Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước...12 Chương 3: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG - CHẤT TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH SANG CHỦ NG
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……….….3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Khái niệm lượng, chất 4
1.2 Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng 5
Chương 2: QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH SANG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC 7
2.1 Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh 7
2.1.1 Đặc điểm của thị trường tự do cạnh tranh 7
2.2 Chủ nghĩa tư bản độc quyền 9
2.2.1 Những nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa tư bản độc quyền 9
2.2.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền 10
2.3 Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước 12
2.3.1 Nguyên nhân hình thành và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước 12
2.3.2 Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước 12
Chương 3: VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG - CHẤT TÌM HIỂU QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH SANG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC 14
3.1 Quá trình biến đổi từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền 14
3.2 Quá trình biến đổi từ chủ nghĩa tư bản độc quyền sang chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước 15
KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………18
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu, phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Hà Lan và Anh ở thế kỷ XVII Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ XVIII, hình thái chính trị của "nhà nước tư bản chủ nghĩa" dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý tộc
Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới Sang đến giữa thế kỷ 19, từ hình thức chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh, chủ nghĩa tư bản dần phát triển lên trạng thái cao hơn là chủ nghĩa tư bản độc quyền, và sau đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, tức chủ nghĩa đế quốc
Toàn bộ quá trình chuyển đổi này đã được Mác - Ăngghen dự đoán và được Lênin phân tích đầy đủ trong học thuyết của mình Quá trình này, tuy có nhiều nguyên nhân tác động và nhiều hình thức biểu hiện đa dạng, nhưng đều tuân theo những quy luật phát triển cơ bản của thế giới, một trong số đó là quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất Vậy nên, việc vận dụng quy luật lượng chất để phân tích quá trình biến đổi
từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
sẽ giúp ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về sự vận động và phát triển tất yếu này của xã hội, cũng như nhìn rõ được bản chất của sự chuyển đổi này, phụ vụ cho việc nghiên cứu về đề tài này cũng như các đề tài liên quan
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm lượng, chất
Chất và lượng là hai phạm trù triết học phản ánh những mặt quan trọng của hiện thực khách quan
Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác
Như vậy, tạo thành chất của sự vật, hiện tượng chính là các thuộc tính khách quan vốn có của nó nhưng khái niệm chất không đồng nhất với khái niệm thuộc tính Mỗi sự vật, hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp lại thành chất của sự vật, hiện tượng Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó thay đổi Việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản của sự vật, hiện tượng phải tùy theo quan hệ cụ thể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trong quan hệ này là cơ bản thì trong quan hệ khác có thể là không cơ bản
Mặt khác chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành, mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua các mối liên hệ cụ thể Vì vậy, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính cũng chỉ có ý nghĩa cơ bản, chất và thuộc tính cũng chỉ có ý nghĩa tương đối Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, hiện tượng, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó
Trong khi đó, khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy
mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng Với khái niệm này cho thấy: một sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật, hiện tượng đó
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy Hai hương diện đó đều tồn tại khách quan Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vật, hiện tượng chỉ có ý nghĩa tương đối:
có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng
Trang 41.2 Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất
và lượng Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng,
là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật hay hiện tượng khác
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi
về lượng Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về chất Giới hạn đó chính là điểm nút Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của
sự vật, hiện tượng
Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá tình phát triển của sự vật hiện tượng Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi sự vật Đó là các bước nhảy: nhanh và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát và tự giác… Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên túc của sự vật, hiện tượng Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một đường nút vô tận, thể hiện cách thức vận động và phát triển của sự vật từ thấp đến cao Ph Ăngghen khái quát tính tất yếu này như sau: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất.” [3; tr.93]
Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật Chất mới tác động của lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
Quá trình biến đổi chất và lượng ở các đối tượng có độ sâu nhất và ý nghĩa khác nhau Trên cơ sở đó có thể chia những quá trình đó ra thành cách mạng và tiến hóa Cách mạng thay đổi tới tận gốc rẽ, phá bỏ đi bản chất cơ bản, vừa có
sự cải biến tức thời, vừa có sự cải biến dần dần Tiến hóa là sự biến đổi chưa
Trang 5dẫn đến phá bỏ bản chất cơ bản của đối tượng, bao gồm những thay đổi về lượng và thay đổi về chất không cơ bản
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng Sự thay đổi dần dần tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến
sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tọa ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Trang 6Chương 2
QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH SANG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC 2.1 Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
2.1.1 Đặc điểm của thị trường tự do cạnh tranh
Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh có những đặc điểm như sau:
- Có nhiều doanh nghiệp cùng kinh doanh một mặt hàng, có thể tự do tham gia hoặc rút lui khỏi ngành kinh doanh
- Có một cơ chế thị trường tự do thuần khiết hơn so với các nền kinh tế khác Trong mô hình kinh tế thị trường này, các mối quan hệ kinh tế đều được giải quyết thông qua thị trường là chính, còn sự can thiệp của nhà nước rất có hạn
Do đó, mọi sự bất cập và thất bại của nền kinh tế đều do nguyên nhân chủ yếu
từ sự trục trặc hay sự phát triển thiếu đồng bộ của thị trường
- Trong mô hình này, thị trường lao động có tính linh hoạt cao và các luật lệ
về thị trường lao động đều thiên về bảo hộ người chủ tư bản hơn là người lao động làm thuê
- Kinh tế thị trường tự do được xây dựng và vận hành dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi là: sở hữu tư nhân, lợi ích cá nhân, cạnh tranh thị trường và tự do dân chủ theo kiểu phương Tây
- Những thể chế, chính sách trước đây bị coi là phi kinh tế như chính sách giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ thì ngày nay trở thành những chính sách phát triển hàng đầu, do giáo dục - đào tạo và khoa học, công nghệ trong những thập niên gần đây đã trở thành những động lực trọng yếu của tăng trưởng và phát triển kinh tế Chính nhờ tập trung những khoản đầu tư lớn cho phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học, công nghệ mà Mỹ trở thành nước đang dẫn đầu trong các ngành mới, hiện đại và thu được nhiều khoản lợi nhuận kếch sù từ các ngành công nghiệp bán dẫn, máy tính, Internet, công nghệ sinh học, Đó chính
là cơ sở trọng yếu để nền kinh tế Mỹ duy trì được đà tăng trưởng mạnh mẽ trong suốt thập niên vừa qua
Trong vài thập niên gần đây, tuy rằng cả sự phát triển bền vững và sự phát triển con người đều vượt ra ngoài lô-gíc bình thường của chủ nghĩa tư bản Nhưng những yêu cầu đó đều là xu thế tất yếu của thời đại mà chủ nghĩa tư bản hiện đại không cưỡng lại được, nên không chỉ Mỹ mà ở tất cả các nước theo những mô hình nêu trên đang khôn ngoan tìm cách thích nghi
Trang 7- Nhiệm vụ chính của nhà nước là công cụ để chống ngoại xâm bảo vệ đất nước, chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự xã hội Tuy nhiên, nhà nước cũng
có chức năng kinh tế, khi nó vượt ra ngoài khả năng của các doanh nghiệp tư nhân như xây dựng các công trình công cộng, chăm lo phúc lợi cho người dân…, nhưng nhà nước không nên can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế, thị trường tự nó sẽ giải quyết tất cả
2.1.2 Ưu và nhược điểm của mô hình kinh tế thị trường tự do
