TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN === === BÙI THỊ PHƯƠNG THẢO TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ CỦA TÔ HOÀI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
BÙI THỊ PHƯƠNG THẢO
TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT
TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ
CỦA TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
BÙI THỊ PHƯƠNG THẢO
TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT
TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ
CỦA TÔ HOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian dài nỗ lực, nghiêm túc nghiên cứu với sự hỗ trợ nhiệt tình từcác thầy cô và các bạn sinh viên, đến nay khóa luận của tôi đã hoàn thành Tôixin chân thành cảm ơn các giảng viên khoa Ngữ văn, trường Đại học sư phạm
Hà Nội 2 đã nhiệt tình giúp đỡ Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tớiPGS.TS Đỗ Thị Thu Hương – người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trongsuốt thời gian thực hiện khóa luận
Do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế nên chắc chắn khóa luậnvẫn còn nhiều những thiếu sót Kính mong nhận được những đóng góp chânthành từ quý thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Tác giả khóa luận
Bùi Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Khóa luận là kết quả nghiên cứu tự thân dưới sự chỉ dẫn của PGS.TS Đỗ ThịThu Hương; tất cả số liệu và tài liệu trích trong khóa luận là trung thực, khôngsao chép; kết quả nghiên cứu không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứunào đã được công bố trước đó
Tôi xin chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 4 năm 2019
Tác giả khóa luận
Bùi Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 6
1.1 Khái quát về trường nghĩa 6
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 6
1.1.2 Đặc điểm của trường nghĩa 7
1.1.3 Phân loại trường nghĩa 8
1.1.4 Hiện tượng chuyển trường 11
1.2 Mối quan hệ giữa trường nghĩa với ngôn ngữ văn chương 12
1.2.1 Trường nghĩa biểu vật với ngôn ngữ văn chương 12
1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm với ngôn ngữ văn chương 13
1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính với ngôn ngữ văn chương 14
1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng với ngôn ngữ văn chương 14
1.3 Khái niệm động vật 15
1.4 Khái quát về tác giả Tô Hoài 16
1.4.1 Tô Hoài – tác giả “giải cạn” về loài vật 17
1.4.2 Dế mèn phiêu lưu kí - tác phẩm xuất sắc nhất của Tô Hoài 18
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ 21
2.1 Tiêu chí phân loại 21
2.2 Kết quả thống kê 21
2.3 Phân xuất trường từ vựng động vật trong Dế mèn phiêu lưu kí 22
Trang 62.2.5 Tiểu trường trạng thái của động vật 35
CHƯƠNG 3: HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ 39
3.1 Hiện tượng chuyển trường nghĩa người sang trường nghĩa động vật 39
3.2 Giá trị biểu đạt của hiện tượng chuyển trường nghĩa (người sang động vật) trong Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài 44
3.2.1 Khắc họa chân dung 44
3.2.2 Khắc họa tính cách 44
3.2.3 Phản ánh hiện thực xã hội 45
3.2.4 Thể hiện phong cách nhà văn 46
KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê trường nghĩa động vật trong tác
phẩm 22Bảng 2.2 Số lượng từ và tỉ lệ giữa các tiểu trường bậc 2 của tiểu trường tên gọi
của các loài động vật 23Bảng 2.3 Bảng thống kê tên gọi các loài động vật trên cạn có số lần xuất hiện
nhiều nhất trong tác phẩm 24Bảng 2.4 Bảng thống kê tên gọi các loài động vật dưới nước có số lần xuất hiện
nhiều nhất trong tác phẩm 25Bảng 2.5 Bảng thống kê tên gọi các loài động vật trên không có số lần xuất hiện
nhiều nhất trong tác phẩm 26Bảng 2.6 Bảng thống kê tên gọi các loài động vật lưỡng cư có số lần xuất hiện
nhiều nhất trong tác phẩm 27Bảng 2.7 Bảng thống kê các bộ phận của động vật có số lần xuất hiện nhiều
nhất trong tác phẩm 27Bảng 2.8 Danh sách và số lượng từ của tiểu trường đặc điểm của động vật 29Bảng 2.9 Danh sách và số lượng từ của tiểu trường hoạt động của động vật 31Bảng 2.10 Danh sách và số lượng từ của tiểu trường trạng thái của động vật 35Bảng 3.1 Danh sách từ của trường nghĩa con người được chuyển sang nghĩa
trường động vật 40
Trang 91 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 101.1 Vấn đề trường nghĩa của ngôn ngữ đã được các nhà khoa học nghiên
cứu khá nhiều và từ rất sớm Đến cuối thế kỉ XIX, hoạt động nghiên cứu này
đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới nói chung, các nhà nghiên cứu ViệtNam nói riêng dần chú trọng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên,mỗi tác giả vẫn chỉ dừng lại ở việc tập trung xem xét đến những từ là hạt nhânngữ nghĩa của các trường nghĩa Do vậy, việc nghiên cứu trường nghĩa cầnđược tiếp tục để mảng đề tài này được làm giàu và hoàn thiện hơn Xét trongphạm vi văn học, ngôn ngữ là chất liệu của văn học, gắn liền bộ môn nghệthuật ngôn ngữ, theo M Gorki: “Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học”
Nó đóng vai trò trọng yếu cho sự thành bại của một tác phẩm Bởi vậy, việcnghiên cứu “trường từ vựng – ngữ nghĩa trong tác phẩm văn học” giúp thấy rõvai trò, tác động của của từ vựng nói riêng và ngôn ngữ nói chung đối với tácphẩm cụ thể Hơn thế, đây cũng sẽ là cơ sở cho những đánh giá khách quan vềnăng lực sử dụng ngôn ngữ của tác giả và giá trị của tác phẩm
1.2 Tô Hoài là một trong những tác giả văn xuôi xuất sắc nhất của văn học
Việt Nam thời kì hiện đại Trong suốt quãng đời cầm bút nhà văn đã đóng gópcho nền văn học dân tộc khối lượng tác phẩm lớn và đầy giá trị Ở những sángtác của mình, ngôn ngữ được Tô Hoài sử dụng một cách đắc dụng Nhắc đếntác giả Tô Hoài, độc giả thường nhớ ngay đến những trang văn sống động và
có hồn về loài vật trong Dế mèn phiêu lưu kí, đây là tác phẩm nổi tiếng và đặc sắc nhất trong đề tài viết về loài vật của ông Theo dòng chảy thời gian, Dế
mèn phiêu lưu kí đã định được vị trí vững chắc của mình không chỉ ở Việt
Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới, xuất sắc trở thành đại diện ưu tú nhấtcủa truyện thiếu nhi Việt Nam Đã có rất nhiều bài nghiên cứu khác nhau vềcác “yếu tố ngôn ngữ” trong tác phẩm này nhưng đến nay vùng đất đó vẫncòn phong phú đất canh tác cần những người nghiên cứu đào sâu, khám phá
và tìm hiểu
1.3 Nghiên cứu một tác phẩm đã được tìm hiểu rất nhiều, tác giả khóa luận
mong muốn mang tới cái nhìn lạ từ một khía cạnh mới mà chưa ai sử dụng đểtìm hiểu về tác phẩm này
Trang 11Tất cả những điều trên là lý do chủ yếu khiến chúng tôi chọn việc
nghiên cứu Trường nghĩa động vật trong Dế mèn phiêu lưu kí của Tô
Hoài làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu
Được các nhà làm khoa học về ngôn ngữ trên thế giới chú ý từ cuối thế
kỉ XIX, việc nghiên cứu ngữ nghĩa của ngôn ngữ xuất hiện với tần suất dàyđặc và để lại nhiều công trình lớn nhỏ Đầu thế kỉ XX, lí thuyết trường đượcphát triển bởi các nhà khoa học người Mỹ và người Đức, họ chịu ảnh hưởng
bởi “học thuyết về dạng lời nói bên trong của ngôn ngữ của Humboldt” và
“tiền đề của chủ nghĩa cấu trúc Saussure” Tiếp sau đó, hàng loạt các nhànghiên cứu đã dựa vào các cơ sở học thuyết này để đưa ra các “quan điểm vềtrường nghĩa” như: Stern, Trier, Jolles, Matoré, Oskaar
Lí thuyết trường được đưa ra từ lí thuyết ngôn ngữ học của W.Humbolt và được thúc đẩy hình thành bởi F De Sausure Theo F De Sausure:
“giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do xung quanh quyết định” và “tất cả đềudựa trên những mối quan hệ” Như vậy, khi nghiên cứu, khai thác các vấn đềcủa ngôn ngữ ta không thể tách rời mà phải xem xét chúng như một hệ thống,tiền đề này đã đặt nền móng vững chắc để phát triển việc nghiên cứu trườngnghĩa Xuất hiện từ đầu thế kỉ XX nhưng phải đến những năm 30 của thế kỉ líthuyết “trường” mới được đưa ra lần đầu tiên bởi học giả người Đức là J.Trier Quan niệm về trường nghĩa của ông là trường theo quan hệ dọc Cùngquan niệm trường kiểu đó còn có L Weisgerber, P M Roget, W V.Warburg Tuy chỉ nhắc tới “trường khái niệm và trường từ vựng” nhưng líthuyết trường nghĩa của J Trier cũng đã vén màn cho một “kỉ nguyên mớitrong lịch sử ngữ nghĩa học”, là bước khởi đầu quan trọng để hoàn thiện kháiniệm trường nghĩa về sau này Khác với J Trier, Porzig phát triển lí thuyếttrường của mình theo quan hệ ngang, Bally đề xuất lí thuyết trường của mìnhtheo quan hệ liên tưởng Nếu như J Trier là người “tiên phong” đưa ra líthuyết trường thì G Ipsen là người sử dụng khái niệm trường nghĩa trước
Trang 12nhìn khác nhau về vấn đề này, lý thuyết trường nghĩa được manh nha, pháttriển và hoàn thiện.
Mảng đề tài về trường nghĩa lan rộng và xâm nhập vào Việt Nam, thuhút phần đông tác giả nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,Bùi Minh Toán, Đỗ Việt Hùng, Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thúy Khanh Sảnphẩm thu được là lí thuyết trường nghĩa trong các giáo trình được dùng ở các
trường đại học, cao đẳng trong nước, sách chuyên khảo như: Đại cương ngôn
ngữ học, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu), Cơ sở ngôn ngữ học,
Từ vựng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp), Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp) Hầu hết các nhà nghiên cứu đã giới thiệu, vận
dụng lí thuyết trường từ vựng trong phạm vi ngôn ngữ, nhưng lại chưa đi vàomột tác phẩm cụ thể Bởi vậy, “nghiên cứu trường nghĩa trong tác phẩm” làvấn đề mới, lạ và có phần thách thức Nghiên cứu về trường nghĩa động vật,
về tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí có thể kể đến một số luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đại học, các bài nghiên cứu khoa học dướiđây:
Trong Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật trên tư
liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga (Luận án Phó Tiến sĩ, 1996) của tác giả
Nguyễn Thúy Khanh, tác giả đã định danh tên gọi động vật bằng các đặc điểmnhư: dựa vào nguồn gốc tên gọi, “tiếng Việt chủ yếu sử dụng các tên gọithuần Việt Số lượng tên gọi vay mượn không đáng kể và chủ yếu là vaymượn chữ Hán”; dựa vào kiểu ngữ nghĩa của tên gọi có thể phân biệt các loạiđộng vật với nhau Ngoài ra, tác giả còn nêu ra, phân tích ý nghĩa biểu trưng
các thành thành tố nghĩa của từ ngữ tên gọi động vật Ở Trường nghĩa động
vật trong thành ngữ tiếng Việt (Khóa luận tốt nghiệp, 2018) của tác giả Đỗ
Thị Mỵ đã khảo sát, phân tích trường nghĩa động vật trong thành ngữ tiếngViệt, phân loại thành các tiểu trường và phân tích ý nghĩa biểu trưng của cáchình ảnh động vật đó
Ngoài ra còn có: Trường nghĩa động vật, thực vật trong ca dao Việt
Nam của tác giả Nguyễn Thị Thủy (Khóa luận tốt nghiệp, 2018), Trường Nghĩa Chỉ Động Vật, Thực Vật Trong Thơ Nguyễn Bính của tác giả Lê Thị
Mai (Khóa luận tốt nghiệp, 2018) Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã nói
Trang 13đến trường nghĩa động vật trong các đối tượng cụ thể Tuy nhiên, chưa cócông trình nào đề cập đến trường nghĩa động vật trong một tác phẩm cụ thể.
Các nghiên cứu về Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài cũng đa dạng đề
tài nhưng chưa có công trình nào ở mảng ngôn ngữ nghiên cứu về trường
nghĩa động vật, có thể điểm qua như: Hội thoại trong Dế mèn phiêu lưu kí của tác giả Giáp Thị Thủy (Luận văn thạc sĩ, 2009), Giá trị biểu đạt của các từ
ngữ sinh hoạt trong Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài của tác giả Nông Thị
Hậu (Khóa luận tốt nghiệp, 2007) Từ lịch sử nghiên cứu trên, chúng tôi lựa
chọn triển khai nghiên cứu đề tài: Trường nghĩa động vật trong Dế mèn phiêu
lưu kí của Tô Hoài.
3 Mục đích nghiên cứu
Với việc nghiên cứu trường nghĩa động vật trong Dế mèn phiêu lưu kí,
khóa luận nhằm lí giải cặn kẽ tính hệ thống của ngôn ngữ trong tác phẩm vănchương cụ thể, biểu hiện qua trường từ vựng về động vật trong tác phẩm của
Tô Hoài Qua đó, khẳng định tài sử dụng ngôn ngữ của tác giả Tô Hoài cùng
giá trị của tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Khảo sát các vấn đề lí thuyết về trường nghĩa, các công trình nghiên
cứu có liên quan đến trường nghĩa động vật và truyện ngắn Dế mèn phiêu lưu
kí.
4.2 Khảo sát, thống kê các từ thuộc trường nghĩa động vật trong tác phẩm,
phân xuất ra thành các tiểu trường
4.3 Phân tích, vai trò, hiệu quả sử dụng của trường nghĩa động vật trong
tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí của nhà văn Tô Hoài.
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trường nghĩa động vật trong Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài.
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
- Phương pháp miêu tả
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu
- Thủ pháp thống kê
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dungchính của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết
Chương 2: Hệ thống trường nghĩa động vật trong Dế mèn phiêu lưu kí Chương 3: Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong Dế mèn phiêu lưu kí
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 1.1 Khái quát về trường nghĩa
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa
Khái niệm trường nghĩa đã được sử dụng “thường xuyên” trong ngônngữ, song để đi tới một thống nhất chung về khái niệm này không phải là mộtquá trình dễ dàng Những người nghiên cứu đều dựa trên cơ sở lý thuyết đãđược công bố bởi thế hệ nghiên cứu đi trước nhưng mỗi cá nhân lại có cáchnhìn nhận và sáng tạo riêng của mình Các công trình nghiên cứu khoa học vềtrường nghĩa đều hướng đến mục đích kiến giải khái niệm trường nghĩa, tùytheo quan điểm của mỗi cá nhân mà người quan tâm đến trường nghĩa nhậnđược các ý kiến khác nhau
Từ năm 1970, lí thuyết trường được các nhà ngôn ngữ ở Việt Nam tiếpnhận và giới thiệu trong nước Khái niệm trường nghĩa theo đó cũng được cácnhà nghiên cứu nhìn nhận rõ ràng hơn Trong đó, tác giả Đỗ Hữu Châu làngười dẫn đường ưu tú, là người giới thiệu khái niệm trường nghĩa “trọn vẹn”
và “chi tiết” nhất thông qua hàng loạt các công trình nghiên cứu lớn nhỏ Tácgiả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là mộttrường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa” [1,170]
Việc xác định và đưa ra thống nhất chung về khái niệm trường nghĩavẫn còn bỏ ngỏ, nó vẫn được xem là một đòi hỏi, yêu cầu bức thiết của khoahọc ngôn ngữ Chính vì vậy, dựa vào quan điểm của những người nghiên cứu
đi trước, chúng tôi đồng ý với khái niệm trường nghĩa như sau:
Trường nghĩa là tập hợp từ ngữ có sự giống nhau về phạm trù ngữ nghĩa Nó chứa đựng các từ ngữ có các nét nghĩa liên quan nhau, quy định lẫn nhau ( nghĩa chung và nét nghĩa riêng biệt) Nói đến trường nghĩa là nói đến mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ và các đơn vị tương đương với từ.
Trang 161.1.2 Đặc điểm của trường nghĩa
Theo tác giả Nguyễn Văn Thạo, “cấu trúc nghĩa của trường nghĩa”mang nhiều những đặc điểm phong phú, đa dạng Trong phạm vi giới hạn củamột khóa luận không thể đề cập hết những đặc điểm của trường nghĩa được,chính vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ lựa chọn đề cập đến những đặc điểm có liênquan đến các vấn đề trong khóa luận
1.1.2.1 Tính giao thoa
Hiện tượng nhiều nghĩa của từ tạo nên sự phong phú về nghĩa trong bảnthân từ vựng Một từ có nhiều nét nghĩa, mỗi nét nghĩa của từ lại có thể phânxuất vào một trường khác nhau, điều này đã góp phần tạo ra đặc điểm là “tínhgiao thoa” giữa các trường với nhau Vì lí do này, một từ hoàn toàn thuộc vềmột trường từ vựng chiếm số tỉ lệ rất thấp Các từ trong vòng trung tâm củatrường có số lượng không lớn, ngược lại các từ ở vùng biên lại có số lượngđột phá hơn, đây là những từ mang nhiệm vụ giao thoa, không chỉ xuất hiện ởmột trường từ vựng duy nhất mà có thể nằm ở rất nhiều trường khác nhau
Ví dụ: từ “bói cá”, có thể xếp vào trong tiểu trường tên gọi cụ thể củađộng vật (khi nó là danh từ chỉ tên riêng, như “lão còn có biệt hiệu là tiên sinh
Bói Cá” [6, 141]), cũng có thể xem xét đặt vào trong hoạt động của động vật
(khi nó là động từ, chỉ hoạt động đợi bắt mồi của động vật)
1.1.2.2 Tính tầng bậc
Trong hệ thống ngữ nghĩa của trường thì một trường nghĩa có thể phâncấp ra thành nhiều tiểu trường nhỏ hơn và chúng giữ mối quan hệ “mật thiết”với nhau Các trường có thể đứng độc lập hoàn toàn với quan hệ trái ngược,bình đẳng; có thể lồng vào nhau với quan hệ đan xen hoặc cũng có thể chứđựng nhau với quan hệ cấp bậc, tôn ti Trường bậc cao bao hàm các trườngbậc thấp, trường lớn bao hàm một hay một vài trường nhỏ Tựu chung lại, cóthể hiểu rằng, các trường có khả năng đứng độc lập, giao nhau hoặc bao chứanhau tùy vào sự xuất hiện những từ thuộc vùng biên của chúng
Ví dụ: Trường nghĩa động vật là “trường tối cao”, dưới trường này cócác tiểu trường bậc 1 như tên gọi cụ thể của các loài động vật, tiểu trường bậc
2 như: động vật trên cạn, động vật dưới nước, động vật trên không Nhờ đặc
Trang 17điểm này chúng tôi phân cấp trường động vật thành các tiểu trường đồng cấp,cấp trên – cấp dưới dễ dàng hơn.
1.1.3 Phân loại trường nghĩa
Tiếp nhận những thành tựu của các tác giả nước ngoài, tác giả Đỗ HữuChâu căn cứ vào các mối quan hệ giữa ý nghĩa của từ trong cùng trường nghĩa(quan hệ dọc và quan hệ ngang) và căn cứ vào ý nghĩa của các từ giữa cáctrường khác nhau để chia hệ thống trường nghĩa thành ba loại, đó là: trườngnghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) gồm có: Trường nghĩa biểu vật và trườngnghĩa biểu niệm; Trường nghĩa ngang (tuyến tính); Trường nghĩa liên tưởng
1.1.3.1 Trường nghĩa biểu vật
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ được sắp xếp theo phạm vi
sự vật, hiện tượng mà chúng biểu thị Nói cách khác, trường nghĩa biểu vật
là hệ thống từ vựng giống nhau về ý nghĩa biểu vật Vậy căn cứ vào đâu để cóthể xác lập được trường nghĩa biểu vật? Để tập hợp được các từ có các nghĩabiểu vật giống nhau trước tiên phải chọn một danh từ khái quát nhất làm gốctrụ cột, làm trung tâm Lấy đó làm cơ sở, lần lượt sắp xếp các lớp từ có cùngnét nghĩa với danh từ gốc để tạo nên trường nghĩa biểu vật Như đã nói,trường nghĩa có tính giao thoa nên ranh giới giữa các trường rất mỏng manh,những từ thuộc lớp từ càng xa danh từ trung tâm thì càng thuộc về nhiềutrường nghĩa khác nhau, mối quan hệ với trường cũng “mờ nhạt” hơn so vớilớp từ gần danh từ gốc
Ví dụ: Trường biểu vật “hình dáng bên ngoài”, chọn từ hình dáng bênngoài làm gốc, ta xác lập được các từ đồng nghĩa sau:
1 Đặc điểm khuôn mặt
- Đặc điểm khuôn mặt nói chung: trái xoan, tròn, vuông chữ điền,
Trang 19- Đặc điểm miệng: chúm chím, (môi) trái tim, hé cười
2 Đặc điểm dáng người: cân đối, mảnh dẻ, đều đặn, nở nang
3 Đặc điểm đôi tay
- Hình dạng của tay: thon, béo múp, búp măng
- Hoạt động của đôi tay: cầm, nắm, kéo, xé
4 Đặc điểm tóc:
- Màu tóc: Đen, đen nhánh, bạc phơ, bạc trắng, trắng
- Đặc điểm tóc: mềm mại, tơ, rễ tre
- Trạng thái tóc: Loà xoà, rối, xoã, buộc
5 Đặc điểm da:
- Màu sắc của da: Vàng, đen, hồng hào, xanh xao
- Đặc điểm của da: Sạm nắng, nhăn nheo, đồi mồi, căng bóng
1.1.3.2 Trường nghĩa biểu niệm
Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp từ ngữ giống nhau nhau về một cấutrúc nghĩa biểu niệm Để có được một trường nghĩa biểu niệm cần:
- Một “cấu trúc biểu niệm” (nét nghĩa của từ) làm gốc, trung tâm
- Tập hợp từ có cùng “cấu trúc nghĩa biểu niệm” gốc đó
Không khác biệt với trường nghĩa biểu vật, trường biểu niệm cũng cóthể phân xuất ra các trường lớn nhỏ; cũng có sự giao thoa giữa các trường,tiểu trường; cũng có “lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở nhữnglớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi” [1, 177]
Ví dụ: Chọn trường biểu niệm: (hoạt động của con người) (tác độngđến đối tượng) làm lõi trung tâm, ta thu thập được các tiểu trường như sau:
- Hoạt động của chân: đá, sút, đạp, giẫm
- Hoạt động của răng: cắn, nhai, nghiến
Trang 20Mỗi lần bổ sung thêm một nét nghĩa, số lượng tiểu trường cùng từ ngữtrong tiểu trường sẽ giảm đi nhưng lại cụ thể và “chất lượng” hơn Dựa vàohai thành phần ngữ nghĩa khác nhau, ta được nhìn nhận hai trường (trườngnghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm) ở hai góc độ khác biệt Tuy nhiên,chúng vẫn có mối quan hệ lui tới lẫn nhau Khi phân lập trường nghĩa biểuniệm ta cần dùng đến các “nét nghĩa biểu vật”, ngược lại ở trường nghĩa biểuvật, ta phải tổng hợp các nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm lại thànhtiêu chí lớn để phân lập Sự xác định đúng đắn và thích hợp từ vựng vàotrường nghĩa sẽ giúp ta hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của từ và ngược lại.
1.1.3.3 Trường nghĩa tuyến tính
Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp từ ngữ trong đó có một từ làm gốc,trung tâm, các từ còn lại có thể kết hợp từ đó để tạo ra những đơn vị lớn hơn(cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Sự hình thành trường nghĩatuyến tính dựa vào quan hệ tuyến tính (quan hệ ngang, quan hệ ngữ đoạn) củangôn ngữ, mà cơ sở của quan hệ này chính là tính hình tuyến của ngôn ngữ:
“các từ không thể xuất hiện cùng lúc mà phải lần lượt kế tiếp nhau tạo thànhmột chuỗi, qua đó bộc lộ ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp của mình”
Ví dụ: Trường tuyến tính của Giáo viên là: giảng dạy, giáo dục, mẫu
mực, mô phạm, đứng lớp, ra đề, kiểm tra, chấm điểm, giáo án Trường bao
gồm tất cả những từ đứng trước và sau từ “Giáo viên” để tạo nên chuỗi tuyếntính chấp nhận được như: “Giáo viên là người giáo dục và đào tạo học sinh –thế hệ tương lai của dân tộc, của đất nước”
Kết hợp với trường nghĩa dọc, trường nghĩa ngang cũng góp phần lígiải những quan hệ cấu trúc ngữ nghĩa bên trong của từ
1.1.3.4 Trường nghĩa liên tưởng
Liên tưởng là “nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự việc,hiện tượng có liên quan” [10, 568] Như vậy, có thể xác định, trường nghĩaliên tưởng là hệ thống từ vựng biểu thị sự vật, hiện tượng, hoạt động, trạngthái, tính chất trong nhận thức của con nguời có quan hệ liên tưởng với một
từ trung tâm
Ví dụ: Trường nghĩa liên tưởng do từ “Hoa” gợi ra như sau:
Trang 21- Chỉ loại: hoa hồng, hoa cúc, hoa huệ, hoa loa kèn, hoa đồng tiền
- Đặc điểm, tính chất: cái đẹp, sự sống, thanh cao, mềm mỏng, yếu đối,
tình yêu đôi lứa, tính không bền vững
- Bộ phận cơ thể: miệng xinh, bộ phận sinh dục của nữ
- Biểu tượng: người con gái đẹp, quân tử
Tính chủ quan cao, phụ thuộc phần lớn vào các yếu tố của cá nhân làđặc điểm nổi bật của trường nghĩa này; kéo theo đó là các đặc điểm như “tínhdân tộc, tính thời đại, tính cá nhân” [1, 187], tính không ổn định khiến choloại trường này không có tác dụng với từ như hai trường nghĩa dọc và ngang
Bù lại, trường nghĩa liên tưởng lại có tác dụng lớn trong việc giải thích việc
sử dụng từ bất thường, không rõ ràng trong tác phẩm văn học
1.1.4 Hiện tượng chuyển trường
Chuyển trường là “một hiện tượng đặc biệt trong ngôn ngữ” Hiệntượng chuyển trường là hiện tượng “một từ ngữ thuộc một trường ý niệm nàyđược chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc một trường ý niệm khác” Ngônngữ có tính đa trị, một cái biểu đạt có thể có nhiều cái được biểu đạt Hệ quảcủa đặc điểm này tạo nên hiện tượng nhiều nghĩa từ vựng Từ ban đầu cũngchỉ có một nghĩa biểu vật Do đòi hỏi bức thiết từ nhu cầu, mong muốn traođổi, tiếp xúc với nhau của con người, từ sau khi sử dụng được một thời gianthì xuất hiện nhiều “nghĩa biểu vật mới” từ ngữ nghĩa của từ gốc
Hiện tượng chuyển trường được hình thành trên cơ sở của sự chuyểnnghĩa của từ và đặc điểm tự thân của nó – tính giao thoa Hiện tượng chuyểntrường làm cho ranh giới vốn mỏng manh giữa các trường nghĩa bị loại bỏ, từchuyển nghĩa không còn nằm ở trường nghĩa cũ mà phải chuyển sang mộttrường nghĩa mới cho phù hợp với nội dung mà nó biểu đạt Hiện tượng nàygiúp cho ngữ nghĩa của các từ thêm phong phú, làm cho ngôn ngữ thêm giàu
có, linh hoạt; giúp khắc họa cụ thể nhân vật, tạo ra cho tác phẩm nhiều giá trịmới; giúp cho người đọc có những liên tưởng bất ngờ thú vị “Hiện tượng
Trang 22Ví dụ: Từ “chân” có nghĩa gốc chỉ “bộ phận dưới cùng của cơ thểngười hay động vật dùng để đi, đứng; thường được coi là biểu tượng của hoạtđộng đi lại của con người” [10, 140] Khi chuyển trường, “chân” được chuyểnsang một số trường khác như:
- Chuyển sang trường bộ phận đồ vật: chân đèn, chân giường, chân
kiềng
- Chuyển sang trường cương vị phận sự: chân giám đốc , chân sào, kế
chân
- Chuyển sang trường vị trí, không gian: chân núi, chân không, chân
mây, chân tường, chân răng
- Chuyển sang trường tính chất, trạng thái: chân chất, chân thực chân
thành, chân thật, chân thực
1.2 Mối quan hệ giữa trường nghĩa với ngôn ngữ văn chương
1.2.1 Trường nghĩa biểu vật với ngôn ngữ văn chương
Trong ngôn ngữ văn chương, các từ trong trường biểu vật này lôi kéonhau chuyển địa chỉ tới trường biểu vật khác; kết quả nhận được là “sự cộnghưởng ngữ nghĩa” cho đoạn văn, bài văn Như đã nói ở trên, ẩn dụ và hoán dụ
là hai phương thức để chuyển nghĩa của từ Chuyển trường theo phương thức
ẩn dụ thường dẫn đến hiện tượng chuyển trường nghĩa biểu vật
Ví dụ: Từ “chân” là từ “chỉ bộ phận cơ thể”, được chuyển sang trường
đồ vật và trường vật thể địa lí có thể kéo theo các từ: mũi, đầu, lòng…cũng
chuyển sang trường đó
Trong văn chương, cụ thể trong một văn bản thường xuất hiện các từthuộc cùng một trường với để tạo ra sự hợp lí về trường nghĩa biểu vật Mộtcâu văn, đoạn văn, hay lớn hơn là một tác phẩm thường có một “hình ảnh chủđạo” làm lõi trung tâm, từ đó chi phối, dẫn theo các từ khác cùng trường biểuvật với nó “Hình ảnh chủ đạo” này có khi được tường minh, có khi được thểhiện ngầm qua các trường trong đoạn văn:
Ví dụ:
Trang 23“Mưa xuân tới rồi Ngoài kia đương mưa phùn.
Vòm trời âm u Cả đến mảnh trời trên đầu tường cũng không thấy Không phải tại sương mù ngoài hồ tỏa vào Đấy là mưa bụi, hạt mưa từng làn lăng quăng, li ti đậu trên mái tóc Phủi nhẹ một cái, rơi đâu mất Mưa dây, mưa rợ, mưa phơi phới như rắc phấn mù mịt.
Mưa phùn đem mùa xuân đến Mưa phùn khiến những chân mạ gieo muộn nảy xanh lá mạ Dây khoai, cây cà chua rườm rà xanh rờn các trảng ruộng cao Mầm cây sau sau, cây nhội, cây bàng hai bên đường nảy lộc, mỗi hôm trông thấy mỗi khác.” [14]
Hình ảnh chủ đạo trong đoạn văn trên là “mưa xuân”, hình ảnh kéo
theo các từ cùng trường: mưa phùn, âm u, mưa bụi, hạt mưa, làn, lăng quăng,
li ti, mưa dây, mưa rợ
1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm với ngôn ngữ văn chương
Ngôn từ là “chất liệu” để văn chương phản ánh hiện thực và xây dựnghình tượng nghệ thuật Mỗi tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu mộtphương diện của hiện thực đời sống nên để phương diện đó được nổi bật, chấtliệu cấu thành tác phẩm là ngôn từ cũng phải chứa cái thống nhất, hợp lí vớinhau để phát huy được tối đa ngữ nghĩa giữa các từ “Sự cộng hưởng ngữnghĩa” này dựa trên “nét nghĩa” gốc ban đầu, vốn có trong các từ hay nói khác
đi dựa trên “nét nghĩa” trung tâm trong một trường nghĩa (một nhóm từ ngữtrong một trường) biểu niệm
Trang 24thấy cái tài tình của tác giả khi sử dụng chữ nghĩa mà còn bộc lộ cái tình thắmthiết, cái đau đớn tử biệt của vợ đối với chồng Trong câu đối có sự thốngnhất về trường biểu niệm Các nét nghĩa biểu vật trong trường có sự cộnghưởng từ ngữ với nhau để hướng đến nét nghĩa chung, giúp tác giả phản ánhcuộc đời người chồng, nỗi đau người vợ một cách chân xác mà vẫn ý nhị.
“Sự cộng hưởng ngữ nghĩa” không chỉ xảy ra đối với các từ mà cònchi phối đến cả ngữ pháp, ngữ âm và tiết tấu Hay nói cách khác, các tác giảthường kết hợp toàn bộ các yếu tố của ngôn ngữ để tạo ra sự hoàn hảo về hìnhthức cho tác phẩm của mình
1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính với ngôn ngữ văn chương
Diện mạo văn chương luôn có những thay đổi không ngừng vượt rakhỏi chuẩn mực nhờ sự sáng tạo từ ngữ của lực lượng sáng tác Bắt nguồncho sự sáng tạo ấy là những kết hợp lạ hóa, bất thường trong trường nghĩangang Dấu ấn cá nhân tác giả làm cho từ ngữ trong văn của ông ta khác đi sovới cách kết hợp, sắp xếp từ ngữ thông thường Những kết hợp ấy có thể đượcđồng tình, lan truyền rộng rãi và dần trở thành những kết hợp từ ngữ bìnhthường
Ví dụ:
“Mưa dây, mưa rợ, mưa phơi phới như rắc phấn mù mịt” [14]
Trong bài Cây bằng lăng, Tô Hoài đã kết hợp từ “mưa” với từ “dây” tạo thành “mưa dây” Từ mưa dây chưa được coi là một kết hợp bình thường
nằm trong trường nghĩa tuyến tính của từ “dây”, trong khi đó các từ như “dâyđàn”, “dây khoai”, “căng dây” đã xuất hiện trong từ điển, là kết hợp bình
thường của từ này Mưa dây chính là kết quả của sự sáng tạo ngôn từ của Tô
Hoài
1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng với ngôn ngữ văn chương
Trường liên tưởng có một vai trò quan yếu trong việc tiếp nhận tácphẩm văn chương Trường liên tưởng “có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ,nhất là sự dùng từ trong tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ,
Trang 25sự ưa thích lựa chọn những từ ngữ nào đấy để nói hay viết, sự né tránh đếnkiêng kị những từ nhất định” [1, 187].
Ví dụ:
“Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Nguyễn Du đã lựa chọn sử dụng từ “cậy” chứ không phải một từ nàokhác Để lí giải chính xác được cách tác gia lựa chọn từ này ta phải liên tưởngcâu chuyện của gia đình Thúy Kiều, câu chuyện tình yêu của bản thân ThúyKiều và mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúy Vân “Cậy” không chỉ là sựnhờ vả đơn thuần mà đó còn là tiếng lòng của Kiều, nó chứa đựng cả niềm tin
và mong muốn thiết tha nhất Dùng từ “cậy”, Thúy Vân không thể từ chối, màcũng không nỡ từ chối Có thể nói, tác gia Nguyễn Du đã đạt đến trình độ bậcthầy của ngôn ngữ
Không cần xem xét nhiều phương diện trong tác phẩm, chỉ cần xét đến
“diện mạo ngôn ngữ” cũng đã đủ phân biệt tác phẩm văn học của các thời đạikháu nhau Muốn tác phẩm được công chúng đón nhận, nhà văn phải có sựthích ứng nhanh nhạy với thời đại, đặc biệt phải xóa bỏ những ràng buộc vớicác trường liên tưởng cũ để cập nhật kịp thời cho mình lối liên tưởng mới mẻ,hợp thời Không chỉ người cầm bút mà cả những người nghiên cứu văn học,giảng dạy Ngữ văn cũng liên tục đổi mới tư tưởng, tình cảm, vốn sống, đặcbiệt là làm mới ngôn ngữ của mình
1.3 Khái niệm động vật
Động vật là “sinh vật có cảm giác và tự vận động được” [10, 346] Ví
dụ: thú, chim, sâu bọ, Theo Bách khoa toàn thư mở Wikiedia: “Động vật là
một nhóm sinh vật đa bào, nhân chuẩn, được phân loại là giới Động vật(Animalia, đồng nghĩa: Metazoa) trong hệ thống phân loại 5 giới Cơ thể củachúng lớn lên khi phát triển Hầu hết động vật có khả năng di chuyển một
Trang 26Giới động vật rất đa dạng và phong phú, chúng có số lượng gần như
vô kể Các nhà khoa học thống nhất phân loại động vật theo thứ tự: ngành,
phân ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài, giống Nhà động vật học người Thụy Điển
Carolus Linnaeus phân loại giới động vật thành hai loại chính là: “động vật cóxương sống (bò sát, cá, lưỡng cư, chim, thú) và động vật không xương sống (động vật nguyên sinh, thân lỗ, ruột khoang, sứa lược, giun dẹp, giun tròn,giun đốt, thân mềm, da gai, chân đốt: hình nhện, giáp xác, côn trùng, nhiềuchân, thân mềm, da gai )” Trong số các loài động vật không xương sống thìcôn trùng là một trong những loài có số lượng lớn, thậm chí còn nhiều hơnđộng vật có xương sống gấp mười lần
Động vật là các mắt xích trong lưới thức ăn phức tạp, đồng thời “đóngvai trò quan trọng trong sự cân bằng sinh thái”, duy trì sự cân bằng số lượngcác loài sinh vật trên trái đất Mỗi quần thể động vật góp phần tạo ra sự cânbằng của hệ sinh thái Động vật cung cấp nguyên liệu sản xuất, tiêu dùng chocon người, hỗ trợ cho con người trong lao động, thể thao, giải trí, bảo vệ anninh và làm vật thí nghiệm trong nghiên cứu khoa học Đôi khi động vật cũng
là nguyên nhân gây bệnh cho con người và các loài động vật khác Hơn hết,động vật còn trở thành đề tài, cảm hứng sáng tác cho các nhà văn, nhà thơ.Văn học bén rễ từ cuộc sống, lấy những đặc điểm thuộc tính chân thật nhấtcủa động vật làm trụ cột, các tác giả đã thỏa sức sáng tạo, thể hiện cá tính củamình qua những trang văn viết về động vật
1.4 Khái quát về tác giả Tô Hoài
Tô Hoài là một trong những cây bút xuất sắc nhất của văn học ViệtNam hiện đại Ông sinh ra ở làng Nghĩa Đô (Hà Nội), nơi đây chính là cái nôi
ru nguồn cảm hứng nghệ thuật cho Tô Hoài Nhà văn được nuôi dưỡng tronggia đình làm thủ công nghèo; tuổi thanh niên phải trải qua nhiều nghề khácnhau để kiếm sống Bén duyên với nghề văn bằng những dòng thơ lãng mạn,song Tô Hoài nhận thấy đây không phải thế mạnh của mình nên đã nhanhchóng kết thân với văn xuôi và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ cả về số lượng
và chất lượng Với định hướng nghệ thuật: viết về cuộc đời của chính mình,
của nhiều người xung quanh mình, Tô Hoài đã chắp bút suốt 65 năm để cống
hiến cho nền văn học Việt Nam nhiều tác phẩm giá trị Sự nghiệp sáng tác của
Trang 27ông được chia làm hai giai đoạn: trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945với hai mảng đề tài chính là Hà Nội và miền núi được tiếp cận từ “phươngdiện đời tư, đời thường và phong tục” (Trần Đăng Suyền) Ở khóa luận này,chúng tôi xin tập trung giới thiệu những sáng tác về thế giới loài vật và truyện
đồng thoại Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài.
1.4.1 Tô Hoài – tác giả “giải cạn” về loài vật
Trước Cách mạng, đối tượng thẩm mĩ trong sáng tác của Tô Hoài là thếgiới loài vật và cuộc sống, con người ở vùng quê nghèo ven đô Trong đó,những truyện viết về loài vật giữ một vị trí quan trọng trong hành trình sángtạo của Tô Hoài Đánh giá về truyện loài vật của Tô Hoài, Hà Minh Đứckhẳng định: “Trong văn học Việt Nam thời kì hiện đại, Tô Hoài là văn viếtthành công nhất, hấp dẫn nhất về các loài vật” Khi được hỏi tại sao tác giả lạihiểu sâu sắc về loài vật như vậy, tại sao lại có thể miêu tả chúng sống độngnhư vậy, nhà văn Tô Hoài đã chia sẻ: “Cái làng ven đô của tôi có một cái đầmnước, bên bờ đầm là một bãi cỏ, tôi và bọn trẻ trong làng luôn chơi đủ mọi tròtrẻ con ở đó như hun dế, giật cỏ gà chọi nhau, bắt chuồn chuồn, kéo vó tôm,bơi lội vì vậy tôi biết rất rõ vẻ ngơ ngác của một anh gọng vó mới ở dướiđầm lên, cái thân hình béo núc ních của chị Cốc trong mùa tôm cá, rồi sựkhác biệt của Dế Mèn với Dế Trũi, Châu Chấu với Châu Chấu Voi, ChuồnChuồn Ớt với Chuồn Chuồn Tương” Qua một loạt những tác phẩm hấp dẫn
như: Một cuộc bể dâu, Dê và lợn, Ba anh em, Đôi Gi đá, Võ sĩ bọ ngựa, Đám
cưới chuột, Trê và cóc, Dế Mèn phiêu lưu kí Có thể nói rằng, Tô Hoài là tác
giả “giải cạn về loài vật” Tại Việt Nam, trước Tô Hoài không có tác giả nàolàm được xuất sắc, sau Tô Hoài cũng chưa có nhà văn nào vượt qua được ông
về mảng đề tài này
Nhà văn Tô Hoài ngay từ những năm tháng đầu đến với nghiệp văn đãlao động bền bỉ cho sự nghiệp phục vụ thiếu nhi Vậy nên, đề tài về loài vậtkhiến ông thích thú và đặc biệt chăm chút hơn cả Trước và sau Cách Mạngtháng Tám, ông có tất cả 33 truyện viết về loài vật “Thế giới loài vật” trong
Trang 28Ta bắt gặp trong những sáng tác của ông một “thế giới loài vật” đông vui,nhộn nhịp với đầy đủ cung bậc tình cảm, những phẩm chất, ngôn ngữ, hoạtđộng, đặc điểm trạng thái tính cách và số phận giống như con người Dướingòi bút của Tô Hoài, vẻ đẹp của các loài vật được phát hiện, lí giải cặn kẽdưới nhiều góc độ khác nhau, điều đó đã mang tới cái nhìn mới mẻ cho độcgiả nhiều thế hệ.
Đi theo những trang truyện về loài vật của ông, ta nhận thấy sự mẫncảm, nhạy bén và óc quan sát vô cùng tinh tế Ông tả loài vật nào đúng vớibản chất và đặc điểm của loài vật ấy Loài vật hiện lên trong trang viết của TôHoài thật sinh động Đó là Vợ chồng lão Trê “gian ngoan, xảo quyệt”, lõi đời
“có đẻ chẳng có nuôi, sinh năm bẩy bận cũng chẳng được bận nào” bàn mưu
cướp con của vợ chồng Cóc (Trê và Cóc) Đó là cậu gà trống có “bộ mặt khinh khỉnh ta đây” và rất đa tình (Một cuộc bể dâu) Hay đó là vợ chồng Gi
đá “lờ khờ, ngẩn ngơ, xấu xí - nghĩa là đặc nhà quê” Nhưng bù lại chúng cực
kì siêng năng xây tổ ấm, tạo dựng hạnh phúc và chúng “bình lặng, chịu khó, ít
ồn ã” (Đôi Gi đá) Toàn bộ những yếu tố trong phạm vi liên quan đến loài
vật, Tô Hoài đều viết một cách vô cùng cặn kẽ Tô Hoài đã lưu tâm quan sátcác con vật hết sức kĩ càng từ hình dáng, hoạt động bên ngoài đến tính chất,trạng thái bên trong Ông vận dụng linh hoạt các giác quan, chọn điểm nhìnphù hợp, trình tự quan sát hợp lí để vừa có thể khắc họa con vật đúng với nétriêng biệt và tiêu biểu giống loài, vừa có thể qua loài vật thể hiện được nhữngyếu tố của con người
1.4.2 Dế mèn phiêu lưu kí - tác phẩm xuất sắc nhất của Tô Hoài
Trong số những tác phẩm viết về “thế giới loài vật” của Tô Hoài, người
ta ấn tượng nhất với truyện ngắn Dế mèn phiêu lưu kí được sáng tác năm 1941
Có thể khẳng định đây là tác phẩm văn xuôi “đặc sắc và nổi tiếng nhất” của
Tô Hoài khi viết về loài vật Truyện ngắn đã gắn liền với nhiều thế hệ độc giả
Việt Nam, đặc biệt là thiếu nhi Lúc đầu truyện có tên là Con dế mèn phát
hành năm 1941 bởi Nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội Sau đó, được sự ủng hộ
nhiệt thành của độc giả, Tô Hoài cho ra đời thêm truyện Dế Mèn phiêu lưu kí Năm 1955, nhà văn đã hợp hai truyện với nhau tạo thành truyện Dế Mèn
Trang 29phiêu lưu kí hiện tại Cho đến nay, tác phẩm đã được dịch ra gần 40 thứ tiếng
trên thế giới
Tô Hoài chọn thể loại truyện đồng thoại để viết về lí tưởng, suy nghĩcủa thế hệ mình, phản ánh thực tế xã hội trong thời đại mình, đồng thời ôngcũng muốn hướng đến tuổi thơ, những gì gần gũi với tuổi thơ Sự đón nhậntác phẩm một cách nồng nhiệt của độc giả chứng minh lựa chọn của ông làđúng đắn Người đọc trong nước và nước ngoài bắt đầu biết đến tên tuổi của
Tô Hoài từ khi Dế Mèn phiêu lưu kí được phát hành Truyện ngắn không chỉ
viết về loài vật một cách đơn thuần mà còn hướng đến tinh thần nhân loại,chính điều này làm cho tác phẩm vượt qua mọi băng hoại của thời gian Bảnthân Tô Hoài cũng từng khẳng định: “Trước năm 1945, các tác phẩm văn học
thiếu nhi Việt Nam, tiêu biểu là Dế Mèn phiêu lưu kí, hướng đến tính nhân
loại, nhờ đó mà có giá trị lâu dài Các tác phẩm về sau của ta không được nhưthế”
Ở Dế Mèn phiêu lưu kí, Tô Hoài đã phác họa rất cụ thể, sống động và
hấp dẫn về một lát cắt của cuộc đời chàng Dế Mèn thông qua ngôn ngữ miêu
tả đầy tự tin của Dế Mèn Tác giả miêu tả tỉ mỉ từng bộ phận cơ thể, hìnhdáng, màu sắc đến trạng thái nội tâm bên trong; không chỉ làm toát lên sựkhỏe mạnh dồi dào, sức trẻ hừng hực ở nhân vật Dế Mèn mà còn ở trong cảnhững nhân vật khác Ngòi bút miêu tả đặc sắc cùng vốn ngôn ngữ phong phúcủa Tô Hoài đã giúp người đọc hiểu rất sâu sắc về thế giới loài vật Với conmắt tinh tường, sự hóm hỉnh và tình cảm yêu mến loài vật kết hợp cùng óctưởng tượng sáng tạo và kho từ vựng phong phú Nhà văn đã miêu tả các loàivật vừa chân thực, sống động với những nét ngoại hình, tập tính sinh hoạt đặctrưng của chúng lại mang những nét tâm lý, tính nết, phẩm chất giống conngười nên chúng rất gần gũi với độc giả, đặc biệt là với thế hệ trẻ
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã giải quyết được những vấn đề cơ bảncủa trường nghĩa: khái niệm trường nghĩa, các loại trường nghĩa, đặc điểm
Trang 30về nhà văn Tô Hoài và hành trình sáng tạo của ông ở mảng truyện loài vật.Chúng tôi đã rất cố gắng để thống nhất và đưa ra khái niệm hoàn mỹ nhất vềtrường nghĩa tuy nhiên kết quả vẫn dừng lại ở mức tương đối, cần các nhànghiên cứu sau hoàn thiện thêm Những lí thuyết của các tác giả nghiên cứu
đi trước đã được tìm hiểu cặn kẽ, những hiểu biết đó sẽ được chúng tôi vậndụng để phát triển các nội dung nghiên cứu ở những phần sau
Trang 31CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT
TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ
2.1 Tiêu chí phân loại
Như đã đề cập, “động vật là sinh vật có cảm giác và tự vận động được”
[10, 346] Ví dụ: thú, chim, sâu bọ, Động vật là một phần quan trọng trong
hệ sinh thái, nó gắn bó mật thiết với cuộc sống con người Có lẽ vì thế mà tậphợp từ trong trường nghĩa động vật khá dồi dào Chúng tôi dựa trên nhữngyếu tố cơ bản nhất của động vật là tên gọi, đặc điểm, hoạt động, tính chất vàtrạng thái của động vật để phân lập thành các tiểu trường khác nhau
Nói về các tiêu chí để phân loại động vật, có rất nhiều cách phân loạikhác nhau Theo quan điểm dân gian, người ta phân loại động vật thành bốnlớp: trùng, ngư, điểu, thú; theo quan điểm khoa học chia thành: côn trùng, thú,chim, cá, và động vật lưỡng cư; theo môi trường sống có bốn loại: động vậttrên cạn, động vật dưới nước, động vật trên không và động vật lưỡng cư Nhìnnhận sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài chúng ta thấy rằng, những sản phẩmsáng tạo của ông về mảng đề tài loài vật hiếm khi xuất hiện những loài động
vật to lớn, hoang dã Xét trong tác phẩm, các loài động vật xuất hiện trong Dế
Mèn phiêu lưu kí Hoài phần lớn đều là những con côn trùng nhỏ bé, gắn liền
với cuộc sống sinh hoạt trong hiện thực đời thường Dựa vào hai yếu tố trên,chúng tôi lựa chọn bỏ qua hai cách phân loại đầu tiên Nhận thấy dựa vào tiêuchí môi trường sống để phân loại là lựa chọn hợp lí nhất, chúng tôi lựa chọncách phân loại thứ ba để phân xuất tiểu trường của trường từ vựng động vậttrong tác phẩm
2.2 Kết quả thống kê
Chúng tôi đã thống kê được 771 từ thuộc trường nghĩa động vật trongtác phẩm và phân thành 5 tiểu trường, được khái quát trong bảng sau: