1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài tổng hợp phân hữu cơ vi sinh (1)

36 74 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 418,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là loại phân bón giàu mùn được vi sinh vật phân giải từ xác bã mía kết hợp với phân gia cầm trong quá trình ủ ( composting). Vi sinh vật ở đây chỉ đóng vai trò trong quá trình chế biến (ủ phân), không đóng vai trò rõ rệt trong khi bón phân cho cây. Vì vậy phân hữu cơ sinh học còn được gọi là phân compost. 1.2. Quá trình xảy ra khi ủ phân compost: Trong khối ủ xảy ra hai quá trình vi sinh vật là hiếu khí và kỵ khí ( nhóm thực hiện theo phương pháp ủ hiếu khí ). Trong quá trình ủ phân gia cầm và bã mía có lẫn nhiều tạp chất, xơ bã khó phân hủy trong đó có lignin ( hợp chất rất khó phân hủy) nên chỉ có một phần hợp chất hữu cơ phân hủy tới các sản phẩm cuối cùng, còn lại ở các sản phẩm trung gian của sự phân hủy ( phân hủy dở dang). • Quá trình hiếu khí:

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỖ HỒ CHÍ MINH

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN



ĐỀ TÀI PHÂN HỮU CƠ - VI SINH

GVHD: TS LÊ QUỐC TUẤN Nhóm thực hiện: Nhóm 2.

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trang 4

 Màu sắc:

Tùy theo tuổi, trùn mới nở có màu trắng, trùn con có màu hồng nhạt, trùntrưởng thành và già có màu đỏ với màu mận chín có mặt lưng màu nhạt dần về

Trang 5

phía bụng, bên ngoài cơ thể có một lớp kitin mỏng chứa sắc tố do đó khi ra ánhsáng cơ thể chúng phát quang màu xanh tím, có đường kẻ dưới bụng màu nhạt vàsáng ở gần vành miệng

 Kích thước:

Trùn nhỏ dài khoảng 3cm, tiết diện 0,2cm Trùn trung bình dài khoảng 3 –10cm, tiết diện thân 0,2 – 0,5cm Trùn lớn dài trên 10cm, đường kính 5 – 6mm(Gautam và Chaudhuri, 2002 Trích dẫn bởi Nguyễn Văn Bảy, 2002)

Hình 2: Trùn quế trưởng thành

Sinh trưởng – sinh sản:

Trùn sinh trưởng bằng phương thức tăng số lượng đốt thân hoặc tăng tiết diệnđốt thân Trong quá trình sinh trưởng, thể trọng và thể tích của trùn tăng l n hitrùn xuất hiện đai sinh dục là lúc trùn đã thành thục về mặt sinh dục, khi đai sinhdục thoái hóa là trùn đã già Trùn có khả năng tái sinh một bộ phận nào đó bị tổnthương hoặc bị cắt đứt, có thể tái sinh cả phía trước và phía sau của cơ thể

Trùn quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định

và có độ ẩm cao Từ một cặp ban đầu trong điều kiện sống thích hợp có thể tạo ra1.0001.500 cá thể trong một năm Trong điều kiện thích hợp thì sau 2- 3 tuần kén

sẽ nở và trùn con chui ra ngoài Từ khi trùn nở đến khoảng 15-30 ngày sau thànhtrưởng thành và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục, bắt đầu có khả năng bắt cặp và sinhsản Chăm sóc tốt trùn có thể đẻ kén liên tục mỗi tuần một lần, vì vậy số lượngtrùn trong luống tăng lên rất nhiều sau một thời gian nuôi

1.2 Yếu tố ảnh hưởng:

I.2.3 Nhiệt độ:

Trùn có thể sống trong nhiệt độ từ 5oC – 30oC, nhiệt độ thích hợp nhất cho sựsinh trưởng và sinh sản của trùn là 25oC – 30oC, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới

Trang 6

sinh trưởng và sinh sản rất nhanh Ở nhiệt độ môi trường quá cao, để thích nghitrùn sẽ huy động năng lượng bằng cách tăng cường hô hấp, kéo theo quá trình dịhóa tăng theo, từ đó tiêu tốn thức ăn cũng tăng lên do đó nhiệt độ cao chúng sẽ

bỏ đi và chết dần Quá trình trên theo chiều ngược lại ở nhiệt độ quá thấp, chúng

sẽ ngừng hoạt động và có thể chết

Tóm lại, chúng có thể chết khi nhiệt độ cao, quá thấp hoặc khi quá khô vànhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại khá lâu trong môi trường nước cóđầy đủ oxy

I.2.6 Không khí:

Trùn quế hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu oxy và thải CO2 Do đó,môi trường sống đòi hỏi thoáng khí, thức ăn của trùn là phân nên hàm lượng khíđộc hại (CO2, H2S, SO3, NH4) luôn tồn tại trong luống nuôi và chuồng nuôi Do

đó phải tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi, tránh để tồn lưu khí độc hại ảnhhưởng tới sự phát triển của trùn Theo Willis (1995) và Edward (1998) cho rằngp.excavatus không thể sống tốt trong chất thải hữu cơ chứa nhiều NH3

2 Kỹ thuật nuôi trùn:

Trang 7

Thuyết minh quy trình:

Chuẩn bị nguyên - vật liệu:

Nguyên liệu:

- Trùn sinh khối: bao gồm trùn bố, trùn mẹ, trùn con, kén trùn và chất nền.

- Chất nền: ủ phụ phẩm (chủ yếu là bã mía, rơm rạ, ) và phân bò

Trang 8

- Thiết bị đô độ ẩm – nhiệt độ:

- Xe vận chuyển thức ăn.

- Lưới nông nghiệp

- Cào

- Thùng tưới nước.

- Gáo múc thức ăn cho trùn.

- Tấm che phủ: bao tải hoặc chiếu cói.

Dựng chuồng trại:

Vị trí để làm ô chuồng nuôi trùn phải là nơi cao ráo không bị ngập úng, có nềnđất cứng để trùn khó chui xuống dưới tìm cách bỏ đi, không bị ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vì sẽ làm cho trùn sợ chui xuống dưới không ngôi l n tr n ăn ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh sản, đồng thời vị trí chọn làm ô nuôi trùn cũng phải đảm bảo thoáng mát để giữ nhiệt độ luôn ở mức ổn định phù hợp với hoạt động sống của trùn

Ô nuôi trùn: Để ô nuôi trùn được chắc chắn và sử dụng lâu dài, chúng ta có thể xây ô chuồng bằng b tông Người nuôi trùn có thể sửa chữa, sử dụng ô chuồng heo cũ để làm ô nuôi trùn hoặc xây mới ô nuôi với gạch ống, cát và xi măng

Thả trùn vào nơi nuôi:

Khi chuẩn bị ô chuồng xong dùng nước tưới trên bề mặt luống mỗi ngày 1 lần,

3 ngày liên tục, trải một lớp chất nền khoảng 8-10 cm, sau đó thả trùn vào ô nuôi

Có hai cách thả trùn: a) Thả trùn tinh bằng cách dùng tay nhẹ nhàng hốt từng cụm vào luống, sau một giờ tự động trùn sẽ chui vào trong chất nền để trốn; b) Thả sinh khối trùn bằng cách trải sinh khối vào theo một đường thẳng giữa ô luống đó hoặc để sinh khối thành từng đám giữa mặt luống và không nên trải mỏng ra

Che đậy trùn:

Trang 9

Sau khi thả trùn giống, lấy bao tải cũ hoặc chiếu cói rách, lá chuối, lá cọ Đậylên bề mặt ô chuồng trùn để tạo bóng tối cho trùn nhanh chóng quen nơi ở mới, trùn lên mặt luống ăn thức ăn và giao phối sinh sản cả ngày lẫn đ m và còn giữ

ẩm cho luống nuôi

Tưới ẩm luống trùn:

Dùng nước sạch để tưới cho trùn Mùa hè tưới 2-3 lần ngày, mùa đông tưới

1-2 lần/ ngày Độ ẩm thích hợp luống nuôi là 70% Lưu ý: Tuyệt đối không dùng nước có vôi hoặc xà phòng tưới vào luống sẽ làm cho trùn trúng độc chết

Cho trùn ăn:

Xác định thời điểm cho ăn:

Thả bằng sinh khối thì cho trùn ăn sau 6 giờ Thả bằng trùn tinh (đã trải sẵn một lớp chất nền mỏng) thì cho trùn ăn sau 2 ngày

Thời điểm cho trùn ăn ở những lần tiếp theo hay còn gọi là cho ăn định kỳ được xác định dựa vào các yếu tố sau: a)Lượng thức ăn trên bề mặt luống trùn: chỉ cho trùn ăn khi thấy trên bề mặt luống trùn không còn thức ăn cũ (phân), mà chỉ còn 1 ít chất xơ và bề mặt luống đã tơi xốp b) Số lượng trùn có trong luống: tùy thuộc vào lượng trùn có trong luống, ước tính dựa vào số lượng trùn giống ban đầu c)Số lượng thức ăn trong mỗi lần cho ăn:Cho trùn ăn 1 lớp mỏng

khoảng 2- 3 cm (lượng thức ăn ít) thì thời điểm cho ăn tiếp theo sẽ gần hơn so với cho trùn ăn 1 lớp dày từ 5 cm trở l n (lượng thức ăn nhiều)

Tính lượng thức ăn cho trùn

 Khối lượng trùn tinh ở mỗi luống: Thông thường, trong một ngày trùn sẽ ănhết một lượng thức ăn bằng 2/3 đến tương đương với khối lượng của cơ thể Do đó, nếu mật độ trùn tinh là 2 kg/m2 thì lượng thức ăn cần cung cấp cho trùn 1 ngày là khoảng 1,5 kg đến 2 kg thức ăn Vì vậy, nếu định kỳ 3 ngày cho trùn ăn 1 lần thì lượng thức ăn cần có là khoảng 4 – 6 kg/m2

 Độ dày của thức ăn/1 lần: vào mùa hè 2 - 3 ngày cho trùn ăn 1 lần, lượng thức ăn bón tr n bề mặt luống dày từ 2- 3 cm thì lượng thức ăn tr n mỗi lần cho ăn

sẽ ít Đến mùa đông, lượng thức ăn bón tr n bề mặt luống dày khoảng 5 cm, thời gian cho ăn cũng thưa hơn mùa hè (4 – 5 ngày cho ăn 1 lần) thì lượng thức ăn tr n mỗi lần cho ăn sẽ nhiều

 Loại thức ăn: Nếu thức ăn là phân bò tươi thì cách tính tương tự như tr n, còn nếu thức ăn là bã thải từ hầm ủ biogas; thức ăn đã qua quá trình ủ như phân gia súc gia cầm ủ với rơm rạ, cây cỏ khô, bã khoai mì hay thức ăn là rác thải hữu cơ

đã được ủ hoai thì lượng thức ăn cho trùn ăn có thể tăng th m một ít (khoảng 20%)

Thu sinh khối trùn:

Phương pháp thu hoạch bằng tay

Trang 10

 Thu hoạch trùn tinh và sinh khối trùn

 Mở tấm phủ trên mặt luống nuôi nhẹ nhàng; hốt trùn nằm trên mặt luống cho trùn vào chậu, xô có chứa một lớp phân trùn mỏng bên dưới đã chuẩn bị sắn Tiếp tục thực hiện cho đến khi hết luống trùn

Phương pháp nhử mồi

 Áp dụng để thu hoạch trùn tinh

 Trước thu hoạch 2 ngày cho trùn nhịn đói, đặt rổ có chứa thức ăn vào giữa luống nuôi, phủ tấm bạt lên trên bề mặt luống và thu hoạch trùn

Thu phân:

Lượng phân trùn thải ra hàng ngày bằng 30 – 40% số lượng trùn trong luống nuôi Sau 5 – 6 tháng nuôi, khi lớp phân trùn ở đáy ô đầy lên, mật độ trùn lớn lên,sinh sản chậm đi, có thể thu hoạch toàn bộ luống trùn

 Cách thu hoạch: Sau khi cho trùn ăn 2-3 ngày, phần thức ăn đã được trùn ănhết, tiến hành thu hoạch

 Dùng xẻng xúc phần phía trên khoảng từ 15 cm sang một bên luống trùn

 Dùng xẻng xúc phân trùn từ mặt dưới của luống trùn cho vào bao

 Sau khi các bao phân trùn đã được buộc chặt, ta sẽ chuyển các bao phân về kho để trữ và bảo quản

Sơ chế - đóng gói trùn quế:

Bước 1: Loại bỏ tạp chất ra khỏi trùn khi mới thu hoạch

+ Quan sát xem cụm trùn nào còn dính nhiều rác và lá cây

+ Dùng tay nhặt rác, lá cây ra khỏi trùn

+ Cho trùn sau khi thu hoạch vào dụng cụ chứa đựng như xô, chậu, rổ nhựa,

Bước 2: Đưa trùn đến nơi có nguồn nước để rửa sạch trùn nhưng tránh làm

tổn thương trùn Có nhiều cách vận chuyển khác nhau:

Bước 3: Rửa sạch trùn bằng nước lần thứ nhất nhằm loại bỏ đất, bụi và phân Bước 4: Làm ráo trùn sau khi rửa sạch.

Bước 5: Đóng gói trùn sau khi thu hoạch.

II Gà – giống Sasso:

1 Tổng quan về giống Sasso:

Nguồn gốc:Gà sasso còn gọi là gà Label Sasso là giống gà công nghiệp có xuất

xứ từ Pháp, chúng là giống gà lông màu Sasso do hãng Sasso tạo ra năm 1978 và được nuôi theo kiểu gà thả vườn trong điều kiện nông hộ ở Pháp, gà Label Sasso

do đặt tên cho một giống gà do hãng tạo ra Là một dòng gà thịt có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi, kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, thích nghi với

Trang 11

phương thức chăn nuôi bán công nghiệp hay nuôi thả vườn, gồm nhiều dòng khác nhau Việt Nam đã nhập và nuôi thử nghiệm hai dòng SA31 và SA51.

- Đặc điểm ngoại hình: Gà có lông màu nâu đỏ, chân, da và mỏ có màu vàng, ức nở

- Chất lượng thịt tốt: thịt rắn, chắc, thơm ngon, có vị ngon đậm đà tương tự gà Ri của Việt Nam

- Gà Sasso có khả năng chống chịu bệnh tốt, chúng chịu được nóng và độ ẩm cao

Gà có sức chịu đựng tốt với điều kiện nóng ẩm Gà lớn nhanh, lúc 2 tháng tuổi kể

từ lúc bóc trứng, nuôi đúng kỹ thuật gà đạt 2,2 - 2,5 kg/con

- Gà Sasso tận dụng được ngô, tấm, gạo, sắn và thức ăn thừa của lợn Gà đạt hiệu quả kinh tế cao kể cả nuôi thả vườn và tập trung Sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh hoặc thức ăn đậm đặc phối trộn với các nguyên liệu khác

- Chỉ tiêu kinh tế: Nếu nuôi theo phương pháp nửa nhốt nửa thả 90 – 100 ngày có thể đạt trọng lượng 2,1 – 2,3 kg Tiêu tốn thức ăn 3,1 – 3,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng

2 Kỹ thuật nuôi gà:

Nuôi gà theo phương pháp bán chăn thả, chăn thả sau giai đoạn gà con 0-4 tuần tuổi hoặc 5 tuần tuổi Có thể sử dụng vườn, đồi, ruộng lúa, ruộng hoa màu sau thu hoạch để chăn thả gà

• Gà con 0-4 (hoặc 5) tuần tuổi giống như gà thịt công nghiệp cùng giai đoạn,cho gà ăn cả ngày lẫn đêm

• Từ 5(hoặc 6)-16 tuần đến khi xuất chuồng, có thể thả ra vườn, ruộng … vớimật độ tối thiểu 3m2/gà, lớn hơn càng tốt Vườn, ruộng phải sạch, ít bị ô nhiễm phân và hoá chất độc (chủ yếu là thuốc sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc kích thích …) Nếu thả ở vườn, thì phải định kỳ tối đa 2 tháng/lần rắc vôi bột, thường xuyên nhặt lông và đối Không thả gà ra vườn khi trời xấu …

• Trước khi gà xuất bán để thịt khoảng 15 ngày, không nên thả gà, mà nuôi nhốt, vỗ béo bằng ngô, gạo xay với sinh khối trùn

Gà được ăn theo bữa: sáng, trưa, và tối về chuồng Số lượng thức ăn hỗn hợp cung cấp chỉ bằng 1/2-3/4, protein giảm 2%, còn các chất khác giữ nguyên như nuôi gà công nghiệp

Trang 12

2.1 Những công việc chuẩn bị trước khi nhập gà

• Chuẩn bị chuồng trại :

- Vệ sinh sạch và sát trùng kỹ máng ăn máng uống trước khi sử dụng

- Vệ sinh tẩy uế và sát trùng chuồng trại

- Kiểm tra các thiết bị chăn nuôi để đảm bảo chúng hoạt động tốt trong quá trình nuôi

• Chuẩn bị bóng đèn úm :

- Đèn úm : có thể úm bằng bóng đèn tròn hoặc chụp úm ga

- Chuẩn bị 100 bóng đèn dây tóc cho 2000 con gà, 1 bóng đèn /3,5m2

- Chất độn chuồng : có thể dùng trấu đã được phơi khô và xịt sát trùng

Trang 13

- Máng uống : dùng 1 bình 4l cho 80-100 gà con Gà lớn dùng máng uống hình chuông 100-120 con /máng

- Máng ăn : dùng một khay thức ăn tròn cho khoảng 80-100 gà con, gà lớn thì dùng máng treo khoảng 40 con/ cái

- Máng ăn và máng uống phải được phân bố đều để đảm bảo gà có thể ăn và uống nước

2.2 Chọn con giống :

- Chỉ nên mua gà con từ các nguồn tin cậy, gà bố mẹ đã được kiểm tra không mắc các bệnh bạch lỵ, thương hàn

+ Gà con phải đồng đều, nhanh nhẹn

+ Gà con không được dị tật về mắt, mỏ, chân,bề mặt chân sáng, bóng và tròn trịa + Gà con phải khỏe, bụng gà không bự và cứng

2.3 Chăm sóc gà

2.3.1 Phương pháp úm gà :

 Ngay khi gà về đến trại, phải nhanh chóng cho gà vào quây úm Cho gà uống đầy

đủ nước có hoà vitamin C và đường glucose( thường 2g vitamin C +50 g glucose trong 1 lít nước cho 80-100 con gà)

 Cho gà uống nước trong vòng 2-4 giờ đầu sau đó mới đổ cám cho gà con tập ăn

o Nhiệt độ úm : Rất quan trọng, nhiệt độ quá cao và quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của gà.Nhiệt độ thích hợp cho gà trong tuần đầu là

32 - 34 oC,và cứ sau một tuần nhiệt độ sẽ giảm xuống dần thích hợp với

 Quan sát gà con ta có thể xác định nhiệt độ úm có thích hợp hay không:

+ Nếu gà con tụ tập dưới bóng đèn úm nghĩa là nhiệt độ quá thấp ta phải tăng nhiệt độ lên

+ Nếu gà con tản xa đèn úm nghĩa là nhiệt độ úm quá cao, cần phải giảm nhiệt độ xuống

+ Nếu gà con phân bố đều có nghĩa là nhiệt độ đã thích hợp

 Thời gian úm : Tuỳ theo người chăn nuôi, thường là từ 10-14 ngày

 Mật độ : Gà tăng trọng rất nhanh trong vài ngày đầu ,do đó ta phải theo dõi và nới rộng úm để đảm bảo đủ chỗ cho gà

Trang 14

- Cắt mỏ lần thứ 2 (7- 8 tuần tuổi): kiểm tra những con bị sót hay cắt lần đầu quá cạn Cắt cả 2 mỏ, vết cắt vuông góc với trụ mỏ, hay cắt so le; cắt mỏ trên cách lỗ mũi 6mm, mỏ dưới xa hơn mô trên 3mm, tạo mỏ dưới dài hơn mở trên.Sau khi cắt mỏ gà xong, nên pha nước có chứa vitamin K + Electrolyte, sau đó

12 giờ tăng vitamin C+ đường glu-cose để gà nhanh chóng hồi phục sức khỏe Thực hiện chế độ ăn tự do, máng ăn luôn có lớp thức ăn dày 4-5cm để gà ăn dễ dàng và tránh mỏ gà tiếp xúc thành máng làm tổn thương mỏ

2.3.3 Cách cho ăn : khi gà còn nhỏ cho gà ăn nhiều lần trong ngày, mỗi lần

bỏ một ít thức ăn, thức ăn phải luôn luôn mới

 Giai đoạn gà con( từ 1- 21 ngày):

• Nước uống: Khi gà còn nhỏ nên thả gà gần máng nước, nước không đủ đầy bình và thường xuyên thay nước sạch

• Thức ăn: Khi mới nhập gà về chuồng nên cho gà ăn tự do, lượng ăn trong ngày nên chia ra thành 7-8 đợt và giảm còn 5-6 đợt sau 3 ngày nuôi

- Rau xanh băm nhỏ: 5%

- Giun quế tinh: 3%

Giun quế chứa trên 8% Axit Glutamic, nên nuôi gà bằng thức ăn có giun tươi thì hầu như gà không bị bệnh; trong khi nếu nuôi bằng thức ăn không có giun, tỷ lệ mắc bệnh cúm gà 16-40% Chính vì vậy, khi sử dụng giun quế làm thức ăn chăn nuôi thì vật nuôi khỏe, chóng lớn, đẻ tốt, ít bệnh tật và sẽ cho thịt thơm ngon hơn hẳn so với vật nuôi thông thường

Công thức chế biến thức ăn cho gà theo tỉ lệ:(đơn vị: kg)

Cám gạo, bột ngô Đỗ tương Rau xanh Giun tinh

Trang 15

40-50 4 1 6

Một lần trùn quế thu được 480kg nên ta có tỉ lệ thức ăn là:

 Giai đoạn vỗ béo đến xuât chuồng: giai đoạn nên để gà ăn tự do để vỗ béo với nhiều bữa trong ngày 4-5 bữa/ ngày, lượng ăn khoảng 60-80g/con/ngày

- Trước khi đổ thức ăn mới, phải làm sạch khay đựng thức ăn

- Sau 2 tuần số lần cho ăn trong ngày sẽ giảm dần Gà càng lớn thời gian ăn càng nhanh hơn, nên chỉ cho gà ăn vào buổi sáng và buổi chiều mát để tránh hiện tượng gà bị chết nóng

2.3.4 Tiêm thuốc và vắc-xin cho gà

- Sử dụng thuốc, vắc-xin đúng theo hướng dẫn của bác sĩ thú y

- Trong quá trình uống thuốc, vắc-xin phải để gà thật khát( cho gà nhịn khát khoảng 2-3 giờ tùy điều kiện thời tiết) thì gà mới uống nhanh đủ thuốc, nên sử dụng thuốc, vắc-xin tốt nhất vào buổi sáng sớm(6-7h sáng) hoặc chiều mát(3-4h chiều)

Các loại thuốc vắc-xin như:

+ Vắc-xin newcastle: 2 lần

+ Vắc-xin Gumboro: 2 lần

2.3.5 Vệ sinh phòng bệnh

 Vệ sinh chuồng trại:

- Sát trùng chuồng trại, trang thiết bị, vật tư trước khi nhập gà 3 ngày

- Vệ sinh, sát trùng chuồng, thiết bị, vật tư 2 lần/tuần

 Trước khi chăn nuôi

- Các thiết bị, dụng cụ: Máng ăn, máng uống, bể chứa nước

+ Chà rửa sạch sẽ

+ Phun thuốc sát trùng( formol)

+ Trước khi sử dụng 3 ngày nên xịt thuốc sát trùng lên các vật tư

+ Phơi khô

Trang 16

- Chuồng trại:

+ Vệ sinh khu vực xung quanh chuồng nuôi: phát quang bụi rậm, dọn sạch phân, rác

+ Phun rửa tất cả bề mặt bằng nước tẩy rửa có áp suất cao

+ Phun thuốc sát trùng ở tất cả bề mặt của trại: thuốc sát trùng TH4, Omnicide với tỉ lệ 1:200( 1 lít/4m2)

 Trong quá trình chăn nuôi

- Thiết bị, dụng cụ: vệ sinh máng uống 1 lần/ngày và máng ăn tối thiểu 2 lần/tuần

- Chuồng trại: Định kỳ 1 lần/2 tuần phun thuốc sát trùng khu vực xung quanhtrại, 1 lần/tuần trong trại với thuốc sát trùng có nồng độ bằng ½ liều sử dụng trước khi nhập gà về chuồng

III Phân hữu cơ:

1 Tổng quan về phân hữu cơ:

1.1 Khái niệm:

Là loại phân bón giàu mùn được vi sinh vật phân giải từ xác bã mía kết hợpvới phân gia cầm trong quá trình ủ ( composting) Vi sinh vật ở đây chỉ đóng vaitrò trong quá trình chế biến (ủ phân), không đóng vai trò rõ rệt trong khi bónphân cho cây Vì vậy phân hữu cơ sinh học còn được gọi là phân compost

1.2 Quá trình xảy ra khi ủ phân compost:

Trong khối ủ xảy ra hai quá trình vi sinh vật là hiếu khí và kỵ khí ( nhóm thựchiện theo phương pháp ủ hiếu khí ) Trong quá trình ủ phân gia cầm và bã mía cólẫn nhiều tạp chất, xơ bã khó phân hủy trong đó có lignin ( hợp chất rất khó phânhủy) nên chỉ có một phần hợp chất hữu cơ phân hủy tới các sản phẩm cuối cùng,còn lại ở các sản phẩm trung gian của sự phân hủy ( phân hủy dở dang)

Quá trình hiếu khí:

Quá trình ủ hiếu khí có sự tham gia của oxy không khí Ủ hiếu khí thường làđảo trộn định kỳ để khối ủ thoáng khí hoặc san thành những lớp mỏng; nếu ủ ở

bề sâu thì phải thổi khí liên tục và cưỡng bức

Quá trình vi sinh vật hiếu khí xảy ra rất phổ biến ở khắp mọi nơi Nguồn cơchất là nhiều hợp chất, nên sản phẩm phân giải không bao giờ là một hoặc hai sản

Trang 17

phẩm cuối cùng Sản phẩm trung gian hay sản phẩm cuối cùng ( thường là một

số, nhất là các loại khí) của quá trình vi sinh vật này có thể lại là cơ chất dinhdưỡng cho quá trình khác tiếp theo

Đặc điểm của quá trình hiếu khí là cần có oxy của không khí tham gia Vì vậy,quá trình này chỉ các vi sinh vật hiếu khí đóng vai trò chủ yếu và sau đó là các visinh vật kỵ khí tùy tiện tham gia Các vi sinh vật kỵ khí nghiêm ngặt không thamgia vào quá trình này

Vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm ( trừ nấm men) đều tham gia vào quá trình phân giảicác chất hữu cơ ở điều kiện hiếu khí Nấm men chỉ sử dụng được các loại đườngđơn, đường đôi và ít phần đường ba; còn phân hủy các hợp chất có phân tử lớnthì có rất ít chúng có khả năng này

Ở trong đất thấy đủ các nhóm vi sinh vật Đối với đất thường xuyên canh tác,nhiều mùn, tơi xốp trung tính ,ta thấy số lượng vi sinh vật rất phong phú Lớptrên cùng khi cày nỏ bị ánh sáng Mặt Trời chiếu rọi, số lượng vi sinh vật ít,nhưng lớp dưới khoảng 20cm thì rất nhiều Ở đây ta thấy đủ mặt vi khuẩn, vinấm và xạ khuẩn Xạ khuẩn và nấm mốc là những cơ thể hiếu khí Ở trong đấtchúng cùng với vi khuẩn đóng vai trò quan trọng làm tăng độ phì của đất cũngnhư là sạch các chất bẩn ô nhiễm

Các giống vi khuẩn và xạ khuẩn trong quá trình hiếu khí thấy có:

- Vi khuẩn: Bacillus, Flavobacterium và Pseudomonas khá phổ biến, ngoài ra còn thấy Achoromobacter, Cellulomonas, Vibrio, Cellvibrio, Cytophaga, Agricoccus,

Polyngium, Sporocytophaga, Saragium, Archargium, Promyxobacterium, Nhiều

loài thuộc nhóm này chịu nhiệt cao

- Xạ khuẩn có các giống Micromonospora, Proactinomyces, Actinomyces,

ra nhanh và chất lượng phân tốt

Nhiệt độ:

Nhiệt độ tăng là quá trình ủ phân diễn ra tốt Các loại mầm bệnh cũng bị tiêu diệt.Tuy nhiên không để mầm bệnh tăng quá 60 độ C Ở nhiệt độ này, nhiều vi sinh vật có íchcũng bị tiêu diệt Muốn giảm nhiệt độ chỉ cần đảo lại đống phân Nhiệt độ tối ưu chođống phân ủ là 50 – 60 độ C

Trang 18

Nguồn đạm trong nguyên liệu:

Cacbon ( C) và đạm (N) là thức ăn của vi sinh vật phân giải chất thải thành phân ủ( phân hữu cơ) Nếu nguyên liệu phân ủ thiếu đạm thì quần thể vi sinh vật phát triển kém.Trong trường hợp này cần bổ sung thêm phân gia súc, gia cầm hoặc nước tiểu

Kích thước nguyên liệu:

Kích thước nguyên liệu trong đống phân ủ càng nhỏ, diện tích bề mặt tiếp xúc với visinh vật càng tăng, tốc độ phân giải càng nhanh Do vậy, rơm rạ, cành cây, thân cây cầnbăm nhỏ hoặc nghiền

2 Kỹ thuật ủ phân:

Thuyết minh quy trình

Ủ theo từng đợt ( 1 tháng 4 đợt phân ra 4 tuần)

Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu ủ phân gà ( chim cút ) trong đợt 1:

Ngày đăng: 04/09/2019, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Huy Hiền, 2017, “Phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Nông nghiêp và Phát triển Nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
2. PGS. TS. Tạ Thu Cúc, 2005, “Giáo trình kỹ thuật trồng rau”,Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật trồng rau
Tác giả: PGS. TS. Tạ Thu Cúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2005
3. Nguyễn Đức Lượng, 2013, “Công nghệ sinh học môi trường”, Nhà xuất bản đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh học môi trường”
Nhà XB: Nhà xuất bản đạihọc quốc gia TP Hồ Chí Minh
4. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, 2004, “Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp lông màu thả vườn và phòng trị một số bệnh”, Nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp lông màu thả vườn và phòng trị một số bệnh
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
Năm: 2004
5. PGS.TS. Phạm Thị Vượng, TS. Bùi Huy Hiền, 2017, “Nuôi trùn quế từ phân gia súc gia cầm và chất thải nông nghiệp”, Ban quản lý các dự án nông nghiệp dự án hỗ trợ nông nghiệp các bon thấp – LCASP Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nuôi trùn quế từ phân giasúc gia cầm và chất thải nông nghiệp”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w