1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 4

85 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệuquả dạy môn toán cùng với sự đổi mới giáo dục theo phương pháp tích hợp.Tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Xây dựng và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán Tiểu học

Người hướng dẫn khoa học:

ThS ĐÀO THỊ HOA

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Đào Thị Hoa làngười đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Cô đã dành nhiều thờigian đọc bản thảo, bổ sung và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quátrình xây dựng đề cương và hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa giáo dục tiểu học trườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp giảng dạy tôi, đã giúp tôi có cơ hộihọc tập và nâng cao trình độ về lĩnh vực lí luận và phương pháp dạy họcchuyên môn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô và các em học sinh trường tiểu họcĐồng Xuân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm

Do kiến thức, năng lực còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu còn nhiều thiếtsót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để đề tài đượchoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xuân Hòa, ngày 20 tháng 4 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Hải Yến

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Mở đầu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1

1.1 Dạy học tích hợp 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Các mức độ tích hợp 4

1.1.3 Vai trò của dạy học tích hợp 10

1.1.4 Khó khăn trong dạy học tích hợp 11

1.2 Bài tập tích hợp 12

1.2.1 Khái niệm bài tập tích hợp 12

1.2.2 Vai trò của bài tập tích hợp 13

1.2.3 Phương pháp chung giải bài tập tích hợp 14

1.3 Thực trạng dạy học các bài tập tích hợp về số tự nhiên ở khối lớp 4 16

1.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 16

1.3.2 Kết quả điều tra 17

Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SỐ TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH LỚP 4 25

2.1 Mục tiêu dạy học số tự nhiên ở lớp 4 25

2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4 26

2.2.1 Khái quát một số vấn đề về số tự nhiên trước lớp 4 26

2.2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4 26

2.3 Nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp 27

2.4 Cách thiết kế bài tập tích hợp 28

Trang 4

2.5 Quy trình xây dựng bài tập tích hợp 30

2.6 Hệ thống bài tập tích hợp về số tự nhiên cho học sinh lớp 4 33

2.6.1 Dạng 1: Tích hợp trong nội bộ môn học 33

2.6.2 Dạng 2: Tích hợp lồng ghép/liên hệ thực tiễn 37

2.6.3 Dạng 3: Tích hợp lồng ghép/liên hệ với các môn học khác 43

2.6.4 Dạng 4: Kết hợp tích hợp với môn học khác và liên hệ thực tiễn 49

2.7 Định hướng sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học về chủ đề số tự nhiên lớp 4 53

Kết luận chương 2 55

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 56

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 56

3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 56

3.4 Các giai đoạn thực nghiệm sư phạm 56

3.4.1 Khảo sát lớp thực nghiệm sư phạm 56

3.4.2 Thời gian thực nghiệm sư phạm 57

3.4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 57

3.4.4 Khảo sát sau khi thực nghiệm sư phạm 57

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 58

Kết luận chương 3 63

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Khuyến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 5

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, “Trẻ em là mầm non tương laicủa đất nước”, “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm nămthì phải trồng người”… Những câu nói này đã không còn xa lạ với mỗi chúng

ta, nó nói lên cho chúng ta thấy tầm quan trọng của thế hệ trẻ cũng như vai tròcủa việc giáo dục trẻ em Từ lâu giáo dục đã chiếm một vị trí quan trọng, lànền móng của sự phát triển kinh tế quốc dân, nó quyết định sự thịnh vượngcủa cả đất nước Trong đó giáo dục tiểu học lại càng quan trọng hơn, bởi tiểuhọc là một giai đoạn có ý nghĩa rất đặc biệt trong cuộc đời của một con người.Trong giai đoạn giáo dục này, diễn ra sự hình thành cơ sở nển tảng về mặtnhận thức, niềm tin, lòng tự trọng và tính tự chủ Chính vì thế trong hệ thốnggiáo dục của mỗi Quốc gia thì bậc tiểu học là một bậc học nền tảng, là cơ sởcho sự phát triển trí tuệ cũng như nhận thức của học sinh

Tuy nhiên, thực tế cho thấy giáo dục còn nặng về lí thuyết, nhẹ về thựctiễn, chưa chú trọng đúng mức giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng Năm

2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã thôngqua Nghị quyết về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo” Đó làchuyển mạnh từ quá trình giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển toàndiện năng lực, phẩm chất của người học Học đi đôi với hành, lí luận gắn liềnvới thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục

xã hội với mục tiêu phát triển con người một cách toàn diện và phát huy tốtnhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân

Ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quantrọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển tư duy, sáng tạo, pháttriển nhân cách cho người học Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểuhọc không chỉ có nhiều ứng dụng trong thực tế mà nó còn là cơ sở để học tập

Trang 6

các môn học khác và để học tiếp chương trình môn Toán ở các bậc cao hơn.Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện tư duy, suy luậnlogic, giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, suy nghĩ độc lập linh hoạtsáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết của conngười lao động mới như: cần cù, cẩn thận, kiên trì, ý chí vượt khó, làm việc

có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học Đáp ứng được nhu cầu pháttriển của xã hội Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số

tự nhiên, phân số, số thập phân và các đại lượng cơ bản Môn Toán là “chìakhóa” mở cửa cho các ngành khoa học khác và là môn học không thể thiếutrong nhà trường Trong đó chủ đề số tự nhiên là cơ sở, là nền tảng để họcsinh học tiếp các chủ đề tiếp theo của môn Toán Do đó để học tốt bộ mônToán cũng như các môn học khác và có cơ sở vững chắc để học các lớp tiếptheo thì cần phải nắm vững các kiến thức cơ bản về số tự nhiên và biết vậndụng chúng một cách linh hoạt

Tuy nhiên, trong thực tiễn, nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến mục tiêucung cấp kiến thức môn học cho học sinh mà chưa mở rộng kiến thức đếnnhững môn liên quan, cũng như hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh biết cáchvận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống Vì thế học sinh chưa cóthói quen vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề xung quanh.Học sinh mới chỉ đơn giản là tiếp nhận kiến thức từ thầy cô để giải các bài tậpđược giao Đó chỉ là hoạt động học một cách khuôn mẫu, máy móc khôngphát huy được sự linh hoạt sáng tạo của học sinh và học sinh không hiểu đượcvai trò, lợi ích của các kiến thức được học Đổi mới phương pháp dạy học,đầu tư hơn trong việc chuẩn bị giáo án giảng dạy, xây dựng bài tập cho họcsinh là vấn đề được chú trọng phát triển trong giáo dục hiện nay

Toán ở tiểu học nói chung và Toán lớp 4 nói riêng là một môn học trừutượng đối với học sinh vì thế trong dạy học giáo viên phải tạo các giờ học thú

Trang 7

vị, kéo gần những lí thuyết khó hiểu, những phép tính phức tạp lại gần vớicuộc sống của các em, từ đó gợi hứng thú học tập cho học sinh Dạy học tíchhợp là một trong những quan điểm dạy học nhằm nâng cao năng lực củangười học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giảiquyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại và làm cho việc học trở nên ý nghĩahơn đối với học sinh Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp học sinh sử dụngkiến thức được học trong nhà trường vào tình huống thực tiễn, nêu bật đượccác cách sử dụng kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội chứ không đơn thuần làcung cấp kiến thức cho học sinh Trên thực tế, trong khi giảng dạy, hầu hếtcác giáo viên đều chú trọng vào việc làm sao hướng dẫn học sinh xác địnhđược dạng Toán và giải được các bài toán đó mà ít khi khai thác các nội dunggiáo dục được tích hợp trong các bài toán đó Trong khi đó việc khai thác cácnội dung giáo dục trong quá trình giảng dạy của giáo viên là điều kiện tốt nhất

để hình thành ở học sinh những tình cảm, đạo đức, những hiểu biết thực tếsinh động Nếu tách rời toán học với thực tiễn, thì học sinh không bao giờnhận thức được, cảm nhận được sâu sắc ý nghĩa của vấn đề học tập

Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệuquả dạy môn toán cùng với sự đổi mới giáo dục theo phương pháp tích hợp.Tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tíchhợp trong dạy học số tự nhiên cho học sinh lớp 4” nhằm góp phần giúp sinhviên, giáo viên tiểu học có một cái nhìn tổng quan về dạy học tích hợp để từ

đó có thể xây dựng, sử dụng bài tập tích hợp có hiệu quả trong dạy học chủ đề

số tự nhiên nói riêng và dạy học môn Toán ở tiểu học nói chung

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiêncho học sinh lớp 4 và định hướng sử dụng hệ thống bài tập này nhằm góp

Trang 8

phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học chủ đề này nói riêng và dạy họcmôn Toán ở tiểu học nói chung.

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về tích hợp và bài tập tíchhợp

- Tìm hiểu thực trạng về việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp củachủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4

- Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học số tự nhiên cho họcsinh lớp 4 và định hướng sử dụng bài tập này

- Thực nghiệm sư phạm: Ki mể tra tính khả thi và hiệu quả của hệthống bài t pậ đã xây dựng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Số tự nhiên và các bài tập tích hợp về số tự nhiên trong chương trình

Toán 4

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài:

 Các văn bản, tài liệu chỉ đạo của Bộ GD & ĐT liên quan đến địnhhướng đổi mới phương pháp dạy học

 Tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học ở tiểu học

 Sách giáo khoa, phân phối chương trình, sách giáo viên Toán lớp 4

 Các sách tham khảo, Toán tuổi thơ, giúp em vui học Toán,…

5.2 Phương pháp quan sát – điều tra

- Dự giờ, quan sát việc dạy học của giáo viên và việc học của học sinhtrong quá trình xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp của chủ đề số

tự nhiên cho học sinh lớp 4

Trang 9

- Điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên về việc sử dụng bài tập tíchhợp ở trường tiểu học.

5.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tổng hợp ý kiến các chuyên gia: Trao đổi và thảo luận về những thuậnlợi, khó khăn khi tổ chức hoạt động học tập giúp phát triển tư duy sáng tạocho học sinh trong việc học tập môn Toán Tiểu học, đặc biệt là trong việc xâydựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4

5.4 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm sư phạm một số bài tập đã xây dựng để chứng minh tínhhiệu quả của các bài tập đó trong giảng dạy

5.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí định lượng các sốliệu, kết quả của việc điều tra và quá trình thực nghiệm sư phạm nhằm minhchứng cho những nhận xét, đánh giá và tính hiệu quả của đề tài

6 Giả thuyết khoa học

Nếu trong dạy học chủ đề số tự nhiên cho học sinh lớp 4 giáo viên xâydựng và sử dụng được hệ thống bài tập tích hợp một cách phù hợp thì sẽ nângcao chất lượng dạy học về chủ đề số tự nhiên nói riêng, về môn toán cho họcsinh lớp 4 nói chung

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học về chủ đề số tựnhiên cho học sinh lớp 4

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Dạy học tích hợp

1.1.1 Khái niệm

 Khái niệm tích hợp

Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: integrationvới nghĩa: xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộphận riêng lẻ [21]

Theo từ điển Anh – Anh (Oxford Advanced Learer’s Dictionany), từintegrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổngthể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau.Theo Từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức[20], nghĩa chung của từ integration có hai khía cạnh:

- Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riênglẻ

- Trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ

Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chươngtrình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa

là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”

Trên đây là một số quan điểm về tích hợp Tổng hợp các quan điểm trên, theotôi thì tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp một cách hài hòa giữa các lĩnhvực khác nhau, thể hiện được sự liên kết giữa các lĩnh vực này Tích hợp, bản thân

nó không mang nghĩa là phép cộng đơn giản mà nó là sự hợp nhất một cách khoahọc tạo nên sự liên kết hợp lí giữa các sự vật với nhau Trong lĩnh vực giáo dục,tích hợp là sự liên kết trên phương diện ý tưởng, phương pháp, nội dung giữa cáctri thức khoa học trong nội bộ môn học, giữa bộ môn này với bộ môn khác, giữa tri

Trang 11

diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa,cân đối, mang đến cho người học những trải nghiệm thực sự ý nghĩa, giúp học sinhhiểu sâu vấn đề, nhận ra được sự liên kết của mọi sự vật hiện tượng, qua đó tạo chohọc sinh một quá trình học tập ý nghĩa, sâu sắc và có tính ứng dụng Trong dạy họccác môn bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn

học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn học mới Ví dụ, môn thế giới công

nghệ là tích hợp từ môn kĩ thuật, thủ công; môn nghệ thuật tích hợp từ âm nhạc, mĩthuật Tích hợp cũng có thể được hiểu là sự lồng ghép các nội dung cần thiết vàonhững nội dung vốn có của một môn học trên cơ sở kiến thức liên quan giữa các

môn học Ví dụ, dạy học sinh nhận diện các hình hình học thông qua việc giải thích

một số biển báo an toàn giao thông, dạy về tỉ số gắn với việc phân tích mối tươngquan giữa các lực lượng trong một trận đánh lịch sử…

 Khái niệm dạy học tích

hợp

Trên thế giới và tại Việt Nam, dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu

sư phạm hiện đại Dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một

cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [13] Định nghĩa của UNESCO cho

thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ởhọc sinh những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quá trìnhdạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phốihợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống Nói một cách khác,dạy học tích hợp là dạy cho học sinh cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình

để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triểnnăng lực người học Ngoài ra, dạy học tích hợp liên hệ giữa kiến thức và kĩ năngcủa các chuyên ngành hoặc các môn học khác nhau để bảo đảm cho học sinh phát

Trang 12

huy có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình trong việc giải quyết các tình huống tích hợp cụ thể.

