta theo chế độ một đảng, Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tậpquyền, quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia, do đó trong Quốc hộikhông có các phe, nhóm đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị khác nhau.Một điểm khác nữa là Quốc hội nước ta không hoạt động thường xuyên, phần lớncác Đại biểu Quốc hội vẫn làm việc kiêm nhiệm Chính những đặc điểm này đãtạo nên hình thức Đoàn Đại biểu Quốc hội là hình thức tổ chức đặc thù trong tổchức và hoạt động của Quốc hội nước ta
Thực tế cho thấy, Đoàn Đại biểu Quốc hội địa phương là hình thức tổ chứcthích hợp để phục vụ Đại biểu Quốc hội trong và ngoài kỳ họp Thông qua tínhchất đầu mối của Đoàn mà hoạt động của Đại biểu Quốc hội được phát huy, mởrộng quan hệ với cử tri, đồng thời tạo điều kiện để các đại biểu hỗ trợ lẫn nhautrong việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu Tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểuQuốc hội không làm hạn chế quyền của đại biểu Trong điều kiện hoạt động kiêmnhiệm, trình độ, vị trí công tác giữa các đại biểu không đồng đều, nếu không cóhình thức Đoàn đại biểu Quốc hội thì hoạt động của đại biểu không chuyên trách
ở địa phương, cơ sở sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về Đoàn đại biểu Quốc hội
và thực tiễn hoạt động của Đoàn, theo tôi, Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của cácĐại biểu Quốc hội được bầu ở một đơn vị hành chính cấp tỉnh Như vậy, trong
Trang 23cơ cấu tổ chức của Quốc hội nước ta, ngoài Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
và Đại biểu Quốc hội còn có tổ chức của các Đại biểu Quốc hội Việc hiểu thếnào là cơ quan, tổ chức trong Quốc hội không phải là việc đơn giản, vì ngay Quốchội cũng được hiểu là một tổ chức tập thể của tất cả Đại biểu Quốc hội tại kỳ họp,còn thế nào là cơ quan của Quốc hội cũng được chia làm hai loại: Cơ quan doQuốc hội bầu ra và cơ quan không do Quốc hội bầu ra Theo cách phân loại này,Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là cơ quan do Quốc hội bầu ra, cònVăn phòng Quốc hội là cơ quan của Quốc hội nhưng không do Quốc hội bầu ra,không có chức năng như Hội đồng hoặc Ủy ban của Quốc hội mà là cơ quan hànhchính nhà nước do Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập để tham mưu, phục vụQuốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốchội, các Ban thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đại biểu Quốc hội
1.2.3 Tổ chức và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội
- Luật Tổ chức hoạt động Quốc hội 2001 quy định: Đoàn
đại biểu Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội; phối hợp vớiThường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ởđịa phương tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri;
b) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, dự án pháplệnh và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
c) Theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị củacông dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan,
Trang 24rõ hơn nhiệm vụ của Đoàn Đại biểu Quốc hội trong các lĩnh vực chính Cụ thể:
a) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội tiếp công dân; phối hợp với Thườngtrực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở địaphương tổ chức, bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri vớicác hình thức phù hợp;
b) Tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh vàcác dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Ủy banthường vụ Quốc hội;
c) Tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức đểcác đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương;tham gia và phối hợp với Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong các hoạtđộng giám sát tại địa phương; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyểnđến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin, báo cáo về những vấn đề mà Đoànđại biểu Quốc hội quan tâm;
d) Báo cáo với Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội;
đ) Quản lý, chỉ đạo hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội
Về mặt tổ chức, Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn hoặc Phó
Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Trưởng đoàn và PhóTrưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội củaĐoàn và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ là tổ chức và điều hành cáchoạt động của Đoàn Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụtheo sự phân công của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởngđoàn được Trưởng đoàn ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn
Về trách nhiệm của Trưởng đoàn, Phó Đoàn Đại biểu Quốc hội, Nội quy
kỳ họp năm 2015 cũng quy định rõ: “Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có trách
Trang 25nhiệm tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện chương trình kỳ họpQuốc hội, Nội quy kỳ họp Quốc hội và các quy định khác về kỳ họp Quốc hội; tổchức và điều hành hoạt động của Đoàn; giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội,các Phó Chủ tịch Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy banthường vụ Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và Tổng thư ký Quốc hội.
Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụtheo sự phân công của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởngđoàn được Trưởng đoàn ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn”
Trang 26Tiểu kết chương
Đoàn đại biểu Quốc hội là hình thức tổ chức đặc thù của Quốc hội nước ta.Ngay từ kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá I, với mục đích làm cho kỳ họp Quốc hộiđược tiến hành thuận lợi, "Đoàn đại biểu Quốc hội được hình thành theo các đơn
vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hội được bầu trong đơn vị hànhchính liên hệ với Đoàn Chủ tịch kỳ họp, trao đổi ý kiến trong nhóm về những vấn
đề liên quan đến kỳ họp" Từ đó đến nay, pháp luật ngày càng có những quy định
cụ thể, đầy đủ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH Theo quy định củapháp luật hiện hành, Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốchội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đếncông tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đoàn đại biểu Quốc hội khôngphải là một cơ quan của Quốc hội hay một cấp tổ chức trong Quốc hội
Địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội thể hiện qua các nhiệm vụ,quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được quy định tại các văn bản pháp luậthiện hành (Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội vàĐoàn đại biểu Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhândân), gồm các nội dung chính như sau:
- Tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ quyềnhạn của mình tại địa phương trong các mặt hoạt động: tiếp xúc cử tri; tiếp côngdân, giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo của công dân; tổ chức thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh;
dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội;
- Phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Thường trựcHội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ở địa phương tổ chức các hoạt động củaĐoàn và của đại biểu Quốc hội trong Đoàn Nghiên cứu đề xuất với Chủ tịchQuốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước có liênquan nghiên cứu, xem xét và có biện pháp giải quyết các kiến nghị của Hội đồng
Trang 27nhân dân liên quan đến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc các vấn đề của địa phương;
- Phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn công tác, Đoàngiám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốchội; tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng cử đạibiểu Quốc hội khoá sau;
- Báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội;
- Trong quá trình tổ chức các hoạt động tại địa phương, Đoàn đại biểuQuốc hội có quyền góp ý với địa phương về việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh; việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và việc banhành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương; yêu cầu cơ quan nhà nước, Uỷban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức
xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương cung cấp thông tin
về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; xem xét và giải quyếtnhững vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước,quyền làm chủ của nhân dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống,kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương;
- Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát thông qua các hoạt động: Tổchức Đoàn giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, tổ chức để các đại biểu Quốchội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bảnquy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương trả lời về những vấn đề mà Đoàn đại biểuQuốc hội quan tâm; cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địaphương khi có yêu cầu
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ: chủ trì việc tổ chức để các đạibiểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và
Trang 28nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội; giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hộiđồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, tổchức, đơn vị hữu quan ở địa phương ở địa phương và Văn phòng Quốc hội; chỉđạo công tác Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và tổ chức việcthực hiện kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội Phó Trưởng đoàn giúpTrưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn KhiTrưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn uỷ nhiệm thựchiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn.
Thực tế đó chứng tỏ các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội là cầnthiết, cần làm rõ thêm vị trí, trách nhiệm, quyền hạn của Đoàn và việc bảo đảmcác điều kiện để hoạt động của Đoàn ngày càng tốt hơn
Trang 29Chương 2 THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TỈNH ĐĂK NÔNG TỪ QUỐC HỘI KHÓA XII
(2007-2011) ĐẾN NAY2.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông
Tỉnh Đắk Nông được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2004, theo Nghịquyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên
cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông
2.1.1 Vị trí địa lý
Đăk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãyTrường Sơn; được xác định trong khoảng tọa độ địa lý: 11045' đến 12050' vĩ độBắc, 107013' đến 108010' kinh độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh ĐắkLăk, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáptỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia Đăk Nông là tỉnh nằmtrong khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia
Đăk Nông có Quốc lộ 14 nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền ĐôngNam Bộ với các tỉnh Tây nguyên, cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phíaBắc và cách thành phố Ban Mê Thuột (Đăk Lăk) 120 km về phía Tây Nam; cóQuốc lộ 28 nối Đăk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hảimiền Trung, cách thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) 180 km và thành phố Phan Thiết(Bình Thuận) 230 km về phía Đông Đăk Nông có 130 km đường biên giới vớinước bạn Campuchia, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Đăk Peur nối thông vớiMondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap,
2.1.2 Địa hình
Tỉnh Đăk Nông có diện tích tự nhiên là 6.514,38 km2 Đăk Nông nằm trọntrên cao nguyên M'Nông, độ cao trung bình khoảng 600m đến 700m so với mặtnước biển, có nơi lên đến 1.982m (Tà Đùng)
2.1.3 Dân cư
Trang 30Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh là 636.000 người Dân cư phân bốkhông đều trên địa bàn các huyện, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trungtâm xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ Có những vùng dân
cư thưa thớt như một số xã của huyện Đắk Glong, Tuy Đức
Đăk Nông là tỉnh có cộng đồng dân cư gồm hơn 40 dân tộc cùng sinh sống
Cơ cấu dân tộc đa dạng chủ yếu là dân tộc Kinh, M'Nông, Tày, Thái, Ê Đê, Nùng.Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,5%; M'Nông chiếm 9,7%, các dân tộc khácchiếm tỷ lệ nhỏ
Đăk Nông là vùng đất sinh sống từ hàng ngàn đời của đồng bào các dân tộctại chỗ, đồng thời cũng là vùng đất quần tụ của cư dân từ nhiều vùng miền vềsinh cơ, lập nghiệp nên đời sống tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng cũng vô cùngphong phú Gồm có Công giáo, Phật giáo, Tin lành
2.1.4 Kinh tế
Năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì ổn định, GRDP (giá2010) ước đạt 19.2017 tỷ đồng, tăng 8,21%/KH 7,52%; trong đó: lĩnh vực Côngnghiệp xây dựng ước đạt 3.137 tỷ đồng, tăng 12,4%/KH 11,21%; Nông lâm thủysản ước đạt 8.288 tỷ đồng, tăng 5,96%/KH 6,18%; Dịch vụ ước đạt 6.610 tỷđồng, tăng 9,07%/KH 7,65%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp ước 1.191 tỷ đồng, tăng9,77%/KH 7%; Tăng trưởng kinh tế vượt kế hoạch đề ra kéo theo chuyển dịch cơcấu kinh tế đúng hướng, vượt kế hoạch đề ra "GDP" bình quân đầu người theogiá hiện hành đạt 18,96 triệu đồng (kế hoạch 16,95 triệu đồng)
2.2 Bối cảnh hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay
Những thành tựu của quá trình đổi mới đã đưa nước ta ra khỏi tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, tạo nền tảng đẩy mạnh một bướccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tình hình chính trị, xã hội ổn định Uytín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Những kinh nghiệmtích lũy được trong việc giải phóng tiềm năng phát triển của đất nước tạo điềukiện để phát huy sức sản xuất, nâng cao tốc độ phát triển kinh tế đi liền với thựchiện công bằng xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến
Trang 31bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, Quốc hội cóbước đổi mới quan trọng, từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, phương thức hoạtđộng, tăng cường đại biểu chuyên trách; thực hiện ngày càng tốt hơn chức nănglập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; ngàycàng dân chủ hơn; tranh luận, thảo luận một cách thẳng thắn, thiết thực; mở rộngchất vấn; tăng cường lắng nghe và tiếp xúc cử tri,… Nhờ vậy, hiệu quả và hiệulực được nâng lên, được nhân dân quan tâm nhiều hơn, hoan nghênh và đánh giácao.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta gặp không ít khó khăn,thách thức Kinh tế trình độ thấp; chất lượng còn hạn chế; cơ sở hạ tầng còn nhiềubất cập; sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng; thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiềunơi,… Tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, nhất là cuộckhủng hoảng tài chính, tiền tệ và suy giảm kinh tế thế giới đã tác động bất lợi đếnphát triển kinh tế - xã hội nước ta Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thếlớn, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo,khủng bố có nguy cơ gia tăng Nguy cơ gây mất ổn định liên quan đến tranh chấplãnh thổ, biển đảo, tài nguyên… vẫn còn tiềm ẩn Biến đổi khí hậu, đói nghèo,thiên tai, dịch bệnh vẫn còn là vấn đề rất đáng quan tâm Các thế lực thù địch tiếptục đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bàidân chủ, nhân quyền, vấn đề dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộcủa ta…
Thực tế đó, đòi hỏi đất nước ta phải xây dựng được một môi trường hòabình, ổn định, một nền kinh tế phát triển, một nền quốc phòng - an ninh vữngmạnh, một chiến lược, định hướng đúng đắn…, để tận dụng thời cơ và thuận lợi,vượt qua khó khăn thách thức, huy động tốt mọi nguồn lực đưa đất nước pháttriển nhanh và bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa
2.3 Thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông từ Quốc hội khóa XII (2007-2011) đến nay
2.3.1 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XII tỉnh Đăk
Trang 32Nông (Nhiệm kỳ 2007 – 2011)
Quốc hội Khóa XII (2007-2011) được nhân dân cả nước bầu ra vào ngày20/5/2007, với 493 đại biểu, chia thành 64 Đoàn đại biểu Quốc hội theo đơn vịhành chính cấp tỉnh Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông Khóa XII có 06 đạibiểu, trong đó: 02 đại biểu Trung ương gồm 01 đại biểu là lãnh đạo Bộ, 01 là đạibiểu chuyên trách ở Trung ương; 04 đại biểu địa phương gồm: 01 đại biểu làmcông tác Đảng, 01 đại biểu chuyên trách, 01 đại biểu thuộc lực lượng Công annhân dân, 01 đại biểu ngành y tế (nữ, dân tộc thiểu số) Về trình độ học vấn, có 01tiến sỹ, 02 thạc sỹ và 03 đại học Có 6/6 đại biểu là Ủy viên các Ủy ban của Quốchội
2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIII tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2011 – 2016)
Đoàn ĐBQH tỉnh nhiệm kỳ khoá XIII có 06 đại biểu (02 đại biểu trungương, 04 đại biểu địa phương), 100% đại biểu trong Đoàn có trình độ cao đẳng,đại học và trên đại học (01 đại biểu là PGS-TS, 02 đại biểu có trình độ thạc sỹ, 01đại biểu đang làm NCS) Đoàn ĐBQH tỉnh có Trưởng đoàn, có Phó Trưởng đoàn,các ĐBQH trong Đoàn được QH bầu làm ủy viên HĐDT và một số Ủy ban của
QH Tháng 7/2012, do mắc bệnh hiểm nghèo đồng chí Phó Trưởng đoàn chuyêntrách qua đời, tháng 10/2012 Đoàn ĐBQH tỉnh đã bầu bổ sung một đại biểu kiêmnhiệm sang làm Phó Trưởng đoàn chuyên trách và được UBTVQH ra NQ chuẩn
y Tháng 9/2015 đồng chí Trưởng đoàn được Đại hội tỉnh đảng bộ tỉnh Đăk Nônglần thứ XII bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, tháng 10/2015 đồng chí Phó Trưởng đoànchuyên trách được HĐND tỉnh bầu làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-
2016, được UBTVQH đồng ý cho thôi làm nhiệm vụ chuyên trách nhưng vẫn làmPhó Trưởng Đoàn kiêm nhiệm cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ
2.3.3 Cơ cấu tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội Khóa XIV tỉnh Đăk Nông (Nhiệm kỳ 2016 – 2021)
Quốc hội Khóa XIV (2016-2021) được nhân dân cả nước bầu ra vào ngày
Trang 3322/5/2016, với 496 đại biểu, chia thành 63 Đoàn đại biểu Quốc hội theo đơn vịhành chính cấp tỉnh Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông Khóa XIV có 06 đạibiểu, trong đó: 02 đại biểu Trung ương gồm 01 đại biểu là lãnh đạo Bộ, 01 đạibiểu là đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương; 03 đại biểu địa phươnggồm: 01 đại biểu làm công tác Đảng, 01 đại biểu chuyên trách ở địa phương, 01đại biểu là Cựu chiến binh, 01 đại biểu ngành giáo dục (nữ, dân tộc thiểu số) Vềtrình độ học vấn, có 03 thạc sỹ và 03 đại học Có 6/6 đại biểu là Ủy viên Hộiđồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông có Trưởng đoàn, Phó Trưởngđoàn (Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội chuyên trách) do các đại biểu trongĐoàn bầu và được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn
Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có các nhiệm vụ sau (Điều 26 Quy chếhoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội):
a) Điều hành việc thực hiện những nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 24 của Quy chế này;
b) Chủ trì việc tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội và tham gia thực hiện nhiệm vụ củaĐoàn đại biểu Quốc hội;
c) Chủ trì việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hoạtđộng của Đoàn;
d) Triệu tập và chủ tọa các cuộc họp của Đoàn đại biểu Quốc hội;
đ) Giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và các cơ quan,
tổ chức hữu quan ở trung ương;
e) Giữ mối liên hệ với đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hộiđồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địaphương;
Trang 34g) Chỉ đạo công tác Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội.
Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phâncông của Trưởng đoàn Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn đượcTrưởng đoàn uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn
2.4 Thực tiễn hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông
từ khóa XII đến nay
Kế thừa và phát huy những thành quả của các khóa trước, Đoàn đại biểuQuốc hội tỉnh Đăk Nông đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trước cử tri, vượt quanhiều khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng là người đại biểu của nhândân Các đại biểu của Đoàn đại biểu tỉnh Đăk Nông đã có những đóng góp xứngđáng vào kết quả chung của Quốc hội đó là: Đã có nhiều đổi mới về tổ chức, hoạtđộng, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Hoạt động lậppháp được đẩy mạnh, số lượng, chất lượng được nâng lên Hoạt động giám sát đãmang tính định hướng, đi vào trọng tâm, có nhiều đổi mới về trọng tâm và hìnhthức, đạt được những kết quả bước đầu rất tích cực Tham gia quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước thực chất hơn, giảm dần tính hình thức Hoạt độngngoại giao nghị viện của đại biểu trong đoàn tiếp tục được mở rộng và tăngcường Phương thức hoạt động, lề lối làm việc ngày càng phát huy dân chủ; nhândân quan tâm và tin tưởng hơn vào Quốc hội
Trên cơ sở nhiệm vụ, chức năng quy định trong Luật tổ chức Quốc hội
2014 và Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội
2002, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông cơ bản thực hiện tốt các nhiệm vụnhư xây dựng pháp luật, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp dân, tiếp nhận và xử lý đơncủa công dân
2.4.1 Về hoạt động xây dựng pháp luật
Xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản của Quốc hội vàcác đại biểu Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức để các đạibiểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến
Trang 35chương trình kỳ họp Quốc hội theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động xây dựng pháp luật, ngay từ đầunhiệm kỳ, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông đã quan tâm và nghiêm túcthực hiện nhiệm vụ quan trọng này.
Việc lấy ý kiến nhân dân, của các ngành, các cấp vào các dự án Luật là mộtkênh thông tin quan trọng nhằm xây dựng những đạo luật có chất lượng và hiệu quả.Khoản 3 Điều 24 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốchội quy định: Đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ “Phối hợp với Thường trực Hộiđồng nhân dân, Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc ở địa phương tổ chức lấy
ý kiến nhân dân về các dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác theo yêu cầucủa Uỷ ban thường vụ Quốc hội” Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, theo sự chỉ đạo của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông tổ chức các hộinghị lấy ý kiến đóng góp vào các Dự án Luật với số lượng khá lớn, nội dung của các
dự án Luật thuộc nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều ngành khác nhau Để hoànthành tốt nhiệm vụ này, Đoàn đại biểu Quốc hội Đăk Nông lựa chọn phương pháp tổchức hội nghị, mời các đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy bannhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; các sở, ban, ngành, đơn vị cóliên quan và nhất là các chuyên gia có kinh nghiệm, liên quan đến việc thi hành luậttrong thực tiễn đến dự và tham gia đóng góp ý kiến Bởi tại Điều 25 Quy chế hoạt
động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội quy định “Đoàn đại biểu
Quốc hội có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị và chuyên gia về các lĩnh vựcliên quan dự và tham gia ý kiến tại các cuộc họp Đoàn để thảo luận về dự án luật, dự
án pháp lệnh và các dự án khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi đến”.
Việc tổ chức Hội nghị lấy ý kiến tham gia vào các dự án luật được chuẩn
bị chu đáo, từ khâu xây dựng kế hoạch cho đến nội dung, tài liệu gửi cho các đạibiểu tham dự hội nghị Kế hoạch và các nội dung liên quan đến dự án luật đượcgửi trước cho các đại biểu Quốc hội, lãnh đạo các ngành liên quan để đại biểu có
đủ thời gian nghiên cứu, chuẩn bị nội dung phát biểu Bên cạnh việc tổ chức cácHội nghị đóng góp ý kiến vào các dự án luật, xét thấy những dự án luật nào mang
Trang 36tính chuyên ngành cao, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với các cơ quan tổ chức
có liên quan trực tiếp để cùng tổ chức thực hiện lấy ý kiến
Trong gần 3 nhiệm kỳ qua, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông đã tổchức 157 hội nghị, với sự tham gia của các vị đại biểu Quốc hội trong Đoàn vàhàng trăm lượt đại biểu đại diện các cơ quan, tổ chức liên quan và các chuyên giatrong những lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của dự án luật Qua đó, Đoàn đạibiểu Quốc hội tỉnh tiếp thu được nhiều ý kiến chất lượng, giúp các đại biểu trongĐoàn nắm bắt thêm những thông tin thiết thực, phục vụ cho việc nghiên cứu,đóng góp ý kiến vào dự án luật Sau mỗi hội nghị, Đoàn đại biểu Quốc hội tổnghợp, xây dựng báo cáo tham gia đóng góp ý kiến của Đoàn gửi Ủy ban Thường
vụ Quốc hội đúng thời gian quy định
Tại các kỳ họp Quốc hội, với ý thức trách nhiệm cao, các ĐBQH trongĐoàn đã tích cực nghiên cứu, tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào các đạoluật, nghị quyết, góp phần nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội.Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, trong đó có công sức rất lớn của đại biểuQuốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông
2.4.2 Hoạt động giám sát
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động củaNhà nước trên cơ sở hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốchội Để quyền giám sát tối cao của Quốc hội phát huy hiệu lực, hiệu quả, đòi hỏihoạt động giám sát của từng bộ phận đều phải đảm bảo chất lượng
Về hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, Luật Hoạt động giámsát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định các hoạt động giám sát củaĐoàn đại biểu Quốc hội (Điều 48):
1 Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát thông qua các hoạt động sau đây:
a) Giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật ở địa phương;
Trang 37b) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân màđại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền giải quyết;
c) Cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia Đoàngiám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu
2 Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát tại địa phương
Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt độnggiám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đăk Nông và từng đại biểu trong Đoàn đãtích cực tham gia vào hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội tại các kỳ họp,đồng thời chủ động tổ chức nhiều cuộc giám sát theo chuyên đề, giám sát văn bảnquy phạm pháp luật và giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại địaphương
Căn cứ Chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
và tình hình thực tế ở địa phương, Đoàn ĐBQH xây dựng kế hoạch giám sát hàngnăm và tổ chức các Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giámsát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; cử ĐBQH tham gia Đoàn giámsát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hộitại địa phương khi có yêu cầu
Ngoài các cuộc giám sát theo kế hoạch, Đoàn ĐBQH tỉnh còn tổ chức cáccuộc khảo sát trên cơ sở ý kiến phản ánh của cử tri để xem xét những vấn đề nổicộm, bức xúc tại địa phương, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền những biện phápgiải quyết kịp thời
Đoàn ĐBQH tỉnh đã tổ chức 36 cuộc giám sát và 12 cuộc khảo sát Trong
đó, 21 cuộc giám sát theo chuyên đề như: Giám sát việc thực hiện chính sách, phápluật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013
có hiệu lực đến hết năm 2018; Giám sát việc thi hành pháp luật về đảm bảo trật tự,
an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Đăk Nông; Giám sát việc thực hiện chính sách,
Trang 38pháp luật về xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn tỉnh;Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy giai đoạn
2014 - 2018; Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụngvốn vay nước ngoài giai đoạn 2011 -2016 trên địa bàn tỉnh; Giám sát việc cảicách hành chính trên địa bàn tỉnh ; 07 cuộc giám sát việc thực hiện pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo tại các huyện, thị xã; 05 cuộc giám sát giải quyết vụ việc khiếunại, tố cáo cụ thể của công dân Kết thúc mỗi cuộc giám sát, căn cứ vào báo cáocủa Đoàn giám sát, Đoàn ĐBQH có văn bản kiến nghị với các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền nhằm khắc phục hạn chế, thiếu sót nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc phạm vi giám sát.Thời gian qua Đoàn đã có 324 kiến nghị; trong đó, có 66 kiến nghị với Quốc hội,Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, 29 kiến nghị với cơ quan chịu sựgiám sát và chính quyền địa phương
Có thể nêu ra một số kiến nghị giám sát có chất lượng của Đoàn như sau:
* Đối với Giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch,quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đếnhết năm 2018” trên địa bàn tỉnh, Đoàn có các kiến nghị sau:
1 Đối với Quốc Hội
Luật Đất đai năm 2013 cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số nội dung
để thuận lợi trong việc xây dựng chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đấtsản xuất nông nghiệp, cụ thể:
- Về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp: Theo quy địnhtại Điều 190, Luật Đất đai chưa quy định chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệpcủa các xã lân cận và chưa quy định các tổ chức thực hiện chuyển đổi để tập trungđất sản xuất nông nghiệp nên khó thu hút các nhà đầu tư thực hiện chính sáchkhuyến khích tập trung đất sản xuất nông nghiệp tạo thành cánh đồng lớn, phục
vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp
- Về đối tượng nhận chuyển nhượng đất trồng lúa: Theo quy định khoản 2
và khoản 3, Điều 191, Luật Đất đai chưa quy định các doanh nghiệp, hộ gia đình,
Trang 39cá nhân có tiềm lực về vốn, có công nghệ cao nhận chuyển nhượng đất lúa để kinh doanh nông nghiệp thông qua hình thức gián tiếp.
- Về thuê quyền sử dụng đất để sản xuất doanh nghiệp: Thực tế hiện nayđất nông nghiệp cơ bản đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định theoNghị định 64/CP, tuy nhiên các nhà đầu tư không muốn thuê trực tiếp của hộ giađình, cá nhân mà muốn thuê đất thông qua cơ quan nhà nước thì Luật chưa có quyđịnh về UBND cấp xã hoặc UBND cấp huyện đứng ra ký Hợp đồng thuê quyền
sử dụng đất nông nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và ký Hợp đồng chonhà đầu tư thuê lại đất để sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
2 Đối với Chính phủ
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hướng dẫn Luật Đất đai; sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay và sự phù hợp với các Luậtkhác như: Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Quy hoạch, Luật Lâm nghiệp,
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đấtđai; Tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức, bộ máy thực hiện công tác quản lý đất đaibảo đảm tinh gọn, theo hướng hiện đại
- Tập trung nguồn lực xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai
để vừa đáp ứng được yêu cầu thông tin cho công tác quản lý, đồng thời phục vụcho phát triển kinh tế - xã hội; tạo điều kiện để thực hiện quản lý đất đai côngkhai, minh bạch và thuận lợi trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính
- Về hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất nôngnghiệp: Theo quy định của Khoản 4, Điều 44, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP,ngày 15/5/2017 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số Điều của LuậtĐất đai chưa nới rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nôngnghiệp
- Về tích tụ, tập trung ruộng đất: Thực hiện Nghị Quyết số 19-NQ/TW,ngày 31/10/2012 Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàndiện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
Trang 40nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Ban chấp hành Trung ương đã đề cập đếnviệc tích tụ, tập trung đất đai Tuy nhiên, đến nay Chính phủ vẫn chưa hướng dẫn
về cơ chế chính sách, quy trình thực hiện tích tụ, tập trung đất đai nên các địaphương chưa có cơ sở thực hiện Đề nghị Chính phủ sớm có văn bản hướng dẫn
- Xác định hạn mức đất ở khi cấp GCN cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhiều thửa đất ở chưa thống nhất, cụ thể: Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định
số 43/2014/NĐ-C,P ngày 15/5/2014 của Chính phủ: “Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất
ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó” Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, ngày 15/5/2014 của Chính phủ
“Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì hộ gia đình, cá nhân đó được cộng dồn diện tích đất của các thửa đất để xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở nhưng tổng diện tích đất lựa chọn không vượt quá hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở tại địa phương nơi lựa chọn đầu tiên”.
3 Đối với các Bộ
a) Đối với Bộ Tài chính:
- Tại Thông tư số 332/2016/TT-BTC, Thông tư số 333/2016/TT-BTCchưa hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục và nhiệm vụ đối với việc xác định giá trịcủa thửa đất hoặc khu đất (tính theo giá đất trong bảng giá đất) là thuộc chứcnăng của cơ quan, đơn vị nào để các đơn vị đại diện chủ đầu tư thực hiện dự ánhoặc UBND các huyện, thành phố có cơ sở đề nghị, luân chuyển hồ sơ đúng quyđịnh