* Ưu điểm
- Trong nền kinh tế thị trường do các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường cạnh tranh gay gắt đã thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng đổi mới kỹ thuật và công nghệ, theo đó làm cho trình độ kỹ thuật và công nghệ của nền kinh tế không ngừng nâng cao
- Cũng chính trong môi trường cạnh tranh gay gắt này, đã thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả hơn nguồn lực của mình, giảm được chi phí sản xuất làm cơ sở để hạ giá thành sản phẩm, giảm được giá bán sản xuất và thu hút được khách hàng
- Thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng cải tiến mẫu mã và đổi mới mặt hàng là cho sản phẩm trên thị trường ngày trở nên đa dang và phong phú, người tiêu dùng có cơ hội để lựa chọn mặt hàng phù hợp với sở thích và chi tiêu của mình
- Con người trong nền kinh tế thị trường trở nên năng động, sáng tạo, phát huy được năng lực của mình
* Nhược điểm
- Kinh tế thị trường thường kéo theo những chu kỳ kinh tế, là sự giao động lên xuống liên tục của sản lượng quốc gia theo thời gian tạo nên những bước thăng trầm trong quá trình phát triển kinh tế
- Kinh tế thị trường thường xảy ra phân hoá xã hội và làm cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng
- Kinh tế thị trường làm gia tăng những tác động hướng ngoại tiêu cực
- Dẫn đến nguy cơ thiếu hàng hoá công cộng, là hàng hoá mà nhiều người có thể sử dụng chung với nhau trong cùng một lúc
- Thông tin bị lệch lạc và các nguy cơ về đạo đức
- Không dẫn dắt được sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển, doanh nghiệp chỉ đầu tư vào các ngành mang lại lợi ích cao
Trang 82.2 Chủ nghĩa tư bản độc quyền
2.2.1 Những nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh thành chủ nghĩa tư bản độc quyền
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh và giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, Mác và Ăngghen đã dự báo rằng: cạnh tranh tự do sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ
khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các xí nghiệp quy mô lớn
Thứ hai, vào 30 năm cuối thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật
mới xuất hiện như lò luyện kim mới… đã tạo ra sản lượng lớn gang, thép với chất lượng cao; phát hiện ra hóa chất mới như axit sunphuaric (H2SO4), thuốc nhuộm…; máy móc mới ra đời: động cơ điêzen, máy phát điện, máy tiện, máy phay…; phát triển những phương tiện vận tải mới như xe hơi, tàu thủy và đặc biệt là đường sắt Những thành tựu khoa học kỹ thuật này, một mặt là xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi xí nghiệp phải có quy mô lớn; mặt khác nó dẫn tới tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản xuất lớn
Thứ ba, trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của
các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản như quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy… ngày trở nên mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn
Thứ tư, cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà tư bản phải tích cực cải tiến kỹ
thuật, tăng quy mô tích lũy để thắng thế trong cạnh tranh Đồng thời, cạnh tranh gây gắt làm cho các nhà tư bản vừa và nhỏ bị phá sản, còn các nhà tư bản lớn phát tài, làm giàu với số tư bản tập trung và quy mô xí nghiệp ngày càng to lớn
Thứ năm, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản
chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt xí nghiệp vừa và nhỏ, thú đầy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản
Thứ sáu, sự phát triển của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa tở thành đòn
bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền
Trang 92.2.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Thứ nhất, đó chính là sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền Sự tích tụ và tập trung sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền Vì, một mặt, do có một số ít các xí nghiệp lớn nên có thể dễ dàng thỏa thuận với nhau; mặt khác, các xí nghiệp có quy mô lớn, kỹ thuật cao nên cạnh tranh sẽ rất gay gắt, khó đánh bại nhau, do đó đã dẫn đến khuynh hướng thỏa hiệp với nhau để năm độc quyền
Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nào đó nằm mục đích thu được lợi nhuận độc quyền cao Các tổ chức độc quyền liên kết theo bốn cấp độ
Cấp độ thứ nhất, cartel, là hình thức tổ chức độ quyền giữa các nhà tư bản
ký hiệp nghị thỏa thuận với nhau về giá cả, quy mô sản lượng, thi trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán… tuy nhiên vẫn độc lập về sản xuất và thương nghiệp, liên minh này thường không vững chắc và có thể tan vỡ trước kỳ hạn
Cấp độ thứ hai là syndicate, là hình thức độc quyền cao hơn, ổn định hơn cartel Các xí nghiệp trong liến minh này không còn độc lập về lưu thông mà mọi việc lua bán sẽ do một ban quản trị chung đảm nhận nhằm giúp thống nhất đầu mối mua bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hóa với giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao
Cấp độ thứ ba là trust, đây là một hình thức độc quyền cao hơn hai loại liên minh trên, thống nhất cả việc sản xuất, tiêu thụ, tài vụ đều do một ban quản trị quản lý Các nhà tư bản trong trust sẽ trở thành những cổ đông thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần
Cấp độ cao nhất là conglomerate, là hình thức tổ chức độc quyền có trình độ
và quy mô lớn hơn các hình thức độc quyền còn lại Tham gia vào conglomerate không chỉ có các nhà tư bản mà còn có cả các syndicate, trút, thuộc các ngành khác nhau nhưng kiên quan nhau về kinh tế, kỹ thuật Với hình thức kiên kết dọc như thế, một conglomerate có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm tư bản kếch sù Đặc điểm thứ hai là tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính Cùng với quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong công nghiệp cũng diễn ra quá trình tích
tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng Từ đó tạo ra những tổ chức độc quyền ngân hàng Sự xuất hiện các tổ chức này làm cho ngân hàng bắt đầu có vai trò mới, từ chỗ chỉ là trung gian trong thanh toán và tín dụng, giờ đã nắm được hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội, từ đó có quyền lực khống chế mọi hoạt động của tư bản chủ nghĩa và thâm nhập vào các tổ chức độc quyền công nghiệp để theo dõi cũng như khống chế hoạt động của các tổ chức này, hoặc đầu tư trực tiếp vào
Trang 10chúng Ngược lại, các tổ chức độc quyền công nghiệp cũng can thiệp vào các tổ chức này, làm nảy sinh một thứ tư bản mới, gọi là tư bản tài chính Sự phát triển của tư bản tài chính sẫn để sự hình thành của một nhóm nhỏ độc quyền, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế chính trị gọi là các đầu sỏ tài chính
Đặc điểm thứ ba chính là xuất khẩu tư bản Nếu xuất khẩu hàng hóa để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư là đặc điểm của giai đoạn chủ nghĩa tự do cạnh tranh thì xuất khẩu tư bản để sản xuất giá trị thặng dư ở nước ngoài và thu về các tài nguyên khác là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền Đây là bước đi tất yếu khi các nhà tư bản đã tích lũy được một khối lượng lớn tư bản dẫn đến
dư thừa tư bản, cần tìm một nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận hơn so với đầu tư trong nước Việc xuất khẩu tư bản, bên cạnh những mặt tích cực giúp phát triển kinh tế các nước nghèo, là sự mở rộng quan hệ tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài,
là công cụ chủ yếu để bành trước sự thống trị, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa tư bản tài chính trên phạm vi toàn thế giới
Đặc điểm thứ tư là sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền Khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩu tư bản tăng kên về cả quy mô lẫn phạm vi tất yếu dẫn đến sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền và hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế Các tổ chức độc quyền quốc tế này, sau quá trình cạnh tranh gay gắt cũng sẽ liên kết tạo hành các cartel, syndicate, trust mang tính quốc tế
Đặc điểm cuối cùng của chủ nghĩa tư bản độc quyền chính là sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc, đế quốc Sự phân chia thế giới về kinh
tế được củng cố và tăng cường bằng việc phân chia thế giới về lãnh thổ Các cường quốc đế quốc phải tăng cường xâm chiếm thuộc đại để bảo đảm nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, đảm bảo thực hiện được những mục đích về kinh tế, quân sự và chính trị Tuy nhiên, sự phân chia lãnh thổ và phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ dẫn đến các cuộc đấu tranh đòi chia lại thế giới, dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới
Năm đăc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc có liên quan chặt chẽ với nhau, nói lên bản chất của chủ nghĩa đế quốc về mặt kinh tế là sự thống trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền, về mặt chính trị là hiếu chiến, xâm lược,
2.3 Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
2.3.1 Nguyên nhân hình thành và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Lênin đã chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là khuynh hướng tất yếu.” [3; tr.326] Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước gồm do năm lý do sau