Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở lý thuyết những thông tin tìm hiểu được về vấn đề ngập và chống ngập của Hà Lan, cùng với những số liệu, những thông tin về các trận lũ lụt xảy ra trong nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
VÀ KHU CÔNG NGHIỆP
ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ NGẬP LỤT Ở HÀ LAN
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS Lê Văn Khoa
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Châu 1410346
Trần Minh Chiến 1410380 Nguyễn Hoàng Minh Đức 1410938 Nguyễn Bình Thảo Nhi 1412711
Âu Huỳnh Thiện Sơn 1413279
Vũ Lê Phước Quỳnh 1413232
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 4 năm 2017
1
Trang 2I Phần mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài tiểu luận
Nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người Đa số hoạt động sinh hoạt của con người đều gắn liền với nước như ăn uống, tắm giặt, vệ sinh,… Ngoài
ra, con người cũng sử dụng nước cho các hoạt động tưới tiêu, chăn nuôi,… nước còn tạo ra năng lượng để cung cấp cho các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, với lượng nước lớn và đột ngột không thể kiểm soát như những trận lũ lại gây ra những tác hại nặng nề, lũ tàn phá nhà cửa, làng mạc, thậm chí gây thương vong, chết chóc
Ở Việt Nam lũ lụt là hiện tượng phổ biến và diễn ra trên khắp các vùng miền đất nước, đặc biệt là vùng ven biển miền Trung, đồng bằng sông Mêkông và đồng bằng sông Hồng Các hoạt động của con người ngày càng gia tăng đáng kể những tác nhân gây hiệu ứng nhà kính (nồng độ khí thải trong các hoạt động công nghiệp, giao thông, sự gia tăng dân số,….) làm trái đất nóng dần lên Việt Nam là một trong những nước chịu tác động mạnh về biến đổi khí hậu Mỗi năm lũ lụt đã cướp đi hàng trăm sinh mạng, tàn phá nhà cửa, mùa màng Việt Nam hằng năm vẫn thường hay có những cơn bão lịch sử, làm thiệt hại người và của: ngày 15/10/2013, sau cơn bão Nari (bão số 11) quét qua các tỉnh miền Trung, hoàn lưu bão kết hợp không khí lạnh tây ra trận lũ lớn, bủa vây các tỉnh miền Trung gồm: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Đợt mưa kéo dài kéo theo lũ lụt tại Quảng Ninh trong 2 ngày 26 và 27/7/2015, là đợt mưa lớn nhất trong vòng 40 năm qua xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (có nơi mực nước đo được gần 600mm)
Dự báo, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình có thể tăng thêm khoảng 300C và mực nước biển dâng cao thêm 1m Mực nước biển sẽ dâng cao từ 15 - 90 cm vào năm
2070 (Vũ Phương Thảo - Đình Phú - Mai Vọng - Chí Nhân - Quang Duẩn, 2009)
Có thể thấy trên Thế giới, ngoài Việt Nam còn có nhiều nước phải chịu cảnh thiên tai, ngập lụt Trong đó phải kể đến Hà Lan, 27% diện tích của Hà Lan thấp hơn mực nước biển và 60% số dân của họ mong manh trước các cơn lũ (Đ.K.L, 2016) Nhưng người dân nơi đây đã học cách “sống chung với lũ”, bằng chứng đất nước này có nhiều công trình nổi tiếng chống lũ, vẫn tồn tại và vẫn phát triển
Nhằm góp phần giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt gây ra, một trong những biện pháp đó
là tìm hiểu về những công nghệ của Hà Lan để đút kết kinh nghiệm cho Việt Nam,
đó cũng là lý do nhóm chọn đề tài này để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết những thông tin tìm hiểu được về vấn đề ngập và chống ngập của Hà Lan, cùng với những số liệu, những thông tin về các trận lũ lụt xảy ra trong những năm qua ở Việt Nam, có thể để kịp thời đưa ra giải pháp chống ngập cho Việt Nam từ những kinh nghiệm học hỏi từ nước này
3 Nội dung nghiên cứu
Tổng hợp các điều kiện tự nhiên, lịch sử hình thành,… của Hà Lan
Trang 3 Phân tích, đánh giá tình hình ngập lụt, hướng giải quyết của Hà Lan.
