TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ====== ĐỖ THỊ THẢO CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ XÉT TRÊN BA BÌNH DIỆN: KẾT HỌC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐỖ THỊ THẢO
CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC
VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
XÉT TRÊN BA BÌNH DIỆN: KẾT HỌC,
NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐỖ THỊ THẢO
CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC
VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới giảng viên TS Đỗ Thị Hiên, người đã truyền cho em tình
yêu ngôn ngữ, đặc biệt tận tình gợi mở, định hướng và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo trong tổ Ngôn Ngữ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu
Hà Nội, ngày… Tháng … năm 2019
Sinh viên
Đỗ Thị Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn của cô Đỗ Thị Hiên Các số liệu, kết quả trong khóa
luận là trung thực Những kết luận khoa học của khóa luận chưa
từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày… Tháng … năm 2019
Sinh viên
Đỗ Thị Thảo
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục của đề tài 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 9
1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu 9
1.1.1 Bình diện kết học 9
1.1.2 Bình diện nghĩa học 9
1.1.3 Bình diện dụng học 10
1.2 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt 11
1.2.1 Câu đặc biệt 11
1.2.2 Câu tỉnh lược 14
1.2.3 Câu tách biệt 18
1.3 Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ 21
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp 21
1.3.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ 22
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2 CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRÊN BÌNH DIỆN KẾT HỌC 26
2.1 Câu đặc biệt trên bình diện kết học 26
2.1.1 Đặc điểm kết học của câu đặc biệt 26
2.1.2 Phân loại câu đặc biệt 26
2.2 Câu tỉnh lược trên bình diện kết học 32
Trang 62.2.1 Đặc điểm kết học của câu tỉnh lược 32
2.2.2 Phân loại câu tỉnh lược 33
2.3 Câu tách biệt trên bình diện kết học 37
2.3.1 Đặc điểm kết học của câu tách biệt 37
2.3.2 Phân loại câu tách biệt 37
Chương 3 CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRÊN BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC 42
3.1 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện nghĩa học 42
3.1.1 Câu đặc biệt trên bình diện nghĩa học 42
3.1.2 Câu tỉnh lược trên bình diện nghĩa học 43
3.1.3 Câu tách biệt trên bình diện nghĩa học 45
3.2 Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện dụng học 46
3.2.1 Câu đặc biệt trên bình diện dụng học 46
3.2.2 Câu tỉnh lược trên bình diện dụng học 49
3.2.3 Câu tách biệt trên bình diện dụng học 51
3.3 So sánh ba kiểu câu trên ba bình diện 54
3.3.1 Sự giống nhau của ba kiểu câu 54
3.3.2 Sự khác nhau của ba kiểu câu 54
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong lĩnh vực ngôn ngữ, câu là đơn vị ngữ pháp quan trọng của phân môn cú pháp học, là đơn vị có nội dung trọn vẹn để thực hiện chức năng giao tiếp và là phương tiện tạo lập văn bản Thường cấu trúc câu luôn có hai thành phần chính đảm nhiệm: chủ ngữ (biểu thị đối tượng) và vị ngữ (biểu thị đặc trưng của đối tượng) Nhưng trên thực tế giao tiếp, nhất là trong các văn bản
mà còn xuất hiện các kiểu câu có cấu trúc “khác thường” Đó chính là câu đặc biệt (CĐB), câu tỉnh lược (CTL) và câu tách biệt (CTB) và ba kiểu câu này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Song vẫn chưa có sự thống nhất trong cách lí giải Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt chiếm số lượng lớn trong giao tiếp hàng ngày và cả việc tạo văn bản Về lĩnh vực văn chương, các nhà văn, nhà thơ sử dụng những câu này không chỉ có chức năng thông báo mà còn dùng chúng như một thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm để tạo nên những dấu ấn riêng trong các sáng tác của mình
Trong các nhà văn Việt Nam đương đại, Nguyễn Thị Thu Huệ (NTTH)
là một nhà văn “độc đáo và tài hoa” Nhà vănđã cho ra đời nhiều tác phẩm hay, đặc sắc và gặt hái được rất nhiều thành công khi tuổi đời còn rất trẻ NTTH nổi lên như một hiện tượng lạ, mới mẻ và hấp dẫn bạn đọc ở chính tính nữ của mình, với giọng văn lạnh lùng, sắc cạnh nhưng chân thành và chan chứa nỗi niềm cảm thông cho số phận con người
Điều này góp phần khẳng định tài năng và sức sáng tạo, sức viết của NTTH trong việc phản ánh và tái hiện rất chân thực hiện thực đời sống trên những trang sách của mình Mỗi trang văn của NTTH đầy ắp những cảm xúc trữ tình, đằm thắm sâu lắng với giọng điệu rất đa dạng và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, cách kể chuyện khéo léo, thu hút người đọc Tìm hiểu truyện ngắn của NTTH từ góc độ ngôn ngữ đang được rất nhiều nhà nghiên
Trang 8cứu và phê bình quan tâm, bởi ở góc nhìn ngôn ngữ, NTTH có sự sáng tạo trong cách viết Trong đó, nổi bật là việc nhà văn sử dụng các kiểu câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong các truyện ngắn của mình Chính vì những điều thú vị cũng như tầm quan trọng của ba loại câu trên mà chúng tôi
