Với số lượng lớn chất thải được thải ra trong quá trình chăn nuôi lợn thì việc xử lý chất thải, đảm bảo vệ sinh môi trường trong chăn nuôi lợn đang là vấn đề bức xúc hiện nay của các tra
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“HIỆU QUẢ XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI SAU BIOGAS BẰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬT LÝ VÀ SINH HỌC”
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60620105
Hà Nội – 2016
Người hướng dẫn khoa học: TS HÁN QUANG HẠNH
Trang 2PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam Từ 1990 đến 2003 chăn nuôi lợn phát triển nhanh chóng về số lượng với 24,88 triệu con (2003) gần gấp đôi số lượng đầu con trong vòng 13 năm Mười năm tiếp theo từ 2004 đến 2014 số lượng lợn trong nước tương đối ổn định trong mức khoảng 26 triệu con, chăn nuôi trong giai đoạn này diễn ra sự chuyển dịch về phương thức chăn nuôi, chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế (Tổng cục thống kê)
Chăn nuôi trang trại tập trung góp phần đáng kể vào sự phát triển của ngành hàng thịt lợn, tuy nhiên cùng với đó là các vấn đề về xử lý ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gây ra Hiện nay, biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi (phân và nước tiểu) chủ yếu là sử dụng hầm biogas Mặc dù hầm biogas đã hạn chế được mức độ gây ô nhiễm của chất thải chăn nuôi, tuy nhiên vẫn chưa thể xử lý triệt để khiến cho câu hỏi về việc xử lý sau biogas được đặt ra ngày càng cấp thiết
Văn Giang là một huyện có ngành chăn nuôi lợn thâm canh của tỉnh Hưng Yên với số đầu con năm 2014 là 108.815 con, cao nhất toàn tỉnh Sản lượng thịt cũng đứng đầu tỉnh với 19.672 tấn (Cục thống kê tỉnh Hưng Yên, 2014) Với số lượng lớn chất thải được thải ra trong quá trình chăn nuôi lợn thì việc xử lý chất thải, đảm bảo vệ sinh môi trường trong chăn nuôi lợn đang là vấn đề bức xúc hiện nay của các trang trại chăn nuôi lợn Trong khí đó, hầu hết các trang trại chăn nuôi lợn nằm xen kẽ trong khu dân cư với quỹ đất nhỏ hẹp không đủ diện tích để xây dựng khu xử lý chất thải nên có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, nhất là nguồn nước và không khí, ảnh hưởng đến đời sống người dân Vì vậy việc tìm ra các giải pháp xử lý chất thải phù hợp, hạn chế ô nhiễm môi trường, hướng tới phát triển chăn nuôi một cách bễn vững là rất cần thiết
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
* Mục tiêu chung: Tìm ra biện pháp hiệu quả, đơn giản, dễ áp dụng quả xử lý
chất thải sau biogas
* Mục tiêu cụ thể:
Trang 3- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sau biogas bằng hệ thống bể lắng có bổ sung rơm khô và hệ thống cỏ Vetiver ở ao thủy sinh tại trang trại thực nghiệm
- Đánh giá khả năng xử lý nước thải sau biogas của rơm khô ở quy mô phòng thí nghiệm
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sau biogas của cỏ Vetiver ở quy mô phòng thí nghiệm
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Nước thải sau biogas của mô hình chăn nuôi lợn
thâm canh
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
+Trang trại của ông Đặng Đức Binh, thôn 12, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang
- Thời gian nghiên cứu: tháng 6/2016 – 5/2017
Trang 4PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm về chất thải chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi là sản phẩm phụ không mong muốn của quá trình sản xuất chăn nuôi Thông thường lượng chất thải này có thể được sử dụng một cách hợp lý, nhưng với kích thước và quy mô trang trại ngày càng tăng lên, lượng chất thải vượt quá mức có thể gây ô nhiễm môi trường Các loại chất thải chăn nuôi quan trọng nhất là phân động vật, nước thải, khí thải và thức ăn dư thừa
Theo Conway and Pretty (1991) tất cả chất thải từ chăn nuôi đều có chứa các chất hợp chất có giá trị tiềm năng cho các hoạt động khác trong nông nghiệp và cho
xã hội Tuy nhiên, để tận dụng tiềm năng này một cách có lợi thường gặp khó khăn
Vì vậy, trong thực tế, người ta thường chú ý đến việc giảm lượng chất thải chăn nuôi thải vào môi trường hơn là tận dụng chúng vào nhiều mục đích khác nhau (dẫn theo Vũ Chí Cương và cs, 2013)
Theo (Vũ Chí Cương và cs,2013) chất thải chăn nuôi được chia thành 3 nhóm:
- Chất thải rắn bao gồm phân, thức ăn thừa, xác động vật chết, phủ tạng không được sử dụng và một số vật dụng nhỏ trong chăn nuôi Chất thải rắn chủ yếu
là các thành phần không được hấp thu của thức ăn còn dư thừa và được đào thải ra ngoài theo phân.Đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho vi sinh vật phân giải lên men hình thành nhiều loại khí và khoáng chất Trong thực tế phần chất thải rắn thường được tách riêng để xử lý Tỷ lệ các chất hữu cơ vô cơ, vi sinh vật trong chất thải rắn phụ thuộc vào khẩu phần ăn, giống, loài gia súc và cách dọn vệ sinh.Trong chất thải rắn chứa 56-83% nước, 1-26% chất hữu cơ, 0,32-1,6% nito, 0,25-1,4% photpho, 0,15-0,95% Kali và nhiều loại vi khuẩn, virus, trứng kí sinh trùng gây bệnh cho nhười và động vật
- Chất thải lỏng: Bao gồm nước phân, nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng, nước từ các lò mổ gia súc gia cầm, thuốc thú y, hóa chất lỏng, dung dịch xử lý chuồng trại… Thành phần nước thải từ các trang trại chăn nuôi gia súc gồm chất hữu cơ chủ yếu là cellulose, protein, acid béo, carbonhydrate hầu hết
là những chất dễ phân hủy, vi sinh vật E.coli, Samonella, giun sán… và chất vô cơ chiếm 20-30% gồm cát đất muối…
- Chất thải khí: Bao gồm CO2, NH4, CH4, H2S… đây đều là những loại khí chính gây hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường và mùi Sau khi được thải ra ngoài, chất thải lỏng và chất thải rắn tiếp tục được lên men phân giải thành nhiều
Trang 5chất khí khác nhau Từ chất thải chăn nuôi tạo ra khoảng 65% lượng khí nito oxit (N2O) trong không khí Đây là loại khí có tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính gấp 296 lần so với khí CO2 Theo nghiên cứu của Hur et al (2004), trong chất thải của chăn nuôi lợn chứa tới 9% lượng khí CO2, 37% lượng khí methane có tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính gấp 23 lần khí CO2 Điều này cho thấy chất thải chăn nuôi là một yếu
tố quan trọng làm tăng hiệu ứng nhà kính (Vũ Chí Cương và cs, 2013)
Việc phân loại chất thải như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối, trong thực tế thường chất thải chăn nuôi là dạng hỗn hợp của các chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí
2.2 Nguồn phát thải chất thải chăn nuôi
Chăn nuôi được xác định là là một trong những ngành sản xuất tạo ra một lượng chất thải nhiều nhất ra môi trường Chất thải chăn nuôi là một tập hợp phong phú bao gồm các chất ở tất cả các dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh trong quá trình chăn nuôi, lưu trữ, chế biến hay sử dụng chất thải
Theo (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011) chất thải chăn nuôi được phát sinh chủ yếu
từ :
- Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu, lông, vảy da
và các phủ tạng loại thải của gia súc, gia cầm…
- Nước thải chăn nuôi là hỗn hợp bao gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, nước rửa chồng Nước thải chăn nuôi còn có thể chứa một phần phân hay toàn bộ lượng phân được gia súc, gia cầm thải ra Nước thải là dạng chất thải chiếm khối lượng lớn nhất trong chăn nuôi
- Xác gia súc, gia cầm chết : Là một loại chất thải đặc biệt của chăn nuôi Thường các gia súc, gia cầm chết do các nguyên nhân bệnh lý, cho nên chúng là nguồn phát sinh ô nhiễm nguy hiểm, dễ lây lan các dịch bệnh Xác súc vật chết có thể phân hủy tạo nên các sản phẩm độc Các mầm bệnh và độc tố có thể được lưu trữ trong đất trong thời gian dài hay lan truyền trong môi trường nước và không khí, gây nguy hiểm cho người, vật nuôi và khu hệ sinh vật trên cạn hay dưới nước Việc
xử lý phải tiến hành nghiêm túc Gia súc, gia cầm bị bệnh hay chết do bị bệnh phải được tiêu hủy hay chôn lấp theo quy định về thú y Chuồng nuôi gia súc bị bệnh, chết phải được khử trùng bằng vôi hay hóa chất chuyên dùng trước khi dùng để nuôi tiếp gia súc Trong điều kiện chăn nuôi phát tán, nhiều hộ gia đình vứt xác vật nuôi bị chết do dịch bệnh ra ao hồ, cống rãnh, kênh mương… đó là nguồn phát tán dịch bệnh rất nguy hiểm
Trang 6- Thức ăn thừa, ổ lót chuồng và các chất thải khác : Trong chuồng trại chăn nuôi người chăn nuôi dùng rơm, rạ hay các chất độn khác… để lót chuồng Sau một thời gian sử dụng, vật liệu này sẽ được loại bỏ đi Loại chất thải này tuy chiếm khối lượng không lớn, nhưng chúng cũng là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng, do phân, nước tiểu có thể bám theo chúng Vì vậy, chúng cũng cần thu gom và xử lý hợp vệ sinh, không được vứt bỏ ngoài môi trường tạo điều kiện cho chất thải và mầm bệnh phát tán vào môi trường Ngoài ra thức ăn thừa, thức ăn bị rơi vãi cũng là nguồn gây ô nhiễm, vì thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng dễ bị phân hủy trong môi trường tự nhiên Khi chúng bị phân hủy sẽ tạo ra các chất kể cả chất gây mùi hôi, gây ô nhiễm môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của gia súc và sức khỏe con người
- Vật dụng chăn nuôi, bệnh phẩm thú y : Các vật dụng chăn nuôi hay thú y bị loại bỏ như bao bì, kim tiêm, chai lọ đựng thức ăn, thuốc thú y…cũng là nguồn quan trọng dễ gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt các bệnh phẩm thú y, thuốc khử trùng, bao bì đựng thuốc có thể xếp vào các chất thải nguy hại cần phải có biện pháp xử lý như chất thải nguy hại
- Bùn lắng từ các mương dẫn, hồ chứa hay lưu trữ và chế biến hay xử lý chất thải
Chất thải chăn nuôi chứa nhiều thành phần có khả năng gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia súc, gia cầm và sức khỏe của con người Vì vậy, việc hiểu rõ hiểu rõ thành phần và các tính chất của chất thải chăn nuôi nhằm có biện pháp quản lý và xử lý thích hợp, khống chế ô nhiễm, tận dụng nguồn chất thải giàu hữu cơ vào mục đích kinh tế là một việc làm cần thiết
2.3 Ảnh hưởng của chất thải với con người, vật nuôi và môi trường
Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, nguy cơ gây ô nhiễm của chất thải chăn nuôi đã trở nên nghiêm trọng Đó là mối quan tâm lớn của toàn xã hội bởi vì
nó không chỉ làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí gây mất cảnh quan thiên nhiên mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng bởi sự gia tăng các bệnh có nguồn gốc thực phẩm và bệnh truyền lây giữa người và gia súc (Trịnh Thị Thanh, 2000)
Do vậy, chất thải chăn nuôi cần phải được xử lý trước khi đổ ra ngoài môi trường.Tuy nhiên có một số khó khăn trong quá trình xử lý chất thải chăn nuôi ở nước ta là quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, khu chăn nuôi nằm xen kẽ giữa khu dân cư, rác thải và nước thải chưa được xử lý đúng cách (Lê Viết Ly, 2007)
Trang 7Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn ngoài mục đích cung cấp thực phẩm từ lâu vẫn được coi là yếu tố cần thiết nhằm duy trì sự phì nhiêu của đất trồng trọt, đảm bảo năng suất cao trong quá trình thâm canh cây trồng Và mô hình vật nuôi, ao cá, cây trồng (mô hình VAC) là một minh chứng Tuy vậy, hiện tượng cá bị ngạt, nước ao đục mờ và gây mùi khó chịu đã phản ánh tình trạng ô nhiễm của ao, mà một trong những nguyên nhân đó là quá dư thừa chất hữu cơ và chất khoáng, được gọi là hiện tượng phù dưỡng hóa lớp nước bề mặt Với những hộ nuôi nhiều lợn mà diện tích
ao nhỏ thì khả năng ao bị phù dưỡng là rất cao nên phải thường xuyên chú ý theo dõi, quản lý nước ao và lượng chất thải xả xuống ao (Nguyễn Thị Hoa Lý, 2004)
Từ các hố ủ hay đồng ruộng bón quá nhiều phân, vượt khỏi nhu cầu của cây trồng và khả năng hấp thụ của đất, thì các chất này ngấm xuống đất làm ô nhiễm tầng nước mặt và có thể cả nguồn nước ngầm Các kim loại nặng và nguyên tố khoáng tích tụ trong đất sẽ làm giảm độ phì nhiêu của đất Ngoài việc gây ô nhiễm cho đất, nước thì chất thải chăn nuôi còn gây ô nhiễm không khí do sự bay hơi ammoniac từ chuồng trại hay hố ủ ngoài trời hoặc khi rải, rắc phân Mặt khác, phân
là sản phẩm gây mùi có thể thu hút nhiều ruồi, muỗi và các côn trùng khác, do đó chúng có thể gây nhiễm bẩn môi trường sống Chính những hiện tượng ô nhiễm này
đã làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm cho người và vật nuôi (Nguyễn Quế Côi, 2006)
2.4 Hệ thống biogas
Hiện nay có rất nhiều biện pháp xử ký chất thải được áp dụng, trong đó hệ thống biogas là 1 trong những biện pháp được sử dụng phổ biến nhất nhờ vào các tính năng ưu việt của mình
Biogas là công nghệ xử lý phân và nước thải tiên tiến, nó được sử dụng phổ biến và đạt hiệu quả cao Hoạt động dựa trên nguyên tắc phân hủy kỵ khí, các chất hữu cơ phức tạp bị vi sinh vật yếm khí phân hủy tạo thành các chất đơn giản ở dạng khí hòa tan Quá trình này trải qua nhiều giai đoạn với nhiều phản ứng hóa học có sự tham gia của nhiều loại vi sinh vật kỵ khí Sự lên men các hợp chất hữu
cơ tạo ra khí sinh học có chứa 60-70% CH4, 30-35% CO2 phần còn lại là H2, N2, H2S, NH3, hơi nước Khí gas tạo ra trong bể sau khi xử lý có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đun nấu, sưởi ấm cho vật nuôi, chạy máy phát điện… Ngoài ra, nước thải sau khi xử lý dùng để tưới cho cây trồng rất tốt, bổ sung dinh dưỡng cho ao cá (Lê Viết Ly, 2007)
Trang 8MÔ HÌNH HỆ THỐNG BIOGAS
* Nguyên tắc hoạt động
Công nghệ xử lý này dựa trên nguyên tắc phân hủy kỵ khí nhờ hoạt động của vi sinh vật yếm khí, phân giải các chất hữu cơ phức tạp thành các chất đơn giản
ở dạng khí hòa tan Quá trình này trải qua nhiều giai đoạn với hàng nghìn phản ứng hóa học, có sự tham gia của vi sinh kỵ khí
- Giai đoạn 1 : Giai đoạn này cần làm lỏng phân gia súc và chất thải chăn nuôi, hay cắt nhỏ rác thải như rau, cỏ ăn thừa của gia súc hay một phần rơm rạ, thân cây ngô già, bèo tây, nhằm cung cấp nguyên liệu cho vi khuẩn thủy phân chất rắn thành các phân tử hòa tan
- Giai đoạn 2 (giai đoạn thủy phân) : Giai đoạn này các chất hữu cơ được ủ trong bể hở, hay ở tầng trên của hầm biogas lức này dưới tác động của vi khuẩn lên men sẽ thủy phân các phân tử hữu cơ lớn thành các phân tử hữu cơ nhỏ như axit béo, axit amin và hình thành khí H2, CO2
- Giai đoạn 3 (giai đoạn sinh khí metan) : Giai đoạn này nhờ sự hoạt động của
hệ vi khuẩn yếm khí phân giải các hợp chất hữu cơ nhỏ (sản phẩm của giai đoạn 2) thành các axit béo nhẹ và chuyển hóa thành khí sinh học
* Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của bể Biogas
- Môi trường yếm khí :
Quá trình lên men có sự tham gia của nhiều vi khuẩn, trong đó vi khuẩn sinh khí metan là quan trọng nhất, chúng là những vi khuẩn yếm khí bắt buộc Sự có mặt của oxy sẽ kìm hãm hoặc tiêu diệt các vi khuẩn này, vì vậy phải đảm bảo điều kiện yếm khí tuyệt đối của môi trường lên men
Trang 9- Nhiệt độ
Nhóm vi khuẩn yếm khí sinh metan rất nhạy cảm với nhiệt độ Nhiệt độ tối
ưu cho nhóm vi khuẩn này là từ 31-36oC, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 10oC nhóm
vi khuẩn này sẽ hoạt động yếu Tuy nhiên, nhiệt độ trung bình 20-30oC các vi khuẩn này vẫn hoạt động tốt Các vi khuẩn sinh metan không chịu được sự tăng giảm nhiệt
độ quá nhiều trong ngày
- Ẩm độ
Ẩm độ thích hợp nhất cho sự hoạt động của vi sinh vật là 91,5-96% khi ẩm
độ cao hơn 96% thì tốc độ phân hủy chất hữu cơ giảm
- Hàm lượng vật chất khô trong phân hữu cơ
Hàm lượng này tùy thuộc vào các loại phân khác nhau Hàm lượng vật chất khô dưới 9% thì hoạt động của túi ủ sẽ tốt, hàm lượng chất rắn thay đổi khoảng 7-9%
- Độ pH
Trong quá trình lên men yếm khí độ pH môi trường thường trung tính, đầu vào thường 6,8-7,2 và đầu ra 7-7,5 Các hầm sinh học cần duy trì độ pH trong khoảng 7-8, đây là pH tối ưu cho các loại vi khuẩn hoạt động
- Thời gian ủ và số lượng vi khuẩn sinh khí metan
Bảy ngày đầu sau khi nạp nguyên liệu đã có khí nhưng ít, sản lượng khí cao nhất sau khi nạp nguyên liệu 40 - 45 ngày Tuy nhiên còn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường Nếu trong quá trình ủ vi sinh vật không phát triển thì cần phải kiểm tra lại nguyên liệu, hoặc bổ sung vi sinh vật có sẵn trong tự nhiên
- Tỷ lệ Cacbon/Nito (C/N)
C và N là nguồn dinh dưỡng của vi khuẩn sinh metan Tốc độ tiêu thụ C nhanh hơn N khoảng 25-30 lần, do đó để quá trình phân giải kỵ khí tốt nhất khi nguyên liệu có tỷ lệ C/N là 25 : 1 đến 30 : 1
- Thời gian lưu
Quá trình phân hủy nguyên liệu xảy ra trong một thời gian nhất định Thời gian lưu dài hay ngắn tùy thuộc vào từng loại nguyên liệu, với nguồn nguyên liệu thực vật thời gian lưu cần dài hơn và quy định là 100 ngày Thời gian lưu chính bằng thời gian nguyên liệu chảy qua hệ thống từ lối vào đến lối ra Thời gian này được tính bằng thể tích phân hủy và thể tích nguyên liệu nạp bổ sung hàng ngày
- Các độc tố gây trở ngại quá trình lên men
Trang 10Hoạt động của vi khuẩn kỵ khí chịu ảnh hưởng của một số độc tố Khi hàm lượng của các loại này có trong dịch phân hủy vượt quá một giới hạn nhất định sẽ giết chết các vi khuẩn Các loại thuốc hóa học như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc sát trùng, các chất kháng sinh, nước xà phòng, thuốc nhuộm, dầu nhờn sẽ làm cho số lượng vi sinh vật giảm đi nhanh chóng
- Một số yếu tố khác
Ngoài các yếu tố đã trình bày trên, số lượng gas nhiều hay ít còn phụ thuộc một số yếu tố sau
+ Chiều dài và chiều rộng của hầm biogas Yếu tố này có liên quan đến thời gian lưu lại của dịch phân ngắn hay dài và số lượng phân
+ Tổng thể tích phân, nước cho vào trong ngày và tỉ lệ nước
+ Các loại phân khác nhau thì số lượng gas khác nhau
+ Tỷ lệ phân nước : dịch phân quá loãng thì lượng phân không đủ để phân hủy, ngược lại dịch phân quá đặc sẽ tạo lớp váng trên bề mặt của hầm gây cản trở quá trình sinh khí (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011)
* Một số lợi ích khi xử lý phân và nước thải bằng công nghệ Biogas
- Phân bón cho hoa màu : Sử dụng nước thải sau khi qua bể Biogas tưới trực tiếp cho rau và cây ăn trái Chất thải này có hiệu quả tốt với cây trồng trong việc hấp thụ chất dinh dưỡng vì các chất hữu cơ đã được phân hủy trong quá trình lên men tạo khí, đồng thời cho năng suất và chất lượng cao hơn so với sử dụng phân bón trực tiếp Ngoài ra, phụ phẩm khí sinh học còn được dùng để bón cho cây trồng
- Nuôi cá : Phương pháp này được sử dụng rất thuận lợi, không cần qua chế biến, dễ kiểm soát và chỉ cần một lượng phân nhỏ Các dưỡng chất trong phân tác động làm cho rong, rêu, tảo trong nước phát triển sẽ là nguồn thức ăn rất tốt cho những loài cá sử dụng trực tiếp làm thức ăn
- Sản xuất rong, rêu, tảo : Có thể sản xuất bèo, rong, tảo, làm thức ăn cho gia súc, gia cầm từ những chất thải Biogas và cũng cho năng suất cao
- Dùng khí sinh học để thắp sáng, sưởi ấm và đun nấu
- Môi trường sạch đẹp, giảm mùi hôi
* Một số hạn chế của hệ thống Biogas
Mặc dù có rất nhiều ưu điểm tuy nhiên hệ thống biogas vẫn còn tồn tại một
số nhược điểm cần khắc phục