Đưa ra bài học kinh nghiệm và 1 số giải pháp cho tình trạng ngập lụt ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp tài liệu
Phương pháp so sánh
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về mặt không gian: ngập lụt ở Hà Lan và Việt Nam
Giới hạn về mặt nội dung: tìm hiểu tình trang ngập lụt, cách chống ngập ở Hà Lan
và những điều đút kết được cho Việt Nam
II Vấn đề ngập lụt ở Hà Lan
1 Địa lý Hà Lan
- Hà Lan là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao và nằm thấp nhất so với mực nước biển trên thế giới Hà Lan có khoảng 27% diện tích và 60% dân số nằm ở khu vực có độ cao dưới mực nước biển
- Khoảng một nửa nước Hà Lan có độ cao ít hơn 1 mét trên mặt biển, một vài vùng còn thấp hơn cả mực nước biển Điểm cao nhất của nước Hà Lan, Vaalserberg nằm ở phía đông-nam, cao hơn mức Amsterdam 322,50 m, tại đấy cũng là góc 3 nước, giáp ranh giới với Đức và Bỉ
- Nhiều phần của Hà Lan thí dụ như gần toàn bộ tỉnh Flevoland được tạo thành do lấn biển chiếm đất Vào khoảng 1/5 (18,41%) diện tích là nước, trong đó phần lớn nhất là IJsselmeer, ngày xưa nguyên là một vịnh của biển Bắc, đã được ngăn bằng một con đập dài 29 km vào năm 1932 để lấy đất Các con sông quan trọng nhất của
Hà Lan là sông Rhein, sông Waal và sông Maas
- Hướng gió chính ở Hà Lan là hướng tây-nam với kết quả là một khí hậu đại dương ôn hòa với mùa hè mát và mùa đông không lạnh Hà Lan có ranh giới về phía tây và phía bắc là biển Bắc, về phía đông là Đức và về phía nam là Bỉ
2 Sơ lược về lịch sử thủy lợi ở Hà Lan
2
Trang 4- Hà Lan có diện tích 41 543 km² , dân số 16,5 triệu người, mật độ 486 ng/km²; Thủ đô: Amsterdam, trung tâm chính trị: La-Hay
- Hà Lan là vùng đất thấp, châu thổ của 4 con sông Rhine, Maas, Schelde và IJssel Lịch sử thủy lợi Hà Lan là lịch sử đấu tranh với biển và với nước từ trên 2000 năm đến nay
- Hai nghìn năm trước đây người Hà Lan bắt đầu đắp những vùng đất cao đê sinh sống Nhiều gò vẫn còn tồn tai đến ngày nay, ở vùng chậm lũ và phân lũ người ta cũng sẽ áp dung mô hình này cho môt số hộ gia đình
Bản đồ hành chính Hà Lan
Trang 5Vùng đất cao đê
- Tiếp theo là họ đắp đê để hình thành các vùng đất trũng để canh tác được gọi là các polder Vấn đề tiêu thoát nước được quan tâm từ khi hình thành các polder, đến thế
kỷ 15 các trạm bơm chạy bằng sức gió đã được xây dựng, có nhiều vùng phải bơm nhiều cấp Năm 1850 trạm bơm chạy bằng hơi nước đầu tiên đã được xây dựng Hiên nay được thay thế bởi các trạm bơm tiêu điện
Mô hình các đê Polder
4
Trang 6Trạm bơm hơi nước đầu tiên được xây dựng 1750
- Các con đê được đắp riêng rẽ cho các vùng nhỏ, dần dần được liên kết thành những vùng lớn hơn, tuy nhiên mức độ an toàn không cao nên thường xuyên bị vỡ
- Những trận thiên tai nặng nề nhất có thể kể đến xảy ra vào các năm: 1134, 1287,
1375, 1404, 1421, 1530, 1570, 1717, 1916, 1953:
1287: Đê bị vỡ tạo ra một vịnh mới Zuiderzee (Biển Nam)
1421: Lụt ở Zeeland và Holland, 30 làng bị ngập và khoảng 2000 người chết
1570: Vỡ đê làm ngập 2/3 diện tích của Hà Lan, hơn 2000 người chết, hàng chục ngàn người mất nhà cửa
Giáng sinh 1717: Trận bão Biển Bắc tồi tệ nhất trong vòng 400 năm tấn công Hà Lan, Đức và Scandinavia làm 14.000 người chết, trong đó Hà Lan có 2276 người
Năm 1916: Nhiều đê điều ở Zuiderzee
bị vỡ dẫn đến việc phải xây dựng đập
ngăn và con đê Afsluitdijk dài 32 km
Ngày 1/2/1953: Bão lũ đã nhấn chìm
phần lớn khu vực phía tây nam của Hà
Lan, giết chết 1835 người, làm ngập
hơn 150 ngàn ha đất
3 Các vấn đề thủy lợi và giải pháp ở
Hà Lan
a Dự án Delta Works
Trang 7- Sau 20 ngày của trận lụt 1953, Uỷ ban Châu thổ (Deltacommissie) được thành lập
và cho ra đời Deltaplan với kế hoạch xây dựng các con đê, xây các đập chắn nước
biển dâng bịt các cửa sông ở phía Tây Nam, trừ cửa New Waterway và cửa Tây
Scheldt
- Năm 1959, Dự luật Châu thổ (Delta Law) được ban hành để thực hiện dự án Delta
Works
- Mục tiêu của dự án Delta Works:
An toàn chống lũ
Đường GT ven biển-700 km
Ngăn biển thành các hồ nước ngọt
Xây dựng các đập ngăn nước dâng do bão
Tạo giao thông thuỷ giữa các sông
Scheldt-Rhine
Nâng cấp cơ sở hạ tầng, phục vụ du lịch và nông nghiệp
- Kết quả của dự án Delta Works: Delta Works kết thúc vào năm 1997 với 15 hạng
mục công trình chính, bao gồm:
Hệ thống sông, đê biển với chiều dài 16.493 km, trong đó 2.415 km đê chính
và 14.077 km đê phụ;
Hệ thống cống chắn nước dâng do bão, cống tiêu nước dài 3.200m (như:
Hollandse Ijssel storm surge barrier (1958); Maeslant Barrier (1997); Haringvliet
Dam (1970); Volkerak Dam (1969); Browers dam (1971); Grevelingen Dam
(1972); Oosterschelde storm surge (1986); Veerse gat dam (1961); Zandkreek
dam (1960));
Rút ngắn đường giao thông ven biển còn 700km;
Tạo được 3 hồ chứa nước ngọt rất lớn đảm bảo nguồn nước ngọt ổn định cho
cả đất nước trong tương lại
- Hệ thống các công trình bảo vệ ở Biển Bắc của Hà Lan được coi là một trong Bảy
Kỳ Quan của Thế giới Hiện đại (theo Hiệp hội Kỹ sư dân dụng Hoa Kỳ)
6
Hệ thống cống ngăn các cửa sông
Đê biển Afsluidijk sau khi hoàn thành Hai hồ chứa nước ngọt lớn hình thành
Trang 8Công trình Maeslandt kering - 1997
b Biến đổi khí hậu
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội như hiên nay và bối cảnh biến đôi khí hậu, chính phủ Hà Lan nhận thấy:
- Tiêu chuẩn an toàn của nhiều công trình chưa đáp ứng được yêu cầu, khoảng gần 30% chiều dài đê có cao trình thấp hơn yêu cầu
- Nhiều tiêu chuẩn thiết kế đã lạc hậu
- Trong điều kiện biến đổi khí hậu: Mức nước biển dâng và dòng chảy lũ tăng dẫn đến vấn đề an toàn trong mùa lũ bị đe dọa; Giảm dòng chảy kiệt đã dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn
- Số liệu đo đạc cho thấy nhiệt độ ở Hà Lan từ năm 1900 đến nay đã tăng +1,7°C lớn hơn trung bình trên thế giới là +0.8 °C
- Mực nước dâng ở Hà Lan là 24cm/100 năm, lớn hơn trung bình của Thế giới là khoảng 20cm/100 năm, trong 10 năm qua là 30cm/100 năm
- Lưu lượng max của sông Rhin tăng 12%, sông Meus tăng 24%
c Ủy ban châu thổ 2
Tháng 12/2007, một Uỷ ban Châu thổ (Deltacommissie) mới được Chính phủ Hà Lan thành lập nhằm đưa ra các tư vấn với tầm nhìn dài hạn cho việc bảo vệ và phát triển bền vững vùng ven biển và các vùng đất thấp
Trọng trách của Ủy Ban Châu thổ:
- Chính phủ Hà Lan đã yêu cầu Ủy ban Châu thổ (sau đây gọi tắt là Ủy ban) đưa ra các kiến nghị để bảo vệ các vùng ven biển Hà Lan và những vùng đất thấp bên trong trước các tác động của biến đổi khí hậu Nhiệm vụ trọng trách đặt ra là làm thế nào để đảm bảo cho đất nước Hà Lan có thể an toàn trước các biến đổi khí hậu trong một thời gian rất dài, an toàn trước nguy cơ lũ lụt trong khi vẫn duy trì được là một vùng đất hấp dẫn để sinh sống, cư trú và làm việc cũng như để giải trí và đầu tư
- Ủy ban đưa ra kết luận rằng nên xem xét việc mực nước biển sẽ dâng lên từ 0.65
Trang 9tới 1.3 m cho đến năm 2100 và từ 2 tới 4 m cho đến năm 2200 Với việc mực nước biển dâng lên, lưu lượng nước trong sông giảm vào mùa hè, sự xâm nhập mặn theo các con sông và nước ngầm, tất cả tạo áp lực lên việc cung cấp nước ngọt cho quốc gia cũng như các ngành nông nghiệp, hàng hải và các lĩnh vực khác của nền kinh tế có liên quan tới nước
Mười hai kiến nghị đảm bảo cho tương lai:
Ủy ban đã xây dựng kế hoạch tổng hợp cho tới năm 2100 và sau đó Một kế hoạch lâu dài như vậy phụ thuộc vào sự phát triển của Hà Lan, Châu Âu và thế giới Các kiến nghị cụ thể cho giai đoạn ngắn hạn và trung hạn cần phải được thực hiện, tuy nhiên công việc cần làm ngay là phải nâng cao mức độ phòng chống lũ lụt và đảm bảo cung cấp nước ngọt Ủy ban đã đưa ra mười hai kiến nghị sau đây cho giai đoạn ngắn hạn và trung hạn:
Kiến nghị 1: Cấp độ phòng chống lũ
Các cấp độ phòng chống lũ cho các vùng có đê bảo vệ phải được nâng lên gấp
10 lần so với hiện nay Để thực hiện điều này thì các tiêu chuẩn mới sẽ được thiết lập vào khoảng 2013 Tất cả các giải pháp nhằm nâng cao cấp độ phòng chống lũ phải được thực hiện trước năm 2050 Các cấp độ phòng chống lũ phải được cập nhật và điều chỉnh thường xuyên để phù hợp với tình hình mới
Kiến nghị 2: Các kế hoạch phát triển đô thị mới
Việc quyết định có nên phát triển ở những vùng trũng ngập lũ hay không phải dựa trên cơ sở phân tích chi phí và lợi ích Phân tích này phải tính đến những chi phí hiện tại và tương lai đối với tất cả các ngành và các bên có liên quan
Kiến nghị 3: Những vùng nằm ngoài đê
Việc phát triển mới những vùng nằm ngoài phạm vi bảo vệ của đê phải đảm bảo không gây cản trở cho dòng chảy của sông hoặc ảnh hưởng tới mực nước hồ trong tương lai Để tránh các tác động bất lợi, các cư dân và những người sử dụng các công trình này phải chịu trách nhiệm về những giải pháp này Chính phủ sẽ đóng vai trò hỗ trợ bằng cách cung cấp thông tin, thiết lập các tiêu chuẩn xây dựng và cảnh báo lũ
Kiến nghị 4: Bờ Biển Bắc
Vùng này sẽ phát triển cùng với thiên nhiên Công tác phòng chống lũ cho các vùng bờ biển của Zeeland, Holland và các đảo ở biển Wadden sẽ được tiếp tục thực hiện bằng biện pháp phun cát nuôi dưỡng bờ biển Việc phun cát nuôi dưỡng bờ biển phải được thực hiện để các vùng bờ biển có thể phát triển ra hướng biển trong thế kỷ tới Việc này sẽ đem lại thêm những giá trị to lớn cho xã hội
Kiến nghị 5: Vùng bờ Biển Wadden
Công tác phun cát nuôi dưỡng dọc theo vùng bờ Biển Bắc đóng góp vào sự thích nghi của vùng biển Wadden đối với mực nước biển dâng Việc bảo vệ những vùng trũng và vùng bờ biển bắc Holland tiếp tục được thực hiện, hàng năm Hà lan phun lên vùng bãi đê này 12 triệu m3 cát
Kiến nghị 6: Đồng bằng Tây Nam: Eastern Scheldt
Đến 2050 và sau 2050, công trình ngăn triều Eastern Scheldt đang đáp ứng được các yêu cầu về an toàn Điều bất lợi của công trình này là làm giảm lượng nước vào ra khi triều cường và triều thấp và do đó làm mất đi vùng đệm Việc
8
Trang 10này được đối phó bằng cách bổ xung phun cát nuôi dưỡng lấy từ bên ngoài (như
là từ vùng Outer Delta) Tuổi thọ của công trình ngăn triều ở Eastern Scheldt sẽ được kéo dài bằng các biện pháp kỹ thuật Điều này có thể được thực hiện cho đến khi mực nước biển dâng lên khoảng 1m (xảy ra sớm nhất là vào năm 2075) Nếu công trình ngăn triều Eastern Scheldt không còn phù hợp nữa, khi đó sẽ tìm giải pháp cho vấn đề này bằng cách lưu trữ phần lớn nước triều tại những vùng cửa sông tự nhiên và đồng thời duy trì mức độ phòng chống lũ phù hợp
Kiến nghị 7: Đồng bằng tây nam: Western Scheldt
Khu vực này phải duy trì một hệ thống triều mở để đảm bảo giao thông thủy đến vùng Antwerp và duy trì giá trị vùng cửa sông Công tác phòng chống lũ được đảm bảo bằng cách gia cố thêm hệ thống đê sông
Kiến nghị 8: Đồng bằng tây nam: Krammer– Volkerak Zoommeer
Có một điều chỉnh nhỏ đối với giai đoạn 1 là cho phép nước mặn vào hồ Krammer-Volkerak Zoommeer và đưa ra các giải pháp lấy nước ngọt từ vùng khác về để thay thế cho nguồn nước ngọt lấy từ hồ Đến 2050 Vùng Krammer – Volkerak Zoommeer, Grevelingen và có thể cả vùng phía đông Scheldt phải được bố trí lại để có khu vực chứa nước tạm thời cho sông Rhine và sông Meuse khi dòng chẩy ra biển bị ngăn lại khi các cửa cống của công
trình ngăn triều đóng
Kiến nghị 9: Khu vực những sông chính
Đến 2050 và sau 2050, để nâng cao khả năng chống lũ của các con sông nhưng không phải nâng cao đê, Hà Lan đưa ra khái niệm mới là "Room for the River",
là các vùng chậm lũ và phân lũ Các chương trình Vùng chậm lũ và phân lũ cho Sông Rhin và Meuse đòi hỏi phải được tiến hành ngay để có thể tiêu thoát được lưu lượng 18,000m3/s của sông Rhine và 4,600m3/s của sông Meuse
Để thực hiên mục tiêu này Hà Lan đã đưa ra các giải pháp mở rộng một số đoạn sông bị thu hẹp và sử dụng vùng chậm lũ, phân lũ Để sử dụng vùng chậm
lũ Hà Lan phải di dời 150 hộ gia đình và 50 trang trại, giảm 1.280 ha dất canh tác, tăng 1.852 ha đất tự nhiên cho đa dạng sinh học và 20 triệu m3 đất tốt cho canh tác
Kiến nghị 10: Rijnmond (cửa sông Rhine)
Đến 2050 Đối với vùng Rijnmond giải pháp một hệ thống mở và nhưng có thể đóng lại khi cần thiết sẽ mang lại những triển vọng tốt đẹp cho việc kết hợp các công tác phòng chống lũ, cung cấp nước sạch, phát triển đô thị, phát triển tự nhiên trong vùng này Khi đó các lưu lượng cực đại của sông Rhine và sông Meuse sẽ được chuyển hướng qua vùng đồng bằng tây nam Nước ngọt cung cấp cho vùng phía tây Hà Lan sẽ lấy từ hồ Ijsselmeer Các công trình hạ tầng cần thiết sẽ được xây dựng Các vùng chứa phải được chuẩn bị để trữ nước cục
bộ ở những vùng thấp Cần tiến hành tiếp tục nghiên cứu hệ thống “đóng – mở” của vùng Rijnmond
Kiến nghị 11: Vùng Ijsselmeer
Đến 2050 và sau 2050, sẽ tăng tối đa mực nước hồ IJsselmeer là 1.5m Điều này cho phép dòng chảy tự nhiên từ hồ vào biển Wadden sau năm 2100 Mực nước hồ Markermeer sẽ không tăng Hồ IJsselmeer vẫn giữ chức năng chiến lược là hồ chứa nước ngọt cho vùng Northern Netherlands, North Holland và Western Hà Lan do nước mặn xâm nhập vào vùng Nieuwe Waterweg Các giải