chọn đề tài: “Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng
Đồng thời việc tìm hiểu về các kiểu câu trong truyện ngắn NTTH có ý nghĩa góp thêm tư liệu đi sâu vào giảng dạy, học tập truyện ngắn Việt Nam sau
1975
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu câu đặc biệt, câu tỉnh lƣợc và câu tách biệt
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu câu đặc biệt
2.1.1.1 Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp
- Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1997) của Nguyễn Kim Thản câu đặc biệt được gọi là ““Câu danh xưng” và chức năng của nó chỉ để nói lên sự vật
và không thể gọi là thành phần gì cả” [19,580]
- Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt (xuất bản lần đầu 1987, tái
bản 2013) đã đề cập đến cấu tạo và phân loại câu đơn đặc biệt Đặc biệt, tác
giả nhấn mạnh đến câu đặc biệt vị từ
- Trong Câu tiếng Việt (2006) Nguyễn Thị Lương cho rằng: “Câu đặc
biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ, mà chỉ được tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn
là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường” [13,105]
2.1.1.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học
Trang 9Đinh Trọng Lạc trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
(1994) đã đề cập đến câu đặc biệt với vai trò là một phương tiệntu từ cú pháp
nhằm đem lại màu sắc tu từ mới mẻ cho các văn bản
Trong Phong cách tiếng Việt (1999) câu đặc biệt được tác giả định nghĩa rõ nét hơn: “Câu đơn đặc biệt có cấu tạo là một trung tâm cú pháp
chính, có ý nghĩa khái quát, chỉ sự tồn tại biểu hiện của sự vật hoặc sự kiện”
Đồng thời, tác giả nhấn mạnh: “Có tác dụng tu từ to lớn là những câu đơn
đặc biệt được mở rộng nhờ những định tố hàm chỉ biểu cảm – cảm xúc và được sắp xếp thành một chuỗi đẳng lập” [11, 274]
2.1.2 Lịch sử nghiên cứu câu tỉnh lược
2.1.2.1 Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1997) câu tỉnh lược đượcNguyễn Kim
Thản gọi là câu rút gọn và kết luận đó là loại câu “Có thể dựa vào hoàn cảnh
ngôn ngữ mà điền vào đó thành phần đã bị bớt đi và khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của câu.” [19,610]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1989) của Hoàng Trọng Phiến cho rằng câu
tỉnh lược được hiểu là câu vắng chủ ngữ hoặc câu có chủ ngữ zero Tác giả
cho rằng đây là một hiện tượng chủ ngữ được rút gọn trong câu “Về mặt ý
nghĩa thì câu có chủ ngữ rút gọn tương ứng với câu có chủ ngữ hiện hữu” Còn vị ngữ thì hiếm bị rút gọn hơn.” [17,115]
2.1.2.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học
Trong Phong cách học tiếng Việt (1999), Đinh Trọng Lạc cho rằng câu tỉnh lược thành phần là một “Kiểu câu mang màu sắc tu từ do được cải biến
từ kiểu câu cơ bản (có kết cấu C – V) theo phương thức rút gọn” [11,273]
2.1.3 Lịch sử nghiên cứu câu tách biệt
2.1.3.1 Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp
Trang 10- Trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (1985), câu tách biệt được
Trần Ngọc Thêm gọi là ngữ trực thuộc Tác giả cho rằng: “Ngữ trực thuộc
là phát ngôn không hoàn chỉnh về cấu trúc” và không phải là những “câu đặc biệt”, hay những trường hợp “ngoại lệ” [20,47]
- Trong Ngữ pháp tiếng Việt (xuất bản lần dầu 1987, tái bản 2013), Diệp
Quang Ban có bàn đến hiện tượng câu tách biệt với tên gọi câu dưới bậc Tác
giả cho rằng:“Về thực chất, câu dưới bậc là một bộ phận của một câu trọn
vẹn được tách ra vì những lí do nghệ thuật Câu dưới bậc không tồn tại một cách độc lập, nó chỉ có giá trị nghệ thuật và ý nghĩa hiểu được xét trong mối quan hệ với câu mà tứ đó nó được tách ra.” [1,278]
2.1.3.2 Nghiên cứu ở góc độ phong cách học
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt (NXB giáo dục Hà Nội - 1999) tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Tách biệt là biện pháp tu từ đặc trưng của
cú pháp biểu cảm, cụ thể là tách riêng một cách có dụng ý từ cấu trúc cú pháp thống nhất ra một hay nhiều bộ phận biệt lập về mặt ngữ điệu, tách xa nhau bằng một chỗ ngắt (trên chữ viết thì bằng dấu chấm hoặc một dấu tương đương)” [11,263]
Tác giả cũng khẳng định: “Có thể nói, tách biệt xuất hiện khá nhiều
trong thơ và đem lại một tác dụng biểu cảm – cảm xúc khá lớn” [11, 264]
Đồng quan điểm nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thái Hòa trong cuốn
Phong cách học tiếng Việt cũng đã nhận xét: “Tách các thành phần câu, nâng các thành phần đó thành những câu, ngữ trực thuộc và câu dưới bậc là một biện pháp tu từ quan trọng” [8,243] Đồng thời, tác giả nhấn mạnh: “Phép tách câu là một biện pháp tu từ học với dụng ý tu từ học rõ rệt, hoặc là miêu
tả nhịp điệu diễn biến của hình tượng, hoặc miêu tả nhịp điệu cảm xúc”
[8,244]
Trang 112.1.3.3 Nghiên cứu câu tách biệt ở góc độ thực hành các kĩ năng đặt câu
- Trong cuốn Tiếng Việt thực hành (xuất bản lần đầu 1996, tái bản
2008), Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Tách câu có nghĩa là tách một bộ phận của câu thành câu riêng biệt” [21,214]
- Trong cuốn Tiếng Việt thực hành (2007) của tác giả Hoàng Kim Ngọc trong phần nói về các cách biến đổi câu, nêu định nghĩa: “Tách câu có nghĩa
là một bộ phận của câu thành một câu độc lập nhằm mục đích làm nổi rõ một thông tin nào đó” [16,162]
Tác giả còn nêu điều kiện để nhận biết biện pháp tu từ tách câu đó là:
“Câu bị tách ra bao giờ cũng phải nằm sau một câu trọn vẹn nào đó”
[5,163]
2.2 Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học
Người đầu tiên trên thế giới đề xuất ra ba thuật ngữ: kết học, nghĩa học
và dụng học là nhà ngôn ngữ người Mĩ Ch.S Perice nhưng phải đến Ch.W Morri, A.G Smith, ba thuật ngữ này mới được hoàn chỉnh và phổ biến Theo,
A.G Smith “Kết học nghiên cứu những quan hệ hình thức giữa các tín hiệu,
nghĩa học nghiên cứu quan hệ tín hiệu với sự vật và dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người dùng” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [4,12]]
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng đã tiếp thu tư tưởng của ngữ pháp chức năng để nghiên cứu câu
Trong cuốn Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng (xuất bản lần đầu
1991, tái bản 2004) Cao Xuân Hạo đã phân hóa và đưa ra cấu trúc cơ bản của
câu phải dựa trên quan hệ đề - thuyết
Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 1 (1993) Đỗ Hữu Châu, Bùi
Minh Toán cũng đã phân biệt ba bình diện khác nhau ở đơn vị câu dựa trên lí thuyết kí hiệu học của Ch Morris, đó là bình diện nghĩa học, bình diện kết học, bình diện dụng học
Trang 12Trong cuốn Câu tiếng Việt (2009) Nguyễn Thị Lương cũng theo hướng
của ngữ pháp chức năng mà nghiên cứu câu ở ba bình diện: ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ dụng
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là: Làm rõ đặc điểm của ba kiểu câu trong sự so sánh với nhau trên tất cả các phương diện kết học, nghĩa học và dụng học, đặc biệt là ở phương diện dụng học từ đó thấy giá trị sử dụng của các kiểu câu đó trong hoạt động hành chức
- Góp phần khẳng định những cống hiến về mặt nghệ thuật của nhà văn
- Cung cấp những tư liệu cần thiết cho việc học tập và giảng dạy môn Ngữ văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi triển khai thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Tổng quan các vấn đề lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu
+ Khảo sát, thống kê phân loại sự xuất hiện, sự hoạt động, phân bố của
ba kiểu câu: câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong phạm vi khóa luận (các tác phẩm trong tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ) + Thông qua kết quả khảo sát tìm hiểu về đặc điểm, vai trò và hiệu quả
sử dụng của từng kiểu câu trên ba bình diện trong tương quan so sánh ba kiểu câu với nhau
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
“Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ”
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Thủ pháp khảo sát và thống kê, phân loại: chúng tôi thống kê các kiểu
loại của từng kiểu câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trong “37
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” để lấy làm cơ sở phân loại, tìm tỉ lệ khi
khảo sát ở các kiểu câu khác nhau
- Phương pháp miêu tả: Đề tài đi sâu vào miêu tả các kiểu loại của ba kiểu câu, để chỉ ra những đặc điểm riêng của mỗi kiểu loại của từng kiểu câu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở kết quả khảo sát, thống
kê, phân loại, khóa luận phân tích từng kiểu loại của ba kiểu câu mà NTTH thể hiện theo những cách thức khác nhau Từ đó, khái quát đặc điểm câu tách biệt trong truyện ngắn
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh đối chiếu cách viết câu của NTTH với một số tác giả cùng thời để thấy được nét riêng, sự sáng tạo mới mẻ của chị trong việc tổ chức câu văn Và dùng để chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa ba kiểu câu
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chia làm
ba chương:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện
kết học
Chương 3: Câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt trên bình diện
nghĩa học và dụng học
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu
1.1.1 Bình diện kết học
Kết học là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu để gửi gắm một thông điệp
Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng (xuất bản
lần đầu 1991, tái bản 2004) đã diễn giải lí thuyết kết học của Ch W Morris
như sau: “Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm được xác định
bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy Các chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì, mà vào mối quan hệ ngữ pháp với ngữ đoạn khác được biểu thị bằng những phương tiện hình thức gọi
là tác tử cú pháp như hình thái cách hoặc các chuyển tố, các giới từ, bằng sự phù ứng về số, về ngôi với một danh ngữ nhất định” [6,21]
Nghiên cứu bình diện kết học là phải làm rõ:
- Những cách thức và quy tắc kết hợp các từ ngữ để tạo thành câu
- Đặc điểm và chức năng của các thành phần trong câu
- Mô hình cấu trúc của câu chia theo cấu tạo
Nghĩa rộng: Nghĩa học là bộ môn nghiên cứu về nghĩa, về các ý nghĩa,
tức là nghĩa học không chỉ nghĩa từ vựng mà còn nghiên cứu nghĩa ngữ pháp,
Trang 16nghĩa trong sử dụng ngôn ngữ, tức là phần nghĩa vừa thuộc về nghĩa từ ngữ, vừa thuộc về dụng học
Thuộc về bình diện nghĩa của câu gồm có nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái
Nguyễn Thị Lương khẳng định: “Bình diện nghĩa của câu nghiên cứu
phần nghĩa tường minh: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái” [13,23]
* Nghĩa miêu tả (còn gọi là nghĩa sự vật, nghĩa biểu hiện): “Là phần
phản ánh sự việc, hiện tượng, sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ… ngoài thực tế khách quan được đưa vào câu Nội dung phản ánh hiện thực đó được gọi là sự việc (hay sự thể) Mỗi câu thường ứng với một sự việc” [13,23]
* Nghĩa tình thái: “Là phần nghĩa của câu thể hiện thái độ, ý định, mục
đích hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách quan” [13,178]
1.1.3 Bình diện dụng học
Vấn đề mà dụng học đặc biệt quan tâm chính là: “Lĩnh vực hoạt động
thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, còn được gọi là lĩnh vực của lời nói hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả các sản phẩm của giao tiếp bằng ngôn ngữ và các cơ chế, các quy tắc sản sinh ra chúng.” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu
[4,93]]
Nguyễn Thị Lương bổ sung thêm: “Bình diện này nghiên cứu mối quan
hệ giữa câu với người sử dụng, giữa câu với việc sử dụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiện những ý nghĩa của câu – phát ngôn trong tình huống cụ thể đó (gọi là nghĩa ngữ dụng của câu).” [13,24]
Như vậy, hiểu một cách đơn giản, nhiệm vụ của dụng học là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, nghĩa là phải làm rõ
- Giá trị thông báo của câu (đâu là tin cũ, đâu là tin mới)
Trang 17- Mục đích phát ngôn của câu (câu được nói ra để nhằm mục đích gì)
- Nghĩa hàm ẩn của câu (câu được nói ra trong văn cảnh đó có nghĩa là gì)
Ba bình diện nghiên cứu câu có mối quan hệ gắn bó khăng khít với
nhau: “Hình thức câu được dùng để biểu thị nội dung nghĩa của câu; muốn
hiểu đúng nghĩa của câu, cần đặt câu trong ngữ cảnh Ba bình diện ấy tồn tại
vì nhau, dựa vào nhau, không thể hiểu thấu đáo một bình diện nếu tách nó khỏi hai bình diện kia.” [13,25]
1.2 Câu đặc biệt, câu tỉnh lƣợc và câu tách biệt
1.2.1 Câu đặc biệt
1.2.1.1 Khái niệm câu đặc biệt
Nguyễn Thị Lương: “Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình
chủ ngữ - vị ngữ, mà chỉ được cấu tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường.”
[13,105]
(1) “Ôi giời! Các bác đánh cầu lông.”
(Coi như không biết)
Ở ví dụ trên, CĐB là “Ôi giời!” không có cấu tạo theo mô hình CN - VN (2) “Khỉ con Cô bé tí của anh Ngày mai thuyền ra khơi, cát sẽ xóa mọi dấu
vết.”
(Cát đợi) 1.2.1.2 Phân loại câu đặc biệt
Trong khóa luận này, chúng tôi dựa vào cách chia câu đặc biệt của Đinh Trọng Lạc [10,90] câu đặc biệt danh từ (CĐB DT), câu đặc biệt vị từ (CĐB VT) và câu đặc biệt tình thái từ (CĐB TTT)
a Câu đặc biệt danh từ
Trang 18Câu đặc biệt danh từ là câu có trung tâm cú pháp chính là danh từ hoặc cụm danh từ
- CĐB DT có cấu tạo là một danh từ:
(3) “Mưa Nước xối xả đổ xuống mái hiên.”
(Kí ức)
(4) “ Hoàng hôn Đường phố mát rượi.Em nằm trong phòng.”
(Sơ ri đắng)
“Mưa.” và “Hoàng hôn.” trong hai ví dụ trên là CĐB DT có cấu tạo bởi một
DT riêng, dùng để chỉ những hiện tượng tự nhiên
- CĐB DT có cấu tạo là một cụm danh từ:
(5) “Tôi không biết gì nữa ngoài cảm giác tất cả tan biến hết Con gái
Người đàn ông thích ăn xôi buổi sáng cho chắc dạ và uống cà phê trong lúc
yêu đương, lúc nào cũng chỉ cà phê Những chùm pháo hoa… Thiên đường
tuổi mười sáu! ”
(Hậu thiên đường)
b Câu đặc biệt vị từ
Câu đặc biệt vị từ có trung tâm cú pháp chính là vị tố (động từ, tính từ) hoặc cụm từ
- CĐB VT có cấu tạo là từ:
(6) “Bốp!” Chàng thẳng tay vào mặt nàng Nàng sững lại vì bất ngờ Chàng
đứng dậy, lại chiếc bàn của nàng xới tung lên Một quyển album Thái Lan,
một bộ tiểu thuyết, một cái đèn ngủ…”
(Tình yêu ơi, ở đâu?)
Có thể thấy, từ in đậm trong ví dụ trên là CĐB VT được cấu tạo bởi một
động từ duy nhất – “Bốp!”
- CĐB VT có cấu tạo là cụm từ:
Trang 19(7) “Bịch giấy vỡ toang Trên nền vải nâu Lốm đốm màu đỏ pha vàng của
những trái sơ ri lăn tung tõe trong lòng em Em cười khanh khách: Tuyệt
quá!”
(Sơ ri đắng)
Xét ví dụ trên, ta thấy, bộ phận in đậm là hai CĐB VT được cấu tạo bởi
cụm tính từ “Tuyệt quá!”
c Câu đặc biệt tình thái từ
Câu đặc biệt tình thái từ thường dùng để bộc lộ cảm xúc
- Câu đặc biệt được tạo thành các quán ngữ tình thái:
(8) “ – Qua tháng 9 âm May ra nó hết bị bùa mê thuốc lú, nó bị thằng kia
đá, đi với con khác xinh hơn, nó thề với em thôi
- Giời ơi Còn những bốn tháng nữa, em chịu thế nào được Một ngày
không thấy ló là em không làm được việc gì.”
(Nào ta cùng lãng quên)
Có thể thấy, “Giời ơi.” trong ví dụ trên được cấu tạo bởi tổ hợp từ mang
tính chất quán ngữ tình thái dùng để bộc lộ cảm xúc
Câu đặc biệt được tạo thành từ các tình thái từ:
(9) “ – Nhưng bà già thế này, ai nỡ bắt hầu mình Mẹ trông bà ấy đáng
thương lắm
- Dào Thế bây giờ mẹ để chúng con nghỉ hưu non trông mẹ nhé? Cùng
tuổi già với nhau mới có chuyện mà nói Hợp quá còn gì Thôi con phải đi họp đây Mẹ cần gì cứ sai bà ấy Vài hôm là quen thôi Lương tháng 200.000 đồng, một năm hai bộ quần áo, cơm nuôi Con chịu hết.”
