hoạt động giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệvới nước ngoài trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước.b Về giảng viên Điều 54, 55 Các quy định
Trang 1VĂN PHÒNG ĐHQGHN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG
Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học
có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập quốc tế của đất nước
Bên cạnh những tác động tích cực, Luật GDĐH cũng bộc lộ những hạnchế, vướng mắc nhất định, từ sự bất cập của một số quy định trong Luật cho đến
cơ chế thi hành pháp luật, dẫn đến tình trạng một số quy định của Luật chưa đivào cuộc sống, chưa đáp ứng tốt nhu cầu xã hội, nhất là trong lĩnh vực tự chủđại học, quản trị đại học, quản lý đào tạo và quản lý Nhà nước về GDĐH Hơnnữa, sau thời điểm Luật GDĐH có hiệu lực, hàng loạt chủ trương, chính sáchcủa Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước mới ra đời có ảnh hưởng trực tiếpđến việc thực hiện Luật GDĐH như: Hiến pháp năm 2013, Luật giáo dục nghềnghiệp (2014), Luật tổ chức Chính phủ (2015), Luật ban hành văn bản quyphạm pháp luật (2015), Luật tổ chức chính quyền địa phương (2015), Luậtdoanh nghiệp (2014), Luật đầu tư (2014), Luật đầu tư công (2014), Luật ngânsách nhà nước (2015), Luật phí và lệ phí (2015), Nghị quyết số 29-NQ/TW,Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới
cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014 - 2017 vàcác quy định khác của pháp luật liên quan,…
Do vậy, một số quy định về thẩm quyền ban hành văn bản, các tiêuchuẩn, nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục được quy định tại Luật GDĐHkhông còn phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, cần phải sửa đổi,
bổ sung Cùng với đó, những nội dung mới đặt ra trong Nghị quyết số 29 của
Trang 2Trung ương Đảng; những vấn đề và xu hướng mới đặt ra từ thực tiễn phát triểnGDĐH của Việt Nam cũng như các nước tiên tiến trên thế giới; những bất cập
từ tổng kết 05 năm thực hiện Luật GDĐH; những yêu cầu và nguyên tắc phápquyền chế định trong Hiến pháp 2013, đặt ra cho GDĐH những vấn đề bất cậpcần giải quyết để đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển đất nước
II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
Để thực hiện các mục tiêu trên, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật GDĐH dự kiến sửa đổi, bổ sung 41 điều của Luật GDĐH số08/2012/QH13, tập trung vào các vấn đề:
1 Về hệ thống các cơ sở GDĐH
2 Về phân tầng, xếp hạng các cơ sở GDĐH
3 Về chính sách của Nhà nước đối với GDĐH
4 Về hoạt động đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, tài chính,tài sản trong GDĐH
5 Về kiểm định và đảm bảo chất lượng GDĐH
6 Về tự chủ, trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH và quản lý Nhànước về GDĐH
Các vấn đề trên được khái quát thành 4 chính sách được lựa chọn đểđánh giá tác động như sau:
- Chính sách 1: Mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả tự chủ đại học.
- Chính sách 2: Đổi mới quản trị đại học.
- Chính sách 3: Đổi mới quản lý đào tạo.
- Chính sách 4: Đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện thực hiện tự
Trang 3tự chủ đối với cơ sở GDĐH đã tạo hành lang pháp lý cho các cơ sở GDĐHhoạt động hiệu quả hơn Tuy nhiên, chưa có nhiều cơ sở GDĐH công lập thựchiện tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP Đối với những cơ sở GDĐH đã tự chủtheo chủ trương thí điểm, việc tự chủ cũng chưa thực sự đem lại hiệu quả, cụthể như: tự chủ chưa gắn với trách nhiệm giải trình, đổi mới quản trị đại học;
tự chủ chưa được thực hiện đồng bộ trên phương diện như đào tạo, nghiên cứukhoa học, hợp tác quốc tế, tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản
Cụ thể như sau:
a) Về hoạt động tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu, hợp tác quốc tế:
Quy định của Luật chưa làm rõ các cơ sở GDĐH được mở ngành khiđáp ứng được những tiêu chí cơ bản nào Về chỉ tiêu và tổ chức tuyển sinhchưa được xác định theo ngành, nhóm ngành đào tạo trên cơ sở nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, phù hợp với cácđiều kiện về số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, và cácđiều kiện đảm bảo chất lượng khác Luật GDĐH chưa xác định rõ vai trò củacác tổ chức đoàn thể xã hội, các doanh nghiệp những chủ thể trực tiếp sử dụngsản phẩm đào tạo của đại học, cơ sở giáo dục trong việc tham gia xây dựngchương trình đào tạo; xác định chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo củacác đại học, cơ sở GDĐH
Các quy định về nghiên cứu khoa học trong Luật mang tính chung chung,theo tinh thần phát động là chính Quy định về chuẩn giờ nghiên cứu khoa họcnhư các quy định hiện nay được hiểu nghiên cứu khoa học là nghĩa vụ củagiảng viên, mà không phải là quyền để khuyến khích và thúc đẩy hoạt độngnghiên cứu khoa học Nếu một giảng viên thiếu giờ nghiên cứu khoa học thì bịtrừ vào giờ giảng, nhưng nếu giảng viên thừa giờ nghiên cứu khoa học thì lạikhông được tính vào giờ giảng Như vậy, không khuyến khích giảng viên tíchcực nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, việc triển khai hoạt động khoa họccông nghệ chưa đem lại nguồn thu đáng kể cho các cơ sở GDĐH, việc chuyểngiao công nghệ chủ yếu mới dừng lại ở các giải pháp công nghệ… Quy địnhcủa Luật chưa tạo động lực cho các cơ sở GDĐH tăng cường khả năng tiếpcận, truy cập các website về thông tin nghiên cứu khoa học trong và ngoàinước
Khi Luật đầu tư thay đổi, kéo theo các hình thức đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam trong lĩnh vực GDĐH cũng thay đổi nên các quy định của LuậtGDĐH liên quan đến hoạt động hợp tác quốc tế cũng cần phải chỉnh sửa, bổsung
Quy định hợp tác với nước ngoài còn hạn chế trong việc giao quyền tựchủ cho các cơ sở GDĐH liên kết đào tạo, đầu tư GDĐH ra nước ngoài đểkhuyến khích cơ sở GDĐH đầu tư, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong
Trang 4hoạt động giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệvới nước ngoài trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước.
b) Về giảng viên (Điều 54, 55)
Các quy định của Luật GDĐH cũng chưa phân định rõ vị thế, quyền,quyền lợi, trách nhiệm của giảng viên trong cơ sở GDĐH thực hiện cơ chế tựchủ khác với giảng viên trong cơ sở chưa thực hiện cơ chế tự chủ như thế nào?
ví dụ quyền lợi từ các khoản thu nhập của trường, quyền được giới thiệu, bầu,
bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh trong trường; quyền góp ý về chiếnlược, quy hoạch phát triển trường, quyền tham gia xây dựng các chính sách cóliên quan của trường, quyền được hợp tác lập công ty trong trường, liên kết vàtham gia liên kết ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh,…
Cơ chế phân bổ ngân sách, đầu tư, cơ chế quản lý tài chính chưa đượcquy định rõ ràng, chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư và quản lý chất lượng theo sảnphẩm đầu ra, chưa bình đẳng trong hệ thống cơ sở GDĐH, chưa gắn với cáctiêu chí phản ánh chất lượng và kết quả đầu ra của quá trình đào tạo Việc huyđộng vốn từ các tổ chức tín dụng và các tổ chức, cá nhân khác, hỗ trợ việccung cấp dịch vụ GDĐH theo nhu cầu của các cơ sở GDĐH vẫn còn hạn chế
Về quản lý tài sản đối với các cơ sở GDĐH thực hiện tự chủ cần tínhđến việc có tách hay không tách việc quản lý vốn và tài sản trong các cơ sởGDĐH ra khỏi cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH; nếu việc sửa đổi, bổ sungLuật GDĐH theo định hướng tách việc quản lý vốn tài sản trong các cơ sởGDĐH cho một cơ quan quản lý nhà nước khác, còn hệ thống quản lý nhànước về GDĐH thì chỉ chuyên về các nội dung quản lý GDĐH, thì quy định
Trang 5của Luật cần chế định rõ cơ quan quản lý vốn và tài sản nhà nước trong cáctrường đại học là ai? quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm thế nào? ai là người đạidiện chủ sở hữu vốn và tài sản của nhà nước trong các cơ sở giáo dục?
Nhìn chung, các quy định của Luật GDĐH chưa tạo hành lang pháp lýthuận lợi, thống nhất cho việc thực hiện tự chủ đại học trong toàn hệ thống vớimục tiêu phát huy hết khả năng chủ động, sáng tạo, nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các cơ sở GDĐH, bảo đảm thực hiện tốt sứ mệnh và mục tiêu nângcao chất lượng đào tạo trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với thếgiới Do tính chất đặc thù của hệ thống GDĐH, cơ chế đó chính là đổi mớiquản lý nhà nước và sự tham gia giám sát của xã hội, gắn với chế định rõ tráchnhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH Khi đó trách nhiệm giải trình là một chếđịnh pháp lý quan trọng để kiểm soát thực thi quyền lực và giám sát hoạt độngcủa các cơ sở GDĐH Tuy nhiên, các quy định của Luật chưa tạo hành langpháp lý để kiến tạo một môi trường GDĐH minh bạch, công khai, trong đó cơ
sở GDĐH phát huy được vai trò tự quyết của mình, nhưng đồng thời phải chịutrách nhiệm giải trình trước xã hội, người học và các bên có liên quan
d) Cơ chế cơ quan chủ quản
Các quy định của Luật GDĐH hiện hành chưa quy định rõ ràng về tráchnhiệm và quyền hạn giữa cơ quan chủ quản và cơ sở GDĐH công lập để thúcđẩy và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tự chủ đại học trên cả ba phương diện:hoạt động chuyên môn, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính tài sản Cơ sởGDĐH hiện còn bị quản lý bởi cơ quản chủ quản, cơ quản quản lý ngành, địaphương và cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH Ví dụ như việc bổ nhiệmHiệu trưởng các cơ sở GDĐH còn do các cơ quan chủ quản chỉ đạo (bộ, ngành,địa phương) nên chức danh hiệu trưởng phụ thuộc vào hiện trạng cán bộ củatừng cơ quan chủ quản, chưa được chuẩn hoá trên thực tế và chưa đáp ứng yêucầu tự chủ về tổ chức, nhân sự của cơ sở GDĐH Điều này làm giảm tính chủđộng, sáng tạo, kịp thời trong quản trị, quản lý và tổ chức thực hiện giáo dụcđào tạo của cơ sở GDĐH nên thực hiện tự chủ đại học chưa hiệu quả
Như vậy, việc quy định cơ chế Bộ chủ quản làm giảm hiệu quả thực hiện
tự chủ đại học và tính chủ động trong quản trị, quản lý và tổ chức thực hiệncủa cơ sở GDĐH
Việc xác lập cơ chế tự chủ trong cơ sở GDĐH cũng chưa được làm rõ
Để thực hiện tự chủ về tổ chức và nhân sự, Hội đồng trường là thiết chế quantrọng nhưng Luật GDĐH còn quy định quá chung chung, chưa quy định rõthành phần, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng trườngtrong trường đại học công lập, HĐQT trong trường đại học tư thục Về hoạtđộng chuyên môn trong đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế… cũngchưa rõ, chưa trở thành lĩnh vực mà các cơ sở GDĐH được tự chủ cao nhất,
Trang 6chưa phát huy năng lực chủ động, sáng tạo của đội ngũ các nhà khoa học trongcông tác đào tạo, khoa học công nghệ để đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượngcao, tạo ra “đột phá chiến lược” để phát triển nền kinh tế đất nước Nhìn chungcác quy định của Luật GDĐH chưa phân định rõ được chức năng quản trị vàchức năng quản lý giữa Hội đồng trường và Hiệu trưởng hay Ban giám hiệutrong mỗi cơ sở GDĐH công lập, làm ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình thựchiện tự chủ đại học.
đ) Về kiểm định và đảm bảo chất lượng
Trong bối cảnh các cơ sở GDĐH thực hiện tự chủ về tuyển sinh, tự chủ vềchương trình, tổ chức và quản lý đào tạo, in và cấp phát văn bằng thì việc quyđịnh cụ thể về kiểm định chất lượng là vấn đề hết sức quan trọng để đảm bảochất lượng GDĐH Do đó, tăng cường hoạt động kiểm định chất lượng GDĐHcần đi vào thực chất Cần có quy định về hậu quả pháp lý của việc không thựchiện kiểm định hoặc kiểm định không đúng chất lượng
Quy định của Luật về “đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượngGDĐH” chưa cụ thể, đồng thời nhiều nội dung thiết yếu để tiến hành hoạtđộng kiểm định chất lượng lại chưa được quy định Cụ thể như thẩm quyềnthành lập tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo, điều kiện hoạt động của tổchức kiểm định chất lượng đào tạo, quyền và nghĩa vụ của tổ chức kiểm địnhchất lượng đào tạo, xử lý kết quả kiểm định chất lượng đào tạo, thừa nhận kếtquả kiểm định chất lượng đào tạo, hay giải quyết tranh chấp về kết quả kiểmđịnh chất lượng đào tạo, xử lý vi phạm pháp luật về kiểm định chất lượng đàotạo… Thực tiễn triển khai các quy định này cho thấy, hoạt động kiểm định mặc
dù mang lại một số kết quả nhất định nhưng nhiều nơi vẫn mang tính hìnhthức Các nội dung trong kiểm định chất lượng đại học vẫn còn mang tính liệt
kê mà chưa đi vào thực chất của chất lượng đào tạo Nội dung kiểm định mớidừng lại ở bề ngoài, ở việc liệt kê các công việc, các thứ cần có mà chưa đi vàobên trong, vào hiệu quả của việc quản lý đào tạo đã mang lại gì cho người học.Kết quả kiểm định chất lượng đại học chưa được sử dụng một cách hiệu quảdẫn đến việc làm chiếu lệ, làm cho xong, làm cho có đối với một số trườnghoặc việc chạy đua thành tích của một số trường khác
Bên cạnh đó, các nội dung của Luật chưa làm rõ thẩm quyền, vai trò,trách nhiệm của các chủ thể đối với việc quy định điều kiện, thủ tục thành lập,cho phép hoạt động, giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quyđịnh điều kiện và thủ tục để tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoàiđược công nhận hoạt động ở Việt Nam ĐHQGHN quy định nguyên tắc hoạtđộng, cơ cấu tổ chức, trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức kiểm định chấtlượng giáo dục; quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập tổ chức kiểmđịnh chất lượng giáo dục; quyết định cho phép hoạt động, đình chỉ hoạt động,giải thể tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quyết định công nhận, thu hồi
Trang 7quyết định công nhận tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài hoạtđộng ở Việt Nam; tiêu chuẩn và quy trình đánh giá tổ chức kiểm định chấtlượng giáo dục; cũng như quy định về mạng lưới tổ chức kiểm định chất lượngGDĐH.
e) Về trách nhiệm giải trình
Vấn đề tự chủ và trách nhiệm giải trình chưa được chế định đồng bộquyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của tất cả các chủ thể liên quan, kể cảnhà nước (nhà trường và các chủ thể bên ngoài và với các chủ thể bên trongnhà trường) Trong đó, ngoài chế định chung đối với tất cả các cơ sở GDĐHnhưng đồng thời cần có chế định cụ thể đối với các lĩnh vực đặc thù và cáctrình độ theo năng lực tự chủ cụ thể Theo đó, Luật GDĐH cần được sửa đổi,
bổ sung theo hướng quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH phải gắn liền với tráchnhiệm giải trình trong các hoạt động về tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản,đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế phù hợp với năng lực tự chủ,bảo đảm chất lượng GDĐH
1.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề
- Thực hiện chủ trương tự chủ GDĐH và tạo cơ sở pháp lý cao, đồng bộ
để đưa các nội dung của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP về cơ chế tự chủ củađơn vị sự nghiệp công lập vào lĩnh vực GDĐH; mở rộng diện thực hiện Nghịquyết số 77/NQ-CP của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đốivới các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017 và tạo định hướng cho việcthực hiện Nghị định về quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH công lập mà BộGiáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa trình Chính phủ để cụ thể hoá Nghị định số16/2015/NĐ-CP trong lĩnh vực GDĐH; quy định rõ hơn về cơ chế tự chủGDĐH để đảm bảo giao quyền tự chủ cho tất cả các cơ sở GDĐH trong hệthống
- Khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về tự chủGDĐH, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho tổ chức và hoạt động của các cơ sởGDĐH để nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý nhà nước trongđiều kiện đào tạo chất lượng cao và hội nhập quốc tế Chế định đồng bộ cơ chế
tự chủ cho các cơ sở GDĐH, trong đó chế định đồng bộ quyền, nghĩa vụ, tráchnhiệm, quyền lợi của tất cả các chủ thể liên quan (cơ sở GDĐH, các chủ thểbên trong và bên ngoài cơ sở GDĐH)
1.3 Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Giữ nguyên như quy định của Luật GDĐH hiện hành
Giải pháp 2: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH liên quan tới
tự chủ của các cơ sở GDĐH, gồm 13 (các điều: 32, 33, 39, 40, 41, 43, 45, 64,
65, 66, 67, khoản 5 Điều 12, khoản 2 Điều 16)
Trang 81.4 Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và các đối tượng khác có liên quan
1.4.1 Giải pháp 1: Giữ nguyên quy định Luật GDĐH hiện hành
Giữ nguyên quy định tại các Điều 32, 33, 39, 40, 41, 43, 45, 64, 65, 66,
67, khoản 5 Điều 12, khoản 2 Điều 16
a) Tác động về kinh tế
Không phát sinh chi phí đối với Nhà nước, cơ sở GDĐH và người dân
do không phải sửa đổi Luật
b) Tác động về xã hội
* Tác động tích cực: Không làm thay đổi cơ chế tự chủ trong hệ thốngGDĐH hiện tại Tuy nhiên, giải pháp này không giải quyết được các vướngmắc, hạn chế phát sinh khi thực hiện tự chủ đại học từ việc thi hành LuậtGDĐH
* Tác động tiêu cực:
Quyền tự chủ đại học của cơ sở GDĐH chưa trở thành chính sách củaNhà nước, vẫn chưa thực sự toàn diện, quyền tự chủ chưa gắn liền với tráchnhiệm giải trình
Quyền tự chủ đại học của cơ sở GDĐH vẫn chưa thực sự toàn diện; cơchế xin-cho vẫn còn tồn tại cản trở các cơ sở GDĐH chủ động, đặc biệt trongviệc mở ngành đào tạo phù hợp với năng lực của mình và nhu cầu xã hội; vấn
đề hợp tác quốc tế trong giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế vềgiáo dục; chưa tạo động lực phát triển nghiên cứu khoa học vì còn cơ chế càobằng trong đầu tư; cơ sở GDĐH công lập bị hạn chế nhiều trong việc quản lýtài chính và tài sản
Luật GDĐH là văn bản có hiệu lực cao nhất điều chỉnh lĩnh vực GDĐH
Vì vậy, nếu không điều chỉnh thì không làm thay đổi hệ thống GDĐH hiện tại,không thúc đẩy đổi mới GDĐH Việt Nam, thực hiện tự chủ đại học hiệu quảthấp và khó nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản,toàn diện GDĐT và hội nhập quốc tế
Trang 9Chính sách không ảnh hưởng đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện
và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới do chính sách được áp dụngchung, không có sự phân biệt về giới
1.4.2 Giải pháp 2
1.4.2.1 Chính sách tự chủ và quyền tự chủ đại học (Điều 12, Điều 32)
* Tác động về kinh tế
- Đối với Nhà nước:
+ Tác động tích cực: Không phát sinh lợi ích kinh tế cho Nhà nước.+ Tác động tiêu cực: Phát sinh chi phí xây dựng văn bản hướng dẫn về
tự chủ đại học, mức độ tự chủ của cơ sở GDĐH; chi phí hướng dẫn, tập huấnnội dung tự chủ đại học; chi phí tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát tráchnhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH
- Đối với cơ sở GDĐH và người học: không phát sinh chi phí cho cơ sởGDĐH và người học
* Tác động về xã hội
- Tác động tích cực: Thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước chính sách tựchủ đại học, khẳng định Nhà nước đảm bảo quyền tự chủ của cơ sở GDĐHnhưng phải gắn liền với trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH; Do được quyđịnh cụ thể về tự chủ, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến GDĐH có thể ápdụng dễ dàng; trách nhiệm và quyền hạn được xác định rõ ràng tạo điều kiệnthuận lợi cho các cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ; Dự báo chính sách sẽmang lại hiệu ứng tích cực như tạo tiền đề cho các quy định cụ thể về tự chủđại học trong Luật GDĐH và các văn bản hướng dẫn chi tiết; Quy định rõràng, cụ thể về quyền tự chủ của cơ sở GDĐH khiến xã hội tin tưởng hơn vàochính sách của Nhà nước về GDĐH, yên tâm hơn khi người học được họctrong môi trường giáo dục đang tiến dần tới các chuẩn mực quốc tế; Có thểgóp phần giải quyết tận gốc vấn đề của GDĐH về quyền tự chủ đại học, đạtđược mục tiêu mở rộng phạm vi, nâng cao hiệu quả tự chủ đại học vì quyền tựchủ đại học đã được luật hóa khá cụ thể; Góp phần nâng cao chất lượngGDĐH thông qua việc tự chủ của các cơ sở GDĐH
- Tác động tiêu cực: Tự chủ phải gắn liền với trách nhiệm giải trình đểcân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của cơ sở GDĐH Chính sách tự chủ dễ bịlợi dụng để chỉ hưởng quyền mà không thực hiện nghĩa vụ, gây thiệt hại chongười học và xã hội Vì thế chính sách này chỉ phát huy hiệu quả nếu tăngcường thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát chặt chẽ và có chế tài nghiêmkhắc đối với những hành vi vi phạm để trục lợi Việc Điều 32 chỉ quy địnhngắn gọn về nguyên tắc chung của quyền tự chủ đại học và giao cho Chính
Trang 10phủ quy định chi tiết để có thể quy định chi tiết đối với các mức độ tự chủ vàcác đối tượng tự chủ khác nhau.
* Tác động về thủ tục hành chính
Không làm phát sinh mới thủ tục hành chính
* Tác động tới hệ thống pháp luật
Ban hành mới Nghị định của Chính phủ về tự chủ đại học
* Tác động về giới và quyền con người
Chính sách không ảnh hưởng đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện
và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới do chính sách được áp dụngchung, không có sự phân biệt về giới
1.4.2.2 Chính sách tự chủ cụ thể về mở ngành đào tạo, tự chủ trong lĩnh vực khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, tài chính, tài sản (Điều 33, 39,
40, 41, 43, 45, 64, 65, 66, 67)
* Tác động về kinh tế
- Đối với Nhà nước:
+ Tác động tích cực: Có thể tăng nguồn thu ngân sách từ thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với các khoản thu dịch vụ theo nhu cầu xã hội
+ Tác động tiêu cực: Có nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước nếu không
có cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hiệu quả việc quản lý và sử dụng tài sảncủa các trường công lập
- Đối với các cơ sở GDĐH và người học:
+ Tác động tích cực: Các cơ sở GDĐH có cơ hội tăng nguồn thu từ học phí
và các nguồn thu hợp pháp khác, trong đó có thu từ dịch vụ để đầu tư nhiều hơncho cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đào tạo vànghiên cứu khoa học Người học có thể chi trả học phí tương xứng với dịch vụđào tạo (kể cả dịch vụ công do cơ sở đại học công lập cung cấp)
+ Tác động tiêu cực: Có nguy cơ làm thất thoát tài sản nhà nước trongcác cơ sở GDĐH công lập nếu việc quản lý và sử dụng tài sản của không tuânthủ nghiêm các quy định pháp luật; Mức học phí có thể tăng cao, người họcphải đóng học phí cao hơn, nhưng có thể không tương xứng với các điều kiện
và chất lượng đào tạo
* Tác động về xã hội
- Tác động tích cực: Thể chế hóa quan điểm của Đảng về "từng bướcbảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo
Trang 11công lập.", tạo cơ sở pháp lý cho các cơ sở GDĐH phát huy năng lực trongviệc sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển Các cơ sở GDĐH được chủđộng trong các hoạt động GDĐH, gần với thông lệ quốc tế; Các cơ sở GDĐH
tự chủ trong việc mở ngành, tổ chức các hoạt động GDĐH; Giảm gánh nặngquản lý nhà nước khi Nhà nước chỉ quy định khung giá học phí ở trường cônglập trên nguyên tắc định giá tương xứng với chất lượng đào tạo; Các cơ sở đàotạo tự chủ không sử dụng ngân sách nhà nước được chủ động quy định mứcthu học phí bù đắp chi phí đào tạo và có tích lũy hợp lý để chủ động sử dụngnguồn lực tài chính phù hợp với các điều kiện, chất lượng đào tạo và mục tiêu,định hướng phát triển của mình; Tạo điều kiện cho cơ sở GDĐH được chủđộng sử dụng hiệu quả tài sản đáp ứng yêu cầu của thị trường, công khai, minhbạch, bảo tồn và phát triển vốn, nâng cao chất lượng đào tạo; Tăng tính chủđộng và tự quyết định, tự chịu trách nhiệm trong quyết định đầu tư, liên doanhliên kết của cơ sở GDĐH, tăng cơ hội quốc tế hóa giáo dục để nâng cao nănglực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế; Việc quy định các cơ sở GDĐH đượcquyết định chủ trương đầu tư, sử dụng vốn… sẽ khuyến khích các cơ sở chủđộng, sáng tạo, huy động nguồn thu hợp pháp để tăng cường cơ sở vật chất,trang thiết bị đồng thời tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình;Minh bạch hóa việc quản lý và sử dụng tài chính, tài sản khiến các nhà đầu tưyên tâm đầu tư phát triển GDĐH; Giải quyết được những vấn đề vướng mắccủa các cơ sở đại học thực hiện Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10năm 2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH cônglập giai đoạn 2014-2017
- Tác động tiêu cực: Người học và người chi trả cho việc học (ngườithân, đơn vị sử dụng lao động, tổ chức bảo trợ…) có thể phản ứng về việc tănghọc phí của các cơ sở GDĐH, nhất là trong trường hợp học phí không tươngxứng với chất lượng đào tạo; Học phí theo giá dịch vụ được điều tiết bởi thịtrường, nên không tránh khỏi mặt trái của nó là có thể có những sinh viênkhông đủ điều kiện theo học các trường mong muốn Tuy nhiên, đã có giảipháp hạn chế mặt tiêu cực bằng cơ chế tín dụng sinh viên để sinh viên đượcvay tiền theo học các cơ sở GDĐH phù hợp; Có thể xảy ra khả năng việc quyđịnh cơ sở GDĐH tự quyết định mức phí có thể dẫn đến nguy cơ mất khả năngkiểm soát và tạo sự cạnh tranh thiếu lành mạnh Điều này có thể được giảiquyết tại khoản 2 điều 65 của dự thảo: giao Chính phủ quy định, đồng thờiLuật Giá cũng đã khống chế khung giá đối với dịch vụ giáo dục đào tạo.Trường hợp tạo môi trường cạnh tranh theo cơ chế thị trường, sẽ sử dụngphương án điều chỉnh quy định về khung giá tại Luật Giá Các trường phải tự
cơ cấu lại tổ chức, vị trí việc làm, có thể phát sinh việc cắt giảm lao động, đàothải lao động không đáp ứng yêu cầu; Nếu buông lỏng khâu quản lý, thanh tra,kiểm tra, trách nhiệm giải trình, tự chủ trong việc phê duyệt đề án liên kết đàotạo với nước ngoài có thể dẫn đến những những bất cập về chất lượng chương
Trang 12trình liên kết đào tạo, công nhận bằng cấp, gây lãng phí thậm chí thiệt hại vềtài sản, tiền bạc, thời gian; Nếu không có biện pháp quản lý đối với các tổ chứckiểm định chất lượng đào tạo bảo đảm cho các tổ chức này thực sự là các tổchức kiểm định độc lập thì có thể dẫn đến những tiêu cực trong việc kiểm định
để tạo điều kiện cho các cơ sở GDĐH đủ điều kiện được tự chủ mở ngành, liênkết đào tạo với nước ngoài
* Tác động về thủ tục hành chính
Bãi bỏ phần lớn cơ chế xin - cho trong mở ngành đào tạo, liên kết đàotạo, giảm thủ tục hành chính liên quan đến xin cấp phép (mở ngành, liên kếtđào tạo…), chỉ phát sinh thủ tục thông báo, báo cáo cho Bộ Giáo dục đào tạo
* Tác động tới hệ thống pháp luật
Sửa đổi Điều 64 Luật này dẫn đến việc phải sửa Điều 101 - Các nguồntài chính đầu tư cho giáo dục trong Luật Giáo dục năm 2005 để tạo sự thốngnhất, đồng bộ
Sửa đổi Điều 65 Luật này dẫn đến việc phải sửa Điều 105 - Học phíCác nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục (khoản 1 và khoản 2 về định nghĩahọc phí và thẩm quyền quyết định mức thu học phí trong GDĐH) trong LuậtGiáo dục năm 2005 để tạo sự thống nhất, đồng bộ
Sửa đổi Điều 66 Luật này dẫn đến việc phải sửa Điều 66 quy định vềchế độ tài chính đối với trường dân lập, trường tư thục trong Luật Giáo dụcnăm 2005 để tạo sự thống nhất, đồng bộ
* Tác động về giới và quyền con người
Chính sách không ảnh hưởng đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện
và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới do chính sách được áp dụngchung, không có sự phân biệt về giới
1.4.2.3 Sửa đổi quy định về kiểm định và đảm bảo chất lượng GDĐH
Trang 13+ Việc bổ sung tiêu chuẩn và quy trình đánh giá tổ chức kiểm định chấtlượng giáo dục nhằm đảm bảo tính thống nhất, xác định rõ về năng lực để đảmbảo đồng đều về kết quả đánh giá, kiểm định giữa các trung tâm Đây cũng làkênh thông tin để phục vụ công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý nhànước và còn là thực hiện trách nhiệm giải trình với xã hội năng lực cũng nhưkết quả đánh giá của trung tâm
Đối với các trung tâm kiểm định, căn cứ vào các tiêu chuẩn để có kếhoạch, giải pháp phát triển trung tâm, cải tiến nâng cao năng lực cũng như tổchức các hoạt động một cách có hiệu quả theo đúng sứ mạng, mục tiêu vànguyên tắc hoạt động một tổ chức kiểm định
+ Hoạt động đảm bảo và kiểm định chất lượng sẽ có những chuyển độngmạnh mẽ nhất từ công tác quản lý nhà nước đến cơ sở GDĐH Trên cơ sở đó,các cơ sở đào tạo đại học phải coi trọng công tác kiểm định, từ đó góp phầnđảm bảo chất lượng đại học
+ Quy định chặt chẽ về kiểm định có thể dẫn tới tình trạng không nhiều
cơ sở đăng ký kiểm định
* Tác động về thủ tục hành chính
Không làm phát sinh mới TTHC
* Tác động đối với hệ thống pháp luật
Đảm bảo phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước về GDĐH
* Tác động về giới và quyền con người
Chính sách không ảnh hưởng đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện vàthụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới do chính sách được áp dụng chung,không có sự phân biệt về giới
1.5 Kiến nghị giải pháp lựa chọn (trong đó có xác định thẩm quyền ban hành chính sách để giải quyết vấn đề)
Qua phân tích, so sánh các mặt tích cực/hạn chế (tiêu cực) của 2 phương
án nêu trên, ĐHQGHN kiến nghị lựa chọn Giải pháp 2 để thực hiện Chính sách1: Mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả tự chủ đại học
Theo giải pháp nêu trên, dự thảo Luật đã được chỉnh lý, bổ sung như
Trang 14Giải pháp chung để thực hiện chính sách này là đề xuất sửa đổi 13 điềuliên quan đến tự chủ đại học (các điều: 32, 33, 39, 40, 41, 43, 45, 64, 65, 66,
67, khoản 5 Điều 12, khoản 2 Điều 16)
Thay đổi chính sách liên quan đến tự chủ đại học nhằm tạo cơ sở pháp lý
để các cơ sở GDĐH tự chủ hơn Để thực hiện được chính sách này, cần thayđổi một số quy định liên quan như: a) Chính sách tự chủ và quyền tự chủ đạihọc nói chung gồm sửa đổi, bổ sung các quy định chung về quyền tự chủ baogồm bổ sung chính sách về phát triển GDĐH (khoản 5 Điều 12); sửa đổi, bổsung Điều 32 theo hướng cụ thể hóa quyền tự chủ đại học; b) Chính sách tựchủ cụ thể trong mở ngành đào tạo (Điều 33); quyền của Hội đồng trường(khoản 2 Điều 16); trong lĩnh vực khoa học công nghệ (các điều 39, 40, 41);trong lĩnh vực hợp tác quốc tế (các điều 43, 45); trong lĩnh vực tài chính, tài sản(các điều 64, 65, 66, 67)
Các quy định được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định về quyền tựchủ gắn với trách nhiệm giải trình của cơ sở GDĐH; đồng thời sửa đổi, bổsung các điều, khoản liên quan (các điều 12, 16, 33, 45, 64-67,…) Tinh thầnđảm bảo tự chủ đại học được bao trùm, thể hiện trong các chương quy định về
tổ chức cơ sở GDĐH, hoạt động đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế,tài chính, tài sản của cơ sở GDĐH; đồng thời, đổi mới quản lý nhà nước nhằmgiúp cơ sở GDĐH phát huy nội lực trong thực hiện tự chủ, linh hoạt, sáng tạo,đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội và chịutrách nhiệm giải trình trong thực hiện sứ mệnh, mục tiêu và nhiệm vụ của nhàtrường, cạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng, hội nhập và phát triển.Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể như:
- Về tự chủ trong hoạt động chuyên môn:
Các cơ sở GDĐH được mở ngành (Điều 33) khi đáp ứng điều kiện đảmbảo chất lượng như được công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng cơ sởGDĐH, có nghị quyết thông qua chủ trương mở ngành của hội đồng trường,HĐQT và đáp ứng các điều kiện mở ngành theo quy định được tự chủ mởngành đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ; trừ các ngành thuộc nhómngành sức khoẻ, khoa học GDĐT giáo viên, an ninh quốc phòng phải được Bộtrưởng ĐHQGHN ra quyết định cho phép mở ngành
Về chỉ tiêu và tổ chức tuyển sinh (Điều 34) sửa đổi, bổ sung theo hướngchỉ tiêu tuyển sinh được xác định theo ngành, nhóm ngành đào tạo trên cơ sởnhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, phù hợpvới các điều kiện về số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất,
và các điều kiện đảm bảo chất lượng khác; cơ sở GDĐH tự chủ xác định chỉ
Trang 15tiêu tuyển sinh, công bố công khai chỉ tiêu tuyển sinh, chất lượng đào tạo vàcác điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở GDĐH; đảm bảo chấtlượng đầu ra đáp ứng nhu cầu xã hội
Về liên kết đào tạo với nước ngoài: các bên được tự chủ lựa chọn đối tácliên kết, xây dựng chương trình liên kết, tổ chức đào tạo liên kết phù hợp vớicác tiêu chuẩn chất lượng được quy định (Điều 45) Quy định quyền tự chủliên kết đào tạo của các đại học, các trường đại học đã thành lập hội đồngtrường và đã đạt kiểm định chất lượng Cơ sở GDĐH phải công bố công khaicác thông tin liên quan về chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, tínhpháp lý của văn bằng nước ngoài được cấp tại nước cấp bằng và tại Việt Namtrên trang thông tin điện tử của nhà trường và các phương tiện thông tin đạichúng
Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung các quy định về hợp tác quốc tế (ChươngVI), hoạt động khoa học công nghệ (Chương VII) của cơ sở GDĐH nhằm thựchiện các Nghị quyết của Đảng, để phù hợp với Luật Khoa học và Công nghệ,cũng như phù hợp với thực hiện tự chủ của các cơ sở GDĐH; thúc đẩy phongtrào khởi nghiệp, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ của các cơ
sở GDĐH
- Tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự:
Quy định về Hội đồng trường tại Điều 16 được sửa đổi, bổ sung theohướng Hội đồng trường là đại diện cho chủ sở hữu và cho các bên có liênquan, được quy định các quyền quan trọng và thực quyền như quyết nghị vềphương hướng, kế hoạch phát triển, tổ chức bộ máy; quyết định nhân sự hiệutrưởng, phó hiệu trưởng; ban hành quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tàichính Các quy định khác về Hội đồng trường được sửa đổi, bổ sung để phùhợp với tự chủ đại học trong bối cảnh thực tiễn hiện nay và định hướng chonhững năm tới
Bổ sung cơ cấu có doanh nghiệp trong cơ cấu tổ chức của cơ sở GDĐHtại Điều 14, 15; và cơ sở GDĐH có từ 51% vốn của nhà đầu tư nước ngoài trởlên được tự quyết định cơ cấu tổ chức Quy định khung về cơ cấu tổ chức,phân hiệu, văn phòng đại diện để các cơ sở GDĐH tự chủ thực hiện, trình đề
án thực hiện, nếu có nhu cầu
Quy định về Hiệu trưởng tại Điều 20 được sửa đổi, bổ sung theo hướngHiệu trưởng “là người đại diện theo pháp luật” của cơ sở GDĐH cho phù hợpvới Bộ luật dân sự Hiệu trưởng trường đại học công lập do cơ quan quản lýtrực tiếp công nhận trên cơ sở đề xuất của Hội đồng trường Hiệu trưởngtrường đại học tư thục do HĐQT bổ nhiệm
Giảng viên đã được công nhận đạt chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư
Trang 16thì được Hiệu trưởng bổ nhiệm chức danh giảng viên theo quy định của phápluật Đồng thời, bổ sung quy định cho phép giảng viên được ký hợp đồng vớicác tổ chức khác (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp…) vừa tiếp cận thực tiễn,vừa đa dạng hóa hình thức hợp tác với bên ngoài, gắn kết đào tạo, nghiên cứuvới thực tiễn và thực hiện nhiệm vụ xã hội đồng thời sử dụng có hiệu quảnguồn lực của cơ sở GDĐH.
- Về tự chủ tài chính, tài sản (điều 64-67):
Sửa đổi để chuyển học phí của cơ sở GDĐH sang quy định về định giádịch vụ đào tạo, phù hợp với Luật giá và Luật Phí và Lệ phí Cơ sở GDĐHcông lập được quyền chủ động xây dựng và quyết định mức giá dịch vụ đàotạo theo quy định của Chính phủ về giá dịch vụ đào tạo, đảm bảo tương xứngvới chất lượng đào tạo Giá dịch vụ đào tạo phải được công bố công khai chotừng năm học, khoá học cùng với thông báo tuyển sinh
Đối với việc quản lý tài chính của cơ sở GDĐH, dự thảo quy định cơ sởGDĐH công lập tự chủ toàn bộ hoặc một phần kinh phí (chi thường xuyên, chiđầu tư), có nghị quyết thông qua chủ trương của hội động trường được sử dụngnguồn tài chính trong việc quyết định các dự án đầu tư sử dụng nguồn thu hợppháp của cơ sở GDĐH và các nguồn hợp pháp khác do cơ sở GDĐH tự huyđộng; quyết định việc sử dụng vốn, tài sản và giá trị thương hiệu của nhàtrường để liên kết với các tổ chức và cá nhân thực hiện đào tạo, nghiên cứukhoa học và chuyển giao công nghệ theo nguyên tắc bảo toàn và phát triểnvốn, tài sản nhà nước; quyết định nội dung và mức chi từ các nguồn thu họcphí và thu sự nghiệp, nguồn kinh phí đặt hàng, giao nhiệm vụ, bao gồm cả chitiền lương, chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý và được quy định trong quychế chi tiêu nội bộ của cơ sở GDĐH
- Về trách nhiệm giải trình:
Trách nhiệm giải trình được sửa đổi, bổ sung theo hướng quyền tự chủcủa các cơ sở GDĐH phải gắn liền với trách nhiệm giải trình trong các hoạtđộng về tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và côngnghệ, hợp tác quốc tế phù hợp với năng lực tự chủ, bảo đảm chất lượng GDĐH(Điều 32)
- Lý do lựa chọn giải pháp:
Tạo cơ sở pháp lý để các cơ sở GDĐH thực hiện quyền tự chủ hiệu quảtheo đúng thuộc tính của cơ sở GDĐH; Đảm bảo phù hợp thực tiễn đang triểnkhai về tăng quyền tự chủ cho các cơ sở GDĐH, gắn với trách nhiệm xã hộicủa các cơ sở GDĐH
Trang 172 Chính sách 2: Đổi mới quản trị đại học
2.1 Xác định vấn đề bất cập
Quản trị đại học là vấn đề quan trọng đối với các cơ sở GDĐH Quản trịđại học tốt là yếu tố then chốt để cơ sở GDĐH phát huy sức mạnh, tinh thần tựchủ, tăng năng lực cạnh tranh đáp ứng đòi hỏi của xã hội và yêu cầu hội nhậpquốc tế hiện nay Luật GDĐH năm 2012 đã xây dựng khung pháp lý khá hoànchỉnh cho bộ máy quản trị cơ sở GDĐH, có sự phân biệt quản trị cơ sở GDĐHcông lập, tư thục và có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh những ưuđiểm vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong các quy định về quản trị đạihọc, cụ thể như sau:
- Về hội đồng trường/ HĐQT: Luật GDĐH quy định trường đại học cóhội đồng trường, đại học quốc gia và đại học vùng có hội đồng đại học, đại học
tư thục có HĐQT (điều 16, 17, 18) Hội đồng trường/hội đồng đại học ở trườngcông lập, mặc dù được coi là cơ quan quyền lực nhưng thực tế lại không cóquyền lực thực sự Hội đồng trường không có quyền bầu và miễn nhiệm hiệutrưởng hoặc giám đốc đại học (gọi chung là hiệu trưởng) nên về nguyên tắchiệu trưởng không phải chịu trách nhiệm trước hội đồng trường mà chỉ chịutrách nhiệm trước cơ quan chủ quản cấp trên Điều này dẫn đến hội đồngtrường đóng vai trò tư vấn hơn là một hội đồng quyền lực
Hội đồng trường, HĐQT là một cơ chế để thực hiện trách nhiệm caonhất về chiến lược – định hướng phát triển và trách nhiệm giải trình củatrường Khoản 2 Điều 16 quy định 02 chức năng của hội đồng trường là “tổchức quản trị” và “đại diện quyền sở hữu của nhà trường” nhưng Luật GDĐHchưa làm rõ được chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng trường; và việctriển khai quy định về hội đồng trường trong thực tế chưa phân định rõ đượcchức năng, quyền hạn của Hội đồng trường với Ban giám hiệu Điều này làmcho hội đồng trường không có thực quyền và nhiều cơ sở GDĐH công lậpkhông thành lập hội đồng trường cũng không bị chế tài gì, làm mất tínhnghiêm minh của Luật pháp Quy định “nhiệm kỳ của hội đồng trường …theonhiệm kỳ của hiệu trưởng” ngầm định rằng hiệu trưởng có quyền hạn cao hơnhội đồng trường là không phù hợp
Đối với các cơ sở GDĐH tư thục, HĐQT có đại diện của chính quyềnđịa phương nơi cơ sở GDĐH có trụ sở (Khoản 3 Điều 17) Điều này không phùhợp vì trường tư thục hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, đại diện chínhquyền không cần tham gia HĐQT và biểu quyết, mà có cơ chế giám sát thì mớiđúng chức năng Hơn nữa quy định này không phù hợp thực tế vì những nơi cónhiều trường tư thục như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh chính quyền địa phươngkhông đủ người am hiểu GDĐH để cử vào HĐQT các trường tư thục
Trang 18- Về hiệu trưởng, theo quy định hiện hành thì nhiệm kỳ của chủ tịch hộiđồng trường theo nhiệm kỳ của hiệu trưởng, trong khi đó phải ngược lại mớiphù hợp Các phó hiệu trưởng do cơ quan chủ quản bổ nhiệm dẫn đến các phóhiệu trưởng chưa thực sự bị ràng buộc trách nhiệm trước hiệu trưởng Hiệutrưởng trường đại học tư thục vẫn phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyềncông nhận sau khi được bầu (Khoản 1 Điều 20) là không cần thiết.
Ngoài ra, đối với các cơ sở GDĐH ngoài công lập, quy định của LuậtGDĐH chưa quy định được về mô hình quản trị đối với các loại trường tư thụchoạt động vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận, trong đó chưa quy định rõ cácloại hình sở hữu đối với các loại trường này, làm ảnh hưởng tới sự phát triểncác loại hình trường vì cộng đồng xã hội
2.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề
- Thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản trị trong các cơ sởGDĐH theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW nhằm tạo rađổi mới thực sự trong nhận thức, tư duy quản lý và phương thức quản trịGDĐH;
- Khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về quảntrị GDĐH, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để các cơ sở GDĐH tổ chức bộ máyquản trị hoạt động hiệu quả, phù hợp với thông lệ quốc tế
- Thực hiện đổi mới cơ chế quản trị, quản lý trong các cơ sở GDĐHnhằm giúp các cơ sở giáo dục đào tạo thích ứng với những yêu cầu, đòi hỏi vềnguồn nhân lực có chất lượng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướngXHCN và hội nhập quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo
2.3 Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
- Giải pháp 1: Giữ nguyên theo quy định của Luật GDĐH
- Giải pháp 2: Sửa đổi, bổ sung 4 điều (các điều 16, 17, 18, 20) theohướng tăng thực quyền và phát huy vai trò của hội đồng trường, quy định cụthể hơn về HĐQT, quy định rõ hơn mối quan hệ giữa hội đồng trường và hiệutrưởng
2.4 Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và các đối tượng khác có liên quan
2.4.1 Giải pháp 1: Giữ nguyên quy định Luật GDĐH hiện hành
Giữ nguyên quy định tại các Điều 16, 17, 18, 20
* Tác động về kinh tế
Không phát sinh chi phí đối với Nhà nước, cơ sở GDĐH và người dân
do không phải sửa đổi Luật