Theo từ điển Giáo dục học: “(Dạy học) Tích hợp là hành động liên kết cácđối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vựckhác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”[9] Trong dạy học tích hợp, các nhàgiáo dục học phân chia ra tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang(horizontal integration) Tích hợp dọc là “loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết haihoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”, còntích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiêncứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề [9]

Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy độngmọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp – có vấn đề nhằm phát triểncác năng lực và phẩm chất cá nhân [19] Trong dạy học tích hợp, học sinh dưới sựchỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữcủa môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác; học sinh học cách sử dụngphối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những thao tác để giải quyết một tìnhhuống tích hợp – thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình đó, học sinhnắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và phẩm chất cánhân

Như vậy, có thể nói dạy học tích hợp là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biếthuy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giảiquyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năngmới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đềtrong học tập và trong thực tiễn cuộc sống Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo đểmỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vào các hoàncảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách

Trang 13

1.1.2 Các mức độ tích hợp

Để giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan hơn về dạy học tích hợp, cũng nhưcác mức độ tích hợp, Bộ GD & ĐT đã tổ chức tập huấn giáo viên về dạy học tíchhợp, tài liệu tập huấn dạy học tích hợp [1] đã khái quát các mức độ tích hợp theocác quan điểm sau:

- Quan điểm của Forgaty (1991) đưa ra 3 dạng và 10 cách tích hợp:

 Dạng 1: Trong khuôn khổ các môn riêng rẽ: Chia thành các môn học,kết nối, lồng nhau

 Dạng 2: Tích hợp xuyên môn: Mô hình chuỗi tiếp nối, chia sẻ, nốimạng, cách tiếp cận luồng, tích hợp

 Dạng 3: Băng và thông qua việc học: Nhúng chìm, đắm mình; nốimạng

- Quan điểm của Xavier Rogier đưa ra 4 mức độ chính sau:

 Tích hợp trong nội bộ môn học: ưu tiên các nội dung của các môn học,tức nhằm duy trì các môn học riêng rẽ

 Tích hợp đa môn: một đề tài có thể nghiên cứu theo nhiều môn họckhác nhau

 Tích hợp liên môn: trong đó chúng ta phối hợp sự đóng góp của nhiềumôn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống

 Tích hợp xuyên môn: trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở học sinhnhững kĩ năng xuyên môn, nghĩa là những kĩ năng có thể áp dụng ởmọi nơi

- Quan điểm của SuSan M’Drake (2007) Xây dựng chương trình tích hợpdựa trên chuẩn, các môn học này được xây dựng theo mức độ tích hợp tăng dần

 Tích hợp trong một môn học: Tích hợp trong nội bộ môn học

 Kết hợp lồng ghép: Lồng ghép nội dung nào đó vào chương trình có sẵn

Trang 14

 Tích hợp đa môn: Có các chủ đề, các vấn đề chung giữa các môn học tuyrằng các môn vẫn nghiên cứu độc lập theo góc độ riêng biệt.

 Tích hợp liên môn: Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng

có những chủ đề, vấn đề, chuẩn liên môn, những khái niệm lớn và những ýtưởng lớn là chung

 Tích hợp xuyên môn: Cách tiếp cận từ cuộc sống thực và sự phù hợp đốivới học sinh mà không xuất phát từ môn học bằng những khái niệm chung.Đặc điểm khác với liên môn là: ngữ cảnh cuộc sống thực, dựa vào vấn đề,học sinh là người đưa ra vấn đề, học sinh là nhà nghiên cứu

Như vậy, có thể tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tích hợp, nhiều cáchtrình bày khác nhau về tích hợp Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tôi ủng hộ quan điểmcủa Susan M’Drake (2007) về tích hợp Dựa trên quan điểm 5 mức độ tích hợptrong dạy học của Susan M’Drake (2007) và tìm hiểu các mức độ trong “dạy họctích hợp – phát triển năng lực”[19], tôi khái quát các mức độ tích hợp như sau:

Tích hợp trong nội bộ môn học

Tích hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những nội dung trùng lặp,tập hợp các kiến thức liên quan giữa các phân môn, giữa các phần trong môn học

Sử dụng kiến thức của các phân môn để khắc sâu kiến thức và kĩ năng cho học sinh.Tích hợp những nội dung của các phân môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng mộtmôn học theo những chủ đề, chương, bài cụ thể nhất định Trong môn học, tích hợp

là một đơn vị học, một tiết học hay một bài tập có nhiều mảng kiến thức, kĩ năngliên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian chongười học Thông qua kiểu tích hợp nội bộ môn học này, người học có thể đạt đượchiểu biết về các mối quan hệ giữa những phân môn khác nhau và mối quan hệ giữachúng với thế giới xung quanh

Trang 15

Ví dụ, tích hợp giữa các phân môn số học, hình học, các đại lượng cơ bản tại

một số thời điểm Chẳng hạn ứng dụng số học, các đại lượng cơ bản trong hình họckhi tính diện tích chu vi và đổi các đơn vị đo độ dài

Ví dụ, khi dạy về tỉ số gắn với việc phân tích mối tương quan giữa các lực

lượng trong một trận đánh lịch sử; dạy về tỉ lệ, tỉ số, tỉ số phần trăm có thể liên kếtvới kiến thức về tỉ lệ các chất trong không khí, so sánh tốc độ, kích thước của một

số loài vật hoặc kết hợp với những kiến thức xã hội như tỉ lệ tăng dân số, tỉ lệgiống cây trồng của một địa phương nào đó

Trang 16

Tích hợp đa môn – “cường độ yếu”

Tích hợp đa môn tập trung vào các môn học Trong tích hợp đa môn, một đềtài có thể nghiên cứu theo nhiều môn học khác nhau, các môn liên quan với nhau

có chung một định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi mộtmôn có một chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chứccác chuẩn kiến thức của nhiều môn học xoay quanh một chủ đề/đề tài tạo điều kiệncho người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan

Ở đây các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các mônhọc và trong từng môn học bởi các chủ đề hay các đề tài chung Đây là một hìnhthức tích hợp phổ biến trong đó một đề tài hoặc một chủ đề được đưa qua lăng kínhcủa vài lĩnh vực môn học khác nhau

Tích hợp đa môn có thể được sơ đồ hóa như sau:

ToánTiếng Việt

Trang 17

Khi học sinh được học về một chủ đề, đề tài nào đó, các em sẽ được tiếp cận

các kiến thức từ nhiều bộ môn khác nhau Ví dụ, khi học sinh học về hình chữ nhật

trong bộ môn Toán, đồng thời các em được học cắt xé hình chữ nhật trong môn thủcông, vẽ trang trí hình chữ nhật trong môn mĩ thuật Cùng một vấn đề học sinhđược dạy ở nhiều môn cùng một lúc, tạo ra những kết nối giữa các lĩnh vực bộmôn, tức là các em sẽ giải quyết vấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộmôn khác nhau

Học sinh tiểu học có thể trải nghiệm cách học tích hợp đa môn này ở các góchọc tập của lớp Bằng cách giáo viên tổ chức giờ học theo chủ đề, và ở mỗi góchọc tập có một hoạt động cho phép học sinh tìm hiểu chủ đề từ góc nhìn của mộtmôn học: Toán, Tiếng Việt, Khoa học,… Khi đó học sinh sẽ di chuyển qua các góchọc tập để hoàn thành những hoạt động để lĩnh hội các kiến thức dưới lăng kínhcủa nhiều môn học

Tích hợp liên môn – “cường độ trung bình”

Tích hợp liên môn là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kếtlại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt quacác lớp Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình họctập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và các kĩnăng liên ngành, liên môn Họ kết nối các nội dung học tập chung nằm trong cácmôn học để nhấn mạnh các khái niệm và kĩ năng liên môn

Ví dụ, ở tiểu học môn tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội được tích hợp thành

môn tìm hiểu tự nhiên và xã hội

Tích hợp xuyên môn – “cường độ mạnh”

Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp Trong cách tiếp cận xuyênmôn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề được ngườihọc quan tâm Với tích hợp xuyên môn, học sinh có thể học và hình thành kiếnthức, kĩ năng ở nhiều thời điểm và thời gian khác nhau, theo sự lựa chọn của người

Trang 18

dạy hoặc người học Đây là cách tiếp cận những vấn đề từ cuộc sống thực và có ýnghĩa đối với học sinh mà không xuất phát từ những khái niệm, các kiến thức khoahọc tương ứng với môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới khác với mônhọc truyền thống Điều quan tâm nhất ở đây là sự phù hợp đối với học sinh Điểmkhác so với tích hợp liên môn đó là chúng bắt đầu bằng ngữ cảnh cuộc sống thực,dựa vào vấn đề, học sinh là người đưa ra vấn đề, học sinh là người nghiên cứu.

Tiến trình dạy học ở đây là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dungkiến thức bài học không thuộc về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khácnhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn họcriêng rẽ

Qua tích hợp xuyên môn, học sinh phát triển các kĩ năng sống khi họ ápdụng các kĩ năng môn học và liên môn vào thực tế cuộc sống Hai phương phápthường được sử dụng trong tích hợp xuyên môn là học theo dự án và thương lượngchương trình học

Học theo dự án là phương pháp học tập trong đó giáo viên giao một “dự án”cho người học, người học cần hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để cùng thiết kế một chươngtrình hoạt động, cùng hoạt động và cùng đánh giá kết quả hoạt động Học theo dự

án giúp người học làm chủ các hoạt động học tập của mình và phát triển kĩ nănglập chương trình, thực hiện hóa chương trình, tự nhận thức, thương lượng, giảiquyết vấn đề,…

Thương lượng chương trình học là phương pháp học tập trong đó có sự thỏathuận giữa người học và người học, người học có quyền lựa chọn chương trình phùhợp với trình độ và sở thích của họ, thậm chí họ có quyền tham gia vào quá trìnhthiết kế chương trình học Thương lượng chương trình học giúp người học tự tin vàhứng thú hơn trong học tập, giúp người dạy chọn nội dung, học liệu và phươngpháp giảng dạy phù hợp với người học, giúp người quản lí thấy được chất lượng và

Trang 19

Trong đề tài này, tôi tập trung vào việc xây dựng các bài tập tích hợp thuộcmức độ tích hợp trong nội bộ môn học và lồng ghép/liên hệ.

1.1.3 Vai trò của dạy học tích hợp

Hầu hết các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đều khẳng định tầm quan trọngcủa tích hợp trong dạy học Theo TS Nguyễn Thị Kim Dung (Dạy học tích hợptrong chương trình giáo dục phổ thông)[6], TS Võ Văn Duyên Em (Tích hợp trongdạy học bộ môn ở trường phổ thông)[7], PGS.TS Ngô Minh Oanh, TS TrươngCông Thanh (Thực trạng dạy học tích hợp, phân hóa hiện nay và đề xuất phát triểnchương trình, sách giáo khoa cho giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015) [14]

Thứ nhất, dạy học tích hợp góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện

của nhà trường Do các tri thức khoa học và kinh nghiệm của xã hội luôn phát triểnkhông ngừng, trong khi số môn học của học sinh thì giới hạn, nội dung kiến thứctrong sách không mang tính cập nhật và chưa phù hợp với tất cả học sinh Do vậy,không thể đưa quá nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường, cho dù những tri thứcnày là rất cần thiết Chẳng hạn những kiến thức về kĩ năng sống, về an toàn giaothông, giáo dục giới tính, bảo vệ môi trường,v.v.Vì vậy, việc sử dụng tích hợp cácnội dung này để dạy cho học sinh đã góp phần thực hiện mục tiêu phát triển toàndiện năng lực và phẩm chất người học

Thứ hai, dạy học tích hợp giúp thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ

năng và phương pháp của các môn học Dạy học tích hợp tạo mối liên hệ trong họctập bằng việc kết nối các môn học khác nhau, nhấn mạnh đến sự phụ thuộc và mốiquan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học đó Do vậy,dạy học tích hợp là phương pháp dạy học hiệu quả để kiến thức được cấu trúc mộtcách có tổ chức và vững chắc

Thứ ba, tích hợp trong dạy học giúp phát triển các năng lực, đặc biệt là trí

tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy linh hoạt, vận dụng thực tiễn, vì nó luôntạo ra các tình huống để học sinh vận dụng kiến thức gần với cuộc sống Giúp học

Trang 20

sinh học tập thông minh, vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cách toàn diện,hài hòa và hợp lí để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trong cuộc sốnghiện đại.

Thứ tư, dạy học tích hợp giúp tinh giản kiến thức tránh lặp lại các nội dung ở

các môn học Tránh những kiến thức, kĩ năng trùng lặp, phân biệt được nội dungtrọng tâm và nội dung ít quan trọng, các kiến thức hình thành trong bài học gắnliền với kinh nghiệm sống của học sinh, tạo điều kiện để hình thành và phát triểncho học sinh một cách hài hòa ở nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, dạy học tích hợpgiúp tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn đảm bảo tính tích cực, học sâu

Thứ năm, góp phần giảm tải tâm lí học tập Giúp học sinh thấu hiểu ý nghĩa

của các kiến thức cần tiếp thu, tạo cơ hội kích thích động cơ, lợi ích và sự tham giavào các hoạt động học Làm cho người học cảm thấy thú vị vì hoạt động học nhẹnhàng, nội dung học gần gũi với kinh nghiệm sống của bản thân.Việc học khi đótrở thành niềm vui, hứng thú của học sinh

1.1.4 Khó khăn trong dạy học tích hợp

Qua nghiên cứu, khảo sát thực trạng việc dạy học tích hợp nói chung và sửdụng bài tập tích hợp nói riêng của các giáo viên tiểu học, tôi thấy hiện đang tồn tạimột số khó khăn sau:

- Do thói quen thụ động trong quá trình dạy và học Học sinh chưa quenvới việc làm chủ quá trình học, tự học hay làm việc nhóm v.v Học sinh chưa cótính độc lập, còn phụ thuộc quá nhiều vào giáo viên, chưa tự giác trong học tập

- Khó khăn từ nội tại, giáo viên phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộccác môn học khác Với tâm lý quen dạy theo chủ đề đơn môn nên khi dạy theo chủ

đề tích hợp, liên môn, các giáo viên sẽ vất vả hơn Người dạy phải xem xét, rà soátnội dung chương trình sách giáo khoa hiện hành để loại bỏ những thông tin cũ, lạchậu, đồng thời bổ sung, cập nhật những thông tin mới, phù hợp Nó cũng yêu cầu

Trang 21

hướng phát triển năng lực học sinh nên không tránh khỏi làm cho giáo viên có cảm giác ngại thay đổi.

- Điều kiện cơ sở vật chất (thiết bị thông tin, truyền thông) phục vụ choviệc dạy học trong nhà trường còn nhiều hạn chế, nhất là các trường ở nôngthôn

- Đối với học sinh, dạy học tích hợp là cả một quá trình từ tiểu học đến trunghọc phổ thông nên giai đoạn đầu này, đặc biệt là thế hệ học sinh hiện tại đang quenvới lối mòn cũ nên khi đổi mới học sinh thấy lạ lẫm và khó bắt kịp

1.2 Bài tập tích hợp

1.2.1 Khái niệm bài tập tích hợp

 Khái niệm bài tập: Có nhiều khái niệm bài tập đã được đề cập

Theo cố GS Nguyễn Ngọc Quang “Bài tập là hệ thống thông tin xác định,bao gồm những điều kiện và những yêu cầu luôn luôn không phù hợp với nhau,dẫn tới nhu cầu phải khắc phục bằng cách biến đổi chúng”[16]

Từ những quan niệm và ý kiến trên có thể hiểu rằng “Bài tập là một hệ thốngthông tin được đưa ra một cách có vấn đề, đòi hỏi học sinh phải sử dụng nhữngkiến thức đã có bằng cách lập luận, tư duy hay tính toán để giải quyết vấn đề”

Hiện nay, các bài tập có thể phân thành các mức độ: biết – hiểu – vận dụng –sáng tạo Từ khái niệm về bài tập, theo tôi bài tập toán là những câu hỏi hay bàitoán về lĩnh vự toán học được sử dụng như là các vấn đề hoặc các tình huống họctập để học sinh suy luận, tư duy dựa trên nhưng kiến thức đã học Mục tiêu là khi

Trang 22

hoàn thành những câu hỏi hay bài toán này, học sinh sẽ nắm và khắc sâu được kiến thức đã học và rèn được một số kĩ năng nhất định.

 Khái niệm bài tập tích hợp:

Theo Phan Đồng Châu Thủy bài tập tích hợp là “dạng bài tập không chútrọng vào kĩ năng tính toán mà tập trung vào việc vận dụng các kiến thức liên môn

để giải quyết giải thích các vấn đề thực tiễn cuộc sống hoặc học tập.”

Theo tôi, để phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài, tôi quan niệm: “Bàitập tích hợp là dạng bài tập không chú trọng vào kiến thức môn học mà tập trungvào sự kết hợp giữa các nội dung trong cùng một môn học hay giữa các nội dungtrong nhiều môn học để giải quyết một vấn đề trong thực tiễn cuộc sống hoặc tronghọc tập.”

Ví dụ: Một xã có 5256 người Sau một năm số dân tăng thêm 79 người Sau

một năm nữa số dân lại tăng thêm 71 người Hỏi:

a) Sau hai năm số dân của xã đó tăng thêm bao nhiêu người?

b) Sau hai năm số dân của xã đó có bao nhiêu người? (Bài 4 – Sách giáokhoa Toán 4 trang 46)

Đây là bài toán có tích hợp vấn đề gia tăng dân số

1.2.2 Vai trò của bài tập tích hợp

- Bài tập tích hợp giúp phát triển một số năng lực giải quyết vấn đề, năng lựctính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ, giúp phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo,

tư duy khoa học thông qua việc phối hợp vận dụng các kiến thức của các môn khoahọc có liên quan Điều đó góp phần phát triển tư duy, nâng cao khả năng hiểu biếtthế giới của học sinh lên một tầm cao mới, giúp học sinh có đầy đủ phẩm chất vànăng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại

- Bài tập tích hợp giúp học sinh hệ thống và liên hệ các kiến thức khoa họcvới nhau Từ đó học sinh ghi nhớ kiến thức một cách hệ thống, sâu sắc

Trang 23

- Các bài tập theo hướng tích hợp sẽ làm cho nhà trường gắn liền với thựctiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng Làm việc học tập trở nên ý nghĩahơn đối với học sinh, đem lại hứng thú học tập cho học sinh.

- Bài tập tích hợp giúp đánh giá kết quả quá trình dạy – học của giáo viên vàhọc sinh Đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức và trình độ phát triển tư duy củahọc sinh

Như vậy, hiệu quả của việc dạy học sẽ phụ thuộc vào việc khai thác và thựchiện một cách đầy đủ các chức năng khác nhau của bài tập mà người Thầy đã thiết

kế, xây dựng

1.2.3 Phương pháp chung giải bài tập tích hợp

Dựa trên nhưng tư tưởng tổng quát cùng những gợi ý chi tiết của G.Polya[8]

về cách thức giải toán chung và qua quá trình giải và hướng dẫn giải cho học sinh.Tôi đưa ra phương pháp chung để giải bài tập tích hợp gồm 4 bước như sau:

 Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài

- Xác định giả thiết, kết luận Phân tích đề xem bài toán cho biết gì? Bài toánhỏi gì? Bài tập có những nội dung tích hợp gì? (tích hợp kiến thức thực tiễn? haytích hợp môn học khác?)

- Chuyển từ bài tập tích hợp về bài tập toán học thuần túy

- Có thể dùng công thức, kí hiệu, hình vẽ để hỗ trợ cho việc diễn tả đề bài

Ví dụ: Một tấm kính hình chữ nhật có chiều rộng 30 cm, chiều dài gấp đôi

chiều rộng Tính diện tích của tấm kính đó (Bài 4 – Sách giáo khoa Toán 4 – trang62)

Phân tích đề bài:

- Bài tập tích hợp nội dung thực tiễn: Tính diện tích một tấm kính

- Chuyển về bài tập toán học:

Hãy tính : diện tích hình chữ nhật, biết

Chiều rộng: 30 cm

Trang 24

Chiều dài : gấp đôi chiều rộng

 Bước 2: Tìm cách giải bài tập toán học

Để tìm được một hướng giải, ta hãy đặt các câu hỏi mang tính tìm tòi, dự đoán như:

- Ta đã gặp bài toán tương tự chưa? Đây là dạng bài toán nào?

- Từ giả thiết thì ta được kết quả gì khác? Những giả thiết đó có gợi cho ta đến một định lí hay một bài toán liên quan nào không?

Ví dụ: (Tiếp tục phân tích ví dụ ở bước 1.)

- Đây là dạng toán tính diện tích hình chữ nhật

- Từ giả thiết ta tìm được chiều dài của hình chữ nhật, và sử dụng công thức tính diện tích hình chữ nhật để tìm ra kết quả bài toán

 Bước 3: Trình bày lời giải

- Trước khi trình bài lời giải cần chuyển ngôn ngữ toán học về ngôn ngữ bài toán tích hợp Sau đó trình bày lời giải hoàn chỉnh

Ví dụ: “Diện tích hình chữ nhật” chuyển về “Diện tích tấm kính”

“Chiều rộng hình chữ nhật” chuyển về “chiều rộng tấm kính”

“Chiều dài hình chữ nhật” chuyển về “chiều dài tấm kính”

Bài giảiChiều dài của tấm kính là:

30 x 2 = 60 (cm)Diện tích của tấm kính hình chữ nhật là:

60 x 30 = 1800 (cm2)

Đáp số: 1800 cm2

 Bước 4: Nghiên cứu lời giải sâu

- Bài tập tích hợp đã giúp ta củng cố và khắc sâu những kiến thức nào?

- Nghiên cứu giải bằng nhiều cách khác

Trang 25

- Nghiên cứu khả năng ứng dụng kết quả của lời giải (bạn có thể áp dụng bàitoán này để giải các bài toán tương tự, các bài toán khái quát,…).

Ví dụ: Bài tập tích hợp trên đã củng cố lại cách tính diện tích hình chữ nhật,

gấp một số lên nhiều lần, nhân với số có số tận cùng là chữ số 0 Bên cạnh đó còngiúp ta biết cách vận dụng toán học vào thực tiễn (tính diện tích các đồ vật)

1.3 Thực trạng dạy học các bài tập tích hợp về số tự nhiên ở khối lớp 4

1.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng

 Mục đích khảo sát:

- Tìm hiểu, đánh giá đúng thực trạng việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợptrong giảng dạy chủ đề số tự nhiên nói riêng, trong giảng dạy môn Toán 4 ở tiểuhọc nói chung

 Đối tượng khảo sát: Các giáo viên giảng dạy ở trường tiểu học Đồng Xuân,Phúc Yên, Vĩnh Phúc

 Thời gian khảo sát: Từ tháng 3/2018 đến tháng 4/2018

 Phương pháp khảo sát: Tôi sử dụng phương pháp điều tra và tổng kết kinh nghiệm Ngoài việc trao đổi trực tiếp với giáo viên tiểu học, tôi còn sử dụng phiếu

điều tra Cụ thể như sau:

- Xây dựng phiếu điều tra (phụ lục 1) nhằm đánh giá thực trạng việc xâydựng và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên

- Phát phiếu tới từng giáo viên

- Thu lại phiếu sau đó tổng hợp và xử lí thông tin về thực trạng việc xâydựng và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên trên cơ sở phầntrả lời phiếu của giáo viên

- Đánh giá thực trạng

 Nội dung khảo sát:

Khảo sát về tình trạng sử dụng hệ thống bài tập tích hợp cho học sinh lớp 4bao gồm những vấn đề sau:

Trang 26

- Hiểu biết về bài tập tích hợp.

- Tính thường xuyên trong việc xây dựng và sử dụng các bài tập cơ bản hay các bài tập tích hợp

- Hệ thống bài tập về chủ đề số tự nhiên mà giáo viên thường xuyên sửdụng

1.3.2 Kết quả điều tra

Số phiếu phát ra và thu vào là 20

Bảng 1: Hiểu biết của giáo viên về bài tập tích hợp

Bài tập tích hợp là Số lượng Phần trăm

Bài tập có nội dung liên quan đến các vấn đề phức

hợp trong học tập và thực tiễn 15 75 %

Bài tập để kiểm tra kiến thức học sinh 3 15 %

Bảng 2: Ý kiến của giáo viên về những điểm khác biệt của bài tập tích hợp so

với bài tập thông thường

2 Đồi hỏi khả năng huy động mọi nguồn lực (kiến

thức, kĩ năng,…) của học sinh 13 65 %

4 Tích cực hóa hoạt động nhận thức 9 45 %

6 Phát huy các kĩ năng phân tích, suy luận 17 85 %

7 Đòi hỏi khả năng vận dụng linh hoạt 18 75 %

8 Liên hệ được các kiến thức thực tiễn 16 80 %

Trang 27

Từ bảng 1 và bảng 2 tôi thấy giáo viên đã có một cách nhìn đúng đắn về bàitập tích hợp Bài tập tích hợp là sự kết hợp giữa các nội dung trong cùng một mônhọc hay giữa các nội dung trong nhiều môn học để giải quyết những vấn đề thựctiễn cuộc sống hoặc trong học tập Đây là dạng bài tập có tính vấn đề cao, tích lũynhiều kiến thức, nó đòi hỏi khả năng huy động mọi nguồn lực của bản thân và khảnăng vận dụng linh hoạt, vì thế nó có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa học sinh, giúp phát huy tối đa các kĩ năng phân tích, suy luận.

Bảng 3: Ý kiến của giáo viên về việc sử dụng bài tập tích hợp trong quá

Phầntrăm Số lượng

Phầntrăm

Phầntrăm Số lượng

Phầntrăm

Từ bảng 3 và bảng 4 tôi thấy đa số giáo viên đều nhận thấy sự cần thiết củabài tập tích hợp trong dạy học về số tự nhiên Tuy nhiên, việc sử dụng bài tập tíchhợp của giáo viên chỉ đạt mức độ ít khi

Trang 28

Bảng 5: Các nguồn tài liệu về bài tập tích hợp mà giáo viên thường sử dụng

Nguồn tài liệu Số lượng Phần trăm

3 Thiếu nguồn tài liệu tham khảo 11 55 %

4 Khó lồng ghép vào nội dung bài học 17 85 %

5 Tốn nhiều thời gian và công sức thực hiện 18 90 %

Từ bảng 5, bảng 6, tôi thấy giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng

và sử dụng bài tập do gặp phải nhiều khó khăn như: xác định chủ đề tích hợp, thiếunguồn tài liệu tham khảo, khó lồng ghép vào nội dung bài học, tốn nhiều thời gian

và công sức và khó kiểm tra đánh giá

Trang 29

STT Nội dung

Quan trọng Bình Ít quan Không

quan trọngthường trọng

Số

1

Phương tiện để kiểm tra

kiến thức, kĩ năng của

triển các năng lực cho

Bảng 8: Những biện pháp giáo viên thường sử dụng để nâng cao hiệu quả

sử dụng bài tập tích hợp

1

Phối hợp hợp lí các bài tập tích hợp với

các loại bài tập truyền thống 8 40 %

Trang 30

4 Đổi mới phương pháp dạy học 6 30 %

5 Tăng cường đổi mới kiểm tra đánh giá 5 25 %

6 Nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên 8 40 %

Từ bảng 7 và bảng 8, tôi thấy giáo viên đã hiểu rõ về các vai trò của bài tậptích hợp cũng như các biện pháp để nâng cao hiệu quả của bài tập khi sử dụng Vìđây là dạng bài tập khá mới mẻ nên giáo viên cần phối hợp hợp lí với các bài tậptruyền thống và cần hướng dẫn các em phân tích các kiến thức liên môn để giải bàitập Cùng với đó, giáo viên cần sử dụng các bài tập hướng đến vấn đề mà học sinhquan tâm, đổi mới các phương pháp dạy học cho phù hợp Tuy nhiên, để dạy họcđược thuận lợi rất cần sự đổi mới về nội dung kiểm tra đánh giá và sự không ngừnghọc hỏi nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên

Bảng 9: Thái độ của học sinh khi làm các bài tập tích hợp

lượng

Phầntrăm

1 Học sinh học tập tích cực hơn 11 55 %

2 Học sinh hăng hái thích thú hơn trong việc học 13 65 %

3 Học sinh chủ động tìm tòi các kiến thức liên

4 Học sinh không giải được các bài tập và chán

5 Học sinh giải được bài tập nhưng không hiểu các

kiến thức đã tích hợp trong bài tập 9 45 %

Trang 31

Từ bảng 9 tôi thấy đa số học sinh tiếp nhận các bài tập tích hợp rất tốt, cóthái độ tích cực trong học tập, thích thú giải toán Tuy nhiên vẫn còn tình trạng họcsinh chán nản, không hiểu hay không giải được bài tập Theo tôi, giáo viên có thểhướng dẫn học sinh phân tích đề kĩ hơn và lựa chọn các bài tập gắn với những vấn

đề mà học sinh quan tâm để tạo hứng thú cho học sinh

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến từ giáo viên

về việc sử dụng bài tập tích hợp cho học sinh một cách hiệu quả hơn như sau:

- Về giáo viên:

+ Giáo viên phải luôn học hỏi, mở rộng hiểu biết, cập nhật thông tin

+ Giáo viên phải được đào tạo tập huấn về dạy học tích hợp

+ Giáo viên cần khéo léo khai thác các mâu thuẫn trong các tình huống cóvấn đề sao cho phù hợp với trình độ của từng học sinh

- Về bài tập:

+ Sử dụng bài tập có liên quan đến cuộc sống gần gũi, có tính thời sự từ đócho học sinh thấy ý nghĩa của việc học tập

+ Cần tăng cường sử dụng bài tập tích hợp trong các bài kiểm tra

+ Sử dụng bài tập với mức độ khó vừa phải và phù hợp với năng lực, khảnăng tư duy của học sinh

Trang 32

không xây dựng thêm các bài tập tích hợp cho phù hợp với thực tiễn và với nănglực của

Trang 33

học sinh Bên cạch đó, tôi cũng nắm được những khó khăn mà giáo viên thường gặpphải khi xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp Cơ sở thực tiễn này giúp tôi địnhhướng xây dựng hệ thống bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tự nhiên cho họcsinh lớp 4 với mong muốn mang lại hiệu quả tốt trong quá trình dạy học chủ đề số

tự nhiên ở lớp 4 và là cơ sở để các thầy cô tham khảo xây dựng các bài tập tích hợpcho học sinh

Trang 34

Kết luận chương 1

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của

đề tài Để tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu các tài liệu, các

đề tài có cùng hướng nghiên cứu

Tôi đã trình bày một số vấn đề vầ dạy học tích hợp như khái niệm tích hợp,dạy học tích hợp, các mức độ tích hợp, các ưu điểm và hạn chế của dạy học tíchhợp

Tiếp đó, tôi nghiên cứu về bài tập tích hợp, đưa ra các khái niệm về bài tập, bài tập toán, bài tập tích hợp; vai trò và phương pháp chung để giải bài tập tíchhợp

Để tìm hiểu cơ sở thực tiễn của đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thựctrạng về việc xây dựng và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học chủ đề số tựnhiên cho học sinh lớp 4 Từ đó tôi rút ra một số nhận xét quan trọng: việc sử dụngbài tập tích hợp cho học sinh hiện nay là rất cần thiết, tuy nhiên giáo viên ít khi sửdụng loại bài tập này trong dạy học; việc giải bài tập tích hợp chưa tạo được hứngthú cho học sinh, học sinh chưa biết cách vận dụng những kiến thức đã học vàonhững tình huống mới, tính huống mang tính thực tiễn

Tất cả những vấn đề trên là nền tảng cơ sở cho phép tôi khẳng định sự cầnthiết phải thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần nâng cao chất lượngdạy học chủ đề số tự nhiên nói riêng, về môn Toán 4 ở tiểu học nói chung

Trang 35

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC

CHỦ ĐỀ SỐ TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH LỚP 4 2.1 Mục tiêu dạy học số tự nhiên ở lớp 4

* Kiến thức:

- Học sinh biết được khái niệm lớp tỉ

- Học sinh nắm được các quy tắc thực hiện phép nhân, chia số có nhiều chữ

số với số có không quá 3 chữ số

- Học sinh nắm được các dấu hiệu chia hết cho 2,3,5,9

- Có kiến thức về các biểu thức chứa chữ

* Kĩ năng:

- Học sinh biết đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên

- Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên

- Biết cộng trừ không nhớ trong phạm vi lớp triệu

- Biết nhân số tự nhiên với số tự nhiên có tích không quá 6 chữ số

- Biết chia số tự nhiên có 6 chữ số cho số tự nhiên có 3 chữ số

- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính khi biết kết quả của phép tính và thành phần kia

- Biết tính giá trị của biểu thức số có 3 dấu phép tính (có hoặc không có dấungoặc) và biểu thức có chứa một, hai, ba chữ dạng đơn giản

- Biết vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng và phép nhân,tích chất nhân một tổng với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất

- Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân với 10, 100, 1000,…;chia cho 10, 100, 1000,…; nhân số có hai chữ số với 11

- Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2,5,3,9

* Thái độ:

- Học sinh có thái độ tích cực và yêu thích môn học

Trang 36

2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4

2.2.1 Khái quát một số vấn đề về số tự nhiên trước lớp 4

Số tự nhiên được dạy học từ lớp 1 đến hết học kì I của lớp 4 theo kiểu “đồngtâm và mở rộng dần” (tức là theo hình xoắn ốc) với các vòng số như: các số đến

10, đến 100, đến 1000, đến 10 000, đến 100 000, đến các số có nhiều chữ số cónhiều chữ số[12]

Ở vòng số nào cũng dạy học về đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số và ngầmgiới thiệu một số đặc điểm của dãy số tự nhiên, hệ thập phân qua các ví dụ cụ thể

Ở vòng các số càng lớn thì mức độ trừu tượng, khái quát của các kiến thức nêu trêncàng cao hơn[12]

2.2.2 Nội dung của chủ đề số tự nhiên ở lớp 4

Về số tự nhiên:

- Củng cố về đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 100 000 (tức là các số cónăm chữ số)

- Đọc, viết các số có đến sáu chữ số, các số thuộc lớp triệu; giới thiệu về tỉ,đọc, viết các số tròn tỉ

- So sánh các số có đến sáu chữ số, xếp thứ tự các số tự nhiên

- Giới thiệu dãy số tự nhiên và một số đặc điểm của dãy số tự nhiên

- Giới thiệu về viết số tự nhiên trong hệ thập phân

- Dấu hiệu chia hết cho 2; 5; 9; 3 Số chẵn, số lẻ

Về các phép tính với số tự nhiên:

- Phép cộng và phép trừ các số có đến sáu chữ số

- Tính chất giao hoán và tính chất kết hợp của phép cộng

- Phép nhân số có đến sáu chữ số với số có một, hai, ba chữ số, tích có khôngquá sáu chữ số

- Tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của phép nhân; tính chất nhân một sốvới một tổng

Trang 37

- Phép chia số có đến sáu chữ số cho số có một, hai, ba chữ số (chia hết và chia

2.3 Nguyên tắc của việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp.

TS.Phan Đồng Châu Thủy [18] , TS Dương Minh Thành [17] , PGS.TS.Ngô Minh Oanh [14] đã đưa ra những nguyên tắc để xây dựng các bài tập tích hợpphù hợp với chương trình, phù hợp với học sinh và phù hợp với giảng dạy Tổnghợp các nguyên tắc đó cùng với việc trực tiếp xây dựng các bài tập tích hợp, tôiđưa ra các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năngcủa các môn liên quan Nghĩa là bài tập tích hợp phải xây dựng hướng đến mụctiêu môn học, mục tiêu kiến thức của các môn khoa học liên quan Các bài tập tíchhợp cần có nội dung sát với chương trình mà học sinh được học Nếu bài tập tíchhợp có nội dung hoàn toàn mới sẽ gây khó khăn cho học sinh và không tạo đượcđộng lực cho học sinh để giải bài tập đó

- Nguyên tắc đảm bảo tính thực hiện, tính vừa sức, phù hợp với trình độnhận thức của học sinh Mỗi học sinh đều có nhu cầu, trình độ nhận thức khácnhau Vì thế giáo viên phải đưa ra bài tập phù hợp với các em, tránh tình trạng bàitập quá khó gây ra sự sợ hãi, chán nản hay bài tập quá dễ dẫn đến học sinh chủquan Giáo viên có thể phân loại học sinh trong lớp để cho các nhóm bài tập phùhợp đến các em

- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Bài tập đưa racần chứa đựng vấn đề liên quan đến cuộc sống hoặc học tập của học sinh Nếu bàitập có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm đời sống và môi trường

Trang 38

xung quanh học sinh thì sẽ tạo cho họ động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận

và giải quyết vấn đề

- Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác và khoa học Trong một bài tập tíchhợp, bên cạnh nội dung toán học, còn có những dữ liệu thực tiễn và nội dung cácmôn học khác Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác,không tùy tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán

- Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm Các tình huống thực tiễn thường phứctạp hơn những kiến thức phổ thông trong chương trình học nên khi xây dựng bàitập tích hợp có tích hợp yếu tố thực tiễn cần phải có bước xử lí sư phạm để làmđơn giản tình huống thực tiễn cho phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh

2.4 Cách thiết kế bài tập tích hợp

 Cách 1: Tham khảo các bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo.

Chọn một bài tập, giữ nguyên nội dung bài tập hoặc dạng bài tập, thay đổi số liệu

- Bài tập tôi thiết kế dựa trên bài tập trên như sau:

Năm 2018, kỉ niệm 1050 năm thành lập Nhà nước Đại Cồ Việt Như vậy,Nhà nước Đại Cồ Việt được thành lập năm bao nhiêu, thuộc thế kỉ baonhiêu?

 Cách 2: Tham khảo các bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo.

Chọn

một bài tập, nghịch đảo giữa giả thiết (cái đã cho) và kết quả (cái cần tìm)

Trang 39

- Xuất phát từ bài tập 4 (sách giáo khoa Toán 4 – trang 39):

Trang 40

Một huyện trồng 325 164 cây lấy gỗ và 60830 cây ăn quả Hỏi huyện đótrồng được tất cả bao nhiêu cây?

- Bài tập tôi thiết kế dựa trên bài tập trên như sau:

Một huyện trồng tất cả 385 994 cây, trong đó có 325 164 cây lấy gỗ, còn lại

là cây ăn quả Hỏi huyện đó trồng được bao nhiêu cây ăn quả?

 Cách 3: Từ một bài toán hay phép tính đơn thuần, đưa thêm yếu tố thực

tiễn hoặc liên môn vào

Ví dụ 1:

- Xuất phát từ bài toán:

Một hình chữ nhật có chiều dài 80 dm, chiều rộng bằng nửa chiều dài Tínhchu vi hình chữ nhật đó

- Bài tập tôi thiết kế dựa trên bài tập trên như sau:

Một mảnh vườn hình chữ nhật có chiều dài là 80 m, chiều rộng bằng nửachiều dài Hỏi cần bao nhiêu chiếc cọc để rào xung quanh mảnh vườn? (biếtrằng mỗi chiếc cọc cách nhau 1m)

Ví dụ 2:

- Xuất phát từ phép tính: 203 650 – 78 704=124 946

- Bài tập tôi thiết kế dựa trên phép tính trên như sau:

Trong phong trào “Tết trồng cây”, năm nay học sinh của một tỉnh trồng được

203 650 cây, năm ngoái trồng được ít hơn năm nay 78 704 cây Hỏi cả hainăm học sinh của tỉnh đó trồng được bao nhiêu cây?

 Cách 4: Xuất phát từ các vấn đề thực tiễn, các vấn đề của các môn học

khác cần toán học xử lí (cần tính toán, so sánh, đo lường,….)

Ngày đăng: 04/09/2019, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường THCS, THPT. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường THCS,THPT
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Khoa học 4, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Khoa học 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dụcViệt Nam
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Lịch sử và địa lí 4, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Lịch sử và địa lí 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáodục Việt Nam
[4] Bộ Giáo dục và đào tạo, Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dụcViệt Nam
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Toán 4, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục ViệtNam
[6] TS. Nguyễn Thị Kim Dung, Dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông, Kỉ yếu hội thảo Dạy học tích hợp Dạy học phân hóa, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục phổthông
[7] TS. Võ Văn Duyên Em, Tích hợp trong dạy học bộ môn ở trường phổ thông, Kỉ yếu hội thảo Dạy học tích hợp Dạy học phân hóa, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học bộ môn ở trường phổ thông
[8] G.Polya (người dịch: Hồ Thuần - Bùi Tường), Giải một bài toán như thế nào?, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán như thế nào
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
[9] Bùi Hiền, Từ điển giáo dục học, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2001 [10] Trần Diên Hiển, Giáo trình chuyên đề Bồi dưỡng học sinh giỏi Toán tiểu học,Nhà xuất bản đại học Sự phạm, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học", nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2001[10] Trần Diên Hiển, "Giáo trình chuyên đề Bồi dưỡng học sinh giỏi Toán tiểu học
Nhà XB: nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội
[11] Trần Diên Hiển, Thực hành giải toán tiểu học (tập 1,2), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm , 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành giải toán tiểu học (tập 1,2)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcSư phạm
[12] PGS.TS. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) – Nguyên Áng – TS. Đỗ Tiến Đạt, Hỏi – Đáp về dạy học Toán 4, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi –Đáp về dạy học Toán 4
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
[13] Trần Bá Hoành, "Dạy học tích hợp" , 2002, http: // i o er.e d u . v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp
[14] PGS.TS Ngô Minh Oanh - TS. Trương Công Thanh, Thực trạng dạy học tích hợp, phân hóa hiện nay và đề xuất phát triển chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục phổ thông Việt Nam 2015, Kỉ yếu hội thảo Dạy học tích hợp Dạy học phân hóa, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dạy học tíchhợp, phân hóa hiện nay và đề xuất phát triển chương trình, sách giáo khoacho giáo dục phổ thông Việt Nam 2015
[15] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
[16] Nguyễn Ngọc Quang, Lí luận dạy học hóa học tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hóa học tập 1
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
[17] Dương Minh Thành - Trương Thị Thúy Ngân, Một số ý tưởng tích hợp trong dạy học Toán tiểu học, Tạp chí Khoa học ĐHSP Tp. HCM, số 7(85), 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý tưởng tích hợp trong dạy học Toán tiểu học
[18] Phan Đồng Châu Thủy - Phạm Lê Thanh, Sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10 THPT, Tạp chí Khoa học ĐHSP Tp. HCM, số 4(82), 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bài tập tích hợp trong dạyhọc hóa học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 10THPT
[19] Đỗ Hương Trà, Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh, quyển 1 - khoa học tự nhiên, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh, quyển 1 - khoahọc tự nhiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
[20] Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, stuttgart 1984 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w