(Của để dành)
“Dào.” Trong ví dụ trên là CĐB TTT có cấu tạo là thán từ thường dùng
để bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người nói nhưng không gọi tên cảm xúc
Trang 201.2.2 Câu tỉnh lược
1.2.2.1 Khái niệm câu tỉnh lược
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Hiện tượng tỉnh lược các yếu tố của một phát
ngôn mang chức năng liên kết phát ngôn nếu thỏa mãn hai điều kiện: yếu tố tỉnh lược cần thiết cho việc hiểu nội dung của phát ngôn và việc khôi phục yếu tố tỉnh lược phải dựa vào một phát ngôn khác gần đó Nếu đáp ứng được hai điều kiện này thì đó là hiện tượng tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược nói chung.” [20,160]
(10) “Tôi vẫn nghĩ đến cái sự chết của mình, nó sẽ như hồi chuông lảnh lót,
không dứt ngân lên giữa cuộc đời Và khối kẻ sẽ phải điếc tai
- Về đi! – Ông ra lệnh
Tôi chần chừ, bỗng cảm giác ông ấy giống con ma.”
(Đêm dịu dàng)
Dạng đầy đủ: Cháu về đi!
Trong câu trên, chủ ngữ đã bị tỉnh lược và để khôi phục được thành phần này cần dựa vào ngữ cảnh để biết rằng chủ thể được nhắc tới ở đây là
“Cháu”
1.2.2.2 Phân loại câu tỉnh lược
- Dựa vào các thành phần chính bị tỉnh lược, Phạm Văn Tình chia câu tỉnh lược thành ba loại sau:
+ Câu tỉnh lược chủ ngữ
+ Câu tỉnh lược vị ngữ
+ Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ: Với trường hợp này,
câu có thế bị tỉnh lược toàn phần (còn lại ở dạng im lặng) hoặc là câu chỉ còn
lại các hư từ
- Đồng quan điểm với Phạm Văn Tình, dựa vào các thành phần chính bị
tỉnh lược, Nguyễn Kim Thản (trong cuốn Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt) và
Trang 21Nguyễn Thị Lương (trong cuốn Câu tiếng Việt) chia câu tỉnh lược thành ba loại sau:
+ Câu tỉnh lược chủ ngữ
+ Câu tỉnh lược vị ngữ
+ Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ
Trong phạm vi của khóa luận nghiên cứu ba kiểu trong “37 truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ” chúng tôi xin đi theo cách phân loại của Phạm Văn
Tình, Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Thị Lương Đó là chia câu tỉnh lược thành ba loại: câu tỉnh lược chủ ngữ (CTL CN), câu tỉnh lược vị ngữ (CTL VN) và câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ (CTL CN & VN)
a Câu tỉnh lược chủ ngữ
Theo Diệp Quang Ban quan niệm câu tỉnh lược chủ ngữ là “Những câu
trong đó đáng lẽ được nêu ra để làm chủ ngữ trong câu thì lại vắng mặt.”
[2,280]
Xét về cấu tạo, trong tiếng Việt thường gặp một số dạng câu tỉnh lược chủ ngữ sau đây:
- CTL CN mà dạng thể hiện là từ:
(11) “Tôi không có ý định ngày nào cũng phải nhớ về nó, khi cuộc sống của
mình bây giờ đã khác lắm rồi Nhưng cũng không bao giờ quên Nó là một phần đời của tôi, là cánh cửa đầu tiên tôi đập mặt mình vào.” (Biển ấm)
Xét ví dụ “Nhưng cũng không bao giờ quên”, ta thấy đây là CTL CN
thiếu chủ ngữ “Tôi”
- CTL CN mà dạng thể hiện là cụm từ:
(12) “Tôi thò tay vào túi Chỗ tiền ít ỏi bà dúi cho tôi chắc đủ trả cho chỗ
chim còn sống trong lồng
- Cháu muốn mua chỗ chim còn sống
Ông ngẩng nhìn tôi Hơi nhếch nhếch một bên mép, giọng khản đặc:
Trang 22- Năm trăm
Chỗ tiền của tôi, có thể mua được bốn lần chỗ chim đó.”
(Biển ấm)
Dạng đầy đủ: “Chỗ chim này năm trăm”
Trong ví dụ trên, thành phần bị tỉnh lược là chủ ngữ mà dạng thể hiện là một cụm danh từ
b Câu tỉnh lược vị ngữ
Phạm Văn Tình cho rằng: “Việc tỉnh lược vị ngữ đòi hỏi những điều kiện rất ngặt nghèo, nếu không sẽ phá vỡ logic về mặt cấu trúc kết hợp và làm cho phát ngôn và lược ngôn ở đây cũng rất hẹp, thường theo quan hệ 1:1.”
[23,114]
- Câu tỉnh lược vị ngữ một phần:
(13) “- Em Em khóc sao?
- Vâng Em thấy xót xa cho nàng
- Cho nàng hay cho em? – Anh nắm lấy tay tôi, bóp nhẹ.”
(Người xưa)
Dạng đầy đủ: “Em Xót xa cho nàng hay cho em?”
Bộ phận in đậm trong ví dụ trên là một câu tỉnh lược, trong đó thành phần
bị tỉnh lược không chỉ là chủ ngữ “Em” mà còn là cả tính từ trung tâm của vị ngữ “xót xa”
- Câu tỉnh lược vị ngữ toàn phần:
(14) “- Hôm nay lớp mình có bạn nghỉ học
- Ai Ø?
- Bạn Cảnh Ø.”
Trang 23c Câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ
CTL CN & VN là câu mà ở đó việc tỉnh lược diễn ra đồng thời đối với
các chủ ngữ và vị ngữ khiến cho trong câu không còn thành phần nòng cốt
nào
(15) “Bà Vy mở sững mắt và đỏ mặt vì cách nói năng của cô gái Đến mấy
bà buôn lợn đầu cầu chửi nhau cũng không chanh chua bằng cô này Bà Vy
quay mặt đi thở dài:
- Thế cháu đi làm nghề này lâu chưa?
- Chưa Nàm thử vài việc chả gì ra cái gì mà về quê lại gặp
bọn chó dái Đéo về nửa Đéo có tiền khổ nắm.”
(Của để dành)
Dạng đầy đủ: “Cháu chưa làm nghề này.”
Trong câu trên, chủ ngữ (Cháu) và động từ trung tâm (làm) của vị ngữ đã
bị lược bỏ, chỉ còn lại phụ từ “Chưa” bổ ngữ cho động từ
(16) “Cậu đứng tựa lung vào tường, hai tay khoanh trước ngực Trông cậu
như hóa đá Mắt cậu đầy nước Tôi mong đó là nước mưa bắn vào chứ đừng
Ở đây, lượt lời của nhân vật “cậu” đã bị tỉnh lược hoàn toàn và biểu hiện
ở dạng im lặng Có thể thấy, đây là một dạng đặc biệt của câu tỉnh lược toàn
phần
Trang 241.2.3 Câu tách biệt
1.2.3.1 Khái niệm câu tách biệt
Câu tách biệt (CTB) hay cũng gọi là câu dưới bậc có rất nhiều cách định nghĩa:
“Câu dưới bậc là một kiểu câu có trông văn bản được tạo ra bằng cách tách thành phần phụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ hoặc một thành phần của câu ghép thành một câu riêng, hoàn chỉnh về hình thức: mở đầu bằng chữ cái viết hoa, kết thúc bằng dấu ngắt câu và có một nội dung nhất định.”
[15,37]
“Về thực chất, câu dưới bậc là một bộ phận của một câu trọn vẹn được tách ra vì những lí do nghệ thuật và có ý nghĩa hiểu được xét trong mối quan
hệ với câu mà từ đó nó được tách ra” [1,278]
Phạm Văn Tình [22,138] gọi câu tách biệt là một dạng của ngữ trực thuộc
tỉnh lược chủ ngữ + vị ngữ: tỉnh lược bằng cách tách câu tạo hàm ý
(17) “ Hai năm sau Anh mang về từ gạch lát nền Gạch lát tường buồng
tắm Những bộ bàn ghế Những chiếc đèn bàn, đèn ngủ.”
(Tân cảng)
Các câu in đậm trong ví dụ (17) chính là câu tách biệt có được do hoạt
động tách các bổ ngữ của động từ “mang về” câu cơ sở ra thành câu riêng
Nếu không đặt các câu tách biệt này trong quan hệ với câu mà từ đó nó tách
ra ta khó có thể hiểu trọn vẹn nghĩa của chúng Dựa vào câu trước, có thể khôi phục ví dụ trên như sau:
“Hai năm sau Anh mang về từ gạch lát nền, gạch lát tường buồng tắm, những bộ bàn ghế, những chiếc đèn bàn, đèn ngủ.”
Như vậy có thể thấy, điều kiện tồn tại của CTB là văn cảnh, là sự liên kết với những câu lân cận xung quanh Tách ra khỏi văn cảnh, CTB không thể tồn
Trang 25tại và sẽ trở thành những câu sai ngữ pháp Một yếu tố khác đồng thời quyết
định sự tồn tại của CTB là giá trị tu từ mà chúng mang lại
1.2.3.2 Phân loại câu tách biệt
Trên cơ sở đó khóa luận chúng tôi đã tiến hành khảo sát trong “37
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” thì thấy có một số kiểu câu tách biệt sau:
Câu tách biệt tương đương thành tố phụ của cụm từ ( CTB TTPCCT); câu
tách biệt tương đương với thành phần phụ của câu (CTB TTPCC); câu
tách biệt tương đương với thành phần biệt lập của câu (CTB TPBLCC)
a Câu tách biệt tương đương thành tố phụ của cụm từ
- Câu tách biệt tương đương bổ ngữ:
(18) Anh mang về từ gạch lát nền Gạch lát buồng tắm Những bộ bàn ghế
(Tân cảng)
Trong ví dụ trên, hàng loạt bổ ngữ chỉ đối tượng bổ nghĩa cho động từ
“mang về” được tách ra thành những câu riêng biệt Chúng ta có thể ghép các
câu bị tách ra với câu trước nó để thành một câu hợp lí sau:
“Anh mang về gạch lát nền, gạch lát buồng tắm những bộ bàn ghế,
những chiếc đèn bàn, đèn ngủ.”
- Câu tách biệt tương đương định ngữ
(19) “Nhưng cứ đến giao thừa, dù ngày tất niên đó lạnh hay mưa rét, ba mẹ con
cũng nhận được một gói quà Của người lữ hành nhỡ tàu đêm giao thừa ấy”
(Lời thì thầm của mùa xuân)
Ở ví dụ trên, câu “Của người lữ hành nhỡ tàu đêm giao thừa ấy” vốn là
thành phần định ngữ cho danh từ “một gói quà” nhằm nhấn mạnh nguồn gốc
của gói quà được nhận nhưng đã được tách ra thành câu riêng
Trang 26(20) “Hình như ai cũng có một cái thú riêng Thú kiềm tiền Thú tiêu tiền
Thú ăn ngon Thú mặc đẹp Thú nói xấu sau lưng người khác Thú chọc
gậy bánh xe.”
