1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo tiếp thu ý kiến bộ ngành cho luật giáo dục đại học

38 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 390 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về hội đồng trường Khoản 10 Điều 1 - Đề nghị nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định về hội đồng trường trong dự án Luật để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả cơ chế hội đồng trường trong các trườ

Trang 1

VĂN PHÒNG ĐHQGHN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO THU THẬP THÔNG TIN, TÀI LIỆU, DỮ LIỆU

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm

2017 của Quốc hội và phân công của Thủ tướng Chính phủ, ĐHQGHN đã chủ trì, phối hợp với đơn vị và các cơ quan có liên quan xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH (dự thảo Luật) theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

ĐHQGHN thu thập thông tin, tài liệu để tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH, cụ thể như sau:

I TỔNG SỐ Ý KIẾN

Đến nay, ĐHQGHN đã nhận được ý kiến của 23 Đơn vị, trong đó:

- Có 12/23 cơ quan đồng ý với dự thảo Luật, cụ thể: Ủy ban dân tộc, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Đài Truyền hình

Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công An.

- Có 11/23 đơn vị có ý kiến góp ý, cụ thể: Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và

Công nghiệp Việt nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công thương, Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải.

II NỘI DUNG GÓP Ý CỤ THỂ

Trang 2

1 BỘ NỘI VỤ

a Về hệ thống các cơ sở GDĐH (Khoản 3 Điều 1): Đề nghị rà soát,

đánh giá hoạt động của hệ thống các cơ sở GDĐH để sắp xếp lại

cho phù hợp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù

hợp với chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày

25/10/2017

Tiếp thu

b Về cơ cấu tổ chức của đại học, trường đại học, học viện (Khoản 8,

Khoản 9 Điều 1):

- Đề nghị nghiên cứu để quy định cơ cấu tổ chức của đại học,

trường đại học, học viện bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực,

hiệu quả, phù hợp với chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số

19-NQ/TW

- Đề nghị bỏ quy định văn phòng đại diện và doanh nghiệp (việc

thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Luật Doanh

nghiệp)

- Về cơ cấu của đại học, đề nghị chọn phương án 2

Tiếp thu Riêng góp ý về bỏ quy định về doanh nghiệp

xin bảo lưu và giải trình:

Để thực hiện NQ số 19 (Có cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để thành lập doanh nghiệp đa sở hữu trong các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm thực hiện hoạt động ứng dụng, triển khai, thương mại hoá các kết quả nghiên cứu và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công) thì nên giữ quy định này để tạo điều kiện

cho các trường thành lập DN theo tinh thần của

NQ Việc thành lập DN thực hiện theo LuậtDN

Về hội đồng trường (Khoản 10 Điều 1)

- Đề nghị nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định về hội đồng

trường trong dự án Luật để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả cơ chế hội

đồng trường trong các trường đại học theo hướng Hội đồng trường

là cơ quan thực quyền cao nhất của trường đại học theo tinh thần

của Nghị quyết số 19-NQ/TW

- Tại Điểm c, Khoản 2, đề nghị biên tập lại như sau: Quyết nghị về

cơ cấu tổ chức; vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp và

số lượng người làm việc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được

giao

- Tại Khoản 7, đề nghị nghiên cứu, bổ sung nội dung: Quy định

mối quan hệ công tác giữa hội đồng trường với đảng ủy và ban

giám hiệu

Tiếp thu, dự thảo đãquy định theo hướngHội đồng trường là cơquan quyền lực củatrường đại học theotinh thần của Nghịquyết số 19-NQ/TW

- Về đề nghị Quy địnhmối quan hệ công tácgiữa hội đồng trườngvới đảng ủy và bangiám hiệu, Cơ quanchủ trì soạn thảo đã giữnguyên quy định tạiĐiều 13 và dự thảo quyđịnh tại Điều 16, 20

Trang 3

- Tại Điểm d, Khoản 2, đề nghị chọn phương án 2 và thay cụm từ

“trình cơ quan quản lý có thẩm quyền công nhận” bằng cụm từ

“trình cấp có thẩm quyền công nhận”

- Tại Điểm b, Khoản 3, đề nghị làm rõ cơ sở để quy định các

thành viên viên ngoài trường chiếm tỷ lệ tối thiểu 30% tổng số

thành viên hội đồng trường

- Tại Điểm a, Khoản 4, đề nghị biên tập lại cho phù hợp với chủ

trương của Đảng “bí thư đảng uỷ kiêm chủ tịch hội đồng trường”

tại Nghị quyết số 19-NQ/TW

Nội dung giải trình:

- Thuật ngữ “cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền” đã được sử dụng trong Luật GDĐH

2012 (Điều 9, 49); Dự thảo dùng “cơ quan quản

lý có thẩm quyền” để bao quát hơn, phù hợpvới thực trạng có một số trường trực thuộc các

tổ chức chính trị XH, không phải cơ quan nhànước (Học viện Phụ nữ, HV Thanh thiếu niên,

ĐH Công đoàn, ĐH Tôn Đức Thắng…)

- Tỷ lệ thành viên ngoài trường đã được quyđịnh tại Điều lệ trường ĐH là 20% để đảm bảohài hòa lợi ích của các bên liên quan trong vàngoài nhà trường, giúp trường đáp ứng tốt hơnnhu cầu XH, huy động nguồn lực bên ngoà đểphát triển trường, tiệm cận với thông lệ quốctế… Trong các hội thảo lấy ý kiến góp ý, cómột số cơ sở GDĐH đề nghị đưa tỷ lệ này lên50-60% như các nước phát triển; một số cơ sở

đề nghị nâng dần lên 30%, một số khác đề nghịgiữ nguyên 20% như luật hiện hành Cơ quanchủ trì soạn thảo đồng ý với các ý kiến góp ýnâng tỷ lệ tối thiểu các thành viên ngoài trườnglên 30% để ngày càng tiệm cận với thông lệquốc tế nhưng phù hợp với điều kiện hiện tại vàtrong tương lai gần của Việt Nam

Về Hiệu trưởng (Khoản 13 Điều 1):

- Tại Điểm a Khoản 1, đề nghị chọn phương án 2 và biên tập lại

như sau: Hiệu trưởng cơ sở GDĐH công lập do hội đồng trường tổ

chức bầu hoặc thi tuyển và được cấp có thẩm quyền công nhận

Hiệu trưởng cơ sở GDĐH tư thục do hội đồng quản trị quyết định

- Tại Khoản 3, đề nghị bổ sung nội dung sau vào trước Điểm a:

“Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng trường, Hội đồng quản trị, Hiệu

trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn sau:” Theo đó, tại Điểm a,

Điểm b, rà soát bỏ đoạn: “theo Nghị quyết của Hội đồng trường,

Hội đồng quản trị”

Tiếp thu

Trang 4

Về thời gian đào tạo (Khoản 17 Điều 1): Tại Khoản 2, đề nghị làm

rõ cơ sở để quy định thời gian đào tạo trình độ đại học, thạc sỹ,

tiến sĩ, để bảo đảm chất lượng đào tạo và phù hợp với thông lệ

quốc tế

Tiếp thu, đã quy địnhtại khoản 23 Điều 1, vềviệc Sửa đổi, bổ sungĐiều 35

Về sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 37 (Khoản 19 Điều 1): Để

nâng cao chất lượng đào tạo, đề nghị nghiên cứu, cân nhắc không

nên liên kết đào tạo trình độ đại học theo hình thức không tập

trung với trường cao đẳng trở xuống

Nội dung giải trình:

Đồng ý quan điểm cần giảm thiểu liên kết đào tạo và hình thức VLVH để nâng cao chất lượngđào tạo nhưng chưa phù hợp với VN ở thời điểm này

Đây là quy định hiện hành; nếu giữ hình thức VLVH thì giữ nguyên quy định liên kết như luật hiện hành vì những địa phương chưa có cơ

sở GDĐH mới có nhu cầu liên kết đào tạo

Về văn bằng GDĐH (Khoản 20 Điều 1): Tại Khoản 3, đề nghị

biên tập lại như sau: “Bộ trưởng ĐHQGHN ; quy định trình tự,

thủ tục công nhận và xác nhận loại tốt nghiệp văn bằng GDĐH do

cơ sở GDĐH nước người cấp.”

Tiếp thu

Về giảng viên (Khoản 29 Điều 1):

- Tại Khoản 2, về chức danh giảng viên:

Theo quy định tại Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012

của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức thì

viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề

nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp, từ hạng IV đến hạng I và

tại Điều 8 Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Luật GDĐH thì chức danh giáo sư và chức danh phó giáo sư đều

được xếp vào hạng I theo phân hạng chức danh nghề nghiệp viên

chức

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số

36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 của Bộ trưởng ĐHQGHN và Bộ trưởng Bộ

Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên

chức giảng dạy trong các cơ sở GDĐH công lập thì chức danh

nghề nghiệp giảng viên cao cấp (hạng I) là chức danh nghề nghiệp

cao nhất của viên chức hoạt động nghề nghiệp giảng dạy trong các

cơ sở GDĐH công lập

Để làm rõ chức trách, nhiệm vụ của từng chức danh giảng viên

Nội dung giải trình:

Điều 54 giữ nguyên 5 chức danh như LuậtGDĐH 2012 hiện hành đã được QH thông qua(chỉ sửa nội dung khác) vì giảng viên còn cótrong các cơ sở GDĐH ngoài công lập, khu vực

mà Luật Viên chức không áp dụng

5 năm qua, trong điều kiện vừa có Luật Viênchức, vừa có Luật GDĐH quy định 5 chứcdanh thì các GV là viên chức vẫn được cả haiLuật điều chỉnh không có vướng mắc nên chưasửa

Nếu sau này có Luật nhà giáo để điều chỉnh chế

độ nhà giáo thống nhất trong trường công,trường tư thì quy định như Luật GDĐH là phùhợp

Trang 5

trong các cơ sở GDĐH để từ đó quy định chế độ, chính sách phù

hợp với từng đối tượng cụ thể, đề nghị làm rõ các chức danh: Trợ

giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư là chức

danh nhà giáo hay là chức danh nghề nghiệp của viên chức hoạt

động trong lĩnh vực giảng dạy trong cơ sở GDĐH

Nếu coi đây là chức danh nghề nghiệp của giảng viên thì cần

nghiên cứu để làm rõ các chức danh này với chức danh giảng viên

cao cấp đã được xây dựng từ năm 1994 đến nay (hiện nay là chức

danh nghề nghiệp giảng viên cao cấp hạng I), tránh tình trạng

cùng hoạt động giảng dạy trong cơ sở GDĐH nhưng lại có cách

gọi khác nhau và quy định khác nhau

- Tại Khoản 4: Để phù hợp với quy định của Luật Viên chức, đề

nghị sửa lại như sau: “Bộ trưởng ĐHQGHN quy định tiêu chuẩn

các chức danh của giảng viên sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ

trưởng Bộ Nội vụ…”

a

Tại Khoản 6 Điều 4: đề nghị cân nhắc quy định cụ thể hơn về số

lượng ngành tối thiểu mà cơ sở giáo dục đa ngành, đa lĩnh vực cần

đáp ứng để được công nhận là một đại học

Tiếp thu, sẽ quy định

rõ ở văn bản dưới Luật

b Tại Điều 9: cân nhắc thay từ “phân tầng” bằng từ “định hướng”

tại tên Điều để sát hơn với nội dung tại Khoản 1 Điều này quy

định về định hướng phát triển của trường đại học; trong trường

hợp vẫn giữ thuật ngữ “phân tầng” như hiện nay thì đề nghị tách

thành hai điều riêng để tránh cách hiểu phân tầng và xếp hạng có

liên quan với nhau

Tiếp thu

c Tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 12: đề nghị không quy định cơ chế

ưu đãi về thuế, đất đai trong Luật này mà để quy định trong pháp

luật chuyên ngành để bảo đảm đồng bộ hệ thống pháp luật

Tiếp thu

d Tại Khoản 4 Điều 14: cân nhắc việc thu hẹp phạm vi tự chủ của

cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài (trên 50% so với quy định

hiện nay không có mức tối thiểu) thì có phù hợp với cam kết của

Việt Nam hay không, bao gồm cam kết về dịch vụ trong các Hiệp

định WTO, EVFTA…

Nội dung giải trình:

Nội dung sửa để phù hợp với khối trườngNgoài công lập, không ảnh hưởng tới các camkết của Việt Nam về dịch vụ trong các Hiệpđịnh WTO, EVFTA…

đ Tại Khoản 4 Điều 15: đề nghị chọn Phương án 1, theo đó cơ cấu

tổ chức của đại học sẽ bao gồm trường, viện nghiên cứu Tiếp thu

Trang 6

- Tại Điểm d Khoản 1: đề nghị quy định theo Phương án 2, theo

đó hiệu trưởng cơ sở GDĐH công lập do hội đồng trường bầu và

được cơ quan quản lý có thẩm quyền công nhận Tương tự, tại

Điểm a Khoản 1 Điều 20, đề nghị quy định theo Phương án 2

Đồng thời, đề nghị cân nhắc quy định cụ thể hơn thẩm quyền của

hội đồng trường trong việc “quyết định” bầu hiệu trưởng và các

phó hiệu trưởng

- Tại Điểm b Khoản 3: đề nghị nêu rõ thêm về căn cứ quy định tỷ

lệ thành viên bên ngoài trường trong hội đồng trường là 30% Bộ

Ngoại giao cho rằng tỷ lệ này tương đối cao, nên hạn chế để tăng

cường sự tham gia của các thành viên trong trường do có sự gắn

bó lợi ích với sự phát triển của trường

Nội dung giải trình:

Tỷ lệ thành viên ngoài trường đã được quy địnhtại Điều lệ trường ĐH là 20% để đảm bảo hàihòa lợi ích của các bên liên quan trong và ngoàinhà trường, giúp trường đáp ứng tốt hơn nhucầu XH, huy động nguồn lực bên ngoà để pháttriển trường, tiệm cận với thông lệ quốc tế…Trong các hội thảo lấy ý kiến góp ý, có một số

cơ sở GDĐH đề nghị đưa tỷ lệ này lên 50-60%như các nước phát triển; một số cơ sở đề nghịnâng dần lên 30%, một số khác đề nghị giữnguyên 20% như luật hiện hành Cơ quan chủtrì soạn thảo đồng ý với các ý kiến góp ý nâng

tỷ lệ tối thiểu các thành viên ngoài trường lên30% để ngày càng tiệm cận với thông lệ quốc

tế nhưng phù hợp với điều kiện hiện tại vàtrong tương lai gần của Việt Nam

g Tại Điều 32: Dự thảo Tờ trình Chính phủ (trang 1) xác định vấn

đề tự chủ đại học là một hạn chế của Luật GDĐH hiện hành Vì

vậy, đề nghị quy định rõ hơn về quyền tự chủ tại Điều 32 dự thảo

Luật sửa đổi thay vì giao Chính phủ quy định

Tiếp thu

h Tại Khoản 2 Điều 38: đề nghị quy định rõ hơn về trách nhiệm

công khai thông tin về văn bằng đại học trên các phương tiện

thông tin đại chúng để tương ứng với trách nhiệm cơ sở GDĐH

liên kết với nước ngoài quy định tại Khoản 6 Điều 45 dự thảo

Luật

Tiếp thu

i Tại Khoản 1 Điều 52: đoạn thứ hai, đề nghị cân nhắc bổ sung quy

định theo hướng tổ chức kiểm định chất lượng GDĐH độc lập với

cơ quan quản lý, bên cạnh quy định tổ chức này độc lập với cơ sở

Nội dung giải trình:

Một trong các nội dung quản lý NN là “quản lýviệc bảo đảm chất lượng giáo dục đại học”

Trang 7

GDĐH trong đó có quản lý NN đối với tổ chức kiểm

định và hoạt động kiểm định nên tổ chức kiểmđịnh là đối tượng quản lý của cơ quan quản lý;chỉ độc lập về tổ chức, không nên quy định độclập với cơ quản quản lý

k Tại Điều 63 Luật GDĐH năm 2012: đề nghị sửa cụm từ “theo

Hiệp định ký kết với Nhà nước Việt Nam” thành “theo điều ước

quốc tế mà Việt Nam là thành viên”.

Tiếp thu

Khoản 7 Điều 1 về việc “Sửa đổi các khoản 2, 3 và 5 Điều 12”

(trang 3 dự thảo Luật sửa đổi):

Căn cứ Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần

thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Khóa XII về tiếp tục đổi mới

hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt

động của các đơn vị sự nghiệp công lập (điểm 2.1 Mục III NQ19

-trang 5; điểm 4 Mục III - -trang 11; điểm 4 Mục III - -trang 10), đề

nghị nghiên cứu sửa đổi như sau:

a) Khoản 2 Điều 12 Luật GDĐH đề nghị sửa thành: “2 Nhà nước

có chính sách về đầu tư ngân sách phù hợp đối với GDĐH; tập

trung đầu tư chiều sâu, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực chất lượng

cao đối với các trường đại học công lập ở một số lĩnh vực mang

tầm cỡ khu vực và quốc tế

Nhà nước có chính sách đối xử bình đẳng giữa các cơ sở GDĐH,

tất cả các cơ sở GDĐH không phân biệt loại hình được tham gia

đấu thầu thực hiện việc cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực

giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà

nước”.

Trên cơ sở đó đề nghị Bộ GD&ĐT nghiên cứu:

- Chuyển đề xuất về “chính sách tín dụng sinh viên” (đề xuất sửa

đổi Khoản 2 Điều 12 Luật GDĐH) sang để sửa đổi, bổ sung trong

Điều 62 Luật GDĐH bảo đảm thống nhất và phù hợp với thực tế

(Điều 62 quy định về “Chính sách đối với người học”, trong đó có

chính sách tín dụng sinh viên)

- Bỏ quy định tại Khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi về việc “Sửa đổi,

bổ sung Điều 42”, nội dung đề nghị bỏ: “ưu tiên đầu tư cho các

cơ sở GDĐH có tiềm lực mạnh về nhân lực nghiên cứu và triển

Tiếp thu

Trang 8

khai ứng dụng”.

b) Khoản 3 Điều 12 Luật GDĐH đề nghị sửa thành: “3 Thực hiện

xã hội hóa GDĐH; ưu đãi về đất đai, thuế, phí, tín dụng… để

khuyến khích các cơ sở GDĐH tư thục, cơ sở GDĐH có vốn đầu

tư nước ngoài, trong đó ưu tiên các cơ sở hoạt động không vì lợi

nhuận” Đồng thời đề nghị Bộ GD&ĐT nghiên cứu thể hiện rõ

trong Luật sửa đổi thế nào là “cơ sở hoạt động không vì lợi

nhuận”.

Khoản 8 Điều 1 về việc “Sửa đổi, bổ sung Điều 14” (trang 4 dự

thảo Luật sửa đổi):

Theo Luật Doanh nghiệp, có 04 loại hình doanh nghiệp bao gồm:

công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh

và doanh nghiệp tư nhân

Dự thảo Luật sửa đổi quy định “3 Trường đại học tư thục có cơ

cấu tổ chức theo quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1

Điều này và có đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban

kiểm soát”, mô hình này giống cơ cấu tổ chức của công ty cổ

phần theo Luật Doanh nghiệp, có thể dẫn đến cách hiểu là trường

đại học tư thục chỉ tổ chức hoạt động theo mô hình công ty cổ

phần Do vậy đề nghị Bộ GD&ĐT nghiên cứu để thuyết minh rõ

trong dự thảo Luật về nội dung quy định này, tạo điều kiện thuận

lợi trong quá trình thực hiện

Đã tiếp thu tại Điều 14,16a, 17 và 17a TrongĐiều 14 đã quy định

mô hình ĐH tư thục có

1, 2 thành viên gópvốn và từ 3 thành viêngóp vốn trở lên; phùhợp với mô hình công

ty TNHH và CTCP để

có thể vận dụng cơ chếquản trị, tài chính theo

mô hình doanh nghiệptheo đúng tinh thần của

NQ 19Khoản 10 Điều 1 về việc “Sửa đổi, bổ sung Điều 16” (trang 5 dự

thảo Luật sửa đổi):

Đề nghị Bộ GD&ĐT nghiên cứu bổ sung một số nội dung như

sau:

- Quy định cụ thể về độ tuổi của Chủ tịch Hội đồng trường đại học

công lập khi bổ nhiệm lần đầu phải đủ 01 nhiệm kỳ (5 năm)

- Về quyền hạn của Hội đồng trường: Việc giao cho Hội đồng

trường tổ chức thực hiện quy trình bầu hiệu trưởng và các phó

hiệu trưởng cần phù hợp với khả năng, mức độ tự chủ tài chính

của các cơ sở GDĐH Việc quyết định công nhận nhân sự hiệu

trưởng, phó hiệu trưởng xem xét gắn với cơ quan quản lý có thẩm

quyền có đại diện tham gia thành viên Hội đồng trường

Cần đưa ra nguyên tắc quy trình giới thiệu nhân sự, bầu hiệu

trưởng: thẩm quyền đề xuất nhân sự hiệu trưởng, phó hiệu trưởng

Tiếp thu, các nội dungquy định chi tiết vềHội đồng trường sẽquy định tại các vănbản dưới Luật

Trang 9

để bầu; quy hoạch nhân sự hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; quy trình

thực hiện cần có sự thống nhất với chủ trương, quy định chung

của Đảng, Nhà nước để thống nhất quản lý

- Về cơ cấu Hội đồng trường: Hội đồng trường không phải là hội

đồng tư vấn, các thành viên bên ngoài khi tham gia vào Hội đồng

trường quyết định sự phát triển của trường và gắn trách nhiệm,

nghĩa vụ, quyền lợi đối với sự phát triển của trường Đề nghị Bộ

GD&ĐT nghiên cứu đưa ra cơ sở khoa học và thực tiễn để quy

định số lượng các thành viên bên ngoài trường thông qua việc

đánh giá vai trò, trách nhiệm, đóng góp của các thành viên bên

ngoài trường khi tham gia vào Hội đồng trường

- Đại diện cơ quan quản lý có thẩm quyền: Đề nghị nghiên cứu để

quy định: “Cơ quan quản lý có thẩm quyền cử ít nhất 01 đại diện

tham gia thành viên Hội đồng trường”

Khoản 11 Điều 1 về việc “Sửa đổi, bổ sung Điều 17” (trang 7 dự

thảo Luật sửa đổi):

Dự thảo Luật sửa đổi quy định “1 Hội đồng quản trị được thành

lập ở cơ sở GDĐH tư thục” “2 Hội đồng quản trị là tổ chức đại

diện cho chủ sở hữu của trường”, “3 Hội đồng quản trị của cơ sở

GDĐH tư thục hoạt động không vì lợi nhuận là cơ quan quyền lực

cao nhất của trường, đại diện cho chủ sở hữu và cộng đồng nhà

trường”, “4 Thành viên hội đồng quản trị bao gồm: đại diện

những người góp vốn do đại hội đồng cổ đông bầu chọn , Hiệu

trưởng, đại diện tổ chức Đảng, đoàn thể và thành viên khác”.

Tuy nhiên đối với cơ sở GDĐH tư thục hoạt động không vì lợi

nhuận “Trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận …

không có đại hội đồng cổ đông”(Khoản 4 Điều 14 sửa đổi).

Như vậy có sự không thống nhất trong các quy định liên quan đến

cơ sở GDĐH tư thục hoạt động không vì lợi nhuận đối với các nội

dung về thành viên hội đồng quản trị, đại hội đồng cổ đông Đề

nghị Bộ GD&ĐT nghiên cứu, chỉnh sửa lại nội dung này đảm bảo

tính thống nhất

Tiếp thu

Khoản 32 Điều 1 về việc “Sửa đổi, bổ sung tên và nội dung Điều

65” (trang 16, 17 dự thảo Luật sửa đổi):

Đề nghị nghiên cứu sửa quy định tại nội dung 1, 2 như sau:

“1 Các khoản thu từ dịch vụ đào tạo gồm giá dịch vụ đào tạo, giá

Tiếp thu

Trang 10

dịch vụ tuyển sinh và các khoản thu khác theo quy định của pháp

luật.

a) Giá dịch vụ đào tạo là khoản tiền mà gia đình người học hoặc

người học phải trả cho cơ sở GDĐH để nhận được dịch vụ đào

tạo Giá dịch vụ đào tạo được xác định trên cơ sở nguyên tắc, căn

cứ, phương pháp định giá quy định tại Luật giá.

b) Giá dịch vụ tuyển sinh là khoản tiền mà người dự tuyển phải

trả cho cơ sở GDĐH để được tham gia xét tuyển, thi tuyển.

c) Các khoản thu từ dịch vụ đào tạo khác theo quy định của pháp

luật.

2 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính quy

định khung giá và giá cụ thể đối với các khoản thu dịch vụ đào

tạo trong các cơ sở GDĐH công lập; khung giá, giá tối đa và giá

cụ thể dịch vụ tuyển sinh”.

Lý do:

- Theo quy định của Luật giá, Luật phí và lệ phí không có khái

niệm “học phí”, thay vào đó là “giá dịch vụ giáo dục, đào tạo”

Thu dịch vụ đào tạo (giá dịch vụ giáo dục, đào tạo) thực hiện theo

cơ chế giá, điều chỉnh bởi Luật giá và các văn bản hướng dẫn

- Theo quy định tại tiết c Khoản 3 Điều 19 Luật giá thì Dịch vụ

đào tạo là dịch vụ do nhà nước định giá, gồm định khung giá và

mức giá cụ thể

- Theo Điều 22 Luật giá thì Chính phủ chỉ quy định 03 loại giá “a)

Khung giá đất; b) Khung giá cho thuê mặt nước; c) Khung giá

cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ” Theo Khoản 3

Điều 22 Luật Giá thì Bộ trưởng Bộ Tài chính, các Bộ trưởng, Thủ

trưởng cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh định giá hàng hóa quy

định tại Điều 19 Luật Giá, trong đó có dịch vụ đào tạo

Mặc dù tại thời điểm hiện nay, Nghị định số 177/2013NĐ-CP

ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành và

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá; Nghị định số

149/2016/NĐ-CP ngày 11/1/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung

một số điều của Nghị định số 177/2013NĐ-CP ngày 14/11/2013

không/chưa có quy định nào về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT đối với giá dịch vụ đào tạo; nhưng quy định về trách

nhiệm của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT như phương án trên là không

Trang 11

trái với các quy định của Luật Giá và các Nghị định này.

Khoản 33 Điều 1 về việc “Sửa đổi, bổ sung Điều 66” (trang 17 dự

thảo Luật sửa đổi):

Đề nghị nghiên cứu tách 2 đối tượng là cơ sở GDĐH công lập tự

đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư, cơ sở GDĐH công lập tự

đảm bảo chi thường xuyên để sửa lại nội dung 1 như sau:

“1 Cơ sở GDĐH công lập tự đảm bảo chi thường xuyên, chi đầu

tư, có nghị quyết thông qua chủ trương của hội động trường được

sử dụng nguồn tài chính như sau:

a) Quyết định các dự án đầu tư sử dụng nguồn thu hợp pháp của

cơ sở GDĐH và các nguồn hợp pháp khác do cơ sở GDĐH tự huy

động;

b) Quyết định việc sử dụng vốn, tài sản và giá trị thương hiệu của

nhà trường để liên kết với các tổ chức và cá nhân thực hiện đào

tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ theo nguyên

tắc bảo toàn và phát triển vốn, tài sản nhà nước theo đúng quy

định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công;

c) Quyết định nội dung và mức chi từ các nguồn thu giá dịch vụ

đào tạo và thu sự nghiệp, nguồn kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ,

bao gồm cả chi tiền lương, chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý

và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở GDĐH

2 Cơ sở GDĐH công lập tự đảm bảo chi thường xuyên, có nghị

quyết thông qua chủ trương của hội động trường được sử dụng

nguồn tài chính theo quy định tại Khoản 1 Điều này Đối với các

dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước (nếu có) thực hiện

theo quy định của Luật Đầu tư công”

Lý do: Cơ sở GDĐH công lập tự đảm bảo chi thường xuyên vẫn

có khả năng được ngân sách nhà nước đầu tư kinh phí (vốn đầu

tư) để thực hiện các dự án đầu tư Khi đó cơ sở GDĐH phải thực

hiện các thủ tục về đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công và

các văn bản hướng dẫn

Tiếp thu

Khoản 34 Điều 1 về việc “Sửa đổi, bổ sung Điều 67” (trang 18 dự

thảo Luật sửa đổi):

Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung

một số điều của Luật GDĐH (sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật

GDĐH), cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở GDĐH

Tiếp thu

Trang 12

thuộc sở hữu toàn bộ hoặc một phần của nhà đầu tư nước ngoài.

Như vậy, trường hợp tại cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài

có một phần vốn của Nhà nước thì việc quản lý, sử dụng đối với

phần tài sản thuộc sở hữu nhà nước phải thực hiện theo quy định

tại pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công Do vậy, đề nghị bổ

sung để sửa lại nội dung tiết a khoản 2 như sau:

“2 a) Đối với tài sản và quyền sử dụng đất được Nhà nước giao

cho cơ sở GDĐH quản lý và tài sản được viện trợ, tài trợ, ủng hộ,

hiến tặng, tặng, cho phải được sử dụng đúng mục đích, không

chuyển đổi mục đích sử dụng và không được chuyển thành sở hữu

tư nhân dưới bất cứ hình thức nào

Đối với tài sản của nhà nước tại cơ sở giáo dục có vốn đầu tư

nước ngoài phải được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp

luật về quản lý, sử dụng tài sản công”

Về chính sách đối với người học (Điều 62 Luật GDĐH):

Theo quy định tại Điều 62, người học là sinh viên sư phạm, người

học theo các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm, người học các

ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã

hội trong cơ sở GDĐH không phải đóng học phí Thực tiễn triển

khai chính sách này cho thấy một số bất cập như:

- Sinh viên sư phạm, sinh viên một số ngành chuyên môn đặc thù

không phải đóng học phí trong quá trình đào tạo nhưng khi tốt

nghiệp, nhà nước không sắp xếp được việc làm cho một bộ phận

hay tất cả sinh viên cũng như nhiều sinh viên không kiếm được

việc làm đúng ngành được đào tạo Điều này gây lãng phí về

nguồn lực ngân sách nhà nước (nhà nước bảo đảm kinh phí đào

tạo nhưng không được sử dụng kết quả đào tạo), lãng phí nguồn

lực xã hội (sinh viên được đào tạo ngành sư phạm, ngành chuyên

môn đặc thù nhưng không làm việc đúng chuyên môn được đào

tạo)

- Không thực hiện được quy định tại Điều 63 Luật GDĐH về việc

những người học này “sau khi tốt nghiệp phải chấp hành sự điều

động làm việc của nhà nước trong thời gian ít nhất là gấp đôi thời

gian được hưởng học bổng và chi phí đào tạo…”

- Sinh viên không học ngành sư phạm nhưng được tuyển dụng làm

giáo viên, giảng viên không được hưởng chính sách miễn học phí;

Tiếp thu, sửa đổi ở cácvăn bản dưới Luật

Trang 13

sinh viên không học các chuyên ngành đặc thù nhưng làm việc

trong các chuyên ngành đặc thù cũng không được hưởng chính

sách ưu đãi về học phí; trong khi đó những sinh viên được hưởng

ưu đãi học phí nhưng sau khi ra trường không làm việc trong lĩnh

vực được đào tạo với chính sách ưu đãi về học phí

Do đó, đề nghị sửa đổi chính sách học phí đối với người học

Thực hiện theo Nghị định số 74/2013/NĐ-CP và sau đó được thay

thế bằng Nghị định số 86/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về

cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống

giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi

phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 – 2021;

chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người dân

tộc thiểu số học tại các cơ sở GDĐH theo Quyết định số 66/2013/

QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách tín dụng đào tạo

được tiếp tục triển khai có hiệu quả theo Quyết định

157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Tín dụng đối với

học sinh, sinh viên

Tuy nhiên, trong thời gian tới các quy định liên quan tới người

học cần rõ ràng về chính sách hỗ trợ sinh viên (thuộc diện chính

sách, không thuộc diện chính sách…) Các quy định về tín dụng

đối với học sinh, sinh viên cần nghiên cứu mở rộng thêm về đối

tượng và điều chỉnh mức vay cho phù hợp thực tiễn để các sinh

viên có thể tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, đặc biệt là đối

với sinh viên các trường tự chủ Cần có cơ chế khuyến khích các

Ngân hàng thương mại tham gia các chương trình tín dụng hỗ trợ

sinh viên

Tiếp thu, sửa đổi ở cácvăn bản dưới Luật

Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày

24/11/2017, vì vậy, những nội dung liên quan đến quy hoạch trong

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH (Dự

thảo Luật) cần điều chỉnh cho phù hợp với quy định của Luật Quy

hoạch Cụ thể như sau:

- Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 11 như sau:

“Điều 11 Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH

1 Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học là quy hoạch

ngành quốc gia nhằm bảo đảm cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ

Tiếp thu

Trang 14

đào tạo; đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; từng bước nâng

cao chất lượng đào tạo, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa và hội nhập quốc tế

2 Căn cứ lập quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH:

a) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển

GDĐH trong cùng giai đoạn;

b) Nguồn lực phát triển và xu thế phát triển GDĐH của các nước

trong khu vực và trên thế giới;

c) Quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc

gia;

d) Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH thời kỳ trước

3 Nội dung quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH phải phù hợp với

quy định của pháp luật về quy hoạch và bao gồm các nội dung chủ

yếu như sau:

a) Xác định phương hướng phát triển của hệ thống GDĐH;

b) Ban hành chuẩn cơ sở GDĐH làm cơ sở thực hiện quy hoạch

mạng lưới cơ sở GDĐH, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo;

c) Sắp xếp không gian và phân bổ nguồn lực để phát triển mạng

lưới cơ sở GDĐH công lập phù hợp với mục tiêu đào tạo nguồn

nhân lực chất lượng cao, phát triển các vùng kinh tế và các vùng

đặc biệt khó khăn

4 Việc lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, điều chỉnh và thực

hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH thực hiện theo pháp luật

về quy hoạch.”

- Ngoài ra, đề nghị sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác liên

quan đến quy hoạch như sau:

+ Điều 22, Khoản 1, Điểm a: đề nghị bỏ cụm từ “quy hoạch phát

triển kinh tế - xã hội” vì theo quy định tại Luật Quy hoạch không

có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

+ Điều 34, Khoản 1, Điểm a: đề nghị bỏ cụm từ “quy hoạch phát

triển nguồn nhân lực” do theo quy định tại Luật Quy hoạch không

có “quy hoạch phát triển nguồn nhân lực”

+ Điều 48, Khoản 1 đề nghị sửa cụm từ “quy hoạch phát triển

GDĐH” thành “quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học” vì

trong hệ thống quy hoạch quốc gia được quy định tại Luật Quy

hoạch không có quy định về quy hoạch phát triển GDĐH

Trang 15

Về cơ cấu tổ chức của đại học (Điều 14):

Các trường đại học tư thục là các tổ chức kinh tế hoạt động đầu tư

kinh doanh Các ngành nghề đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực

giáo dục được quy định tại Phụ lục 4 Danh mục ngành nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật số

03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục

ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư (Từ

Mục 140-148)

Việc tổ chức quản lý; quản trị nội bộ; quan hệ giữa các thành viên,

cổ đông; quyền và nghĩa vụ; việc tổ chức lại; giải thể, của các tổ

chức kinh tế rất phức tạp Luật Doanh nghiệp đã quy định rất cụ

thể về các vấn đề trên Luật GDĐH (và Luật giáo dục) nên sử

dụng các quy định của Luật Doanh nghiệp để điều chỉnh đối với

các tổ chức kinh tế là các cơ sở giáo dục tư thục

Điều 14, 17a, 17 của dự thảo của Luật sửa đổi Luật GDĐH đề

nghị quy định theo hướng cơ sở GDĐH tư thục được thành lập

theo mô hình doanh nghiệp, thực hiện theo quy định của Luật

Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Đối với cơ sở

GDĐH tư thục hoạt động không vì lợi nhuận (gồm cả cơ sở có

vốn đầu tư nước ngoài) thì tổ chức theo mô hình doanh nghiệp xã

hội quy định tại Điều 10 của Luật Doanh nghiệp và các Điều 4, 5,

6, 7 8, 9, 10, 11 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015

của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh

nghiệp

Đã tiếp thu một phầntại các Điều 14, 16a,

17 và 17a Trong Điều

14 đã quy định môhình ĐH tư thục có 1,

2 thành viên góp vốn

và từ 3 thành viên gópvốn trở lên; phù hợpvới mô hình công tyTNHH và CTCP để cóthể vận dụng cơ chếquản trị, tài chính theo

mô hình doanh nghiệptheo đúng tinh thần của

NQ 19

Nội dung giải trình:

Dự thảo Luật không quy định cơ sở GDĐH tưthục là doanh nghiệp để đảm bảo thực hiệnđúng quan điểm “không thương mại hóa giáodục”, cơ sở GDĐH được thành lập không đơnthuần là để nhằm kinh doanh tìm kiếm lợinhuận Nếu quy định sẽ gây bức xúc trong một

bộ phận không nhỏ của xã hội (ý kiến của nhiềuđại biểu tham gia các hội thảo lấy ý kiến đã thểhiện rõ điều này) Quy định như Dự thảo về cơbản vẫn giữ theo quy định tại Quyết định số70/2014/TTgCP (đại hội đồng cổ đông, hộiđồng quản trị, ban kiểm soát), thực tế thực hiệntrong những năm qua không có vướng mắc gì

Dự thảo chỉ luật hoá quy định này, đồng thời,quy định rõ 3 mô hình cơ sở giáo dục đại họcngoài công lập khác nhau tùy thuộc vào sốlượng người góp vốn (cơ sở GDĐH có một nhàđầu tư, hai nhà đầu tư và từ ba nhà đầu tư trởlên) để vận dùng mô hình quản trị, mô hình tàichính doanh nghiệp (mô hình công ty tráchnhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) theo tinhthần của Nghị quyết số 19

Thực tế, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ(GATS) của WTO có thừa nhận tính chất thươngmại của những dịch vụ giáo dục, đào tạo không sửdụng ngân sách nhà nước Tại Biểu cam kết dịch

vụ của Việt Nam trong WTO có quy định dịch vụgiáo dục nên Việt Nam phải thực hiện cam kết.Tuy nhiên, đây là cam kết mở cửa thị trường trongnước, tức là phải cho phép doanh nghiệp nướcngoài tiếp cận thị trường Việt Nam tối thiểu ở mứcnhư đã cam kết đối với 11 ngành dịch vụ, trong đó

Trang 16

có dịch vụ giáo dục và không được xem như dịch

vụ kinh doanh thông thường khác

Nếu cơ sở GDĐH tư thục là doanh nghiệp thìkhông đúng với quy định tại khoản 7 Điều 4Luật Doanh nghiệp năm 2014 (“Doanhnghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quyđịnh của pháp luật nhằm mục đích kinhdoanh”) Do vậy, dự thảo Luật chỉ quy định cơ

sở GDĐH tư thục theo mô hình doanh nghiệp

mà không áp dụng Luật Doanh nghiệp để phùhợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước vềviệc không thương mại hóa giáo dục đào tạo

Về Hội đồng trường (Điều 16): Đề nghị quy định rõ tỷ lệ thành

viên tham gia Hội đồng trường, đảm bảo quyền quyết định của đại

diện chủ sở hữu nhà nước

Tiếp thu, đã quy định

“đại diện” thay cho “01đại diện”; cụ thể sẽ quyđịnh ở văn bản dưới

luật

Về liên kết đào tạo với nước ngoài (Điều 45):

Đề nghị quy định rõ mô hình liên kết nếu không thành lập pháp

nhân mới Đồng thời có quy định chi tiết về việc phân định quyền,

trách nhiệm của các bên trong việc đảm bảo chất lượng, phân chia

lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động liên kết Đề nghị bổ sung quy

định “Chính phủ hướng dẫn nội dung này”

Tiếp thu, sẽ quy định ởcác văn bản dưới Luật

a Về cơ cấu tổ chức của đại học đề nghị lựa chọn phương án 2 vì cơ

cấu này phù hợp với mô hình phổ biến hiện nay là Đại học đa lĩnh

vực, trong đó các trường hay viện nghiên cứu thành viên như

những cơ sở GDĐH công lập Đồng thời, quy định như thế để

tránh nhầm lẫn với các trường đại học, học viện được quy định tại

Điều 14 dự án Luật sửa đổi

Tiếp thu

b Về công nhận Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trường đề nghị lựa chọn

phương án 2 vì quy định theo hướng này vẫn nhằm trao quyền tự

chủ cho các cơ sở GDĐH công lập trong công tác nhân sự Việc

bầu Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng vẫn được thực hiện theo quyết

Tiếp thu

Trang 17

nghị của Hội đồng trường Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm

quyền ra quyết định công nhận kết quả bầu của Hội đồng trường

Đề nghị ĐHQGHN quy định tiêu chuẩn năng lực chung đối với

chức danh hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng để thống nhất thực hiện

trong toàn hệ thống

Cơ cấu tổ chức của đại học chọn phương án 1 là “trường, viện

nghiên cứu” để phù hợp với thông lệ chung trên thế giới về tên gọi

cũng như mô hình đại học đa lĩnh vực

Tiếp thu

Hội đồng trường được hiểu là cơ quan quản trị có quyền lực cao

nhất trong trường đại học, do đó nên để Hội đồng trường là cơ

quan tổ chức thực hiện quy trình bầu Hiệu trưởng và các Phó Hiệu

trường, sẽ đánh giá đúng, chính xác về thực tế, năng lực cũng như

tiêu chuẩn trong hệ thống trường

ĐHQGHN sẽ là cơ quan giám sát việc thực hiện và công nhận,

đánh giá hiệu quả hoạt động Phương án này cũng giúp cải cách

được các thủ tục, giảm bớt được các đơn vị đầu mối, đẩy mạnh

công tác triển khai thực hiện chủ trương tại Nghị quyết số 19-NQ/

Khoản 3 đề nghị sửa lại: “Viên NC do CP thành lập” hay do “Thủ

tướng CP thành lập hoặc ủy quyền cho Bộ trương, Thủ trưởng cơ

quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủt hành lập tổ chức khoa

học và CN thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc CP” hay cả

hai loại hình trên Lý do căn cứ thẩm quyền thành lập tổ chức

KH&CN được quy định tại Điều 12 Luật KH&CN số

29/2013/QH13

Tiếp thu Viện NC doThủ tướng Chính phủthành lập

Bổ sung thêm từ cấp vào trước cum từ quản lý có thẩm quyền Lý

do như đối với bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng trường Đề nghị xem

xét độ tuổi bổ nhiệm đối với Chủ tịch Hội đồng trường và sửa đổi

khoản 4 Điều 16 nếu thấy không cần thiết giới hạn về độ tuổi

Nội dung giải trình:

- Cơ quan quản lý NN có thẩm quyền đã được quy định tại Điều 9, 49 của Luật hiện hành, không nên quy định thuật ngữ mới, không thống nhất với các thuật ngữ đã sử dụng

- Nghị quyết 19 quy định “bí thư đảng uỷ kiêmchủ tịch hội đồng trường” nên cần quy định

Trang 18

tuổi bổ nhiệm của Chủ tịch Hội đồng trường đểchuẩn bị thực hiện NQ 19

Khoản 1 mục b Điều 66 “quyết định việc sử dụng vốn tài sản và

giá trị thương hiệu của nhà trường để góp vốn, liên doanh liên kết

với các tổ chức và cá nhân trong và người nước thực hiện đào tạo,

nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ theo nguyên tắc bảo

toàn và phát triển vốn, tài sản nhà nước”

Lý do theo quy định tại NĐ số 16/2015/NĐ-CP ngà 14/2/2015 của

CP, đơn vị sự nghiệp công lập được “góp vốn liên doanh, liên kết

với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được

giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với

chức năng, nhiệm vụ được giao

Dự thảo 4 trình CP đã

bỏ khoản b này ở dựthảo 3 Dự thảo 4 chỉquy định khoản a và b(chuyển từ khoản c ở

dự thảo 3 lên)

Đề nghị bổ sung cụm từ “sau khi được giao vốn” tại khoản 1 Điều

67

Dự thảo 4 đã sửakhoản này theo hướng

khácKhoản 3 Điều 12 đề nghị bổ sung 1 số ưu đãi cho các cơ sở

GDDH công lập tự chủ hoàn toàn chi thường xuyên và chi đầu tư

như đối với các cơ sở GDĐH tư thục, đảm bảo nguyên tắc cạnh

tranh, bình đẳng, không phân biệt loại hình cơ sở GDĐH như nêu

tại khoản 2 sửa đổi

Tiếp thu

Về cơ cấu tổ chức của đại học đề nghị Ban soạn thảo xem xét, lựa

chọn theo phương án 1 “trường” và “viện nghiên cứu” để tên gọi

và cách hiểu trong tiếng Việt có sự tương đồng với tên gọi, cách

hiểu trong ngôn ngữ của các nước trên thế giới

Tiếp thu

Việc công nhận Hiệu trưởng và Hội đồng trường đề nghị chọn

phương án 2 vì lý do:

ĐHQGHN ban hành thống nhất tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm

chức danh chủ tịch HĐT, để đảm bảo quản lý chức danh này trên

mặt bằng năng lực chung trong toàn hệ thống Vì vậy, việc công

nhận chức danh do ĐHQGHN hay cơ quan quản lý có thẩm quyền

khác thực hiện chỉ là thủ tục, mà thủ tục sẽ được đơn giản, thuận

tiện hơn nếu các cơ sở GDĐH được giải quyết tại chỗ, nơi cơ quan

thẩm quyền đang giám sát, quản lý cơ sở GDĐH

Theo Nghị quyết số 19-NQ/TW, mục tiêu giảm mạnh đầu mối là

giảm mạnh đầu mối các đơn vị sự nghiệp công lập, không phải

trong quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Nghị quyết số

Tiếp thu

Trang 19

19-NQ/TW quy định tại nội dung số 7 phần II: “chuyển các đơn vị

sự nghiệp công lập có tính chất cung cấp dịch vụ sự nghiệp công

của đơn vị về chính quyền địa phương quản lý”

Như vậy, cơ quan quản lý có thẩm quyền quản lý các cơ sở

GDĐH của các bộ say này có thể là các địa phương

Đối với nội dung quản lý nhà nước Điều 68 đề nghị Ban soạn thảo

bổ sung nội dung về đặt hàng đào tạo (việc xây dựng, ban hành

các quy định về đấu thầu, đặt hàng, danh mục dịch vụ đặt hàng, số

lượng, khối lượng đặt hàng hằng năm ) và các tiêu chí đánh giá

kết quả thực hiện của các đơn vị, chất lượng dịch vụ của đơn vị

Đối với các nội dung đã dự thảo, đề nghị làm rõ trách nhiệm của

quản lý nhà nước trong quản lý đảm bảo chất lượng, công tác

nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, sản xuất, kinh doanh,

hoạt động hợp tác quốc tế

Đã tiếp thu, quy địnhtại Khoản 7, Điều 66

Điều 68 chỉ quy địnhkhái quát nên nội dunggóp ý đã được lồngghép trong khoản 2, 4của Điều 68

Đề nghị sửa lại khoản 9, Điều 40 như sau: “ Được quyền sở hữu

kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng

ngân sách nhà nước, bảo đảm cơ chế phân chia lợi ích hợp lý đối

với tác giả và các bên liên quan theo quy định của pháp luật về sở

hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ"

Tiếp thu

Đối với trách nhiệm của nhà nước về phát triển khoa học và công

nghệ quy định tại Điều 42 dự thảo, nên xem xét, cân nhắc việc đề

xuất “ưu tiên đầu tư cho các cơ sở GDĐH có tiềm lực mạnh về

nhân lực nghiên cứu và triển khai ứng dụng”, thay vào đó là đề

xuất “tập trung đầu tư” để hình thành một số cơ sở GDĐH mạnh

về nghiên cứu, mạnh về thực hành có uy tín trên khu vực và thế

giới, được thế giới công nhận và xếp hạng (tương ứng với các

chính sách của Chính phủ ban hành về mô hình đại học định

hướng nghiên cứu và mô hình đại học định hướng ứng dụng như

quy định tại khoản 3, Điều 9 dự thảo)

Tiếp thu

Đối với quy định về mở ngành đào tạo tại Điều 33 dự thảo: đề

nghị ĐHQGHN xem xét việc quy định về điều kiện mở ngành đào

tạo mới theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với xu thế hiện đại, xu

hướng phát triển khoa học và công nghệ của thế giới, đáp ứng nhu

cầu đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành, lĩnh vực khoa học

mới

Tiếp thu

Ngày đăng: 01/08/2022, 15:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w