(Giai nhân)
Ở ví dụ trên các định ngữ trong một chỉnh thể được tách ra để tạo nên
những câu liên hợp đồng dạng nêu bật các khía cạnh khác nhau của một khái
niệm nằm ở câu cơ sở Khái niệm “ Cái thú riêng” được giải thích, bổ sung ý
nghĩa nhờ 6 câu xuất hiện ở phía sau
b Câu tách biệt tương đương với thành phần phụ của câu
Câu tách biệt tương đương với thành phần trạng ngữ:
(21) “Dưới nhà Tiếng chân chạy rậm rịch Tiếng í ới gọi nhau.”
(Nước mắt đàn ông) (22) “Bao nhiêu năm Khi tôi thấm thía cái sự không có bố, tôi vẫn chờ có
đêm sẽ mơ thấy bố về.”
(Đôi giày đỏ)
Có thể thấy, trong hai ví dụ trên: (21) “Dưới nhà.” (22) “Bao nhiêu
năm.” Vốn là trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn của câu cơ sở nhưng được
tách ra thành câu riêng
c Câu đặc biệt tương đương với thành phần biệt lập của câu
Câu tách biệt tương đương với thành phần liên ngữ:
(23) “Ai cũng tưởng cậu ấy lên lớp và có phần dạy dỗ những lời khuôn sáo xa
xôi Nhưng rồi Hình như đại đa phần là không cưỡng lại nổi.”
(Hoàng hôn màu cỏ úa)
(24) “Có những tình yêu đến trong đêm trăng Và Có những nỗi cô đơn tìm
nhau trong đêm trăng.”
( Dĩ vãng)
Trang 27Trong hai ví dụ trên, (23) “Nhưng rồi.” (24) “Và.” Vốn là thành phân liên
ngữ, có tác dụng nối câu trước nó với câu sau nó Nhưng ở đây, nó đã bị tách
ra thành câu riêng – câu tách biệt
1.3 Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh năm 1966 tại Quảng Ninh Chị là con của nhà văn, nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Tú và nhà báo Nguyễn Ngọc Chánh cùng là phóng viên báo vùng mỏ Vì thế, với Nguyễn Thị Thu Huệ, Quảng Ninh là nơi đầy ắp những kỷ niệm ấu thơ
Chị tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Chị là nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII, Giám đốc Trung tâm Quyền Tác giả Văn học Việt Nam
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ là nữ chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn
Hà Nội Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nổi tiếng với các tập truyện ngắn Cát đợi (1993), Hậu thiên đường (1994), Thành phố đi vắng (2012)
Không chỉ gặt hái nhiều thành công trong sáng tác văn chương, với sức viết dồi dào và sự sáng tạo không ngừng nghỉ, tinh thần lao động nghệ thuật chân chính, nghiêm túc cùng với niềm đam mê cháy bỏng, chị rẽ hướng sang
cả lĩnh vực truyền hình (làm tại trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) – Đài Truyền hình Việt Nam) Một số truyện ngắn nổi tiếng của chị đã được chuyển thể thành phim và gây được tiếng vang lớn và ấn tượng mạnh với công chúng những năm 2000 Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ khi xuất hiện vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước đã mau chóng chiếm được tình cảm và sự yêu mến của người đọc
NTTH quan niệm “Văn chương là sự chân thành…” NTTH có một giọng văn đặc biệt khó trộn lẫn, một giọng văn vừa sắc cạnh, lại vừa dịu dàng
Trang 28đằm thắm thiết tha Nhà văn luôn khám phá cuộc sống bằng văn chương và niềm say mê bất tận Nhà văn NTTH có một cách nhìn rất mới khi xây dựng hình tượng người phụ nữ Trong những sáng tác của mình, chị ít đề cập đến những vấn đề thời sự, xã hội to lớn, điều mà nhà văn luôn trăn trở, suy tư là những ngóc ngách trong tâm tư, tình cảm và suy nghĩ của người phụ nữ của gia đình trước đời sống xã hội ngày một thay đổi chóng mặt, luôn khao khát tìm kiếm những hạnh phúc nhỏ bé cho riêng mình Điển hình là các truyện ngắn: Hình bóng cuộc đời, Hậu thiên đường, Một trăm linh tám cây bằng lăng Tân cảng…
1.3.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ
Truyện ngắn NTTH có sức hấp dẫn người đọc không chỉ bởi truyện giàu chất đời mà còn nhờ lối viết câu văn giảm bớt độ dài để thích nghi với hoàn cảnh mới – đó là một trong những dạng câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt Tất nhiên, NTTH cũng có viết những câu bình thường, những câu đầy đủ xen kẽ câu tỉnh lược, câu đơn phần, câu ngắn xen kẽ câu dài… nhưng tỉ lệ câu đặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt được tác giả sử dụng khá dày đặc và nổi bật Đây là dạng câu xuất hiện chủ đạo trong truyện ngắn NTTH Ở ba kiểu câu khác thường này, NTTH đã viết, viết say mê bằng cả trái tim, tâm hồn của người nghệ sĩ Kết quả, nhà văn đã gặt hái được nhiều thành công cho tác phẩm của mình Với cách viết đầy sáng tạo, ba kiểu câu trong văn NTTH
đã làm cho người đọc phải “sợ” trước cách viết như bị “lên đồng” của chị Việc tạo nên những kiểu câu khác thường đó góp phần làm cho cách viết của NTTH khác với những nhà văn nữ cùng thời Chính chị đã tạo nên một giọng điệu riêng cho mình bằng thể loại truyện ngắn đang được bạn đọc yêu mến hiện nay
Trang 29Đó là những dạng câu văn đặc trưng và đầy ấn tượng rất khó có thể lẫn lộn trong văn phong của NTTH Nó làm cho những vấn đề trong truyện như đang xảy ra trước mắt người đọc một cách bất ngờ
Để hiểu rõ hơn về ba kiểu câu khác thường này, khóa luận chúng tôi sẽ
đi nghiên cứu cụ thể ba loại câu này trong “37 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ” xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học ở những chương tiếp theo
Trang 30Tiểu kết chương 1
Qua chương 1, người viết đã đưa ra một số quan điểm của các tác giả về
ba kiểu câu: Câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách biệt và ba bình diện nghiên cứu câu: nghĩa học, kết học và dụng học
- Khái niệm ba kiểu câu:
+ “Câu đặc biệt là câu không có cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ, mà
chỉ được cấu tạo thành bởi một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay cụm từ đẳng lập nhưng vẫn là một cấu trúc cú pháp độc lập, có chức năng biểu đạt một hành động ngôn ngữ như những câu bình thường.” (Dẫn theo Nguyễn
Thị Lương)
+ “Hiện tượng tỉnh lược các yếu tố của một phát ngôn mang chức năng
liên kết phát ngôn nếu thỏa mãn hai điều kiện: yếu tố tỉnh lược cần thiết cho việc hiểu nội dung của phát ngôn và việc khôi phục yếu tố tỉnh lược phải dựa vào một phát ngôn khác gần đó Nếu đáp ứng được hai điều kiện này thì đó là hiện tượng tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược liên kết hay các phép tỉnh lược nói chung” (Dẫn theo Trần Ngọc Thêm)
+ “Câu dưới bậc là một kiểu câu có trong văn bản được tạo ra bằng cách tách thành phần phụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ hoặc một thành phần của câu ghép thành một câu riêng, hoàn chỉnh về hình thức: mở đầu bằng chữ cái viết hoa, kết thúc bằng dấu ngắt câu và có một nội dung nhất định.”
(Dẫn theo Trần Thị Nhàn)
- Phân loại ba kiểu câu:
+ Câu đặc biệt: Dựa vào cách chia câu đặc biệt của Đinh Trọng Lạc câu đặc
biệt được chia làm ba loại: Câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt vị từ và câu đặc
biệt tình thái từ
Trang 31+ Câu tỉnh lược: Dựa trên quan điểm của Phạm Văn Tình, Nguyễn Kim
Thản và Nguyễn Thị Lượng chia câu tỉnh lược thành ba loại: Câu tỉnh lược
chủ ngữ, câu tỉnh lược vị ngữ, câu tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ
+ Câu tách biệt: Được chia thành Câu tách biệt tương đương thành tố phụ
của cụm từ, câu tách biệt tương đương thành phần phụ của câu và câu tách biệt tương đương thành phần biệt lập của câu
- Lí thuyết ba bình diện: Người viết đồng nhất với quan điểm cho rằng: Kết
học, nghĩa học và dụng học là ba lĩnh vực thống nhất không thể tách rời, có mối quan hệ khăng khít
Trang 32Chương 2 CÂU ĐẶC BIỆT, CÂU TỈNH LƯỢC VÀ CÂU TÁCH BIỆT TRÊN
BÌNH DIỆN KẾT HỌC 2.1 Câu đặc biệt trên bình diện kết học
2.1.1 Đặc điểm kết học của câu đặc biệt
Câu đặc biệt có những đặc điểm sau
- Được cấu tạo từ một từ hoặc một cụm từ đẳng lập hay chính phụ, chứ không cấu tạo từ một cụm C – V
- Không xác định được thành phần câu
(26) “Anh Hoạt đấy Thôi! Coi như anh xong nhiệm vụ với anh Hoạt là đón
em về đây Anh phải về đội.”
(Biển ấm)
Trong ví dụ (26) “Thôi!” là CĐB và kết thúc bằng dấu chấm than
2.1.2 Phân loại câu đặc biệt
Có rất nhiều cách chia khác nhau, nhưng trong khóa luận chúng tôi chia câu đặc biệt ba loại: Câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt vị từ và câu đặc biệt tình thái từ
Trang 33Kiểu cấu tạo Số lƣợng câu Tỉ lệ (%)
Bảng 1.2: Bảng thống kê các loại câu đặc biệt
Nhận xét số liệu thống kê: Tư liệu khảo sát, thống kê 37 truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ CĐB DT được nhà văn sử dụng với tần số xuất hiện lớn
nhất (chiếm 57,8%), sau đó là CĐB VT(chiếm 23,1%) và sử dụng ít nhất là CĐB TTT (chiếm 19,1%)
2.1.2.1 Câu đặc biệt danh từ
a Cấu tạo của câu đặc biệt danh từ
Câu đặc biệt danh từ là câu được cấu tạo từ một danh từ hoặc một cụm danh từ (đẳng lập hoặc chính phụ)
- CĐB có cấu tạo là một danh từ:
(27)“Mưa Nước xối xả đổ xuống mái hiên.”
(Kí ức)
(28) “ Trúc Trúc ơi Có phải Trúc không?
Tim tôi khua loạn xạ trong lồng ngực vì đã có ai đó gọi tên tôi Nhưng không phải tiếng của anh Một người thanh niên đang lao xe tới chỗ tôi đứng.”
(Biển ấm)
Như vậy, chúng ta thấy trong hai ví dụ (27) và (28), CĐB DT có cấu tạo là
DT thường được cấu tạo bởi các danh từ chung “Nhà cửa.” , “Cây cối” và danh từ riêng “Trúc”
- CĐB DT có cấu tạo là cụm danh từ: